MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO HỌC PHẦN NHẬP MÔN NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TINMai Cường Thọ - Bộ môn Mạng máy tính và Truyền thông Tóm tắt: Bài tham luận trình bày kết quả tìm hi
Trang 1MỤC LỤC
1 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO HỌC PHẦN NHẬP
MÔN NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 3
Đặt vấn đề 3
Giảng dạy nhập môn ngành ở một số Trường đại học 4
Kết luận và Đề xuất 6
TÀI LIỆU THAM KHẢO 7
2 KINH NGHIỆM SỬ DỤNG CÔNG CỤ PHẦN MỀM HỖ TRỢ TUẦN HỌC SỐ VÀ ĐỀ NGHỊ NÂNG CAO KHẢ NĂNG HỌC TẬP TRỰC TUYẾN CHO SINH VIÊN 8 I Quản lý lớp học 8
II Quản lý buổi học trực tuyến 9
III Tiện ích phương tiện hỗ trợ 11
IV Một số vấn đề khi triển khai tuần học số 13
V Kết luận 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG THỰC HIỆN ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP/CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP CÁC ĐỀ TÀI THIẾT KẾ VÀ LẬP TRÌNH ỨNG DỤNG WEB CỦA KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN - ĐẠI HỌC NHA TRANG 15
1 Đặt vấn đề 15
2 Một số giải pháp để nâng cao chất lượng thực hiện ĐATN/CĐTN 17
Tài liệu tham khảo 19
4 ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC GHI CHÉP BÀI GIẢNG CỦA SINH VIÊN ĐỐI VỚI KẾT QUẢ CUỐI KỲ 20
1 Giới thiệu 20
2 Khảo sát 20
3 Giải pháp đề xuất 21
4 Kết luận 22
Tài liệu tham khảo 22
5 DẠY HỌC LỚP ĐÔNG, ĐÔI ĐIỀU CHIA SẺ 23
1 Giới thiệu 23
2 Những thách thức gặp phải trong khi giảng dạy lớp đông 24
3 Những giải pháp 26
4 Kết luận 28
Tài liệu tham khảo 29
Trang 26 VẬN DỤNG RUBRIC VÀ CÔNG CỤ QUICK RUBRIC TRONG ĐÁNH GIÁ KIỂM
TRA QUÁ TRÌNH & ĐÁNH GIÁ THI HỌC PHẦN TH TIN HỌC CƠ SỞ 30
I Tóm tắt: 30
II Đặt vấn đề : 30
III Tổng quan vấn đề - Đánh giá Rubric: 30
IV Nội dung trao đổi : 32
V Sử dụng Quick Rubric trong xây dựng Rubric 36
VI Kết luận, đề xuất: 37
Tài liệu tham khảo: 38
7 NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN HỌC THỰC HÀNH TIN HỌC CƠ SỞ 39
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ 39
NỘI DUNG TRAO ĐỔI 41
KẾT LUẬN 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 3MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO HỌC PHẦN NHẬP MÔN NGÀNH CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Mai Cường Thọ - Bộ môn Mạng máy tính và Truyền thông
Tóm tắt: Bài tham luận trình bày kết quả tìm hiểu về đào tạo học phần nhập môn
ngành của một số trường đại học và của một số ngành ở đại học Nha Trang, đồng thời nêu ra những điểm hạn chế của CTĐT học phần Nhập môn ngành Công nghệ thông tin,
từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo học phần này tại Khoa CNTT
Đặt vấn đề
Nhập môn ngành (Giới thiệu ngành) là học phần (HP) giúp sinh viên có cái nhìn tổng quan về ngành học giúp vượt qua những bỡ ngỡ ban đầu trong một không gian và phương pháp hoàn toàn mới, qua đó bước đầu hình thành kế hoạch đào tạo cá nhân để
từ đó tự tin và làm chủ quá trình đào tạo
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của HP Nhập môn ngành, Trường ĐHNT đã cập nhật thêm vào trong các chương trình đào tạo học phần này từ năm 2018 Tuy vậy lướt qua website các Khoa đào tạo, cũng như website cung cấp thông tin các
CTĐT - ctdt.ntu.edu.vn thì đề cương HP Nhập môn ngành của các CTĐT đều để trống,
việc đào tạo HP này được giao hoàn toàn cho các Khoa
Đối với HP nhập môn ngành CNTT của Khoa, đến thời điểm này cá nhân tôi cho rằng có một số hạn chế sau:
- Đề cương, đề cương chi tiết học phần chưa “đáp ứng kỳ vọng”, lý do thực sự
ở đây là chưa có một đề cương học phần nhập môn ngành chính thức được xây dựng và thống nhất ban hành, và từ đó chưa có cơ sở để xây dựng bài giảng học phần
- Việc giảng dạy HP này ở mỗi một GV lại khác nhau ở nội dung, ở phương pháp, và cả ở phương pháp đánh gia, dẫn đến chất lượng không đạt được như
kỳ vọng
- Một số nội dung trong nhập môn ngành cần đến Doanh nghiệp, khi đó triển khai nội dung này phải ở tầm của Khoa, hoặc chí ít tầm Bộ môn quản lý ngành, chuyên ngành
- ĐCHP nhập môn ngành của các CTĐT chuyên ngành CNTT, Truyền thông
và Mạng máy tính, Định hướng ứng dụng đang sử dụng chung
Trang 4Giảng dạy nhập môn ngành ở một số Trường đại học
Ở [1], Bộ môn Cơ khí Ô tô -Trường ĐHSPKT- ĐH Đà Nẵng ban hành bài giảng Nhập môn ngành Ô tô vào tháng 8 năm 2019 dưới dạng tài liệu lưu hành nội bộ Tài liệu gồm 7 chương, 200 trang, với nội dung một số chương đáng chú ý gồm: Giới thiệu
về chương trình đào tạo ngành công nghệ kỹ thuật ô tô - Tình hình phát triển của công nghiệp ô tô - Công việc sau khi tốt nghiệp Một số chương khác của tài liệu tập trung nhiều vào khía cạnh kỹ thuật
Ở [2], Trường ĐH SPKT ban hành Khung đề cương chi tiết HP Nhập môn ngành, 3TC, “Khung” này qui định rõ các chuẩn đầu ra của học phần, danh mục các bài tập phải thực hiện, và hình thức kiểm tra đánh giá đạt chuẩn đầu ra
Trong [3], các giảng viên Khoa Điện, Trường Cao đẳng Công nghệ đã tham gia, học phần nhập môn ngành trong chương trình đào tạo theo chuẩn CDIO được thiết kế theo một hướng tiếp cận hoàn toàn mới nhằm giúp người học không những có những hiểu biết về ngành học mà còn được trang bị những kỹ năng cần thiết khác như làm việc nhóm, trình bày báo cáo, giao tiếp…Theo chuẩn CDIO, các học phần nhập môn ngành thường được tổ chức trong một không gian mở, hướng đến trang bị kiến thức và kỹ năng thông qua việc thực hiện các sản phẩm thực tế Tác giả lấy ví ví dụ như sinh viên ngành Điện-Điện tử sẽ được giới thiệu ngành thông qua việc học tập lắp ráp xe có lập trình điều khiển và tham dự cuộc đua giữa các đội được tổ chức vào cuối khóa học Qua hình thức học tập này, các kỹ năng được hình thành và phát triển như: làm việc nhóm, trình bày, lắp ráp mạch điện tử và cơ cấu cơ khí, kỹ thuật lập trình, phân tích, thiết kế, xây dựng, sửa chữa và vận hành Bằng sự trải nghiệm thú vị trong quá trình học, người học sẽ thực sự say mê ngành học và tự nhận thức về các kiến thức và kỹ năng cần thiết mình phải trang bị trong quá trình đào tạo tại trường để sau khi kết thúc khóa học đạt được một trình độ theo yêu cầu chuẩn đầu ra
Trong [4], tại buổi seminar bộ môn, tác giả cũng nêu ra một số khó khăn trong triển khai giảng dạy học phần nhập môn ngành tư đó đề xuất một số giải pháp, như: 1)- Nâng cao nhận thức và hiểu biết của cán bộ, giảng viên, sinh viên về lợi ích của CDIO nói chung và học phần Nhập môn ngành nói riêng; -Tăng cường cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu giảng dạy; -Có sự phối hợp chặt chẽ các bộ phận liên quan, -Tăng cường tập huấn, tham quan thực tế cho cán bộ trước khi giảng dạy,
Ở [5], Khoa CNTT trường ĐHSPKT TP.HCM xây dựng đề cương chi tiết cho
học phần nhập môn ngành CNTT với 3 tín chỉ, với mô tả học phần như sau: “Học phần
nhập môn ngành CNTT được thiết kế để giúp sinh viên năm thứ nhất làm quen với môi
Trang 5trường mới và tiến bước thành công trên con đường trở thành kỹ sư CNTT tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TPHCM Học phần này trang bị cho sinh viên về định hướng nghề nghiệp, các kỹ năng mềm cũng như nền tảng đạo đức nghề nghiệp Cụ thể là: −
Giới thiệu những thách thức của thế kỷ 21 đối với người kỹ sư CNTT; − Giới thiệu về ngành CNTT, hệ thống học vụ tại trường và khoa CNTT; − Cung cấp kiến thức tổng quan về máy tính và thực hành phương pháp giải quyết vấn đề; − Thực hành kỹ năng thuyết trình, kỹ năng làm việc nhóm; − Thực hành kỹ năng học đại học và kỹ năng soạn slide báo cáo.” Hệ thống 7 bài tập và 2 tiểu luận được thiết kế cụ thể, chi tiết để đáp
ứng các chuẩn đầu ra học phần
Trong [7], khoa Kinh tế Đại học Vinh triển khai học phần này dưới dạng “Ngày hội Nhập môn ngành Kinh kế” với đầy đủ các hoạt động giúp đáp ứng chuẩn đầu ra mong đợi
Trong [8], một sinh viên đại học ngành Sư phạm ngữ văn đại học An giang trình bày nhiều kiến thức hữu ích thu nhận được từ học phần nhập môn ngành
Trong [6], việc triển khai học phần nhập môn ngành của Khoa du lịch, đại học Nha Trang lại được triển khai qua một chuỗi các hoạt động tổ chức bởi Khoa và Doanh nghiệp
Bảng 1 Kế hoạch đào tạo học phần Nhập môn ngành tại Khoa Du Lịch, trường
Đại học Nha Trang
Trang 6Tại Khoa Công nghệ thông tin trường Đại học Nha Trang, học phần nhập môn ngành được giảng dạy như một học phần lý thuyết thông thường, với đề cương học phần được thiết kế như Bảng 2, giao cho giảng viên cố vấn học tập lên lớp hàng tuần như là một buổi sinh hoạt lớp Các chủ đề và chủ đề con số 2 và số 3 có tiêu đề hơi khó hiểu
và biên soạn nội dung
Bảng 2 Nội dung đào tạo học phần Nhập môn ngành CNTT, Khoa CNTT,
ĐHNT
Kết luận và Đề xuất
Việc đưa vào chương trình đào tạo học phần nhập môn ngành là hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện tại, nhiều trường đã đưa vào giảng dạy học phần này nhưng với các tiếp cận cũng tương đối khác nhau, mỗi giáo viên cũng có tiếp cận khác nhau Vì vậy, trên cơ sở tham khảo các tài liệu, cũng như thực tế trải nghiệm giảng dạy học phần Nhập môn ngành, tôi mạnh dạn đưa ra một số đề xuất sau để hội nghị cùng thảo luận và đưa
ra thêm nhiều đề xuất hữu dụng và thực hiện được
1 Tổ chức biên soạn và công bố chính thức đề cương, đề cương chi tiết học phần Nhập môn ngành CNTT
2 Xem đây như một học phần đặc biệt, giao 1 GV phụ trách để dành thời gian đầu
tư biên soạn bài giảng, xây dựng các hoạt động học tập
3 Đề cương học phần có một số nội dung sẽ được cấp Khoa triển khai chung cho từng Khóa, hay từng ngành, hoặc từng lớp: ví dụ Tham quan doanh nghiệp, Giao lưu khóa trên và Cựu sinh viên
Trang 74 Nhập môn ngành nên lồng ghép vấn đề kỹ thuật, kiến thức, sao cho giúp ích cho sinh viên vượt qua chặng leo núi đường trường một cách đơn giản hơn (Nhập môn lập trình → Kỹ thuật lập trình → Lập trình hướng đối tượng)
5 Việc tổ chức giảng dạy học phần không nhất thiết phải theo đơn vị lớp, mà có thể thực hiện trong một không gian mở, hướng đến trang bị kiến thức và kỹ năng thông qua các trải nghiệm thực tế [5]
6 Về thời lượng và cách tổ chức có thể thực hiện theo [6] hoặc [7]
Trên đây là một số đề xuất của cá nhân, mang tính gợi mở vấn đề để hội nghị cùng thảo luận, từ đó có thêm những đề xuất, những kết luận đồng thuận trên toàn Khoa để học phần Nhập môn ngành thực sự mang lại những giá trị tích cực
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Đại học Sư phạm kỹ thuật - Đại học Đà Nẵng, Nhập môn ngành Ô tô
[2] ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT, “KHUNG ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT HỌC PHẦN,” pp 1–9, 2003
[3] Đại học Sư phạm kỹ thuật - Đại học Đà Nẵng, “Hướng tiếp cận mới trong đào tạo nhập môn ngành - Chia sẻ kinh nghiệm học tập từ CDIO,” 2016
nganh Chia-se-kinh-nghiem-hoc-tap-tu-CDIO.aspx#:~:text=Nhập môn ngành (Giới thiệu,chủ quá trình đào tạo)
http://ute.udn.vn/TinTuc/681/6/Huong-tiep-can-moi-trong-dao-tao-nhap-mon-[4] Nguyễn Hoài Nam, “Một vài khó khan trong giảng dạy học phần ‘Nhập môn ngành Kinh tế’ theo tiếp cận CDIO tại Khoa Kinh tế.,” 2017 [Online]
Available: EMINAR Một vài khó khan trong giảng dạy học phần “Nhập môn ngành Kinh tế” theo tiếp cận CDIO tại Khoa Kinh tế
[5] Khoa Công nghệ thông tin, Trường ĐHSPKT TP.Hồ Chí Minh, “Đề cương chi tiết học phần nhập môn ngành CNTT.”
[6] Khoa du lịch - Đại học Nha Trang, “Chuỗi hoạt động trong học phần Nhập môn Ngành của Tân sinh viên Khóa 62,” 2020 https://khoadulich.ntu.edu.vn/Tin-tuc/n/chuoi-hoat-dong-trong-hoc-phan-nhap-mon-nganh-cua-tan-sinh-vien-khoa-62
[7] Đại học Vinh, “Ngày hội nhập môn ngành Kinh tế.”
Trang 8KINH NGHIỆM SỬ DỤNG CÔNG CỤ PHẦN MỀM HỖ TRỢ TUẦN HỌC SỐ VÀ ĐỀ NGHỊ NÂNG CAO KHẢ NĂNG HỌC
TẬP TRỰC TUYẾN CHO SINH VIÊN
Nguyễn Đình Cường
Tóm tắt: Nội dung bài viết giới thiệu một số công cụ phần mềm hỗ trợ sinh viên, giảng
viên học tập trực tuyến qua sử dụng phần mềm quản lý email Outlock Express, Mozilla Thunderbird, công cụ Google Drive, Youtube hỗ trợ upload file và bài giảng, kết hơp với hệ thống giảng dạy trực tuyến Zoom, Google Meet miễn phí Kinh nghiệm thông báo điểm kiểm tra, điểm thi qua hệ thống E-learning trước khi nhập điểm chính thức vào hệ thống cho sinh viên và một số vấn đề khó khăn khi triển khai tuần học số đề nghị cần được quan tâm
I Quản lý lớp học
Việc quản lý lớp học cần được giảng viên chú ý trước khi tuần lễ học số diễn ra Do đặc thù một số phần mềm hỗ trợ học tập trực tuyến ít bảo mật thông tin, nên với một địa chỉ email hay một tài khoản Zoom có thể có nhiều người đăng nhập vào hệ thống nhưng chỉ sử dụng một tài khoản đăng nhập Để quản lý tốt lớp học giảng viên nên khuyến khích sinh viên chọn tài khoản tên miền của Trường Đại học Nha Trang qua địa chỉ thư điện tử Giảng viên ngoài sử dụng hệ thống E-learning của đào tạo, có thể tự tạo cho mình những nhóm lớp học có thể kết nối và liên hệ nhanh với lớp học thông qua nhóm phần mềm Google Groups, hình 1.a-1.b:
Hình 1.b Sử dụng google group tạo nhóm
lớp học
Hình 1.a Hệ thống đào tạo Elearning
Trang 9Gửi thông báo, tin nhắn và tạo nhóm trao đổi học tập, hình 2.a-2.b: Giảng viên có thể liên hệ trực tiếp với nhóm sinh viên của mình qua thông qua tin nhắn trong hệ thống quản lý môn học E-learning hoặc Google Groups
Hình 2.a Sử dụng thông báo từ hệ
thống E-learning
Hình 2.b Sử dụng thông báo diễn đàn
Google Group
Sử dụng hộp thư quản lý nhiều tài khoản email: để quản lý thông tin lớp học giảng viên
có thể sử dụng hộp thư Outloock Express hoặc Mozilla Thunderbird quản lý và trao đổi, kiểm tra email nhanh khi cần thiết, hình 3
Hình 3 Kiểm tra email nhanh với Mozilla Thunderbird
II Quản lý buổi học trực tuyến
Có hai phần mềm thường được sử dụng để giảng viên, và sinh viên có thể trao đổi giảng dạy trực tuyến: hình 4, Zoom và Google Meet Giảng viên và sinh viên có thể tham gia giảng dạy, chấm bài trực tuyến bằng cách upload bài giảng, quay phim bài tập kiểm tra upload lên hệ thống, đồng thời tận dụng links share của Google Drive gửi bài giảng đến sinh viên
Trang 10Nộp bài tập qua hệ thống Googe Drive, hình 5.a-5.b: Mỗi giảng viên, sinh viên nếu có tài khoản email của nhà trường và được cấp một clould dababase, để upload chia sẻ dữ liệu:
Hình 5.a Upload file bài giảng, tài
nguyên qua hệ thống E-learning Hình 5.b Upload và chia sẻ file qua
Google Drive
Trong trường hợp này giảng viên có thể ra bài tập kiểm tra, phát phiếu thăm dò và đánh giá trực tuyến: để đánh giá kết quả học tập, điểm kiểm tra, điểm thi môn học Giảng viên có thể kết hợp lấy danh sách sinh viên, hoặc làm phiếu câu hỏi đánh giá trực tiếp gửi đến sinh viên Tất cả sinh viên của lớp học đều nhận được phiếu này qua Google Word, Google Excel online và có thể chỉnh sửa, phản hồi thông tin trực tiếp về lại cho giảng viên, hình 6
Hình 4 Trình bày bài giảng và tham gia lớp học qua Zoom, Google Meet kết hợp với máy tính cá nhân và smart phone
Trang 11Hình 6 Phiếu đánh giá nhận xét hoặc sinh viên có thể làm bài tự luận trực tiếp
vào phần của mình
Tất cả sinh viên đều có thể xem trước điểm kiểm tra quá trình, điểm thi khi giảng viên gửi trước bảng điểm qua hệ thống Elearning chưa cần qua xác nhận của Hệ thống đào tạo, hình 7.a-7.b
Hình 7.a Website lấy bảng điểm để nhập điểm kiểm tra, điểm thi
Sau đó gửi đến tất cả sinh viên qua upload hệ thống đào tạo E-learning
Hình 7.b Gửi file điểm kiểm tra, điểm thi đên sinh viên trước thời gian nhập vào
hệ thống chính thức
III Tiện ích phương tiện hỗ trợ
Để tăng hiệu quả học tập trực tuyến, giảng viên và sinh viên có thể sử dụng tài khoản thư viện Trường Đại học Nha Trang download và mượn sách, luận văn, tạp chí phục vụ cho học tập E-learning, http://thuvien.ntu.edu.vn/ hình 8:
Trang 12Hình 8 Website thư viện Trường Đai học Nha Trang
Sử dụng phòng máy tính giảng đường G8 và các khu tự học: ngoài máy tính cá nhân, giảng viên và sinh viên có thể sử dụng máy tính ở phòng thực hành Kết hợp với điện thoại di động hoặc smart phone để có thể truyền âm thanh qua giảng dạy bằng cách đăng nhập một tài khoản vào hai máy Tài khoản lần 01 cho máy tính để bàn và một tài khoản lần 02 cho smart phone để tiếng nói được truyền với chất lượng cao, sinh viên
và giảng viên có thể nghe báo cáo tốt
Giảng viên có thể sử dụng hệ thống máy photo ở các văn phòng khoa để hỗ trợ in ấn tài liệu phục vụ quá trình giảng dạy bằng cách kết nối từ xa, ví dụ hệ thống in wifi hình 9
Hình 9 Hệ thống in tự động qua máy photocopy
Cách thức in tự động:
Bước 1: Cài driver máy photo của văn phòng khoa vào máy tính cá nhân
Bước 2: Nhập địa chỉ IP của máy photo vào máy tính cá nhân
Có thể kiểm tra trước trạng thái máy photo có đang hoạt động hay không bằng lệnh: ping 10.160.10.199 (địa chỉ IP máy photo Khoa Công Nghệ Thông Tin)
Tiện ích tạo bài giảng, báo cáo: một cách đơn giảng, giảng viên có thể tạo cho mình bài giảng báo cáo, bằng cách sử dụng công cụ Power Point, bài giảng có thể ghi hình lại và nhúng file video trực tiếp vào slide để dễ dàng minh họa nội dung thông tin cần trình bày, hình 10
Trang 13Hình 10 Nhúng video vào slide bài giảng sử dụng power point
IV Một số vấn đề khi triển khai tuần học số
Mỗi học kì, Trường Đại học Nha Trang có dành một tuần cho giảng viên và sinh viên
áp dụng tuần học số Tuy nhiên quá trình thực hiện cho thấy còn một số vấn đề cần quan tâm
• Còn thiếu phòng học có đầy đủ máy tính và trang thiết bị cho sinh viên, giảng viên học tập, giảng dạy Đề nghị có phòng máy tính phục vụ cho sinh viên và giảng viên trong tuần học số
• Khả năng sử dụng phần mềm và máy tính hỗ trợ tuần học số cho sinh viên năm thứ nhất rất yếu Vấn đề này cần được quan tâm, và khắc phục bằng cách
hướng dẫn sinh viên sử dụng công cụ hỗ trợ tuần học số ngay trong tuần học giáo dục công dân
• Cần có nhóm hỗ trợ kỹ thuật riêng cho giảng viên khi cần thiết trong quá trình triển khai tuần học số
• Hệ thống mạng máy tính wifi thường không ổn định và chậm khi triển khai tuần học số Đề nghị tăng cường băng thông và mở rộng phủ sóng wifi trong khuôn viên nhà trường
Một vấn đề quan tâm khác trong hệ thống học trực tuyến là việc đăng kí môn học và đóng học phí Chúng tôi đề nghị sinh viên có thể tự đăng kí môn học qua hệ thống E-learning trong khuôn khổ giới hạn số lượng môn học, tránh tình trạng sinh viên có thể đăng kí quá nhiều môn học trong một học kì làm cho chất lượng học tập kém Sau khi đăng kí môn học xong, mỗi sinh viên có thể được cấp một mã số đóng tiền tự động và sinh viên có thể chuyển khoản tiền học phí tới ngân hàng trực tiếp qua mã số đã được thông báo
Trang 14V Kết luận
Bài báo trình bày kinh nghiệm sử dụng các công cụ hỗ trợ giao tiếp trực tuyến hỗ trợ cho tuần học số ở Trường Đại học Nha Trang Hầu hết các công cụ đều miễn phí, chúng tôi cố gắng hướng dẫn cách sử dụng để đạt hiệu quả học tập và miễn phí cho người dùng
là sinh viên và giảng viên Một số vấn đề khó khăn cho sinh viên khóa mới khi triển khai tuần học số đã được đề cập, giảng viên vẫn còn gặp khó khăn khi sử dụng phần mềm giảng dạy trực tuyến Vấn đề hạ tầng mạng và trang thiết bị phòng học trực tuyến cần được quan tâm Một số vấn đề liên quan đến chất lượng đào tạo như: giám sát việc đăng kí môn học, đảm bảo đóng học phí cho học kì và những phương pháp đánh giá chất lượng đào tạo môn học là điều chúng tôi quan tâm trong thời gian tiếp theo của việc thực hiện tuần học số
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Website www.ntu.edu.vn, trang web Trường Đại học Nha Trang
2 Website http://thuvien.ntu.edu.vn/, trang thư viện Trường Đại học Nha Trang
3 Bô giáo dục và đào tạo, kỷ yếu Hội thảo đề xuất cơ chế chính sách nghiên cứu khoa
học dành cho giảng viên trẻ trong các cơ sở giáo dục đại học, 9/2019
4 Nguyễn Đình Cường, tài liệu đề xuất giảng dạy và triển khai học tập E-learning ở
Trường Đại học Nha Trang Bài báo cáo kết thúc lớp học chứng chỉ giảng viên chính do viện kiểm định đánh giá chất lượng giáo dục tổ chưc tại Đại học Nha Trang, 2017
Trang 15
MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG THỰC HIỆN ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP/ CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP CÁC ĐỀ TÀI THIẾT KẾ VÀ LẬP TRÌNH ỨNG DỤNG WEB CỦA KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
- ĐẠI HỌC NHA TRANG
Nguyễn Đình Hoàng Sơn
Bộ môn Hệ thống thông tin – Khoa Công nghệ thông tin – Đại học Nha Trang
Email: sonndh@ntu.edu.vn Điện thoại: 08 3870 5124
Tóm tắt – Theo xu hướng phát triển ngành nghề trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay,
các học phần liên quan thiết kế và lập trình web chiếm một tỷ trọng đáng kể trong chương trình đào tạo của Khoa Công nghệ thông tin - Đại học Nha Trang [1] Do đó, các đề tài đồ án nghiệp (ĐATN)/chuyên đề tốt nghiệp (CĐTN) thiết kế và lập trình web được sinh viên lựa chọn rộng rãi Tuy nhiên, do sự lạm dụng việc lựa chọn các đề tài loại này cũng như sự kiểm duyệt chưa đầy đủ của các cấp liên quan mà chất lượng thực hiện ĐATN/CĐTN thiết kế và ứng dụng web chưa tốt trong những năm qua Bài viết này thảo luận một số vấn đề trong việc triển khai thực hiện ĐATN/CĐTN các đề tài thiết kế và lập trình web nhằm nâng cao chất lượng đánh giá cũng như tạo thuận lợi cho sinh viên
Từ khóa – tốt nghiệp, đồ án, chuyên đề, rubrics, thiết kế, lập trình, web
1 Đặt vấn đề
Đồ án tốt nghiệp/Chuyên đề tốt nghiệp là chuyên khảo mang tính tổng hợp sau khi kết thúc chương trình đại học kỹ thuật chuyên môn, bao gồm: những nghiên cứu về một vấn đề kỹ thuật hoặc toàn bộ công nghệ, công trình kỹ thuật thiết kế mang tính tổng hợp về toàn bộ dây chuyền công nghệ hoặc một công trình kỹ thuật ĐATN/CĐTN là một loại luận văn khoa học và được xem như một công trình nghiên cứu khoa học và được tính với số lượng tín chỉ lớn (ĐATN có khối lượng 10 tín chỉ và CĐTN với 5 tín chỉ) [1] Vì vậy sinh viên viết ĐATN/CĐTN phải cần thời gian để chuẩn bị không chỉ nội dung khoa học mà còn cả phương pháp luận nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của giảng viên Cũng vì tầm quan trọng của ĐATN/CĐTN mà Trường Đại học Nha Trang
Trang 16đã ban hành Quyết định 506/QĐ-ĐHNT, ngày 15/06/2019 về Hướng dẫn công tác tốt nghiệp kèm theo là Phụ lục Hướng dẫn đánh giá ĐATN.CĐTN nhằm nâng cao chất lượng của ĐATN/CĐTN [2]
Theo xu thế nghề nghiệp xã hội hiện nay, sinh viên Khoa Công nghệ thông tin Đại học Nha Trang khi thực hiện đề tài ĐATN/CĐTN đã lựa chọn các đề tài lĩnh vực thiết kế và lập trình website chiếm phần lớn Ví dụ như với khóa 57 có 11/26 đồ án, khóa 58 có 5/24 đồ án (chỉ tính riêng ngành Công nghệ thông tin) Tuy nhiên CĐTN thì
số lượng đề tài về website chiếm số lượng rất lớn với khóa 58 có 18/48 đề tài) Bên cạnh một số đề tài website có chất lượng, áp dụng những công nghệ mới, có tính ứng dụng cao, thể hiện sự đầu tư nghiên cứu nghiêm túc của sinh viên thì vẫn có các đề tài gặp một số vấn đề sau:
Thứ nhất, sinh viên còn mơ hồ về đề tài mình sẽ thực hiện, mặc dù các đề tài
được mô tả rõ ràng trong đề cương Điều này xảy ra do sinh viên chủ quan hoặc không đọc kỹ đề cương, cứ nghĩ là làm website giống như những gì mình đã đọc được trên Internet hoặc tham khảo những người khác Do đó sản phẩm làm ra không hoàn chỉnh, không đáp ứng được đầy đủ những yêu cầu đặt ra và việc sửa chữa cũng gặp rất nhiều khó khăn
Thứ hai, phần lớn sinh viên thực hiện đề tài ĐATN, CĐTN thường không theo
đúng với quy trình nghiên cứu, phát triển phần mềm (ở đây là website) Sinh viên thường tập trung vào việc xây dựng cơ sở dữ liệu sau đó đi thẳng vào viết code mà bỏ qua hoặc thực hiện sơ sài việc phân tích, đánh giá thực trạng cũng như sự thay đổi của hệ thống sau khi cài đặt website Việc này cũng có một phần trách nhiệm của giảng viên hướng dẫn (GVHD) khi chưa kiểm tra chặt chẽ kế hoạch các bước thực hiện đề tài của sinh viên
Thứ ba, một trong những sai lầm lớn nhất của các sinh viên là không tham khảo
ý kiến của GVHD thường xuyên Sinh viên vì nhiều lý do khác nhau (đi thực tập xa, đi làm thêm…) mà tự mình làm đến sát ngày hết hạn nộp đồ án mới trình bày GVHD xem, góp ý về đồ án thậm chí còn tự ý in báo cáo đem đi nộp Mặc dù việc liên lạc với GVHD không phải là gặp mặt trực tiếp, có thể thông qua email hoặc các phương tiện liên lạc
Trang 17khác để có thể báo cáo cho GVHD biết được tiến độ và kết quả thực hiện để có biện pháp đánh giá và điều chỉnh
Thứ tư, đối với ĐATN, CĐTN, việc viết báo cáo là là một cơ sở quan trọng để
đánh giá quá trình thực hiện đồ án Đại học Nha Trang đã ban hành mẫu báo cáo để sinh viên có thể dựa vào đó để hoàn thành báo cáo Tuy nhiên, đối với phần cơ sở lý thuyết, sinh viên thường không kết hợp với sản phẩm website của mình mà viết rất tùy tiện, phần lớn là copy/paste từ những nguồn trên Internet không đáng tin cậy Vì vậy có những báo cáo trình bày những kiến thức chủ quan, sai lầm hoặc trình bày văn phong không phù hợp với một công trình khoa học Đối với kết quả làm ra sinh viên còn viết
sơ sài về tính ứng dụng thực tiễn cũng như hướng phát triển cải tiến của đề tài
Thứ năm, khi áp dụng rubric trong đánh giá ĐATN/CĐTN đã liệt kê chi tiết
những tiêu chí đánh giá chung cũng như các tiêu chí thành phần khi thực hiện giúp giảng viên hướng dẫn, giảng viên phản biện (GVPB) cũng như Hội đồng bảo vệ (HĐBV) có cơ sở cho điểm [2] Tuy nhiên, rubric chỉ tính tổng cộng điểm các tiêu chí
mà không đưa ra hướng dẫn khi sinh viên không đạt mức chất lượng của một trong những tiêu chí đó
2 Một số giải pháp để nâng cao chất lượng thực hiện ĐATN/CĐTN
Hiện nay, xu hướng chọn các đề tài thiết kế và lập trình website trong sinh viên vẫn rất phổ biến, để có thể nâng cao chất lượng các đề tài loại này thì tác giả nêu một
số giải pháp như sau:
Một là, không nên xem các đề tài thiết kế và lập trình website là những đề tài
đơn giản bởi vì website cũng chỉ là sản phẩm phần mềm có mục đích sử dụng cụ thể Vấn đề ở đây là GVHD đưa vào đề tài những kiến thức cần sinh viên phải bỏ công ra nghiên cứu tương xứng với trình độ và thời gian quy định Đối với các đề tài thiết kế website, cần bắt buộc sinh viên nghiên cứu các công nghệ web hiện đại trong thực tế và đưa vào đề tài, ví dụ như thiết kế đáp ứng cho nhiều thiết bị khác nhau (bootstrap, Progressive Web Apps, Accelerated Mobile Pages…), áp dụng các thư viện, framework frontend hỗ trợ hiển thị (ReactJS, AngularJS và Vue.JS…), lập trình dựa trên mô hình lập trình (3-Layers hoặc MVC), ứng dụng điện toán đám mây, thiết kế và ứng dụng các dịch vụ web…GVHD có thể đưa các thuật toán đề nghị để sinh viên nghiên cứu thêm
Trang 18Tóm lại, thiết kế và lập trình web chỉ là một trong những phương pháp phát triển phần mềm minh họa cho kết quả nghiên cứu, không thể nói nó đơn giản và dễ dàng hơn các phương pháp khác
Hai là, GVHD cần xác định rõ ràng mục tiêu nghiên cứu, giới hạn nội dung hợp
lý cho sinh viên dựa theo chuẩn đầu ra của chương trình học, tránh việc sinh viên quá
"tham lam" dẫn đến trường hợp nội dung thực hiện quá nhiều làm giảm chất lượng chung của đề tài GVCN cần kiểm soát kế hoạch thực hiện của sinh viên môt cách chặt chẽ, đúng quy trình, bắt buộc sinh viên phân tích rõ ràng hệ thống được xác định trước khi thiết kế Nói chung GVHD phải xác định cho sinh viên là đề tài ĐATN/CĐTN của
họ là duy nhất có tính ứng dụng cao, gắn liền với một đơn vị, sản phẩm hay dịch vụ cụ thể, không thể áp dụng vào hệ thống khác, dịch vụ khác
Ba là, mặc dù Trường Đại học Nha Trang đã áp dụng ứng dụng Turnitin trong
chống đạo văn đối với sản phẩm học thuật [3], tuy nhiên những kiến thức cơ bản sinh viên đều không thể tự viết được mà chỉ chép lại trong sách hoặc giáo trình Do đó GVCN kiểm soát và hướng dẫn sinh viên trình bày cơ sở lý thuyết từ những nguồn xác định tin cậy và minh họa ví dụ bằng chính kết quả nghiên cứu của sinh viên chứ không lấy ví
dụ mẫu có sẵn Sinh viên cũng phải nêu được hạn chế của đề tài và nêu được cơ sở phát triển thêm của đề tài trong tương lại một cách hợp lý Bên cạnh đó, việc hướng dẫn sinh viên viết và trình bày báo cáo trình diễn trước HĐBV cũng cần được coi trọng vì lúc này HĐBV chủ yếu kiểm tra khả năng ứng biến cũng như năng lực hiểu rõ chi tiết trong
đề tài Ngoài ra, trong một số trường hợp sẽ có khách mời tham gia dự thính và đây là dịp để quảng bá năng lực của sinh viên
Bốn là, cần bổ sung nội dung vào quy chế đánh giá ĐATN/CĐTN bằng rubric
theo hướng phải tối thiểu đạt yêu cầu tất cả tiêu chí đánh giá, đảm bảo đề tài phải do sinh viên tự nghiên cứu và thực hiện Không thể để xảy ra trường hợp sinh viên hoàn thành tốt hầu hết các tiêu chí nhưng không đạt một tiêu chí nào đó và tổng điểm là đạt yêu cầu trở lên Hoặc là sinh viên nhờ hoặc thuê làm sản phẩm sau đó viết lại báo cáo rất tốt nhưng khi trình bày nội dung cho GVPB lại không đạt Đối với các đề tài ĐATN/CĐTN thiết kế và lập trình web cần chi tiết hóa tiêu chí nội dung đạt được Có
Trang 19thể tham khảo các công ty hợp tác để hoàn thiện các tiêu chí này theo hướng thực tế trong xã hội
Rút kinh nghiệm từ việc giao, hướng dẫn và tổ chức bảo vệ ĐATN/CĐTN cho sinh viên các khóa trước, nhằm tạo sự thống nhất và giúp cho sinh viên có được kết quả tốt khi thực hiện nhiệm vụ làm ĐATN/CĐTN, tác giả đã nêu ra những tồn tại và phương hướng giải quyết trong việc chủ động, tích cực thiết kế và lựa chọn đề tài, nhiệm vụ của GVHD hướng dẫn sinh viên để bảo đảm đạt mục tiêu về chất lượng làm và bảo vệ ĐATN/CĐTN, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và chuẩn bị tốt các điều kiện cho các khoá tiếp theo
Tài liệu tham khảo
[1] Chương trình đào tạo ngành Công nghệ thông tin, Đại học Nha Trang,
Trang 20ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC GHI CHÉP BÀI GIẢNG CỦA SINH
VIÊN ĐỐI VỚI KẾT QUẢ CUỐI KỲ
Huỳnh Tuấn Anh – Khoa CNTT, Đại học Nha Trang
Tóm tắt: Với sự phát triển của công nghệ, sinh viên có thể có nhiều cách để ghi chép,
tiếp thu bài giảng của giáo viên trên lớp Có thể kể ra các cách như: Sử dụng điện thoại chụp bài giảng, bật điện thoại để ghi âm, quay phim giáo viên giảng bài, cách truyền thống đó là ghi chép bài giảng vào vở hoặc “highlight” cẩn thận vào giáo trình Trong báo cáo này, tôi so sánh các kết đạt được của các lớp do tôi phụ trách giảng dạy môn học tin học cơ sở với cách ghi bài truyền thống và các cách ghi chép khác, từ đó tôi đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng sinh viên thông qua cách tiếp thu kiến thức trên lớp của sinh viên
1 Giới thiệu
Hiện nay, với sự phát triển của Công nghệ Thông tin, việc tìm kiếm các bài giảng của môn môn học trên internet khá dễ dàng Điều này dẫn đến việc sinh viên ít chú ý tập trung ghi chép trên lớp Bên cạnh đó, việc sử dụng điện thoại trong lớp cũng dẫn đến việc lười biếng ghi chép bài giảng trong giờ học Thay vì ghi chép, sinh viên lại dùng điện thoại chụp lại bài giảng trên bảng, trên màn hình trình chiếu của giáo viên Nhiều sinh viên đại học Nha Trang có đi làm thêm ngoài giờ đề trang trải cho chi phí học tập, nên thời gian để xem lại bài ở nhà cũng hạn chế Vì vậy, một trong những giải pháp đề nâng cao chất lượng đào tạo là làm cho sinh viên có thể hiểu bài, ghi nhớ những kiến thức cơ bản tại lớp Báo cáo trình bày tác dụng của việc ghi chép bài giảng theo phương pháp truyền thống (ghi chép vào vở, “highlight” vào bài giảng giáo trình) so với việc ghi chép bằng cách khác như: Sử dụng điện thoại di động để chụp ảnh, ghi nhớ kiến thức bằng cách quan sát Kết quả khảo sát được thể hiện qua điểm tổng kết môn học trên số sinh viên các lớp có tham gia vào kỳ thi cuối kỳ
2 Khảo sát
Báo cáo dựa trên việc khảo sát môn học tin học cơ sở của 8 lớp thuộc khóa 62
Đề cương học phần của môn tin học cơ sở bao gồm 6 phần: Hiểu biết về Công nghệ Thông tin, Sử dụng máy tính, xử lý văn bản, sử dụng bảng tính, sử dụng trình chiếu, sử dụng internet Điểm đánh giá của môn học bao gồm điểm kiểm tra (chiếm 50%, gồm 6 bài kiểm tra ứng với 6 chủ đề), điểm thi Các bài kiểm tra được thực hiện bằng hình thức trắc nghiệm, điền từ, điền đáp án trên ứng dụng E-Learning của trường Đại học Nha Trang
Trong quá trình lên lớp, theo quan sát, phần đông sinh viên các lớp ít có sự ghi chép bài vào vở hay “highlight” các kiến thức trọng tâm cần chú ý vào giáo trình Điều này cũng xuất phát từ sự thay đổi cách giảng dạy chủ yếu bằng phấn bảng ở bậc phổ thông sang cách giảng dạy chủ yếu bằng phương tiện máy chiếu ở bậc đại học Tuy nhiên, nếu chú ý theo dõi bài giảng sinh viên vẫn biết cách chắt lọc kiến thức để ghi chép hoặc đánh dấu trực tiếp vào bài giảng Trong 8 lớp khảo sát, có hai lớp, 62.QTDL-
Trang 21còn lại 62.CNOT-1,2,3, 62.CBTS, 62.KHHH, 62.CDT chỉ có các sinh viên ở 3 dãy bàn đầu lớp ghi chép, các sinh viên còn lại chỉ ngồi quan sát, sử dụng điện thoại để quay phim chụp ảnh bài giảng mặc dù giáo viên có kiểm tra nhắc nhở phải ghi chép Cá biệt
có sinh viên trong một học kỳ chỉ sử dụng ½ trang giấy để ghi chép cho tất cả các môn, một số sinh viên không có cả giáo trình của môn học trong suốt học kỳ Trong số 6 lớp được liệt kê sau, lớp 62.CNOT-3 có tỉ lệ vắng học thấp hơn cả, tỉ lệ sinh viên tham gia các buổi học đều trên 90%, kể cả trong những buổi không có bài kiểm tra, tỉ lệ sinh viên ghi chép bài theo quan sát cũng cao hơn các lớp còn lại Kết quả báo cáo số lượng sinh viên ghi chép không có được con số chính xác tỉ mỉ như mong muốn do không có chủ đích thống kê ở đầu học kỳ, nhưng đây cũng là kết quả bước đầu để thực hiện các thống
kê một cách chính xác sau này
Kết quả cuối kỳ đối với môn Tin học cơ sở của các lớp được thống kê trong bảng dưới đây, số liệu là tỉ lệ sinh viên có điểm trung bình cuối kỳ lớn hơn hay bằng 5 so với tổng số sinh viên tham gia kỳ thi cuối kỳ của mỗi lớp (không phải số sinh viên theo danh sách lớp)
62.CNOT-3
62.CBT
S
62.KHH
H 98.4% 95.2% 70.6% 79.7% 77.1% 90.5% 69.6% 77.6% Qua bảng thống kê trên có thể thấy rằng, ghi chép theo cách truyền thống và
“highlight” vào bài giảng vẫn là một cách hiệu quả để tiếp thu kiến thức trên lớp Tỉ lệ sinh viên của hai lớp 62.QTDL-1 và 62.QTDL-2, 2 lớp thực hiện ghi chép bài vào vở
và bài giảng, có điểm tổng kết môn học từ 5 trở lên, 98.4% và 95.2%, cao hơn nhiều so với các lớp còn lại Thực tế, phần lớn sinh viên Đại học Nha Trang có đi làm thêm để
có chi phí trang trải việc học nên không có nhiều thời gian cho việc xem lại bài bài giảng Cách tốt nhất để học tập đối với sinh viên vẫn là tận dụng thời gian trên lớp để tiếp thu bài giảng Việc ghi chép còn đòi hỏi sự tập trung chú ý vào bài giảng, qua đó sinh viên mới có thể chọn ra những kiến thức cơ bản cần ghi nhớ của môn học
3 Giải pháp đề xuất
Thực trạng hiện nay, đa số sinh viên đến lớp rất lười ghi chép bài Điều này dẫn đến hiệu quả tiếp thu kiến thức không cao Do đó, một trong những phương pháp nâng cao chất lượng đào tạo là đưa ra những khuyến khích để sinh viên tích cực ghi chép bài trên lớp, ghi chép những kiến thức tự tìm hiểu vào vở Tôi đưa ra một số khuyến khích sau:
- Nên cho phép sinh viên sử dụng tài liệu là vở ghi chép của môn học trong các
kỳ thi, kiểm tra của các môn học nếu có thể Giáo viên cần đưa ra những biện pháp để xác nhận vở của sinh viên sử dụng có phải là vở “chính chủ” của sinh viên hay không
- Thay vì tính điểm chuyên cần thông qua hình thức điểm danh thì có thể tính điểm chuyên cần cho sinh viên dựa trên việc ghi chép bài trên lớp của sinh viên
Trang 22- Thay đổi thiết kế bài giảng để cho sinh viên có thể theo dõi bài và “highlight”, ghi chú vào bài giảng nếu giáo viên sử dụng máy chiếu để giảng dạy Ví dụ, có thể chừa các khoảng trống trong bài giảng in ra cho sinh viên để vào giờ học trên lớp sinh viên
có thể ghi chú thêm vào bài giảng
- Khuyến khích sinh viên sử dụng bài giảng in thay cho bài giảng trên điện thoại Việc sử dụng bài giảng in giúp cho sinh viên dễ tập trung theo dõi bài và ghi chép bài hơn so với việc sử dụng bài giảng trên điện thoại
4 Kết luận
Trong kỷ nguyên số, mọi kiến thức có thể tìm được trên internet, tuy nhiên để hiểu được những kiến thức tìm được là một thách thức đối với sinh viên về mặt kiến thức và thời gian Ghi chép, đánh dấu vào bài giảng là một cách để ghi lại các kiến thức trọng tâm của môn học từ đó sinh viên mới có thể tìm hiểu, mở rộng kiến thức của mình Đây cũng là một cách để sinh viên quen dần với việc học thông qua các phương tiện máy chiếu ở bậc đại học
Tài liệu tham khảo
- Số liệu thống kê từ các lớp giảng dạy trên trang web quản lý đào tạo của Trường Đại học Nha Trang
Trang 23DẠY HỌC LỚP ĐÔNG, ĐÔI ĐIỀU CHIA SẺ
Cấn Thị Phượng, Bộ môn Mạng và Truyền thông, Khoa Công nghệ thông tin
Tóm tắt: Khi đang quen với giảng đường chỉ với số lượng sinh viên thường là
40-50 sinh viên, thậm chí là chỉ có dưới 15 sinh viên với các lớp chuyên ngành Tôi một giảng viên không phải trẻ nhưng chưa đủ trải nghiệm với các lớp sĩ số đông, cũng gặp nhiều thử thách trong công việc giảng dạy, đánh giá thường xuyên: Thời gian và công sức Và tự đặt câu hỏi là Có giảng viên nào cũng cảm thấy thử thách khi dạy lớp đông như mình không? Làm cách nào có thể vẫn tạo nhiều hoạt động đánh giá cho sinh viên, vẫn kịp thời phản hồi, và tiết kiệm thời gian công sức nhưng chất lượng đánh giá sinh viên thì vẫn đảm bảo tốt? Với câu hỏi này chính là nội dung mà tôi muốn chia sẻ trong phạm vị bài báo này
Từ khóa: lớp đông, áp lực giảng dạy và đánh giá với lớp đông, quản lý lớp học
1 Giới thiệu
Thế nào là lớp đông? Có người cho rằng sĩ số 50 là đông, nhưng theo quan điểm của người khác thì một lớp có trên 100 sinh viên mới là đông Theo tác giả Asma Tayeg [1], đã thống kê quan điểm về kích cỡ lớp đông trước đây như bảng sau:
Như vậy mặc dù dữ liệu khá cũ nhưng so sánh với các lớp hiện nay của khoa thì
có thể thấy các giáo viên hiện tại đã và đang làm việc với các lớp rất đông
Trang 24Theo nhiều nghiên cứu, lớp đông đem lại nhiều cơ hội cho công việc triển khai dạy học Theo các tác giả của cuốn sách [2], lớp đông giúp giảng viên có thể thể hiện, cải thiện được kĩ năng tổ chức, quản lý, tạo môi trường học tập thân thiện, tăng sự hứng thú của người học với nội dung giảng dạy Với lớp đông, cơ hội khác đem tới cho giảng viên là giao tiếp với nhiều sinh viên biết thêm về quê quán, bạn bè, gia đình, văn hóa của quê hương họ, thực sự là cơ hội tốt để cải thiện kĩ năng giao tiếp của giảng viên Bên cạnh đó các kĩ năng dạy và thuyết trình của người dạy cũng được cải thiện
Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội như đã nói ở trên, lớp đông mang lại nhiều thách thức, trở ngại cho hoạt động trong lớp học Trong lớp học, mục tiêu chính của người giảng viên là đối xử với từng sinh viên theo cách phù hợp để điều chỉnh hành vi và nhân cách của sinh viên và hơn nữa còn tạo ra cơ hội để người học phát triển kỹ năng, khả năng và tiềm năng theo cách tối ưu nhất Trong lớp học quá đông, giảng viên sẽ có thể mất nhiều thời gian để yêu cầu sự chú ý của sinh viên hoặc tập trung vào các hoạt động quản lý lớp học
Giảng dạy cho lớp đông, giảng viên cũng khó để tạo ra sự tương tác đầy đủ với từng người học, việc phản hồi kết quả có thể không kịp thời vì khối lượng bài cần đánh giá là quá lớn…Điều này ít nhiều cũng ảnh hưởng tới kết quả của việc dạy và học Làm cách nào để người dạy có thể thực hiện tốt công việc cho lớp đông trong khoảng thời gian tối ưu mà không bị quá tải? Trong bài viết này tôi mong muốn tìm ra được giải pháp để trả lời cho câu hỏi này
2 Những thách thức gặp phải trong khi giảng dạy lớp đông
Vấn đề trong việc dạy lớp đông là khó quản lý lớp, không thể thỏa mãn mọi yêu cầu của sinh viên khi họ có những mối quan tâm riêng, cá tính riêng, khả năng riêng, khó để tổ chức hoạt động hiệu quả trong thời gian và không gian cho phép, khó cung cấp cơ hội như nhau cho sinh viên thực hành, khó cung cấp phản hồi và đánh giá đúng thời gian và hiệu quả
Cũng theo nghiên cứu [1], quản lý lớp học là việc tổ chức và triển khai việc quản
lý thời gian, sự tham gia của sinh viên vào bài học, sự tích cực của sinh viên khi thảo luận, và kết nối trong lớp Nó liên quan tới phương thức, chiến lược và kĩ năng của giáo