1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bằng phân tích vi mô ( phân tích doanh nghiệp, phân tích ngành ) anh chị nhận định một số doanh nghiệp có truyển vọng phát triển trong thị trường chứng khóan VN hiện nay

21 562 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bằng Phân Tích Vi Mô ( Phân Tích Doanh Nghiệp, Phân Tích Ngành ) Anh Chị Nhận Định Một Số Doanh Nghiệp Có Triển Vọng Phát Triển Trong Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam Hiện Nay
Chuyên ngành Chứng Khoán
Thể loại Đề tài
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 452 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với các hợpđồng gia công như vậy, ngành Dệt may Việt Nam phát triển nhanh chóng trong các năm1987-1990, các xí nghiệp Dệt May được thành lập khắp trên cả nước, thu hút hàng trămnghìn lao

Trang 1

PHẦN I: CỞ SỞ LÝ LUẬN

Qui trình phân tích chứng khoán phụ thuộc vào quan điểm của từng nhà đầu tư Tuynhiên, tựu chung lại có thể sử dụng qui trình phân tích từ trên xuống, từ dưới lên, hoặckết hợp cả hai

Trong thực tế, phương pháp phân tích theo quy trình từ trên xuống được áp dụng rộngrãi nhất Tức là bắt đầu qui trình phân tích nền kinh tế- xã hội và tổng quan về thị trườngchứng khoán trong phạm vi toàn cầu và quốc gia (phân tích kinh tế vĩ mô), sau đó phântích theo các ngành cụ thể (phân tích ngành)và cuối cùng là phân tích từng công ty riêng

lẻ (phân tích công ty)

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng ta sẽ đi tìm hiểu lý thuyết về phân tíchngành và phân tích từng công ty riêng lẻ

I/ PHÂN TÍCH NGÀNH

1 Phân tích ngành

Trước khi phân tích các chứng khoán riêng lẻ, người ta cần thiết phải tiến hành phân tíchngành, điều này là do:

- Lợi suất của ngành là thay đổi theo thời gian, do đó nếu phân tích ngành nhà đầu

tư sẽ chọn được những ngành có lợi suất cao để đầu tư

- Ngay trong cùng một ngành thì lợi suất thu nhập cũng không ổn định Một ngànhhoạt động tốt tại thời điểm nào đó thì không có nghĩa nó sẽ hoạt động tốt trongtương lai Vì lý do này nhà đầu tư phải luôn theo dõi động thái hoạt động ngành đểtìm cơ hội đầu tư và rút vốn đầu tư đúng lúc

- Vào cùng một thời điểm, các ngành khác nhau sẽ có mức rủi ro khác nhau, do đócần đánh giá mức độ rủi ro của ngành để xác định mức lợi suất đầu tư tương xứngcần phải có

- Rủi ro mỗi ngành có sự biến động không nhiều theo thời gian, do vậy ta có thểphân tích mức rủi ro từng ngành trong quá khứ để dự đoán rủi ro của nó trongtương lai

* Nội dung cần phân tích bao gồm:

 Phân tích ngành thực chất là phân tích quan hệ cung - cầu một, hoặc một nhómhàng hóa, dịch vụ do một ngành nào đó đảm nhận

 Phân tích chu kỳ sống của sản phẩm

 Phân tích cơ cấu và và các thế lực của ngành

2 Các bước trong phân tích ngành:

a/ Xác định hệ số rủi ro β của ngành, từ đó tính toán mức sinh lời(lợi suất) yêu cầutheo mô hình CAPM:

E(R) = Rf + β x (Rm –Rf)

Trong đó:

E(R) : là mức sinh lời cần thiết

Trang 2

Rf : là mức sinh lời của tín phiếu phi rủi ro

Rm : là mức sinh lời của thị trường

Β : là hệ số rủi ro của ngành

b/ Phân tích chỉ số P/E của toàn ngành:

- Xem xét mối quan hệ của P/E ngành với P/E tổng thể của thị trường

- Xem xét các nhân tố cơ bản của ngành gây tác động trực tiếp tới P/E ngành như

hệ số trả cổ tức, mức sinh lời yêu cầu r và tỷ lệ tăng trưởng cổ tức (g)

c/ Ước tính thu nhập đầu cổ phiếu (EPS hay E): được thực hiện theo một số phươngpháp chủ yếu như phân tích chu kỳ kinh doanh; phân tích đầu vào- đầu ra; phân tíchmối quan hệ giữa ngành và nền kinh tế tổng thể

d/ Tính giá trị cuối kỳ của chỉ số ngành bằng cách nhân hệ số P/E cuối kỳ tính toánđược với mức ước tính thu nhập đầu cổ phiếu Sau đó so sánh giá trị chỉ số cuối kỳvới giá trị đầu kỳ để ước tính lợi suất

r = (giá trị chỉ số cuối kỳ - giá trị đầu kỳ + cổ tức nhận trong kỳ)/ giá trị đầu kỳ

e/ So sánh lợi suất đạt được r với lợi suất yêu cầu E( r) để quyết định đầu tư

II/ PHÂN TÍCH DOANH NGHIỆP

1 Phân tích chiến lược phát triển của DN

- Lịch sử của doanh nghiệp

- Nguồn nhân lực của doanh nghiệp

- Người lãnh đạo của doanh nghiệp

- Người lao động của doanh nghiệp

- Nguồn lực tài chính của doanh nghiệp

- Khách hàng và nhà cung cấp

- Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp

+ Kế hoạch đầu tư phát triển công nghệ

+ Kế hoạch sản phẩm

+ Kế hoạch phát triển thị trường

+ Kế hoạch huy động vốn dài hạn

2 Phân tích tài chính doanh nghiệp

- Cơ sở dữ liệu: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưuchuyển tiền tệ, bản thuyết minh tài chính,

- Phương pháp phân tích:

+ So sánh (giữa thực tế với kế hoạch, kì này với kì trước),

+ Phân tích tỉ lệ (đánh giá mối quan hệ giữa bộ phận với tổng thể),

+ Phân tích xu hướng

3 Nội dung phân tích

+ Khả năng thanh toán của DN

Trang 3

+ Cơ cấu tài sản và nguồn vốn của DN

+ Năng lực hoạt động của tài sản

+ Kết quả kinh doanh và phân phối thu nhập

+ Các chỉ tiêu về triển vọng phát triển của công ty

* Khả năng thanh toán của DN

Trang 4

Vòng quay Doanh thu bán chịu

trung bình Doanh thu bán chịu

Vòng quay Doanh thu thuần(4) vốn = -

ngắn hạn Vốn ngắn hạn bình quân

Vòng quay Doanh thu thuần(5) vốn = -

kinh doanh Vốn kinh doanh bình quân

* Kết quả KD và phân phối thu nhập

(1) Tỷ suất lợi nhuận doanh thu = Lợi nhuận sau thuế/Doanh thu

(2) Tỷ suất lợi nhuận tài sản (ROA) = (Lợi nhuận trước thuế + Lãi vay)/Tổng tài sản

(3) Tỷ suất lợi nhuận vốn CSH (ROE) = Lợi nhuận sau thuế/Tổng vốn CSH Bìnhquân

(4) Thu nhập ròng một cổ phiếu thường (EPS) = (Lợi nhuận ròng - cổ tức cổ phiếu ưuđãi) /Tổng khối lượng cổ phiếu thường đang lưu hành

Cổ tức một LNST dành trả cổ tức cho CPT

(5) cổ phần =

thường (DIV) Số CPT đang lưu hành

Hệ số chi Cổ tức mỗi cổ phiếu thường

Trang 5

* Các chỉ tiêu về triển vọng phát triển của công ty

(1) Hệ số giá thị trường trên thu nhập (P/E) = Thị giá CPT / EPS

(2) Chỉ số thị giá thư giá (M/B)= Thị giá cổ phiếu (market price - Pm) / Giá trị sổsách 1 CP thường (book value)

(3) Tốc độ tăng trưởng (growth rate) = Tỉ lệ thu nhập giữ lại (b) x ROE

PHẦN II: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM

I TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DỆT MAY

Chính thức hình thành từ cuối thế kỷ 19

Các hoạt động dệt may mang tính chất truyền thống thủ công ở Việt Nam đã có từ rấtlâu đời Một số làng nghề truyền thống vẫn tồn tại và phát triển như Vạn Phúc (HàĐông – Hà Nội), Triều Khúc (Thanh Trì - Hà Nội), Mẹo (Hưng Hà – Thái Bình)… Sựhình thành của ngành Dệt may Việt Nam với vai trò là một ngành công nghiệp được

Trang 6

đánh dấu bởi sự ra đời của nhà máy liên hợp Dệt Nam Định năm 1897 Năm 1976,các sản phẩm bắt đầu được xuất khẩu tới các nước thuộc khối Hợp đồng tương trợ kinh

tế với bạn hàng đầu tiên và quan trọng nhất là Liên Xô cũ thông qua các hợp đồng giacông Theo thỏa thuận, Việt Nam nhập khẩu bông từ Liên Xô cũ và bán thành phẩmcho Liên Xô Năm 1986, Việt Nam bắt đầu ký các hợp đồng gia công khối lượng lớnvới Liên Xô (được gọi là thỏa thuận 19/5), theo đó, Liên Xô cung cấp tất cả các nguyênliệu và thiết kế mẫu mã còn Việt Nam thực hiện công đoạn sản xuất Với các hợpđồng gia công như vậy, ngành Dệt may Việt Nam phát triển nhanh chóng trong các năm1987-1990, các xí nghiệp Dệt May được thành lập khắp trên cả nước, thu hút hàng trămnghìn lao động và là nguồn đóng góp đáng kể vào Ngân sách Nhà nước Tuy nhiên, với

sự sụp đổ của Liên Xô cũ và các nước Đông Âu, giai đoạn 1990-1992 là giai đoạn khókhăn nhất cho ngành Dệt May Việt Nam cả về đầu vào và đầu ra

Hội nhập quốc tế rộng rãi từ cuối thế kỷ 20

Nhờ có tiến trình Đổi mới và quá trình dịch chuyển sản xuất ngành công nghiệp Dệtmay sử dụng nhiều lao động từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển,ngành Dệt may Việt Nam bước sang một giai đoạn mới có sự hội nhập quốc tế rộng rãihơn được đánh dấu bởi Hiệp định buôn bán hàng dệt may giữa Việt Nam và cộng đồngchâu Âu ký kết ngày 15/12/1992 Các khách hàng quốc tế lớn của ngành Dệt may củaViệt Nam hiện nay là Mỹ, Nhật Bản và EU

Hiện trạng ngành

Việt Nam thuộc Top 10 nước xuất khẩu hàng dệt may

Theo số liệu của Trung tâm thương mại thế giới, Việt Nam đứng trong danh sách TOP

10 các nước có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất thế giới về hàng Dệt may trong giai đoạn2007-2009 và đứng ở vị trí thứ 7 trong năm 2010 với thị phần xuất khẩu gần 3%, sauTrung Quốc (thị phần 36.6%), Bangladesh (4,32%), Đức (5,03%), Italy (5%), Ấn Độ(3,9%) và Thổ Nhĩ Kỳ (3,7%)

Hàng Dệt may là ngành hàng xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam

Bình quân giai đoạn 2006-10/2011, ngành Dệt may đóng góp trên 15% vào tổng kimngạch xuất khẩu của cả nước Trong những năm 2006-2008, Dệt may là ngành hàng cógiá trị xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam, chỉ đứng sau dầu thô Tuy nhiên, từ năm

2009 tính đến hết 10 tháng đầu năm 2011, Dệt may đã vươn lên vị trí hàng đầu mặc dù

tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu có giảm nhẹ

Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may ( 2007 – 10/2011)

Kim ngạch XK Dệt may

Tăng trưởng so với cùng kỳ

năm trước tính theo giá hiện

thời

17.68% -0.59% 23.26% 29.40%

% tổng kim ngạch XK của

Trang 7

( Nguồn: GSO, HBBS )

Xuất khẩu Dệt may tăng trưởng mạnh trở lại từ năm 2010 nhờ mở rộng thị trường

và giá xuất khẩu tăng.

Tính theo giá hiện thời, kim ngạch xuất khẩu ngành Dệt may Việt Nam tăng trưởngmạnh trong năm 2008 (gần 18%) Tuy nhiên, đến năm 2009, dưới ảnh hưởng của cuộckhủng hoảng kinh tế toàn cầu, kim ngạch xuất khẩu Dệt may của Việt Nam giảmnhẹ (gần 0,6%) so với năm 2008 xuống còn 9.066 triệu USD Theo UNCTAD, sự sụtgiảm này có thể do các nhà sản xuất giảm giá hàng bán để khuyến khích người muatrong điều kiện nhu cầu tiêu thụ sụt giảm và do người mua chuyển sang sử dụng các sảnphẩm rẻ tiền hơn để cắt giảm chi tiêu trong tình hình kinh tế khó khăn Trong năm

2010, giá trị xuất khẩu Dệt may của Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ trở lại với tốc độtăng trên 20% (năm 2010) do các đơn hàng gia công được chuyển dần từ Trung Quốcsang Việt Nam, đồng thời, Việt Nam đã mở rộng thị trường xuất khẩu sang các thịtrường mới như Đài Loan, Hàn Quốc, các nước ASEAN và gần 30% (10 tháng năm2011) so với cùng kỳ năm trước

Trong 10 tháng đầu năm 2011, kim ngạch xuất khẩu ngành Dệt may tiếp tục tăng trưởngcao (gần 30% so với cùng kỳ năm 2010) Theo Bộ Công Thương, giá xuất khẩu Dệtmay của Việt Nam, tăng liên tục trong những tháng đầu năm 2011 kể từ tháng 3/2011.Riêng trong tháng 9/2011, giá các mặt hàng dệt may xuất khẩu tăng0,4% so với tháng8/2011 và tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước

Số liệu thống kê Hải quan nhiều năm qua cho thấy, chu kỳ xuất khẩu của hàng dệt maythường bắt đầu tăng trưởng vào quý 2 và đạt mức cao nhất vào quý 3 Trong 5 tháng đầunăm nay, xuất khẩu hàng dệt may đạt trung bình là 771 triệu USD/tháng Với mức tăngnhư hiện nay, cùng với tính chu kỳ xuất khẩu, chúng ta có thể kỳ vọng hàng dệt may sẽđạt kim ngạch trên 1 tỷ USD/tháng trong một vài tháng tới Tuy nhiên để đạt được kếhoạch xuất khẩu 10,5 tỷ USD trong năm 2010 thì trong 7 tháng còn lại của năm, trungbình mỗi tháng xuất khẩu dệt may phải đạt gần 950 triệu USD/tháng

Thị trường xuất khẩu: Các thị trường chủ yếu chiếm gần 90% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Việt Nam xuất khẩu hàng Dệt may đi 54 thị trường trên toàn thế giới Trong đó, cáckhách hàng lớn nhất của Việt Nam là Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Canada và Đài

Trong năm 2011, ngành Dệt mayhướng tới mục tiêu kim ngạch xuấtkhẩu 13-13,5 tỷ USD và đã thu vềthu về gần 11,7 tỷ USD trong 10tháng đầu năm 2011 Như vậy,trong 2 tháng cuối năm, ngành Dệtmay phải đạt kim ngạch khoảng650-900 triệu USD/tháng, nhữngcon số có thể thực hiện được đốivới ngành trong điều kiện hiện tại

Trang 8

Loan 9 tháng đầu năm 2011, kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt may đến các thị trườngnày chiếm gần 89,5% tổng kim ngạch.

- Thị trường Mỹ

Thị trường Mỹ vẫn là khách hàng nhập khẩu lớn nhất cho các hàng hóa của ViệtNam nói chung và các sản phẩm Dệt may nói riêng Bình quân giai đoạn 2006-2010, giátrị xuất khẩu hàng Dệt may của Việt Nam sang Mỹ chiếm trên 55% tổng giá trị xuấtkhẩu của ngành ra thị trường thế giới Đồng thời, ngành hàng Dệt may là ngành hàngchiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng gía trị xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ, chiếm bìnhquân trên 40% giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này trong các năm 2005-2010

Với những khó khăn vĩ mô chung và chính sách thắt chặt chi tiêu của Chính phủ Mỹ saukhi gỡ bỏ trần nợ công hồi đầu tháng 8/2011, các đơn hàng từ Mỹ có xu hướng sụt giảm.Đồng thời, ngành Dệt may Việt Nam cũng chủ động đẩy mạnh xuất khẩu sang các thịtrường gần hơn như Hàn Quốc và giảm phụ thuộc vào thị trường khắt khe này Do đó,trong 9 tháng đầu năm 2011, xuất khẩu Dệt may của Việt Nam sang Mỹ cũng tăngtrưởng chậm hơn tốc độ tăng trưởng xuất khẩu sang các thị trường chủ yếu khác(15,25%) trong khi tăng trưởng xuất khẩu vào Hàn Quốc tăng gần 142% Tỷ trọngkim ngạch xuất khẩu sang Mỹ giảm từ 55% xuống còn gần 50% giai đoạn này

- Thị trường EU

EU là thị trường lớn thứ hai cho các sản phẩm Dệt may xuất khẩu của Việt Nam vớidoanh thu gần 1,9 tỷ USD, chiếm trên 18% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt may củaViệt Nam trong 9 tháng năm 2011 Tốc độ tăng trưởng giá trị xuất khẩu Dệt may sangthị trường EU đạt trên 2 con số trong năm 2007-2008, nhưng ở mức thấp hơn so vớixuất khẩu sang thị trường Mỹ, và sụt giảm mạnh hơn trong năm 2009 (-3,11%) trongđiều kiện kinh tế khủng hoảng trước khi tăng trưởng trở lại (17,5%) trong năm 2010.Trong 9 tháng đầu năm 2011, kim ngạch xuất khẩu hàng Dệt may sang thị trường EUtăng mạnh (trên 40%) với các khách hàng lớn nhất của Việt Nam tại khu vực này làĐức (42,35%), Anh (47,67%), Tây Ban Nha (34,6%), Hà Lan (49,74%) và Pháp(49,43%)

- Thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc

Nhật Bản và Hàn Quốc là hai khách hàng lớn thứ 3 và thứ 4 của ngành Dệt may xuấtkhẩu Việt Nam trong 9 tháng năm 2011 với tỷ trọng trong tổng kim ngạch lần lượt là11,7% và trên 6% Theo Hiệp định đối tác kinh tế song phương Việt Nam – Nhật Bản,sản phẩm dệt may là một trong các mặt hàng có mức cam kết tự do hóa mạnh mẽnhất và năm 2010 là năm đầu tiên Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế cho mặt hàngnày Chính vì vậy, tăng trưởng xuất khẩu hàng Dệt may của Việt Nam sang Nhật Bảnđang trong giai đoạn đầu tăng trưởng mạnh dù Nhật Bản vừa chịu tác động kinh tế mạnh

mẽ từ thảm họa sóng thần đầu năm 2011

Việt Nam cũng đang được hưởng lợi từ những thay đổi cơ cấu sản xuất ngành Dệt maycủa Hàn Quốc theo hướng tập trung vào phân khúc thị trường cao cấp, tạo nhiều cơhội cạnh tranh hơn cho sản phẩm của Việt Nam trên phân khúc thị trường sản phẩmtrung cấp Đồng thời, theo cam kết Hiệp định thương mại tự do ASEAN5- Hàn Quốc,dệt may là một trong những sản phẩm mà Việt Nam được hưởng thuế suất rất thấp

Trang 9

Năng lực ngành Dệt hạn chế dẫn tới giá trị nhập siêu vải lớn

Mặc dù không có các số liệu đầy đủ, nhưng theo một báo cáo của Viện nghiên cứu kinh

tế Đài Loan, Việt Nam là nước có giá trị nhập siêu tương đối lớn đối với các mặt hàngvải trong những năm qua do chất lượng và chủng loại các sản phẩm Dệt của ViệtNam chưa đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp Dệt may trong nước Ngoài ra,các doanh nghiệp Dệt May Việt Nam chủ yếu là gia công xuất khẩu nên phải sử dụngcác nguyên liệu do khách hàng chỉ định từ các nguồn nguyên liệu bên ngoài Ngược lại,kim ngạch xuất nhập khẩu của ngành May luôn có giá trị dương đáng kể trong nhiềunăm trở lại đây Điều này cũng phản ánh một phần chính sách hạn chế nhập khẩu cácsản phẩm may vào Việt Nam và các biện pháp ưu đãi xuất khẩu cho các doanh nghiệpxuất khẩu may mặc Tuy nhiên, các số liệu trên không bao gồm khối lượng lớn cácmặt hàng may mặc của Trung Quốc được đưa vào Việt Nam qua đường tiểu ngạch

Đặc điểm về nguồn nhân lực ngành Dệt may Việt Nam.

Lao động của ngành Dệt May Việt Nam không tập trung, do có hơn 70% các doanhnghiệp Dệt May là doanh nghiệp vừa và nhỏ, có số lao động dưới 300 người Gần 20%doanh nghiệp có số lao động trên 300 người và dưới 1000 người, số doanh nghiệp từ

Trang 10

1000 người trở lên chỉ có 6% Với độ phân tán như vậy, nếu không liên kết lại thì hoạtđộng đào tạo sẽ khó triển khai hiệu quả.

Lao động trong ngành Dệt May hiện nay tăng nhanh và tập trung chủ yếu trong cácdoanh nghiệp ngoài quốc doanh, sau đó là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Hai loạihình doanh nghiệp này hiện nay đang thu hút 2/3 lao động của toàn ngành Dệt May.Thường đa số các doanh nghiệp này hiện nay lại có khuynh hướng đầu tư cho việc thuhút lao động, chứ không có khuynh hướng đầu tư mạnh cho hoạt động đào tạo

Do yêu cầu về lao động của ngành Dệt May tăng rất nhanh nên khả năng đáp ứng của cơ

sở đào tạo không theo kịp Dẫn đến tính trạng tranh giành lao động giữa các doanhnghiệp trong ngành tăng lên đã đến mức báo động Khi tình trạng đó xảy ra, các doanhnghiệp ngại đào tạo người lao động vì khả năng họ rời bỏ công ty sau khi được đào tạo làquá lớn Doanh nghiệp không đào tạo, nhân viên cảm thấy không thỏa mãn nhu cầu đượchọc tập của mình lại muốn ra đi tìm nơi khác nhiều hơn

Triển vọng ngành Dệt may Việt Nam.

Kim ngạch xuất khẩu cho năm 2010 đạt gần 11,2 tỷ USD, chưa đạt mức cận dướicủa mục tiêu đã đề ra trong Chiến lược phát triển ngành đến 2020 (bảng dưới đây) Như

đã phân tích ở trên, kim ngạch xuất khẩu năm 2011 sẽ có thể đạt được con số đề ra 13,5 tỷ USD Theo Hiệp hội dệt may Việt Nam, các chủ hàng đang có xu hướng dè dặthơn trong việc đặt các đơn hàng mới cho giai đoạn cuối năm 2011 và các quý nửa đầunăm 2012

13 Xu hướng hợp tác trong bán lẻ trên thị trường nội địa

Theo FineIntel, trên thị trường nội địa, các sản phẩm Dệt may Việt Nam được phânphối thông qua khoảng 15.000 đại lý và cửa hàng bán lẻ Trong thời gian gần đây,nhằm giảm bớt sự phụ thuộc vào xuất khẩu do mức độ cạnh tranh trên thị trường thếgiới ngày càng trở nên gay gắt, các doanh nghiệp Dệt May Việt Nam đang thúc đẩy bánhàng trên thị trường trong nước Một xu hướng đang diễn ra giữa các doanh nghiệp DệtMay VN là cùng hợp tác để mở các cửa hàng bán lẻ mới nhằm thu hút nhiều đối tượngkhách hàng bằng những địa chỉ mua sắm có nhiều mặt hàng và mẫu mã đa dạng hơn

- Mức độ cạnh tranh từ các sản phẩm của Trung Quốc sẽ gay gắt hơn khi thực hiện cam kết ACFTA

Theo Hiệp định thương mại ASEAN-Trung Quốc (ACFTA) ký kết ký kết năm 2004,thuế nhập khẩu hàng hóa giữa các nước ASEAN và Trung Quốc sẽ giảm 90%, bắt đầuthực hiện từ năm 2005 đối với 6 thành viên đầu tiên của ASEAN Việt Nam gia nhậpASEAN muộn hơn, do đó, cam kết cắt giảm thuế này sẽ được thực hiện từ năm năm

2015 Hiện nay, Việt Nam đang từng bước cắt giảm thuế nhập khẩu đối với các sảnphẩm Dệt may của Trung Quốc khi đó ngành Dệt may Việt Nam sẽ phải đối mặt vớimức độ cạnh tranh gay gắt hơn từ các sản phẩm của Trung Quốc

- Tiềm năng thị trường XK lớn nhưng vị thế của Dệt may VNvẫn còn khiếm tốn

Tư cách thành viên của ASEAN, APEC và WTO, vv và các hiệp định thương mại tự do,song phương và đa phương đã tạo điều kiện thuận lợi cho hàng Dệt may Việt Nam cómặt nhiều hơn và rộng hơn trên thị trường quốc tế Hàng Dệt may Việt Nam đã đượcxuất khẩu sang hầu hết thị trường quan trọng trên thế giới như Mỹ, EU, Nhật Bản, vv

Ngày đăng: 08/01/2014, 11:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may ( 2007 – 10/2011) - Bằng phân tích vi mô ( phân tích doanh nghiệp, phân tích ngành )  anh chị nhận định một số doanh nghiệp có truyển vọng phát triển trong thị trường chứng khóan VN hiện nay
Bảng 1 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may ( 2007 – 10/2011) (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w