1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoạt động thương mại nội khối của ASEAN từ khi hiệp định ATIGA được ký kết

37 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 657,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động thương mại nội khối của ASEAN từ khi hiệp định ATIGA được ký kết

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ

*********

BÀI THẢO LUẬN

CHỦ ĐỀ: HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA NỘI KHỐI ASEAN TỪ KHI HIỆP ĐỊNH ATIGA ĐƯỢC KÝ KẾT

Hà Nội, 2021

Trang 2

M C L C Ụ Ụ

CHƯƠNG I HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á VÀ CỘNG ĐỒNG KINH

TẾ ASEAN 1

I Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á 1

1 Lý do hình thành 1

2 Quá trình hình thành 2

3 Mục tiêu của ASEAN 3

4 Tầm nhìn của Cộng đồng ASEAN 2025 4

CHƯƠNG II HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA ASEAN – ATIGA 6

1 Khái niệm ATIGA 6

2 Mục đích 6

3 Lịch sử hình thành 7

4 Nội dung chính 7

5 Hoạt động thương mại nội khối ASEAN kể từ khi ký kết ATIGA 10

CHƯƠNG III THỰC TIỄN THỰC HIỆN NGHĨA VỤ THÀNH VIÊN ATIGA CỦA VIỆT NAM 17

I Tự do hóa thuế quan 17

1 Hoạt động nội luật hóa các quy định của ATIGA: 17

2 Kết quả cắt giảm thuế quan: 18

II Xóa bỏ hàng rào phi thuế quan 21

1 Quy tắc xuất xứ 23

III Kết quả của hiệp định ATIGA đối với Việt Nam 24

1 Xuất khẩu 24

2 Nhập khẩu 26

3 Một số sản phẩm đặc biệt 27

IV Giải pháp 32

1 Đối với doanh nghiệp 32

2 Đối với nhà nước 33

Trang 3

CH ƯƠ NG I HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á

I Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

1 Lý do hình thành

a Nền tảng liên kết khu vực ở Đông Nam Á

Sau chiến tranh thế giới II, các nước Đông Nam Á đều có sự phân hóa vềmặt chính trị nhất định Bởi lẽ, những gì còn lại với các quốc gia này chỉ là tàntích của hệ thống cơ sở vật chất và quản lý Bên cạnh đó những ảnh hưởng của

hệ thống lưỡng cực thế giới lúc bấy giờ kèm theo sức ép từ các cường quốcngoài khu vực thì trong hệ tư tưởng của Đông Nam Á lúc đó, chủ nghĩa cộngsản hay chủ nghĩa thực dân đều là nỗi lo cho toàn khu vực Điều này khiến chocác quốc gia Đông Nam Á đều e dè trước những động thái của hệ thống lưỡngcực bên ngoài Trước những khó khăn đó thì nhu cầu liên kết khu vực, thành lậpnên một tổ chức thống nhất giữa các nước Đông Nam Á ngày càng được xemxét một cách chuẩn mực hơn

b Tình hình các quốc gia Đông Nam Á sau khi Chiến tranh thế giới II kết thúc

Kết thúc chiến tranh thế giới II, Đông Nam Á nổi lên như một thực thểkhu vực đáng chú ý Điều này khiến cho chủ nghĩa thực dân vô cùng bức bối.Chúng quay lại đàn áp, dập tắt ý nghĩ liên khu vực ở Đông Nam Á bằng cáchình thức chiến tranh “mãnh liệt” hơn Điều này tạo nên một làn sóng đấu tranhquyết liệt hơn từ trong nội tại các nước Đông Nam Á sau năm 1945

Đến giữa những năm 50 của thế kỷ XIX, các quốc gia Đông Nam Á lầnlượt tuyên bố độc lập Philippines (4/7/1946), Miến Điện (4/1/1948), Indonesia(27/12/1949), Malaysia (31/8/1957), Singapore (1963), riêng Bruney mãi đếnnăm 1984 mới giành được độc lập Từ đó, các nước này bắt đầu bước vào mộtthời kỳ phát triển mới: xây dựng đất nước, phát triển kinh tế, đồng thời trongquá trình xây dựng, thiết lập nên mối quan hệ với các nước trong khu vực nhằmđẩy mạnh vị thế của quốc gia Do quá trình giành độc lập diễn ra khác nhau, nên

Trang 4

các quốc gia này xây dựng con đường phát triển của mình theo hướng tương đốikhác nhau Tuy nhiên, nội dung chính của công cuộc phát triển trong thời kỳ nàydiễn ra đan xen với sự phát triển của Đông Nam Á.

Kết thúc chiến tranh thế giới II, Đông Nam Á phải đối mặt với hậu quảnặng nề của chế độ thực dân Bộ máy nhà nước được xây dựng theo mô hìnhPhương Tây bị bỏ ngõ Cộng thêm việc trải qua hàng nghìn năm bị thống trị nênmối quan hệ giữa các quốc gia Đông Nam Á gần như tắt nghẽn Từ đó, nhiềuquốc gia dân tộc cảm thấy “không điểm tựa” dần hình thành xu hướng nhắm đếntình trạng độc lập về chính trị, tự cường, không liên kết

Trước yêu cầu cấp bách của việc phục hồi và phát triển nền kinh tế, bêncạnh đó là mong muốn hạn chế tối đa các ảnh hưởng tiêu cực của của các cườngquốc bên ngoài đến khu vực, ý tưởng về một tổ chức liên minh khu vực vữngmạnh nhằm cùng nhau phát triển đã ra đời Ngày 8-8-1967, Hiệp hội các quốcgia Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập tại Băng Cốc (Thái Lan) với sự thamgia của 5 nước thành viên gồm: In-do-ne-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-lip-pin, Xing-ga-

po và Thái Lan

2 Quá trình hình thành

8/8/1967 ASEAN chính thức được thành lập với 5 thành viên

Trang 5

2/1976 Hội nghị Cấp cao ASEAN đầu tiên được tổ chức

1/1984 Bru-nây gia nhập ASEAN

1994 Lập Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF)

1/1992 Ký Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN và

Thỏa thuận về Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA)

7/1995 Việt Nam gia nhập ASEAN

7/1997 Lào và Myanmar gia nhập ASEAN

12/1997 Hội nghị Cấp cao ASEAN+3 đầu tiên được tổ chức

4/1999 Campuchia chính thức gia nhập ASEAN, đưa ASEAN trở

thành một tổ chức khu vực gồm 10 thành viên Ðông-Nam Á

12/2005

Hội nghị Cấp cao Ðông Á (EAS) đầu tiên được tổ chức với sựtham gia của lãnh đạo các nước ASEAN, Trung Quốc, NhậtBản, Hàn Quốc, Ấn Ðộ, Ốt-xtrây-li-a và Niu Di-lân

11/2007 Hiến chương ASEAN ra đời

31/12/201

5 Cộng đồng ASEAN chính thức thành lập

3 Mục tiêu của ASEAN

Trong Tuyên bố Băng Cốc (Tuyên bố của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giaoASEAN – 8/8/1967) – được coi là tuyên bố khai sinh ra ASEAN – đã nêu lên 7mục tiêu cơ bản của ASEAN bao gồm:

Thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóatrong khu vực thông qua nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng và hợp tác, nhằmtăng cường cơ sở cho một cộng đồng các nước Đông Nam Á hòa bình, thịnhvượng

Thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực bằng việc tôn trọng công lý vànguyên tắc luật pháp trong quan hệ giữa các nước trong vùng và tuân thủ cácnguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp quốc

Thúc đẩy sự cộng tác tích cực và giúp đỡ lẫn nhau trong các vấn đề cùngquan tâm trên lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa và hành chính

Giúp đỡ lẫn nhau dưới hình thức đào tạo và cung cấp các phương tiệnnghiên cứu trong các lĩnh vực giáo dục, chuyên môn, kỹ thuật và hành chính

Trang 6

Cộng tác có hiệu quả hơn, để sử dụng tốt hơn nènn nông nghiệp và cácnhành CN của nhau, mở rộng mậu dịch kể cả việc nghiên cứu các vấn đề buônbán hàng hóa giữa các nước, cảI thiện các phương tiện giao thông liên lạc vànâng cao mức sống của nhân dân.

Thúc đẩy việc nghiên cứu Đông Nam Á

Duy trì sự hợp tác chặt chẽ cùng có lợi với các tổ chức quốc tế và khuvực có tôn chỉ và mục đích tương tự, tìm kiếm cách thức nhằm đạt được ự hợitác chặt chẽ hơn giữa các tổ chức này

Sau này, trong Hiến chương ASEAN được thông qua tại Hội nghịthượng đỉnh ASEAN lần thứ 13 vào tháng 11 năm 2007, đã khẳng định lại cácmục tiêu cơ bản trên, đồng thời bổ sung 15 mục tiêu mới cho phù hợp với tìnhhình kinh tế, chính trị, xã hội lúc đó

4 Tầm nhìn của Cộng đồng ASEAN 2025

Tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 27, ở Kuala Lumpur – Malaysia,một lần nữa tái khẳng định tầm nhìn ASEAN về một cộng đồng thống nhất, hòabình, ổn định và cùng chia sẻ sự phồn vinh, được xây dựng trên cơ sở cácnguyện vọng và cam kết trong Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á(TAC), Tầm nhìn ASEAN 2020, Tuyên bố Hòa hợp ASEAN II, Hiến chươngASEAN, Lộ trình Cộng đồng ASEAN (2009-2015) và Tuyên bố Ba-li về Cộngđồng ASEAN trong Cộng đồng các Quốc gia Toàn cầu

ASEAN sẽ là một nhóm hài hoà các dân tộc Đông Nam Á hướng ngoại,sống trong hoà bình, ổn định và thịnh vượng, gắn bó với nhau bằng quan hệ đốitác trong phát triển năng động và trong một cộng đồng các xã hội đùm bọc lẫnnhau ASEAN sẽ thiết lập được một Đông Nam Châu Á hoà bình và ổn định, ở

đó mỗi nước sống bình yên, những nguyên nhân xung đột đã được loại bỏ quaviệc tôn trọng công lý và luật pháp và việc tăng cường tinh thần tự cường quốcgia và khu vực

Một Khu vực Kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng, có khả năng cạnhtranh cao, trong đó hàng hoá, dịch vụ và đầu tư được lưu chuyển thông thoáng,

Trang 7

vốn được lưu chuyển thông thoáng hơn, kinh tế phát triển đồng đều, nghèo đói

và phân hoá kinh tế-xã hội giảm bớt

ASEAN sẽ là một cộng đồng các xã hội đùm bọc nhau, nhận thức đượccác mối liên hệ lịch sử của mình, hiểu rõ di sản văn hoá của mình và gắn bó vớinhau bằng một bản sắc chung của khu vực Từ đó ASEAN sống động và rộng

mở nhất quán với đặc điểm dân tộc của mỗi nước trong đó mọi người đều đượctiếp cận một cách công bằng các cơ hội để phát triển không phân biệt giới tính,sắc tộc, tôn giáo, ngôn ngữ, hoặc nguồn gốc văn hoá và xã hội ASEAN đùmbọc và gắn bó về mặt xã hội ở đó nạn đói, suy dinh dưỡng, thiếu thốn và nghèokhổ không còn là những vấn đề cơ bản nữa; ở đó gia đình vững mạnh là nhữngđơn vị cơ bản của xã hội chăm lo cho các thành viên của gia đình, đặc biệt là trẻ

em, thanh niên, phụ nữ và người cao tuổi; và ở đó xã hội công dân được tăngcường sức mạnh và đặc biệt quan tâm đến những người có hoàn cảnh thiệt thòi,những người tàn tật, không nơi nương tựa, và ở đó công lý xã hội và pháp quyềnngự trị

Một ASEAN hướng ngoại đóng vai trò trung tâm trong các diễn đàn quốc

tế, và thúc đẩy lợi ích chung của ASEAN, tăng cường quan hệ với các nước đốithoại và các tổ chức khu vực khác trên cơ sở đối tác bình đẳng và tôn trọng lẫnnhau

CHƯƠNG II.HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA ASEAN –

ATIGA

Trang 8

1 Khái niệm ATIGA

ATIGA là viết tắt của Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN(ASEAN Trade in Goods Agreement) được ra đời với mục đích điều chỉnhtoàn bộ thương mại hàng hóa trong nội khối ASEAN và được xây dựng trên

cơ sở tổng hợp các cam kết đã được thống nhất trong CEPT/AFTA cùng cáchiệp định, nghị định thư có liên quan

Nguyên tắc xây dựng cam kết trong ATIGA là các nước ASEAN phảidành cho nhau mức ưu đãi tương đương hoặc thuận lợi hơn mức ưu đãidành cho các nước đối tác trong các thỏa thuận FTA mà ASEAN là một bêncủa thỏa thuận

2 Mục đích

Ngoài mục tiêu xóa bỏ hàng rào thuế quan, ATIGA hướng nỗ lựcchung của ASEAN để xử lý tối đa các hàng rào phi thuế quan, hợp tác hảiquan và vệ sinh, kiểm dịch đồng thời xác lập mục tiêu hài hòa chính sáchgiữa các thành viên ASEAN trong bối cảnh xây dựng AEC

Theo Tổng Thư ký ASEAN, ông Surin Pitsuwan, ATIGA là một bướctiến quan trọng nhằm thiết lập một thị trường đơn nhất và cơ sở sản xuấtchung hướng tới hội nhập kinh tế sâu sắc hơn trong khu vực và hướng tớithực hiện Cộng đồng Kinh tế ASEAN ( AEC) vào năm 2015

Việc ATIGA có hiệu lực sẽ giúp thương mại nội khối ASEAN được thuận lợihơn nhờ việc đơn giản hóa các thủ tục, quá trình Cũng nhờ vậy, Hiệp địnhgiúp tiết kiệm thời gian, giảm các chi phí kinh doanh, đơn giản hóa các giaodịch thương mại; mang lại lợi ích trực tiếp cho cộng đồng doanh nghiệp vàngười dân ASEAN

Trang 9

3 Lịch sử hình thành

Hiệp định ATIGA được ký vào tháng 2/2009 và có hiệu lực từ ngày17/5/2010, có tiền thân là Hiệp định Ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung(CEPT/AFTA) ký năm 1992

ATIGA là hiệp định toàn diện đầu tiên của ASEAN điều chỉnh toàn

bộ thương mại hàng hóa trong nội khối và được xây dựng trên cơ sở tổng hợpcác cam kết cắt giảm/loại bỏ thuế quan đã được thống nhất trong CEPT/AFTAcùng các hiệp định, nghị định thư có liên quan Việt Nam tham gia ASEAN từnăm 1995 và bắt đầu thực hiện CEPT/AFTA từ năm 1996 và sau này tiếp tụcthực hiện ATIGA

4 Nội dung chính

a Cam kết cắt giảm thuế quan:

Nguyên tắc xây dựng cam kết trong ATIGA là các nước ASEAN phải dành cho nhau mức ưu đãi tương đương hoặc thuận lợi hơn mức ưu đãi dành cho các nước đối tác trong các thỏa thuận FTA mà ASEAN là một bên của thỏa thuận

◦ Mức cắt giảm thuế quan của ATIGA

Theo cam kết của Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN, các nước ASEAN đã gần đạt mục tiêu loại bỏ hoàn toàn hàng rào thuế quan

Đối với các nước ASEAN-6, 99,2% số dòng thuế đã được xóa, trong khi 90,9% số dòng thuế của các nước gia nhập sau là Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam đã được loại bỏ tính tới năm 2017

Đến năm 2018, tỉ lệ xóa bỏ thuế quan của Việt Nam trong khuôn khổ Hiệpđịnh Thương mại hàng hóa ASEAN là 98%

◦ Cam kết cắt giảm, xóa bỏ thuế quan trong ATIGA theo các danh mục sau:

Danh mục A: Danh mục xóa bỏ thuế quan Các nước ASEAN-6 (Brunei,Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Singapore) phải xóa bỏ thuế quan

Trang 10

vào năm 2010 Các nước Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam (CLMV) phảixóa bỏ thuế quan vào năm 2015 và được gia hạn xóa bỏ tới năm 2018 với 7% sốdòng thuế

Danh mục B: Các sản phẩm công nghệ thông tin của các nước CLVM,phải xóa bỏ trong 3 năm 2008, 2009, 2010

Danh mục C: Các sản phẩm ưu tiên hội nhập của các nước CLMV, phảixóa bỏ vào năm 2012

Danh mục D: Các sản phẩm nông nghiệp chưa chế biến, phải cắt giảmhoặc xóa bỏ xuống 0-5% vào năm 2010 với các nước ASEAN-6; năm 2013 vớiViệt Nam (riêng đường vào năm 2010); năm 2015 với Lào, Myanmar và năm

Danh mục H (GE): Danh mục loại trừ cam kết thuế quan Các nướcASEAN đang yêu cầu Việt Nam đưa thuốc lá ra khỏi danh mục H (GE).Indonesia và Malaysia cũng phải đưa rượu, bia ra khỏi danh mục này do các mặthàng này không thuộc diện được loại trừ theo cam kết trong Hiệp định

Tỉ lệ xóa bỏ thuế quan cụ thể của từng nước ASEAN theo ATIGA tới nay

và vào cuối lộ trình như sau:

Trang 11

b Cam kết về Quy tắc xuất xứ và Thủ tục chứng nhận xuất xứ

◦ Thủ tục chứng nhận xuất xứ

Để được hưởng ưu đãi thuế quan, theo ATIGA, nhà xuất khẩu phải xinChứng nhận xuất xứ form D tại một cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu

- ở Việt Nam là 18 Phòng Quản lý Xuất nhập khẩu thuộc Cục Xuất Nhập khẩu –

Bộ Công Thương và 37 Ban quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất do BộCông Thương ủy quyền

Trang 12

Tuy nhiên, hiện tại các nước ASEAN đang hướng tới việc áp dụng cơ chế

Tự chứng nhận xuất xứ, cho phép nhà xuất khẩu được tự chứng nhận xuất xứ màkhông cần phải thông qua một cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu

Hiện đã có hai dự án thí điểm về Tự chứng nhận xuất xứ đang được cácnước ASEAN thực hiện, theo đó các nhà xuất khẩu đủ điều kiện sẽ được tựchứng nhận xuất xứ trên hóa đơn thương mại cho hàng xuất khẩu

+ Dự án thí điểm 1: Kí ngày 30/8/2010 bởi ba nước Brunei, Malaysia vàSingapore, bắt đầu thực hiện từ ngày 1/11/2010 Thái Lan tham gia vào tháng10/2011

+ Dự án thí điểm 2: Kí ngày 29/8/2012 bởi ba nước Lào, Indonesia vàPhilippines, bắt đầu thực hiện từ ngày 1/1/2014 Việt Nam tham gia vào tháng9/2014

Ngoài các cam kết về thuế quan, ATIGA cũng bao gồm nhiều cam kếtkhác như xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan, quy tắc xuất xứ , thuận lợi hóathương mại , hải quan, các tiêu chuẩn và sự phù hợp các biện pháp vệ sinh dịchtễ

5 Hoạt động thương mại nội khối ASEAN

kể từ khi ký kết ATIGA

Qua hơn 50 năm kiên trì hợp tác và phát triển, ASEAN đã và đangtập trung vào ba trụ cột chính gồm về An ninh - Chính trị, Văn hóa - Xã hội vàKinh tế Trong đó, việc thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN là một bước điquan trọng của ASEAN trong việc hỗ trợ nhau cùng phát triển; xây dựng mộtcộng đồng ASEAN vững mạnh về kinh tế; lành mạnh, đa màu sắc về văn hóa và

ổn định về an ninh, chính trị; phồn thịnh về an sinh xã hội dù còn có sự khácbiệt về tôn giáo về trình độ phát triển, về cơ sở hạ tầng, công nghệ thông tin v.v.,song 10 nước ASEAN đã coi nhau như anh em một nhà, để hỗ trợ, giúp đỡ vàcùng nhau phát triển về mọi mặt Sự phát triển và hợp tác vững chắc củaASEAN đã góp một phần không nhỏ vào thành tựu chung của thế giới trongthiên niên kỷ mới nói chung, nâng cao vị thế của các nước ASEAN trên trường

Trang 13

quốc tế nói riêng, cũng như tạo tiền đề cho các khu vực khác đẩy mạnh hợp tác,coi ASEAN như “người tìm đường” (pathfinder) trong quá trình đẩy mạnh hợptác và liên kết kinh tế khu vực.

Việc thành lập AEC đã đặt nền móng cho một thị trường và cơ sởsản xuất duy nhất đang hoạt động Theo Kế hoạch chi tiết AEC 2015, ASEAN

đã đạt được những bước tiến trong việc loại bỏ đáng kể các loại thuế quan trongnội khối ASEAN Các Quốc gia thành viên đã đi đến ký kết Hiệp định Thương

mại Hàng hóa ASEAN ATIGA với mong muốn điều chỉnh toàn bộ thương mại

hàng hóa trong nội khối, bao gồm xóa bỏ hàng rào thuế quan, xử lý tối đa các

hàng rào phi thuế quan, hợp tác hải quan và vệ sinh, kiểm dịch đồng thời xáclập mục tiêu hài hòa chính sách giữa các thành viên ASEAN Các nỗ lực của cácnước thành viên trong việc thực hiện các cam kết khác trong khuôn khổ Hiệpđịnh ATIGA có hiệu lực từ năm 2010, bao gồm các biện pháp tạo thuận lợithương mại Các biện pháp này đã góp phần vào việc lưu chuyển hàng hóa tự dohơn trong khu vực Theo cam kết của Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN,các nước ASEAN đã tiến rất gần đến mục tiêu xóa bỏ hoàn toàn hàng rào thuếquan đối với các nước ASEAN-6 (5 nước sáng lập và Bru-nây), 99,2% số dòngthuế đã được xóa bỏ, trong khi 90,9% số dòng thuế của các nước gia nhập sau làCam-pu-chia, Lào, My-an-ma và Việt Nam (gọi tắt là các nước CMLV) đã đượcxóa bỏ tính tới năm 2017 Dự kiến, tới hết năm 2018, tỉ lệ xóa bỏ thuế quantrong toàn ASEAN sẽ đạt 98,67% Việc các nước đồng lòng xóa bỏ hoàn toàncác hàng rào thuế quan đã làm thay đổi hoạt động thương mại nội khối theochiều hướng tích cực

Trang 14

20090 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 100000

(nguồn: ASEAN Statistical year book)

Trên đây là số liệu thống kê hoạt động Thương mại hàng hóa nộikhối ASEAN từ năm 2009-2019 Sau khi Hiệp định Thương mại hàng hóaASEAN (ATIGA) được các nước ký kết, hoạt động Thương mại nội khốiASEAN đã có sự thay đổi tích cực, với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng Năm

2009, tổng hoạt động thương mại nội khối chỉ đạt ở mức 376.978,7 triệu USD,sau 10 năm ATIGA được ký kết, con số đã đạt mức 632.604,3 triệu USD Mặc

dù trong giai đoạn 2014 – 2016, hoạt động thương mại có dấu hiệu sụt giảm,xong đã quay lại đà tăng trưởng với mức đạt đỉnh là 648.785,3 triệu USD

2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 21.0

Trang 15

Trong khoảng thời gian kể từ sau khi ATIGA được ký kết, tỷ trọngthương mại hàng hóa nội khối ASEAN giai đoạn 2009-2019 có xu hướng giảmđều Tỷ trọng thương mại hàng hóa nội khối giảm từ 24,5% vào năm 2009xuống còn 22,46% vào năm 2019 Mặc dù, xét trên góc độ hoạt động thươngmại nội khối ASEAN tăng trưởng đều đặn, song tỷ trọng thương mại củaASEAN lại có xu hướng giảm bởi thương mại của ASEAN với các đối tác bênngoài khu vực tăng mạnh mẽ hơn thương mại trong khu vực Trong khi tỷ trọngnội khối ASEAN trong tổng xuất khẩu và nhập khẩu không thay đổi nhiều giữanăm 2010 và 2018 (tương ứng từ 25,2% lên 24,1% và từ 25,0% lên 21,8%) vềmặt tuyệt đối, xuất khẩu nội khối ASEAN tăng 30,6% trong giai đoạn này, đạtmức 345,2 tỷ USD vào năm 2018 và nhập khẩu nội khối ASEAN tăng 26,8%,đạt mức 302,3 tỷ USD.

Dưới đây là tổng hợp các sản phẩm hàng đầu mà các thành viênASEAN trao đổi với nhau trong bản đồ thương mại hàng hóa nội khối ASEAN,

từ những phân tích số liệu thống kê thương mại gần đây (Cơ sở dữ liệu Liên hợpquốc) Một ví dụ, sản phẩm chính nhập khẩu trực tiếp từ Singapore của ViệtNam là các sản phẩm làm xăng dầu Lưu ý, sản phẩm chính được xác định theo

% tổng giá trị nhập khẩu

Trang 16

Từ bảng trên, có thể thấy, các nước ASEAN xuất khẩu đa dạnghàng hóa từ đậu đến ô tô cho các thành viên khác Các nước như Myanmar vàBrunei hầu như chỉ dựa vào xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên như dầu thô, khíđốt tự nhiên và các sản phẩm nông nghiệp như đậu Mặt khác, các nước pháttriển hơn như Malaysia và Singapore xuất khẩu nhiều loại sản phẩm từ nông sản(mạch nha) đến các sản phẩm công nghệ tiên tiến (phương tiện lưu trữ dữ liệu).

Rõ ràng, tồn tại các mối liên kết chuỗi giá trị giữa các thành viên ASEAN đốivới nhiều ngành công nghiệp Ví dụ: Myanmar xuất khẩu dầu thô sangSingapore và nhập khẩu trở lại các sản phẩm dầu mỏ tinh chế từ các nhà máy lọcdầu của quốc đảo Hoặc Philippines xuất khẩu các mạch điện tử tích hợp và cáccụm vi mô sang Malaysia, Singapore, Thái Lan và Việt Nam để cung cấp chocác ngành điện tử đang phát triển của các nước này sản xuất điện thoại thôngminh, thiết bị lưu trữ dữ liệu, thiết bị viễn thông, thiết bị gia dụng và nhiều loạikhác Mặt khác, giữa các thành viên ASEAN cũng có những sự ganh đua CảIndonesia và Thái Lan đều cạnh tranh xuất khẩu ô tô sang các thị trường mới nổi

có nhu cầu tiêu thụ ô tô lớn như CHDCND Lào, Philippines và Việt Nam Trongkhi Malaysia và Singapore là một trong những nhà cung cấp hàng đầu cácphương tiện lưu trữ dữ liệu như đĩa cứng cho Thái Lan

Trong thời gian từ 2012-2016, hoạt động Thương mại nội khốiASEAN chủ yếu do Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Singapore thúc đẩy Tỷtrọng xuất khẩu và nhập khẩu tổng hợp của bốn nước này trong thương mại nộikhối ASEAN lần lượt là 83,1% và 74,0% trong năm 2016 Trong bốn nước này,Malaysia xuất khẩu nhiều nhất sang các nước ASEAN khác trong năm 2016 với60,5 tỷ USD hoặc 25,7% tổng kim ngạch nội khối -Xuất khẩu phương Đông

Về nhập khẩu, Singapore nhập khẩu nhiều nhất từ các thành viên ASEAN kháctrong năm 2016 với gần 71,0 tỷ USD, chiếm 26,2% tổng giá trị nhập khẩu nộikhối ASEAN

Trang 17

Tuy nhiên, sự thống trị của 4 quốc gia này đang giảm dần khi các thànhviên khác mở cửa nền kinh tế và tham gia nhiều hơn vào các hoạt động thươngmại toàn cầu và khu vực Nhập khẩu của CHDCND Lào và Myanmar từ cácthành viên ASEAN khác tăng trưởng ấn tượng lần lượt là 15,4% và 13,6%CAGR trong giai đoạn 2012 - 2016 Trong khi hầu hết xuất khẩu của các nướcthành viên ASEAN sang các nước thành viên khác hầu hết đều giảm trong giaiđoạn 2012-2016, Campuchia lại có xuất khẩu tăng đột biến doanh thu sang cácnước láng giềng ASEAN ở mức 20,8% CAGR trong giai đoạn này Tổng giá trịxuất khẩu sang ASEAN của Campuchia tăng gấp đôi lên 3,2 tỷ USD năm 2016

từ 1,5 tỷ USD năm 2012 Điều này là do sự sụt giảm chung của giá trị thươngmại nội khối ASEAN là 3,6% CARC trong giai đoạn 2012-2016

Trang 18

Trong giai đoạn 2012-2016, chỉ có Thái Lan và Malaysia xuất siêu từthương mại nội khối ASEAN Tuy nhiên, hai nước ghi nhận các xu hướngthương mại nội khối ASEAN phần lớn khác nhau trong giai đoạn này Thặng dưthương mại nội khối ASEAN của Malaysia đã phục hồi lên 19,5 tỷ USD vàonăm 2016 từ mức giảm 3 năm đạt 16,2 tỷ USD vào năm 2015 từ mức 21,4 tỷUSD năm 2013 Cán cân thương mại nội khối ASEAN của nước này xấu đitrong năm 2013 - 2015 do xuất khẩu giảm Indonesia và Singapore Xuất khẩucủa Malaysia sang Indonesia và Singapore giảm 18,5% CARC và 7,6% CARC

so với 2013-2016 trước khi phục hồi vào năm 2017 Tuy nhiên, mặc dù giá trịxuất khẩu sang các đối tác thương mại chính trong ASEAN giảm, nhập khẩu nộiASEAN của Malaysia cũng giảm 7,0% CARC Trong giai đoạn 2012 - 2016 Do

đó, cán cân thương mại nội khối ASEAN của Malaysia được duy trì trong giaiđoạn này Mặt khác, thặng dư thương mại nội khối ASEAN của Thái Lan tiếptục tăng so với cùng kỳ để đạt 10,9 tỷ USD năm 2016 từ 5,5 tỷ USD năm 2012,với tốc độ CAGR là 18,6% Điều này được hỗ trợ phần lớn bởi tốc độ tăngtrưởng xuất khẩu 5,7% CAGR kết hợp với mức giảm nhập khẩu là 2,2% CARCtrong giai đoạn này Xuất khẩu của Thái Lan tiếp tục tăng trưởng mạnh nhờ nhucầu từ các thị trường mới nổi trong ASEAN như Campuchia (17,5% CAGR),CHDCND Lào (17,5% CAGR), Myanmar (26,7% CAGR), Philippines (16,6%CAGR) và Việt Nam (11,2%) CAGR) từ năm 2012 - 2016 Các quốc gia nàynhập khẩu nhiều mặt hàng từ Thái Lan như xi măng (Campuchia), sản phẩmxăng dầu (CHDCND Lào), xe máy (Myanmar), ô tô (Philippines) và đồ giadụng (Việt Nam)

Ngày đăng: 16/10/2021, 21:27

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w