Bài tập lớn môn: Kinh tế ASEAN trường Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU). Hoạt động thương mại hàng hoá nội khối ASEAN kể từ khi hiệp định ATIGA được ký kết. Kinh tế ASEAN kể từ khi hiệp định ATIGA được ký kết. Hiệp định ATIGA ký kết.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
BÀI THẢO LUẬN HỌC PHẦN KINH TẾ ASEAN
Đề tài: Hoạt động thương mại hàng hóa nội khối ASEAN từ
khi Hiệp định ATIGA được ký kết
Hà Nội, 2021
Trang 2MỤC LỤC
Lời mở đầu……… 3
Chương 1: Hiệp định thương mại hàng hóa ATIGA……… 5
1.1 Những thỏa thuận và cam kết của ASEAN liên quan đến thương mại khác trước khi có ATIGA……….5
1.1.1 Hiệp định về chương trình Thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung năm 1992 1.1.2 Hiệp định khung về dịch vụ của ASEAN (AFAS) năm 1995 1.2 Giới thiệu về Hiệp định thương mại hàng hóa ATIGA………… 7
1.2.1 Lịch sử hình thành 1.2.2 Các đặc điểm chính 1.2.3 Các cam kết chính Chương 2: Hoạt động thương mại hàng hóa dịch vụ nội khối ASEAN ……….12
2.1 Hoạt động thương mại nội khối của ASEAN giai đoạn 2005 - nay ………12
2.2 Đánh giá hoạt động thương mại nội khối sau khi ATIGA được ký kết……… 15
2.2.1 Kết quả 2.2.2 Hạn chế Chương 3: Giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại nội khối ……… 22
3.1 Đối với các nước ASEAN ……… 22
3.2 Đối với Việt Nam ……… 23
Lời kết……… 24
Trang 3là một trong những tổ chức khu vực năng động và có nhiều hiệp định thương mạinhất phải kể đến như: Hiệp định thương mại hàng hóa ATIGA, ngoài Khu vực Mậudịch tự do ASEAN (AFTA) là một hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phươnggiữa các quốc gia trong khối ASEAN với nhau thì ASEAN và các quốc gia liên quanvẫn đang tiếp tục đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP), mở
ra không gian rộng lớn cho thương mại, đầu tư trong toàn khu vực
Mặc dù được xem là thị trường năng động, dân số đông, thu nhập đang tăng,tuy nhiên hoạt động thương mại nội khối ASEAN vẫn ở mức khiêm tốn chỉ đạt 24%vào năm 2018 Hội nhập kinh tế khu vực mang lại những cơ hội cho tất cả các quốcgia thành viên trong khối ASEAN, tuy nhiên lợi ích các quốc gia thành viên nhậnđược thông qua hợp tác thương mại là không giống nhau Điều này chứng tỏ cácchương trình hợp tác của ASEAN chưa thực sự phát huy hiệu quả bởi các quốc giathành viên vẫn hướng về các thị trường chủ lực như: Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu(EU), Nhật Bản và Trung Quốc, mà bỏ qua việc thúc đẩy hoạt động thương mại nộikhối
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực tế này, về khách quan cho thấy nhữngthị trường chủ lực ngoài khối ASEAN vẫn đang đóng một vai trò rất quan trọng trongcán cân thương mại của mỗi quốc gia, sâu xa hơn là những công ty đa quốc gia củaHàn Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, có nhà máy tại các quốc gia ASEAN đang đóng gópgiá trị rất lớn về hoạt động xuất khẩu của quốc gia này, dẫn đến việc khó tập trungthương mại giữa các quốc gia ASEAN với nhau mà hướng về các thị trường pháttriển khác Bên cạnh đó, do thương mại toàn cầu có xu hướng chững lại vì ảnh hưởngcủa đại dịch covid 19, sự chênh lệch phát triển giữa các nền kinh tế Đông Nam Á cònlớn, cũng dẫn đến việc các quốc gia khó trao đổi với nhau hơn Về chủ quan là donhững hàng rào phi thuế quan được dựng lên giữa các quốc gia nội khối, cơ cấu sảnxuất, tiêu thụ giữa các quốc gia trong khu vực có sự tương đồng nhau về nhóm hàngdồi dào về lao động và tài nguyên thiên nhiên, dẫn đến cạnh tranh trực tiếp giữa cácthành viên trong thương mại nội khối, các cơ chế chính sách liên kết vẫn chưa thật sựthông thoáng tạo cơ chế hữu hiệu nhằm thúc đẩy giao thương nội khối
Trang 4Chính vì vậy, chủ đề “Hoạt động thương mại nội khối của các nước ASEAN
sau khi hiệp định ATIGA được ký kết” nhằm mục đích chỉ rõ tình hình thực tiễn
hợp tác thương mại giữa các quốc gia thành viên trong giai đoạn 2005 - 2019, trước
và sau khi hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN được ký kết năm 2009 Qua đó,đưa ra những bài học kinh nghiệm và hàm ý chính sách cho các quốc gia thành viênASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng
Chương 1: Hiệp định thương mại hàng hóa
ATIGA
Trang 51.1 Những thỏa thuận và cam kết giữa các nước ASEAN liên quan đến
thương mại khác trước khi có ATIGA.
1.1.1 Hiệp định về chương trình Thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung năm 1992.
Hiệp định CEPT (Common Effective Preferential Tariff) hay còn gọi là Hiệp định
về chương trình Thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung cho khu vực mậu dịch tự doASEAN (AFTA) Hiệp định CEPT được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnhASEAN lần thứ IV vào tháng 01/1992 diễn ra tại Singapore
Hiệp định CEPT đề ra lịch trình 15 năm giảm thuế quan để tiến tới khu vực mậudịch Tự do ASEAN Theo đó, mỗi nước phải đệ trình các Danh mục giảm thuế, danhmục loại trừ hoàn toàn, danh mục loại trừ tạm thời nhằm tiến đến đích chung là giảmthuế hầu hết các mặt hàng xuống từ 0 đến 5%
Chương trình cắt giảm thuế quan theo hiệp định CEPT:
Các quốc gia thành viên thỏa thuận Chương trình cắt giảm thuế quan ưu đãi cóhiệu lực như sau:
- Giảm các mức thuế quan hiện nay xuống còn 20% trong thời kỳ 5 năm tới 8năm, kể từ ngày 01-01-1993, tùy thuộc vào Chương trình cắt giảm thuế quan
do từng quốc gia thành viên quyết định và sẽ được thông báo khi được công bốvào lúc bắt đầu chương trình Khuyến khích các quốc gia thành viên áp dụngmức cắt giảm hàng năm theo công thức (X-20)%/5 hoặc 8 năm, trong đó X làmức thuế quan hiện hành tại mỗi quốc gia thành viên
- Sau đó giảm mức thuế 20% hoặc thấp hơn trong thời hạn 7 năm Mức cắt giảmtối thiểu là 5% lượng được cắt giảm Chương trình cắt giảm thuế quan sẽ đượccác quốc gia thành viên quyết định và tuyên bố khi bắt đầu chương trình
- Đối với các sản phẩm có mức thuế hiện nay là 20% hoặc thấp hơn, kể từ ngày01/01/1993, các quốc gia thành viên sẽ quyết định chương trình cắt giảm thuếquan, và công bố ngày bắt đầu áp dụng chương trình cắt giảm Hai hoặc nhiềuquốc gia thành viên có thể thỏa thuận cắt giảm thuế quan xuống còn 0-5% chocác sản phẩm cụ thể với tốc độ nhanh hơn khi bắt đầu Chương trình
Các sản phẩm đã đạt tới hoặc đang có mức thuế suất là 20% hoặc thấp hơn, sẽnghiễm nhiên được hưởng các ưu đãi
Các chương trình cắt giảm thuế quan không ngăn cản các quốc gia thành viêncắt giảm ngay lập tức mức thuế quan của mình xuống còn 0-5% hoặc áp dụngmột chương trình rút ngắn việc cắt giảm thuế quan
1.1.2 Hiệp định khung về dịch vụ của ASEAN (AFAS) năm 1995.
Trang 6Đàm phán mở cửa thị trường dịch vụ nội khối ASEAN được các quốc gia thànhviên tiến hành trên cơ sở Hiệp định khung về dịch vụ của ASEAN (AFAS) ký ngày15-2-1995 và nghị định thư sửa đổi AFAS ký ngày 02-09- 2003 Theo mục tiêu đặt ratrong kế hoạch về xây dựng cộng đồng kinh tế ASEAN sã tiến hành đàm phán 11 góicam kết cho đến năm 2015 Đối với mỗi gói cam kết, các nước sẽ ký nghị định thưthực hiện gói cam kết và xây dựng biểu cam kết dịch vụ của mình được đáp ứng cácyêu cầu đặt ra cho gói cam kết đó Nguyên tắc đặt ra cho đàm phán là các cam kếtphải ở mức cao hơn các cam kết tại WTO.
Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS) với các mục tiêu: thúc đẩy hợp tácdịch vụ giữa các nước thành viên ASEAN (AMS) để nâng cao hiệu quả và cạnh tranhcủa các ngành công nghiệp dịch vụ ASEAN, đa dạng hóa khả năng sản xuất,sự cungcấp và đóng góp của lĩnh vực dịch vụ cắt giảm các hàng rào hiện có đối với thươngmại dịch vụ và tự do hóa thương mại dịch vụ theo cả chiều rộng và chiều sâu dựa trêncác cam kết về thương mại dịch vụ của WTO Bảy lĩnh vực dịch vụ quan trọng đượcchọn để thực hiện tự do hóa bước đầu bao gồm: tài chính, viễn thông, vận tải hànghải, vận tải hàng không, du lịch, dịch vụ kinh doanh và dịch vụ xây dựng Vòng đàmphán thứ nhất về dịch vụ ASEAN tập trung vào bảy lĩnh vực dịch vụ này Để tiến tớicác vòng đàm phán tiếp theo, các Bộ trưởng kinh tế ASEAN đã hoạch định lộ trình
áp dụng cho các ngành và phân ngành dịch vụ cũng như các phương thức cung cấpdịch vụ Lộ trình này kéo dài từ năm 1999 đến năm 2020, bao gồm hai giai đoạnchính:
Giai đoạn 1999-2001 (ngắn hạn):
- Tự do hóa các ngành hoặc phân ngành dịch vụ chung trong khuôn khổ Hiệpđịnh AFAS và GATS của WTO Ngành và phân ngành dịch vụ chung đượcxác định trên cơ sở có ít nhất bốn nước thành viên đã đưa ra cam kết
- Tự do hóa dần phương thức 1(Mode 1) về cung cấp dịch vụ (cung cấp qua biêngiới) và Mode 2(tiêu dùng ở nước ngoài)
- Tự do hóa dần trên cơ sở đàm phán đối với phương thức 3 (Mode 3) cung cấpdịch vụ (hiện diện thương mại) và Mode 4 (hiện diện thể nhân)
Giai đoạn 2001 - 2020: hoàn thành tự do hóa đối với tất cả ngành, phương thứccung cấp dịch vụ vào năm 2020 Tuy nhiên, để tiến tới mục tiêu này, các nước
sẽ lựa chọn lộ trình thích hợp cho từng ngành/phân ngành dịch vụ phù hợp vớiđiều khiển của mỗi nước
Cho đến tháng 6-2015, ASEAN đã hoàn tất gói 9 cam kết dịch vụ theo AFAS Cáccam kết về tự do hóa dịch vụ trong ASEAN đã bao trùm nhiều lĩnh vực như dịch vụkinh doanh, dịch vụ chuyên nghiệp, xây dựng, phân phối, giáo dục, môi trường, vậntải biển, viễn thông và du lịch Có bốn gói cam kết về vận tải hàng không đã được ký
Trang 7kết Các thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRAS) giữa các nước thành viên ASEAN
về tiêu chuẩn, trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, v.v… là một công cụ quan trọng giúp
tự do hóa lưu chuyển các dịch vụ chuyên nghiệp trong ASEAN Hiện nay, các nướcASEAN đã ký các thỏa thuận công nhận lẫn nhau đối với các tiêu chuẩn, kỹ năng,các ngành dịch vụ cơ khí, y tá, kiến trúc, kế toán và du lịch Hiện nay, các nướcASEAN đang tiếp tục đàm phán, thúc đẩy việc mở cửa thị trường dịch vụ với mức độcao hơn mức độ đã cam kết mở cửa của các nước ASEAN trong khuôn khổ WTO
Liên quan đến lĩnh vực dịch vụ, từ năm 2013, ASEAN tiến hành đàm phán hiệpđịnh thương mại dịch vụ ASEAN (ATISA) nhằm mục đích nâng cao hiệu quả củaAFAS
1.2 Giới thiệu về Hiệp định thương mại hàng hóa ATIGA
1.2.1 Lịch sử hình thành
Sau khi được triển khai thực hiện từ tháng 01-1992, Hiệp định về chương trình ưuđãi thuế có hiệu lực chung (CEPT) là hành lang pháp lý để các nước ASEAN cắtgiảm thuế quan tiến tới mục tiêu thành lập khu vực thương mại tự do ASEAN Thuếsuất của hầu hết hàng hóa trong thương mại giữa các nước ASEAN đã giảm xuống0,5% Tuy nhiên, Hiệp định CEPT dù đã trải qua hai lần sửa đổi bổ sung vào năm
2003 vẫn bộc lộ một số nhược điểm như chưa hoàn chỉnh về mặt pháp lý, nhiềuchương trình sáng kiến hợp tác mới trong ASEAN và các nhân tố mới phát sinh tronghợp tác ASEAN chưa được phân bố kịp thời
Hơn nữa từ năm 2002, ASEAN chuyển sang một Hiệp định mới là đàm phán thànhlập các khu vực thương mại tự do (FTA) với các nước đối tác ngoại khối trong đóASEAN đều đàm phán và ký kết các hiệp định/chương trình thương mại hàng hóavới nội dung toàn diện, phù hợp với các nguyên tắc đã được các Bộ trưởng ASEANthông qua là cam kết nội bộ ASEAN phải cao hơn các cam kết mà ASEAN dành chocác nước đối tác Từ đó, ASEAN nhận thấy nhu cầu phải xây dựng một hiệp địnhthương mại hàng hóa và toàn diện điều chỉnh tất cả các lĩnh vực về thương mại hànghóa trong ASEAN Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA - ASEANTrade in Goods Agreement) ra đời trên cơ sở đó ATIGA được đại diện có thẩmquyền của các quốc gia ASEAN ký ngày 26-02-2009 tại Hội nghị Cấp cao ASEAN
14 tại Thái Lan và có hiệu lực từ ngày 17- 05-2010
Đây là hiệp định toàn diện đầu tiên của ASEAN điều chỉnh toàn bộ thương mạihàng hóa trong nội khối và được xây dựng trên cơ sở tổng hợp các cam kết cắtgiảm/loại bỏ thuế quan đã được thống nhất trong CEPT/AFTA cùng các hiệp định,
Trang 8nghị định thư có liên quan, đồng thời bổ sung thêm những quy định phù hợp với thựctiễn hoạt động thương mại hàng hóa.
Hiệp định bao gồm các nội dung chính dưới đây:
Phụ lục 1 – Danh sách các biện pháp thông báo
Phụ lục 2 – Biểu thuế quan
Phụ lục 3 – Quy tắc xuất xứ cụ thể mặt hàng
Phụ lục 3 – Tệp đính kèm 1 – Quy tắc xuất xứ đối với các sản phẩm dệt may
Phụ lục 4 – Các sản phẩm ITA trong AHTN 2007
Phụ lục 5 – Các nguyên tắc và chỉ dẫn tính toán hàm lượng giá trị khu vực trongATIGA
Phụ lục 6 – Hướng dẫn thực hiện Cộng gộp từng phần theo quy định của Điều 30(2)Quy tắc xuất xứ cộng gộp trong ASEAN
Phụ lục 7 – Quy tắc xuất xứ mẫu D và ghi chú
Phụ lục 8 – Các thủ tục chứng nhận hoạt động
Phụ lục 9 – Danh sách các biện pháp kiểm dịch động thực vật
Phụ lục 10 – Các địa chỉ liên hệ được chỉ định để thực hiện biện pháp kiểm dịch độngthực vật theo Chương 8 ATIGA
Phụ lục 11 – Danh sách các Hiệp định bị thay thế
Việt Nam tham gia ASEAN từ năm 1995 và bắt đầu thực hiện CEPT/AFTA từnăm 1996 và sau này tiếp tục thực hiện ATIGA
1.2.2 Các đặc điểm chính
Trong ATIGA các nước ASEAN dành cho nhau mức ưu đãi tương đương hoặcthuận lợi hơn mức ưu đãi dành cho các nước đối tác trong các Thỏa thuận thươngmại tự do (FTA) mà ASEAN ký (các FTA ASEAN+)
Ngoài các cam kết về thuế quan, ATIGA cũng bao gồm nhiều cam kết khác như:xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan, quy tắc xuất xứ, thuận lợi hóa thương mại, hảiquan, các tiêu chuẩn và sự phù hợp, các biện pháp vệ sinh dịch tễ
Biểu cam kết cắt giảm thuế quan trong ATIGA của mỗi nước bao gồm toàn bộ cácsản phẩm trong danh mục hàng hóa thuế quan của ASEAN (AHTN) và lộ trình cắtgiảm cụ thể cho từng sản phẩm trong từng năm Do đó, so với CEPT, cam kết trongATIGA rất rõ ràng và dễ tra cứu
1.2.3 Các cam kết chính
Nguyên tắc cam kết: tất cả các sản phẩm trong Danh mục hài hòa thuế quan củaASEAN (AHTN) đều được đưa vào trong biểu cam kết thuế quan của từng nước
Trang 9trong ATIGA, bao gồm cả những sản phẩm được cắt giảm thuế và cả những sảnphẩm không phải cắt giảm thuế.
Xóa bỏ hàng rào thuế quan:
Đối với hiệp định ATIGA, đến năm 2015, cơ bản các mặt hàng sẽ được xóa bỏthuế quan trong khuôn khổ này và 7% tổng số dòng thuế được linh hoạt đến năm
2018
Từ năm 2007 đến nay, tình hình kinh tế, chính trị trên thế giới biến đổi nhanh vớinhững diễn biến phức tạp Trong thời gian qua, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đãđem lại những kết quả tích cực, tác động sâu sắc đến nền kinh tế, xã hội, tạo ra những
cơ hội to lớn cho việc thu hút đầu tư nước ngoài và hoạt động xuất khẩu, từ đó thúcđẩy tăng trưởng kinh tế và tạo thêm việc làm
Lộ trình cắt giảm thuế quan của các nước ASEAN-6 (Brunei, Indonesia, Malaysia,Thái Lan, Philippines, Singapore) thường ngắn hơn các nước còn lại – nhóm CLMVbao gồm các nước Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam
Xử lý tối đa các hàng rào phi thuế quan, hợp tác hải quan và vệ sinh, kiểm dịch…:
Nhằm tiến tới tự do hóa hoàn toàn về thuế quan, ASEAN đã thống nhất sẽ xóa bỏtoàn bộ thuế quan, đối với ASEAN 6 (gồm Brunei, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a,Philipin, Singapore và Thái Lan) vào năm 2010 và với các nước CLMV (Campuchia,Lào, My-an-ma, Việt Nam) vào năm 2015 với một số linh hoạt đến 2018 (khoảng 7%tổng số dòng thuế) Ngoài ra, một số mặt hàng nông nghiệp nhạy cảm của Việt Namnhư mía đường… được phép duy trì mức thuế suất 5% sau giai đoạn 2018
Đa số các sản phẩm trong biểu thuế quan sẽ được các nước xóa bỏ hoặc giảm thuếxuống còn dưới 5%, trừ một số sản phẩm nhạy cảm như: các sản phẩm nông nghiệpchưa chế biến, các sản phẩm nhạy cảm như súng đạn, thuốc nổ, rác thải…
Xác lập mục tiêu hài hòa chính sách giữa các thành viên ASEAN trong bối cảnh xây dựng AEC.
ATIGA – Lộ trình cam kết đến 2018 ATIGA là hiệp định toàn diện đầu tiên củaASEAN điều chỉnh toàn bộ thương mại hàng hóa trong nội khối và được xây dựngtrên cơ sở tổng hợp các cam kết đã được thống nhất trong CEPT/AFTA cùng cáchiệp định, nghị định thư có liên quan Nguyên tắc xây dựng cam kết trong ATIGA làcác nước ASEAN phải dành cho nhau mức ưu đãi tương đương hoặc thuận lợi hơnmức ưu đãi dành cho các nước đối tác trong các Thỏa thuận thương mại tự do (FTA)
mà ASEAN là một bên của thỏa thuận
Về cơ sở dữ liệu thương mại ASEAN, nhằm minh bạch hóa các chính sách liên quan
đến thương mại hàng hoá, Điều 13 quy định các thông tin thuộc cơ sở dữ liệu thương
Trang 10mại như các quy định, thủ tục hải quan, thủ tục hành chính, biểu thuế, quy tắc xuất
xứ, các biện pháp phi thuế quan, danh sách thương nhân hợp pháp trong ASEAN…phải được công bố trên trang web của ASEAN Điều này quy định Ban thư kýASEAN là cơ quan chịu trách nhiệm xây dựng và cập nhật các cơ sở dữ liệu đó
Về tự do hoá thuế quan, ngoài những quy định kế thừa về lộ trình cắt giảm thuế
quan theo Hiệp định CEPT/AFTA và các Nghị định thư sửa đổi bổ sung (các nướcASEAN 6 gồm Brunei, Malaysia, Indonesia, Philippines, Singapore, Thái Lan sẽ xóa
bỏ hoàn toàn thuế quan vào năm 2010, các nước CLMV vào năm 2015 với một sốlinh hoạt đến năm 2018), ATIGA quy định cụ thể hơn dòng thuế được linh hoạt lùithời hạn xóa bỏ đến năm 2018 đối với các nước CLMV là 7% số dòng thuế thuộcdanh mục cắt giảm và các nước này cũng được lùi thời hạn công bố lộ trình xóa bỏthuế quan tổng thể thêm 6 tháng kể từ khi Hiệp định có hiệu lực
ATIGA quy định trong trường hợp gặp khó khăn đột xuất hay đặc biệt các nướcthành viên có quyền điều chỉnh hoặc ngừng cam kết thực hiện nghĩa vụ cắt giảm, xoá
bỏ thuế quan tại Điều 19 Các nước thành viên khác có quyền yêu cầu tham vấn hayđàm phán với nước có điều chỉnh hay tạm ngừng cam kết thực hiện nghĩa vụ, tuynhiên yêu cầu đền bù chỉ được đặt ra với các nước có quyền lợi cung cấp đáng kể (lànước đạt mức xuất khẩu bình quân trong ba năm bằng 20% tổng nhập khẩu mặt hàngliên quan từ ASEAN vào thị trường nước yêu cầu điều chỉnh hay tạm ngừng cam kếtthực hiện nghĩa vụ cắt giảm, xoá bỏ thuế quan) và nếu yêu cầu đền bù trong trườnghợp này không được đáp ứng thì nước có quyền lợi cung cấp đáng kể được quyền ápdụng biện pháp trả đũa ở mức độ tương đương thông qua ngừng hoặc điều chỉnh ưuđãi đối với nước đó Quy định về nghĩa vụ hồi tố được tiếp tục kế thừa Hiệp địnhCEPT/AFTA, theo đó mỗi thành viên có nghĩa vụ ban hành văn bản pháp lý thựchiện lộ trình cắt giảm thuế quan từ ngày 01/01 hằng năm, trong trường hợp ban hànhvăn bản muộn hơn ngày 01/01 thì nước đó mặc nhiên phải chấp nhận áp dụng hồi tố
từ ngày 01/01, quy định này nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ một cách công bằng
mà không vì lý do khách quan hay chủ quan nào khác
Về quy tắc xuất xứ, ATIGA kế thừa toàn bộ Bộ quy tắc xuất xứ đã được sửa đổi và
quy định về thủ tục cấp giấy chứng nhận xuất xứ của Hiệp định CEPT/AFTA, ngoàitiêu chí xuất xứ thuần túy, cộng gộp với 40% hàm lượng khu vực đã được quy địnhnhư trước đây, các quy định về chuyển đổi mã số thuế, quy tắc xuất xứ cụ thể (PSR)được quy định linh hoạt hơn nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc cam kết nội khốiphải tương đương hoặc thuận lợi hơn so với cam kết dành cho các nước đối tác trongcác khu vực mậu dịch tự do ASEAN cộng ATIGA cũng quy định về việc thành lậpTiểu ban về Quy tắc xuất xứ chịu trách nhiệm đàm phán và giám sát việc thực thi cáccam kết về Quy tắc xuất xứ trong ATIGA
Trang 11Về các biện pháp phi thuế quan, được quy định tại Chương 4, theo đó các nước còn
áp dụng hạn ngạch thuế quan sẽ dỡ bỏ TRQ (hạn ngạch thuế quan) theo ba gói thốngnhất với Chương trình làm việc về xóa bỏ hàng rào phi thuế quan Các nước thànhviên ASEAN sẽ xóa bỏ hàng rào phi thuế quan theo ba gói với thời gian quy định cụthể tại Điều 42 của Hiệp định: Brunei, Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái lan sẽxóa bỏ lần lượt vào các năm 2008, 2009 và 2010; Philippines xóa bỏ lần lượt vào cácnăm 2010, 2011, 2012; các nước CLMV xóa bỏ lần lượt vào các năm 2013, 2014,
2015, có linh hoạt tới năm 2018
Về quy định thể chế, kế thừa quy định của Hiệp định CEPT/AFTA, ATIGA quy định
Hội đồng AFTA là cơ quan giám sát thực hiện Hiệp định Thành viên của Hội đồngAFTA gồm cấp Bộ trưởng của quốc gia thành viên và Tổng thư ký ASEAN Điều 10cũng quy định Hội nghị các quan chức kinh tế cấp cao ASEAN (SEOM) giúp việccho Hội đồng AFTA thông qua Uỷ ban điều phối thực hiện Hiệp định ATIGA và các
cơ quan chuyên trách khác Ở mỗi nước thành viên thành lập một cơ quan AFTAquốc gia làm đầu mối giám sát các vấn đề trong quá trình thực hiện Hiệp định
Ngoài những nội dung cơ bản nêu trên, ATIGA còn có một số quy định khác vềngoại lệ trung, ngoại lệ an ninh, tạo thuận lợi cho thương mại, biện pháp đền bùthương mại, mối liên hệ giữa ATIGA với các hiệp định khác
Chương 2: Hoạt động thương mại hàng hóa dịch
vụ nội khối ASEAN2.1 Hoạt động thương mại nội khối của ASEAN giai đoạn 2005 - nay
Giai đoạn trước khi có hiệp đinh ATIGA, tỷ trọng chung của thương mại nội khốiASEAN vẫn duy trì ở mức tương đối thấp, chỉ chiếm 1/5 tổng thương mại của khối.Thực tế này đòi hỏi các nước ASEAN phải đẩy mạnh cải thiện hiệu quả hợp tác kinh
tế giữa các nước trong khối Tháng 11/1975 Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN
Trang 12được tổ chức lần thứ nhất Đây là dấu mốc quan trọng cho sự hợp tác kinh tế giữa cácnước trong khu vực Các nước thuộc khu vực ASEAN đã có nhiều hợp tác nhất địnhtrên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng và luôn hướng tới mụctiêu nhằm thực hiện một cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột về an ninh, kinh tế vàvăn hóa xã hội, mà cụ thể ở đây là hiệp định thương mại hàng hóa ATIGA Trên cơ
sở đó, kể từ ngày 1/1/2010 các nước ASEAN-6 (Brunei, Indonesia, Malaysia,Singapore, Philippines, Thái Lan) đã thực hiện mục tiêu xóa bỏ thuế quan đối với99,65% số dòng thuế, ASEAN-4 (Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam) đã đưa98.86% dòng thuế tham gia chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung để xâydựng khu vực thương mại tự do ASEAN (CEPT – AFTA) về mức 0-5% Các nước
dự kiến hướng tới xóa bỏ hết những hàng rào phi thuế quan vào năm 2015 Như vậy,không giống như những khu vực khác với trọng tâm hội nhập là gia tăng kim ngạchthương mại và đầu tư trong khu vực, trong khi tập trung của ASEAN là dựa trên việcgiảm các rào cản thương mại và đầu tư trong khu vực để cạnh tranh hiệu quả hơn
Năm 2016, Hội nghị Hội đồng khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) lần thứ
30 nhóm họp, đã có tới 99,2% các dòng thuế nhập khẩu trong Hiệp định Thương mạihàng hóa ASEAN (ATIGA) của các nước ASEAN 6 gồm Brunei Darussalam,Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái-lan đã được xóa bỏ, trong khithuế nhập khẩu đối với 90,9% các dòng thuế của Campuchia, Lào, Myanmar và ViệtNam (CLMV) cũng đã được xóa bỏ Tổng cộng, 96,01% tất cả các dòng thuế tạiASEAN đã được xóa bỏ Tới năm 2018, tỉ lệ thuế được xóa bỏ đối với ASEAN – 6 sẽ
là 99,20%, CLMV sẽ là 97,81% và ASEAN sẽ là 98,67%
Thực hiện cam kết ATIGA, riêng Việt Nam đã cắt giảm 6.859 dòng thuế (chiếm72% tổng Biểu thuế xuất nhập khẩu) xuống thuế suất 0% tính đến thời điểm 2014 Từngày 1/1/2015, đã có thêm 1.720 dòng thuế được cắt giảm xuống thuế suất 0% Sốcòn lại gồm 687 dòng thuế (chiếm 7% Biểu thuế), chủ yếu là những mặt hàng nhạycảm trong thương mại giữa Việt Nam và ASEAN, sẽ xuống 0% vào năm 2018, tậptrung vào các nhóm hàng như ô tô, xe máy, phụ tùng linh kiện ô tô xe máy, dầu thựcvật, hoa quả nhiệt đới, đồ điện dân dụng như tủ lạnh, máy điều hòa, sữa và các sảnphẩm sữa…
Về hoạt động thương mại của ASEAN đã tăng đáng kể với tổng kim ngạch năm
1998 đạt 576 tỷ USD lên đến 2.476 tỷ USD vào năm 2012 Các mặt hàng, dịch vụgiao thương nội khối chủ yếu là thực phẩm, nông sản, phụ tùng, linh kiện và thiết bịđiện tử, vật liệu xây dựng, máy móc, hàng thời trang và du lịch Các mặt hàng traođổi nội khối vẫn là các sản phẩm thô có giá trị thấp làm cho khả năng cạnh tranh củacác nước thấp so với các khu vực khác