Xuất khẩu là một hoạt động kinh doanh thu doanh lợi bằng cách bán sánphẩm hoặc dịch vụ ra thị trường nước ngoài và sản phẩm hay dịch vụ ấy phải dichuyển ra khỏi biên giới của một quốc gi
Trang 1CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU VÀ VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM.
1.1 Định nghĩa xuất khẩu.
Xuất khẩu là một hoạt động kinh doanh thu doanh lợi bằng cách bán sánphẩm hoặc dịch vụ ra thị trường nước ngoài và sản phẩm hay dịch vụ ấy phải dichuyển ra khỏi biên giới của một quốc gia
1.2 Vai trò của xuất khẩu đối với quá trình phát triển kinh tế.
1.2.1 Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hóa đất nước.
Công nghiệp hóa đất nước theo những bước đi thích hợp là con đường tấtyếu để khắc phục tình trạng nghèo và chậm phát triển của nước ta Để công nghiệphóa đất nước trong thời gian ngắn, đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để nhập khẩumáy móc, thiết bị, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến
Nguồn vốn để nhập khẩu có thể tạo ra từ các nguồn sau:
- Xuất khẩu hành hóa;
- Đầu tư nước ngoài;
- Vay nợ, viện trợ;
- Thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ;
- Xuất khẩu sức lao động…
Các nguồn vốn như đầu tư nước ngoài, vay nợ và viện trợ… tuy quan ttrọngnhưng rồi cũng phải trả bằng cách này hay cách khác ở thời kỳ sau này Nguồn
Trang 2vốn quan trọng nhất để nhập khẩu, công nghiệp hóa đất nuớc là xuất khẩu Xuấtkhẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng của nhập khẩu.
Ở Việt nam, thời kỳ 1986-1990 nguồn thu về xuất khẩu hàng hóa đảm bảotrên 75% nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu; tương tự thời kỳ 1991-19995 là 66% và1996-2000 là 50%( không tính nguồn vốn thông qua xuất khẩu dịch vụ)
Trong tương lai, nguồn vốn bên ngoài sẽ tăng lên Nhưng mọi cơ hội đầu tư
và vay nợ của nước ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ thuận lợi khi các chủ đầu tư
và người cho vay thấy được khả năng xuất khẩu- nguồn vốn chủ yếu để trả nợ trởthành hiện thực
1.2.2 Xuất khẩu đóng vai trò góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng mạnh
mẽ Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại Sự chuyểndịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa phù hợp với xu hướng pháttriển của kinh tế thế giới là tất yếu đối với nước ta
Có 2 cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyểndịch cơ cấu kinh tế
Một là: xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vượt
quá nhu cầu nội địa Trong trường hợp nền kinh tê còn lạc hậu và chậm phát triểnnhư nước ta, sản xuất về cơ bản còn chưa đủ tiêu dùng nếu chỉ thụ động chờ ở sự
“thừa ra” của sản xuất thì xuất khẩu sẽ vẫn cứ nhỏ bé và tăng trưởng chậm chạp.Sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh tế cũng sẽ rất chậm
Hai là: coi thị trường và đặc biệt là thị trường thế giới là hướng quan trọng
để tổ chức sản xuất Quan điểm thứ hai chính là xuất phát từ nhu cầu của thị
Trang 3trường thế giới để tổ chức sản xuất Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển Sự tác động này đến sản xuất thể hiệnở:
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác cơ hội phát triển thuậnlợi Chẳng hạn, khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu sẽ tạo cơ hội cho việcphát triển ngành sản xuất nguyên liệu như: bông, sợi hay thuốc nhuộm, côngnghiệp tạo mẫu…Sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến thực phẩmxuất khẩu, dầu thực vật, chè, có thể sẽ kéo theo sự phát triển của ngành côngnhiệp chế tạo thiết bị phục vụ cho nó
- Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần chosản xuất phát triển và ổn định
- Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sảnxuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước
- Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế-kỹ thuật nhằm cải tạo vànâng cao năng lực sản xuất trong nước Điều này muốn nói đến xuất khẩu làphương tiện quan trọng tạo ra vốn và kỹ thuật, công nghệ từ thế giới bên ngoàivào Việt Nam, nhằm hiện đại hóa nền kinh tế của đất nước, tạo ra một năng lựcsản xuất mới
- Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của ta sẽ tham gia vào cuộc cạnhtranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏichúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu tổ chức luôn thích nghiđược với thị truờng
- Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoànthiện công việc quản trị sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sản xuất mở rộng thịtrường
1.2.3 Xuất có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống của nhân dân.
Trang 4Tác động của xuất khẩu đến việc làm và đời sống bao gồm rất nhiều mặt.Trước hết sản xuất, chế biến và dịch vụ hàng xuất khẩu đang trực tiếp là nơi thuhút hàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhập không thấp.
Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếuphục vụ trực tiếp đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu tiêudùng của nhân dân
Quan trọng hơn cả là việc xuất khẩu tác động trực tiếp đến sản xuất làm cho
cả quy mô và tốc độ sản xuất tăng lên, các ngành nghề cũ được khôi phục, ngànhnghề mới ra đời, sự phân công lao động mới đòi hỏi lao động được sử dụng nhiềuhơn, năng suất lao động cao và đời sống nhân dân đuợc cải thiện
1.2.4 Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của nuớc ta.
Chúng ta thấy rõ xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qualại phụ thuộc lẫn nhau Có thể hoạt động xuất khẩu có sớm hơn các hoạt động kinh
tế đối ngoại khác và tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ này phát triển Chẳng hạn,xuất khẩu và công nghệ sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu
tư, mở rộng vận tải quốc tế…Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại chúng
ta vừa kể lại tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu
Tóm lại: đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đểphát triển kinh tế và thực hiện công nghiệp hóa đất nước
1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu.
1.3.1 Nhóm nhân tố tác động từ bên trong nền kinh tế.
1.3.1.1 Sản xuất trong nước.
Trang 5Xuất khẩu là kết quả của sản xuất phát triển Về cơ bản, một quốc gia sẽkhông thể xuất khẩu nếu như quốc gia đó không có một nền sản xuất phát triển với
cơ cấu hợp lý Với những nước đang phát triển có lợi thế về lao động và tàinguyên thiên nhiên, cơ cấu kinh tế của các nước này chủ yếu là nông nghiệp nênxuất khẩu cũng tập trung vào các loại nông sản Ngược lại, các nước phát triển với
ưu thế về vốn và công nghệ, cơ cấu kinh tế cũng tập trung vào khu vực côngnghiệp và dịch vụ nên cơ cấu hàng xuất khẩu cũng có nhiều tiến bộ, tỷ trọng xuấtkhẩu sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao Nói một cách khác, trình độ sản xuất
và cơ cấu nền kinh tế là nhân tố quyết định đến kim ngạch xuất khẩu
Đối với Việt Nam, nền kinh tế đã vượt qua thời kỳ suy giảm, đạt tốc độ tăngtrưởng khá cao và phát triển tương đối toàn diện Tốc độ tăng trưởng GDP nămsau cao hơn năm trước, bình quân trong năm 2001-2005 đạt mức kế hoạch 7,5%.Kinh tế vĩ mô tương đối ổn định, các quan hệ và cân đối chủ yếu trong nền kinhtế( tích lũy- tiêu dùng, thu-chi ngân sách, ) được cải thiện; việc huy động cácnguồn nội lực cho phát triển có tiến bộ, tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách Nhànước vượt dự kiến tổng vốn đầu tư vào nền kinh tế tăng mạnh Đã tạo dựng thêmnhiều cơ sở vật chất- kỹ thuật quan trọng, trong đó nhiều công trình lớn đã đượcđưa vào sử dụng
Tuy nhiên, quy mô nền kinh tế còn nhỏ Các cân đối vĩ mô trong nền kinh tếchưa thật vững chắc, dễ bị ảnh hưởng bởi những biến động từ bên ngoài Trình độkhoa học, công nghệ, năng suất lao động còn thấp; giá thành nhiều sản phẩm caohơn so với khu vực và thế giới Nhiều nguồn lực và tiềm năng trong nước chưađược huy động và khai thác tốt Đầu tư của Nhà nước dàn trãi, bị thất thoát nhiều.Một số công trình xây dựng lớn, quan trọng của quốc gia không hoàn thành theo
kế hoạch Lãng phí trong chi tiêu ngân sách Nhà nước và tiêu dùng xã hội cũngnghiêm trọng Môi trường sinh thái ở nhiều nơi ô nhiễm nặng Việc khai thác, sửdụng tài nguyên thiên nhiên, nhìn chung chưa hợp lý
Trang 6Bên cạnh đó, năng lực cạnh tranh về kinh tế của Việt Nam còn ở những thứbậc thấp trong xếp loại của thế giới.
Bảng 1.1 Vi trí xếp hạng năng lực cạnh tranh của Việt nam
48/53
60/75
65/80
60/102
77/104
74/117
77/125Khoản
Nguồn: Báo cáo thường niên của Diễn đàn kinh tế thế giới.
Cơ cấu kinh tế và lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa,hiện đại hóa Đến năm 2005, tỷ trọng giá trị nông-lâm-ngư nghiệp trong GDP còn20.9%( kế hoạch 20-21%), công nghiệp và xây dựng 41% ( kế hoạch 38-39%),dịch vụ 38,1% ( kế hoạch 41-42%) Tuy nhiên tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tếcòn chậm, chất lượng thấp, nhất là lĩnh vực dịch vụ Nội dung và các biện phápcông nhiệp hóa, hiện đại hóa trong nông nghiệp và nông thôn chưa cụ thể Sắpxếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, nhất là
cổ phần hóa chưa đạt yêu cầu đề ra Chất lượng nguồn nhân lực thấp, lao độngchưa qua đào tạo vẫn là phổ biến, lao động nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ cao
Trang 7Hoạt động kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế có những bước tiếnquan trọng Một số sản phẩm của ta đã có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tếvới thương hiệu có uy tín Vốn tài trợ phát triển chính là ODA và vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài FDI liên tục tăng qua các năm Đã có một số dự án đầu tư của ta ranước ngoài Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bước đầuđược xây dựng; một số loại thị trường mới được hình thành; thị trường hàng hóaphát triển tương đối nhanh.
1.3.1.2Quan điểm chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, phát triển ngoại thương trong từng giai đoạn.
Quan điểm và định hướng phát triển kinh tế xã hội là yếu tố quyết định đến
sự phát triển của hoạt động xuất khẩu
Ở Việt Nam, Đại hội Đảng lần thứ VI, năm 1986 đánh dấu sự đổi mới củaViệt Nam, với quan điểm mở cửa và làm bạn với tất cả các nước, các khu vực,không phân biệt chế độ chính trị, trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau.Tiếp đến các kỳ Đaị hội Đảng lần thứ VII, VIII, IX và lần thứ X, Đảng ta vẫn thểhiện rõ chủ trương thực hiện chính sách mở cửa, đẩy mạnh phát triển kinh tế vàhoạt động kinh tế đối ngoại Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng đề ra chiếnlược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2010, xác định mục tiêu tổng quát của chiếnlược 10 năm là: “ Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tập trung xây dựng cóchọn lọc một số cơ sở công nghiệp nặng với công nghệ cao, sản xuất tư liệu sảnxuất cần thiết để trang bị và trang bị lại kỹ thuật, công nghệ tiên tiến cho cácngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và đáp ứng nhu cầu quốc phòng, đưa đấtnước ra khỏi tình trạng kém phát triển và xây dựng nền tảng để đến năm 2020,nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp Chất lượng đời sống vật chất, vănhóa, tinh thần của nhân dân được nâng lên đáng kể” Đại hội Đảng cộng sản ViệtNam lần thứ X tháng 6/2006, vẫn tiếp tục khẳng định định hướng phát triển kinh
tế -xã hội nói trên, phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh hơn, có chất
Trang 8lượng cao hơn, bền vững hơn và gắn kết với phát triển con người Đến năm 2010tổng sản phẩm trong nước GDP tăng gấp 1,2 lần so với năm 2000; mức tăngtrưởng GDP bình quân đạt 7,5 đến 8%/năm và phấn đấu đạt trên 8%/năm Đối vớihoạt động xuất khẩu, Chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việt Nam đã khẳng định
“ nỗ lực gia tăng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, góp phần đẩy mạnh công nghiệphóa-hiện đại hóa, tạo công ăn việc làm, thu ngoại tệ, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩutheo hướng nâng cao giá trị gia tăng, gia tăng sản phẩm chế biến và chế tạo, ápdụng công nghệ mới để tăng sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao,
mở rộng và đa dạng hóa thị trường và phương thức kinh doanh, hội nhập thắng lợivào kinh tế khu vực và thế giới Chớp thời cơ thuận lợi tạo ra sự phát triển độtbiến, nhanh chóng rút ngắn khoảng cách giữa kinh tế nước ta và các nước trongkhu vực” Đây là một căn cứ hết sức quan trong, là kim chỉ nam cho mọi hoạtđộng chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu của nước ta từ nay đến năm 2010
Căn cứ vào mục tiêu, quan điểm lớn của hoat dộng xuất khẩu đã được xácđịnh tại nghị quyết Đại hội Đảng IX, Bộ thương mại đã xây dựng Chiến lược pháttriển xuất nhập khẩu thời kỳ 2001-2010, xác định mục tiêu tổng quát của hoạtđộng xuất khẩu giai đoạn 2006-2010 là phát triển xuất khẩu với tốc độ tăng trưởngcao và bền vững, làm động lực thúc đẩy tăng trưởng GDP; đẩy mạnh sản xuất vàxuất khẩu các mặt hàng có lợi thế cạnh tranh, đồng thời tích cực phát triển các mặthàng khác có tiềm năng thành những mặt hàng xuất khẩu chủ lực mới, theo hướngnâng cao hiệu quả xuất khẩu; chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnhxuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao; tăng sản phẩm chế biến, chế tạo,sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, giảm dần tỷ trọng hàng xuấtkhẩu thô Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trung bình cả giai đoạn 2006-
2010 đạt mức 17,5%/năm
Về phát triển thị trường xuất khẩu, quan điểm của Việt Nam là mở rộng và
đa dạng hóa, đa phương hóa các thị trường xuất khẩu nhằm tạo ra một thị trườngxuất khẩu đa dạng, phong phú, sống động, có khả năng cạnh tranh, tìm kiếm các
Trang 9thị trường mới, phát triển thị trường theo chiều sâu để tạo thế vững chắc, nhằmtăng quy mô xuất khẩu, tăng mặt hàng xuất khẩu và mở ra khả năng xuất khẩu cácmặt hàng mới, đồng thời phát triển các thị trường tiêu thụ trong nước cho các sảnphẩm hàng hóa định hướng sản xuất để xuất khẩu, nhằm vừa đảm bảo tiêu thụ,vừa phân tán rủi ro khi thị trường thế giới có biến động, vừa góp phần điều hòanhững mất cân đối lớn về cung cầu trên thị trường trong nước, ổn định và pháttriển sản xuất, tạo ra xung lực để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế có hiệu quả.
1.3.1.3 Cơ chế, chính sách quản lý và khuyến khích xuất khẩu.
Các chính sách quản lý và khuyến khích xuất khẩu của mỗi quốc gia cũng sẽảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu hàng xuất khẩu Đối với những ngành hàng được
ưu tiên xuất khẩu, các chính sách khuyến khích như trợ cấp, tín dụng xuất khẩu,xúc tiến xuất khẩu, được áp dụng sẽ góp phần gia tăng kim ngạch xuất khẩu.Thông thường, những ngành mục tiêu của chính sách khuyến khích xuất khẩu sẽ lànhững ngành sản xuất công nghiệp có hàm lượng chế biến cao, khai thác lợi thếcủa quốc gia, góp phần chuyển dịch trong cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng giatăng hàm lượng chế biến Tuy nhiên, cần chú ý rằng, tác động của các chính sáchkhuyến khích xuất khẩu đến chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu phụ thuộc nhiềuhơn vào hiệu quả thực thi các chính sách này Kể cả khi chính sách này được banhành hợp lý, nhưng nếu không được thực hiện một cách hiệu quả thì cũng sẽkhông có tác động đến chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu
Bên cạnh đó, chính sách quản lý xuất khẩu với các công cụ như: cấm xuấtkhẩu, thuế xuất khẩu hay giấy phép… cũng sẽ tác động đến cơ cấu hàng xuất khẩutheo hướng hạn chế xuất khẩu Các biện pháp quản lý thường hướng đến hạn chếxuất khẩu Các biện pháp quản lý thường hướng đến các sản phẩm thô, chưa quachế biến Do đó, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm này sẽ khó tăng cao
Trang 10Ở Việt nam, từ sau năm 1986, cơ chế, chính sách quản lý và khuyến khíchxuất khẩu liên tục được cải cách theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế.Có thể tómtắt những nội dung cải cách chủ yếu của chính sách quản lí và khuyến khích xuấtkhẩu như sau:
Cơ chế điều hành hoạt động xuất nhập khẩu: Từ năm 1986 đã từng bướcchuyển các hoạt động ngoại thương từ cơ chế tập trung, bao cấp sang hoạch toánkinh doanh, xóa bỏ quyết toán nội bộ, phân định rõ giữa quản lí vi mô và vĩ mô.Quyền kinh doanh: Bắt đầu từ ngày 31/7/2008 Chính phủ ban hành Nghịđịnh 57/1998/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật thương mại năm 1998 đã cho phép
tự do kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu với tất cả các loại hình kinh doanh doanhnghiệp Như vậy quyền kinh doanh coi như đã hoàn toàn được tự do hóa
Mặt hàng kinh doanh: Sau Nghị định 98/CP tháng 12/1995 hệ thống cấp giấyphép chuyến đi đã bị hủy bỏ Nhà nước cơ bản đã cho phép các doanh nghiệp kinhdoanh tất cả các mặt hàng (trừ một số mặt hàng cấp) và một số mặt hàng có ảnhhưởng lớn đến cân đối nền kinh tế quốc dân hoặc mang tính đặc chủng cần phải cógiấy phép của bộ thương mại hoặc các bộ chủ quản
Quản lí qua thuế: Các múc thuế đã giảm đi rõ rệt, các mặt hàng xuất khẩuđược hưởng mức thuế VAT là 0%, thuế xuất khẩu coi như không đáng kể
Các chính sách thưởng hổ trợ xuất khẩu như cung cấp thông tin thị trườnggiá cả, xúc tiến thương mại… liên tục được Nhà nước quan tâm và cải thiện nhằmgiúp đỡ các doanh nghiệp đẩy mạnh xuất khẩu
Nhìn chung có thể nhận thấy là trong những năm vừa qua, Việt Nam đã có những đổi mới cơ bản trong chính sách quản lí và khuyến khích xuất khẩu đã huy động được mọi nguồn lực của mọi thành phần kinh tế vào đẩy mạnh xuất khẩu trong thời gian qua Tuy nhiên phần lớn chính sách của Việt Nam đều hướng tới
Trang 11mục tiêu giải phóng mọi tiềm năng, Tăng kim ngạch xuất khẩu mà chưa có sự ưu tiên, phân biệt giữa các nhóm hàng.Do đó chính sách khuyến khích xuất khẩu chưa có những tác động lớn đến cơ cấu hàng xuất khẩu.
1.3.2 Nhóm nhân tố tác động từ bên ngoài nền kinh tế.
1.3.2.1Cách mạng khoa học công nghệ diễn ra mạnh mẽ trên thế giới.
Một cơ cấu xuất khẩu được coi là tiến bộ khi nhóm hàng chế biến, có hàmlượng khoa học công nghệ cao chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩucủa một quốc gia Điều này thể hiện tốc độ và chất lượng tăng trưởng xuất khẩucủa một nước phụ thuộc rất nhiều vào trình độ phát triển khoa học kỹ thuật củanước đó Trong những năm đầu của thế kỷ 21, nhân loại đã tững chứng kiến cuộccách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin tiếp tục pháttriển nhảy vọt, thúc đẩy sự hình thành nền kinh tế tri thức và làm biến đổi sâu sắccác lĩnh vực của đời sống xã hội Trình độ làm chủ thông tin, tri thức có ý nghĩaquyết định đến tương lai phát triển của các nền kinh tế Cơ cấu kinh tế chuyển dịchnhanh, các lợi thế so sánh quốc tế của các quốc gia không ngừng biến đổi Chutrình luân chuyển vốn, thay đổi công nghệ và sản phẩm ngày càng được rút ngắn,đòi hỏi các quốc gia cũng như các doanh nghiệp phải điều chỉnh rất nhanh nhạy đểthích ứng Xu thế này cũng đặt ra nhiều vấn đề buộc các nước phải điều chỉnh cơcấu kinh tế phù hợp với thay đổi của thị trường thế giới, để từ đó có một cơ cấuxuất khẩu hợp lý
Thứ nhất: Cần tập trung phát triển các ngành dịch vụ, khu vực đang gia tăng
nhanh tỷ trọng và là cơ sở để hiện đại hóa các lĩnh vực kinh tế khác
Thứ hai: Lựa chọn phát triển các ngành công nghệ cao để tận dụng cơ hội
của kinh tế tri thức, đăc biệt là công nghệ thông tin
Trang 12Thứ ba:Phát triển nông nghiệp hữu cơ, sản xuất sạch để tận dụng thành tựu
của thế giới về công nghệ sinh học, đồng thời đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môitrường và nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về các sản phẩm thân thiệnvới môi trường Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước có tỷ trọng nôngnghiệp lớn như Việt Nam
1.3.2.2 Xu thế toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại toàn cầu.
Xu thế tự do hóa thương mại và toàn cầu hóa kinh tế đã trở thành yếu tốkhách quan, ngày càng lôi cuốn thêm nhiều nước và mở rộng ra hầu hết các lĩnhvực, làm tăng sức ép cạnh tranh và tác động qua lại giữa các nền kinh tế Mở cửađơn phương và thông qua các hình thức hợp tác song phương và đa phương giữacác quốc gia ngày càng sâu rộng cả trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa, bảo vệ môitrường, phòng chống tội phạm, phòng chống thiên tai và các đại dịch Các công tyxuyên quốc gia không ngừng cấu trúc lại, hình thành những tập đoàn khổng lồ chiphối các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh quan trọng trên phạm vi toàn thế giới vớinhững hình thức tổ chức quản lý đa dạng và linh hoạt Ngày nay, các quốc giakhông thể đứng ngoài xu thế toàn cầu hóa mà cần phải chủ động tham gia vào quátrình này, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu để có thể đẩy mạnh xuất khẩu sảnphẩm của mình Thực chất, đây là một quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh rấtphức tạp, đặc biệt là đấu tranh chống lại sự chi phối của các cường quốc kinh tế vàcác công ty xuyên quốc gia Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, đểđẩy mạnh xuất khẩu, cần khai thác những cơ hội hợp tác với nước ngoài và cáccông ty đa quốc gia
Những thỏa thuận về tự do hóa thương mại sẽ mở ra những cơ hội tiếp cậnthị trường cho các nước đang phát triển Về nông nghiệp, giảm thuế quan, loại bỏdần trợ cấp xuất khẩu và hỗ trợ trong nước đối với hàng nông sản sẽ tạo điều kiệnthúc đẩy thương mại nông sản trên thế giới, tạo cơ hội cho các nước phát triển nhưViệt Nam có thể xuất khẩu nông sản sang thị trường các nước phát triển Tuy
Trang 13nhiên, cần chý ý rằng, mặc dù tự do hóa thương mại là xu thế tất yếu, nhưng nhiềunước đang và sẽ áp dụng những biện pháp bảo hộ mới đối với nông sản khiến chokhả năng cạnh tranh bị biến dạng Việc này lại trở thành một thách thức lớn đốivới các nước đang phát triển, nếu không thể vượt qua được những rào cản về vệsinh an toàn thực phẩm, về môi trường thì sẽ khó có thể đẩy mạnh xuất khẩu cácsản phẩm nông sản Đối với các sản phẩm công nghiệp, mặc dù mức thuế quangiảm mạnh nhưng thay vào đó, tình trạng bảo hộ lại có xu hướng gia tăng ngay cảtại những nước phát triển nhất nhưng dưới hình thức rào cản mới tinh vi hơn.
Nhìn chung, đây sẽ là một trong những nhân tố quan trọng tác động đến việcchuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu nói riêng.Nếu không nắm bắt một cách kịp thời xu thế mang tính tất yếu này để phát huynhững nội lực sẵn có và tận hưởng những lợi ích từ thị trường thế giới về vốn, kỹthuật, thị trường tiêu thụ và kinh nghiệm quản lý, thì cơ cấu xuất khẩu sẽ bị lạchậu, hiệu quả kinh doanh xuất khẩu sẽ bị giảm sút
1.3.2.3Tiêu dùng và nhu cầu của thị trưong thế giới.
Thị trường thế giới đầy biến động, thay đổi khó lường, nhiều rủi ra và nhữngkhó khăn tiềm ẩn luôn là một yếu tố quan trọng cần xem xét khi chúng ta nghiêncứu vấn đề xuất khẩu của mình Xem xét các xu hướng biến động của thị trường sẽgiúp chúng ta chủ động hơn, có đối sách phù hợp hơn trong việc xác định thịtrường xuất khẩu hợp lý trong tương lai
Thị trường hàng hóa thế giới ngày càng trở nên đa dạng và bị phân đoạn.Toàn cầu hóa và tiến bộ khoa học công nghệ một mặt thúc đẩy quá trình tiêuchuẩn hóa sản phẩm và hình thành thương hiệu toàn cầu, mặt khác, nó làm cho thịtrường bị phân ra nhiều bộ phận khác nhau, không phải do biên giới và các hàngrào thương mại mà do thói quen của người tiêu dùng Người tiêu dùng một mặt có
xu hướng mua các sản phẩm tiêu chuẩn, nhưng mặt khác, họ muốn sản phẩm phải
Trang 14đáp ứng được những đồi hỏi riêng, cụ thể, đáp ứng một nhu cầu riêng biệt nào đó,nhất là khi thu nhập của người dân đang có xu hướng tăng lên Xu hướng này làmtăng thêm các thị trường “ ngách” và là không gian hoạt động thích hợp của cácdoạnh nghiệp vừa và nhỏ Ngoài ra, xu hướng toàn cầu hóa và quốc tế hóa nềnkinh tế thế giới đang khiến cho ranh giới hữu hình giữa các quốc gia trở thànhranh giới vô hình Bên cạnh đó, công nghệ thông tin cũng cho phép rất nhiều công
ty thâm nhập vào các khu vực thị trường mà trước đó họ không hề biết tới vàkhông có khả năng tiếp thị, sự có mặt của các MNC với hệ thống chi nhánh rộngkhắp, có khả năng thâm nhập nhanh chóng vào mọi nơi trên thế giới Nói cáchkhác, thị trường đã trở nên rộng lớn hơn, mang lại cơ hội cho tất cả các quốc gia,các nhà xuất khẩu Điều quan trọng là các nhà sản xuất có thể đủ nguồn lực để tạo
ra sản phẩm làm hài lòng thị trường hay không
Nói tóm lại, nhu cầu thị trường là một yếu tố thay đổi theo thời gian, phụthuộc vào nhiều yếu tố như văn hóa, chính trị, kinh tế, thị hiếu, Tuy nhiên, dù thịtrường có thay đổi thế nào đi chăng nữa, thù xu hướng thay đổi cơ bản nhất, tràolưu tiêu dùng mạnh mẽ và nỗi trội nhất sẽ cho phép chúng ta tiềm ra giải pháp chocác mặt hàng xuất khẩu phù hợp với từng trào lưu, điều đó đồng nghĩa với cơ cấuxuất khẩu của chúng ta đã được xác định theo nhu cầu của thị trường chứ khôngphải căn cứ vào những gì mình có
1.4 Vận dụng một số lý thuyết về thương mại Quốc tế để đánh giá tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam.
1.4 1 Vận dụng lý thuyết về tỷ lệ các yếu tố của Heckscher-Ohlin.
Theo lý thuyết H-O, mỗi quốc gia sẽ dồi dào tương đối về một loại nguồnlực(lao động hoặc vốn) Các nước đang phát triển, bao gồm cả Việt Nam thườngdồi dào về lao động trong khi các nước phát triển là những quốc gia dồi dào vềvốn
Trang 15Để đo lường lượng nguồn lực của một quốc gia, chúng ta có thể sử dụng sốngười trong độ tuổi lao động và GDP của một quốc gia để đại diện cho lượng laođộng và lượng vốn Bảng sau cho thấy tỷ lệ lao động và vốn( L/K) của một sốnước trong khu vực:
Bảng 1.2: Tỷ lệ lao động dựa trên vốn của một số nước
Nguồn: Tính toán dựa trên số liệu của Niên giám thống kê.
Bảng trên khẳng định lại nhận định của các nghiên cứu trước đây cho rằngViệt Nam là một quốc gia dồi dào tương đối về lao động Đặc biệt, các số liệu tínhtoán cho thấy, mức độ dồi dào về lao động của Việt Nam so với các nước đangphát triển khác trong khu vực là tương đối lớn Do đó, phù hợp với lý thuyến H-O,
cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sẽ tập trung vào những sản phẩm có hàm lượnglao động cao như: dệt may, giày dép, một số nông sản…
Bên cạnh đó, có thể nhận thấy xu hướng giảm sút trong tỷ lệ L/K ở tất cả cácnước, bao gồm cả Việt Nam Điều này phù hợp với xu thế chung của tất cả cácnước đang thực hiện công nghiệp hóa, sẽ giảm dần việc phụ thuộc vào lao động vàtăng dần sự phụ thuộc vào vốn và công nghệ Do đó, để chuyển dịch cơ cấu xuấtkhẩu, chuyển từ các sản phẩm có hàm lượng lao động sang các sản phẩm có hàmlượng vốn, Việt Nam cần có những giải pháp mang tính đột phá Chỉ có những
Trang 16bước đi mạnh mẽ như vậy mới giúp chúng ta giảm đuợc tỷ lệ L/K xuống thấp hơncác nước khác để có thể xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng vốn cao.
Tóm lại, việc vận dụng lý thuyết H-O cho thấy một số kết luận về cơ cấuhàng xuất khẩu của Việt Nam như sau:
- Việt Nam là nước dồi dào tương đối về lao động nên Việt nam cótiềm năng xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng lao động cao như nông sản,dệt may, giày dép, và thực tế tình hình xuất khẩu hiện nay đã chứng minh điềunày
- Lợi thế so sánh của Việt Nam về lao động đang giảm sút nên cơ cấuhàng xuất khẩu trong thời gian tới sẽ có những biến động đáng kể Nếu chúng
ta hình thành được những lợi thế so sánh mới(về lao động có kỹ thuật…) thì cơcấu hàng xuất khẩu của chúng ta sẽ chuyển dịch từ mặt hàng nông sản chưaqua chế biến sang những nông sản đã qua chế biến, những sản phẩm côngnghiệp chế biến( kết hợp giữa lao động óc kỹ thuật với công nghệ đơn giản).Ngược lại, nếu chúng ta không tìm được những lợi thế so sánh mới thì trongtương lai, khi lợi thế so sánh của Việt Nam về lao động rẽ mất đi, sẽ ảnh hưởngkhông chỉ đến cơ cấu hàng xuất khẩu mà còn ảnh hưởng đến kim ngạch xuấtkhẩu của nước ta
- Trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam hiện tại, một số mặthàng xuất khẩu chủ lực đang giảm sút về lợi thế so sánh như gạo, cà phê,…nhưng cũng có những mặt hàng có lợi thế so sánh cũng đang tăng dần như thủysản, giày dép…Bên cạnh đó, những năm gần đây, chúng ta cũng đã có nhữngmặt hàng xuất khẩu mới như đóng tàu, điện tử…Tuy những mặt hàng này vẫnchưa có lợi thế so sánh cao nhưng đang tăng dần và hứa hẹn có thể trở thànhnhững mặt hàng xuất khẩu chủ lực và làm thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩutrong thời gian tới
Trang 171.4.2 Vận dụng lý thuyết về vòng đời quốc tế của sản phẩm của Raymond
Vernon.
Năng lực công nghệ ở Việt Nam.
Lý thuyết vòng đời quốc tế sản phẩm cho rằng thương mại quốc tế sẽ phụthuộc nhiều vào năng lực công nghệ( technological capability) của mỗi quốc gia.Năng lực công nghệ không chỉ là khả năng của quốc gia đó trong viêc phát minh,đưa ra những sản phẩm mới ( nước phát minh) mà còn là khả năng tiếp thu và làmchủ công nghệ của quốc gia đó Đối với các nước phát triển, thương mại quốc tếthường dựa trên khả năng phát minh ra những công nghệ mới Điều đó lý giải tạisao các nước phát triển như Hoa Kỳ, EU là những nước có kim ngạch xuất khẩulớn với cơ cấu tập trung vào những hàng hóa có hàm lượng công nghệ cao, đặcbiệt là công nghệ hiện đại Ngược lại, những nước đang phát triển như Việt Namthường chỉ dựa vào khả năng tiếp thu và làm chủ công nghệ của mình Tuy nhiên,ngay cả trong trường hợp này thì năng lực công nghệ cũng phụ thuộc nhiều vàokhả năng tiếp thu công nghệ của nước tiếp nhận
Ở Việt Nam, các doanh nghiệp FDI được đánh giá là nguồn chuyển giaocông nghệ và đầu tư nghiên cứu và phát triển chủ yếu ở Việt Nam trong nhữngnăm qua Nhìn chung các công nghệ của các doanh nghiệp liên doanh đều cao hơncông nghệ đang sử dụng ở Việt Nam và ở mức trung bình của khu vực Một số dự
án đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực dầu khí, viễn thông, sản xuất ôtô, xi măng,sát thép, điện tử….thuộc loại tiên tiến so với trình độ công nghệ thế giới Tuynhiên, tác động chuyển giao công nghệ và quản lý của FDI trong nhiều trường hợpchưa đạt được yêu cầu mong muốn và tiềm năng công nghệ của các nhà đầu tưnước ngoài chưa được chuyển khai triệt để; ví dụ như công nghệ sử dụng còn gây
ô nhiễm môi trường, đầu tư nghiên cứu và phát triển còn thấp, đầu tư vào nghiêncứu khoa học và đào tạo chưa đáng kể Thực hiện mục tiêu tăng chất lượng đầu tư
để đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong điều kiện vốn trong nước còn hạn chế,
Trang 18đầu tư nước ngoài với ưu thế về công nghệ và kỹ năng quản lý tiên tiến được xem
là một trong những lực lượng quan trọng nhất để đạt được mục tiêu này Như vây,
có thể thấy rằng khai thác tốt hơn tiềm năng về công nghệ và quản lý của đầu tưnước ngoài cần được chú trọng để nâng cao tiềm lực công nghệ của quốc gia
Sự xuất hiện của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã có tác động dâychuyền tích cực như: tăng mức độ cạnh tranh trên thị trường, giúp các doanhnghiệp và các nhà quản lý doanh nghiệp trong nước học hỏi thêm về cách thức bốtrí sản xuất, quản lý, tiếp thu công nghệ, kiểu dáng sản phẩm và cách thức tiếp thị,phục vụ khách hàng,…Tuy nhiện, sự liên kết giữa các doanh nghiệp trong nướcvới các doanh nghiệp nước ngoài còn yếu Điều này được thể hiện ở tỷ trọng nhậpkhẩu nguyên liệu đầu vào trong tổng số nguyên liệu sử dụng của các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài còn rất cao
Vai trò của các doanh nghiệp FDI trong hoạt động xuất khẩu.
Tuy nhiên, tác động rõ nét nhất của đầu tư nước ngoài tới mở rộng thị trườngtiêu thụ cho hàng hóa được sản xuất ở Việt Nam là đóng góp hết sức to lớn củacác doanh nghiệp này vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
Trong giai đoạn 2001-2007 xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài tăng nhanh chóng và có đóng góp ngày càng lớn trong kim ngạchxuất khẩu chung của cả nước
Ngoài ra, khu vực đầu tư nước ngoài cũng có đóng góp nhất định trong việc
mở rộng thị trường trong nước, phát triển các hoạt đông dịch vụ, tạo cầu nối trongcác doanh nghiệp trong nước xuất khẩu tại chỗ hoặc tiếp cận thị trường quốc té.Tuy nhiên, vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc tăng cường khảnăng tiếp cận thị trường của Việt Nam còn có nhiều hạn chế Tỷ trọng các dự ánđầu tư nước ngoài thay thế nhập khẩu, hướng vào thị trường nội địa càng lớn Xuất
Trang 19khẩu của khu vực đầu tư nước ngoài tuy tăng nhanh nhưng chủ yếu vẫn là giacông dệt may, giày dép, lắp ráp điện tử, giá trị gia tăng thấp và hàm lượng côngnghệ không cao.
Việc vận dụng lý thuyết vòng đời sản phẩm cho thấy một số nhận xét về xuấtkhẩu của Việt Nam như sau:
- Theo lý thuyết vòng đời sản phẩm, hoạt động sản xuất các sản phẩmcông nghiệp sẽ dịch chuyển dần từ các nước phát triển sang các nước đangphát triển Thực tế các ngành công nghiệp dệt may, ôtô, điện tử, cũng đangdịch chuyển từ các nước Hoa Kỳ, Nhật Bản,…sang Trung Quốc, Ấn Độ, ViệtNam,…Như vậy, chúng ta hoàn toàn có cơ hội để tận dụng sự chuyển dịch này
để phát triển sản xuất và đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm này, từ đó chuyểndịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng gia tăng các sản phẩm công nghiệp
- Trên thực tế những năm qua, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài đã đóng góp vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh kim ngạch xuấtkhẩu Trong nhiều ngành công nghiệp như điện tử ôtô,…sự có mặt của cácdoanh nghiệp FDI là nhân tố quan trọng, góp phần tăng tỷ trọng xuất khẩu sảnphẩm công nghiệp Tuy nhiên, do những hạn chế về năng lực công nghệ và liênkết với doanh nghiệp trong nước còn hạn chế nên chưa tạo được tác động lantỏa, phát triển khu vực doanh nghiệp trong nước Do đó, cơ cấu hàng xuất khẩutuy đã có sự chuyển dịch nhất định nhưng chưa căn bản, phần lớn còn dướidạng gia công, lắp ráp
- Trong khi tiếp nhận công nghệ từ nước khác cần chú trọng đến phânloại để sàng lọc lựa chọn những công nghệ phù hợp, giá thành hợp lý và có sảnphẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường thế giới
- Tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ các nước khác, chúng ta cầnchủ động tạo ra những sản phẩm xuất khẩu có đặc thù riêng mang lại lợi thếcủa Việt Nam
Trang 201.4.3 Vận dung lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter.
Điều kiện các yếu tố sản xuất.
Vị trí địa lý.
Với hình chữ S, một mặt tiếp giáp địa lục, một mặt hướng ra biển Đông, có
3200 km bờ biển, trải dài trên 15 vĩ tuyến, Việt nam được xem là một quốc gia córất nhiều thuận lợi trong vận tải đường biển, có nhiều điều kiện mở rộng hoạt độngthông thương quốc tế Mặt khác, đây chính là yếu tố quan trọng để phát triển kinh
tế biển
Việt Nam được coi là quốc gia có vị trí nối liền trục đường bộ và đường sắt,đường ống từ Châu Âu sang Trung Quốc qua các nước ASEAN, Ấn Độ và cácnước Trung Á…đặc biệt từ năm 2003, đường bộ xuyên Á đã được nối liền và đưavào sử dụng, tạo thuận lợi cho thương mại quốc tế giữa các nước trong khu vực.Ngành hàng không của nước ta được coi là rất trẻ, những năm gần đây, liêntục được bổ sung với các loại máy bay gần như mới nhất của các hãng tiên tiếntrên thế giới, hệ thống sân bay quốc tế cũng không ngừng mở rộng như sân bayNội Bài, Đà Nẵng, Hải Phòng… và đặc biệt là sân bay Tân Sơn Nhất có vị trí lýtưởng
Vị trí địa lý thuận lợi như vậy cho phép ta mở rộng quan hệ kinh tế đốingoại, thu hút vốn đầu tư nước ngoài để phát triển ngoại thương, các dịch vụ hàngkhông, hàng hải và du lịch quốc tế
Tài nguyên thiên nhiên.
Trang 21Với một nước nông nghiệp đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đạihóa, thì nguồn tài nguyên thiên nhiên sẽ tạo ra các tiền đề vật chất quan trọng choviệc phát triển các ngành nông, lâm, ngư nghiệp, thủy sản, công nghiệp khaithác nhằm cung cấp nguồn hàng cho xuất khẩu, đồng thời tạo cơ hội thu hút đầu
tư nước ngoài
Với khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, phân hóa đa dạng theo không gian và theomùa đã tạo điều kiện cho nước ta phát triển có hiệu quả một nền nông nghiệp nhiệtđới, trong đó có những snả phẩm có giá trị xuất khẩu cao như lúa gạo, các sảnphẩm cây công nghiệp nhiệt đới như cao su, cà phê, dừa, hồ tiêu, mía, thuốclá, các sản phẩm cây công nghiệp nguồn gốc cận nhiệt đới như chè, hồi,…các sảnphẩm ngành thủy sản, đặc biệt là tôm, mực và một số loài cá có giá trị xuất khẩucao
Qua kết quả khảo sát nhiều năm cho thấy tài nguyên khoáng sản của ViệtNam không có trữ lượng lớn nhưng ở mức vừa, chủng loại khá đa dạng và có chấtlượng tốt
Diện tích rừng của nước ta đã bị thu hẹp nhỏ nhiều, nhưng gỗ quý vẫn lànguồn hàng xuất khẩu có giá trị Ngoài ra là các lâm sản khác làm nguyên liệu chohàng thủ công mỹ nghệ truyền thống đã chiếm lĩnh thị trương nhiều nước trên thếgiới Nguồn tre nứa, cộng với rừng nguyên liệu được trồng mới, là cơ sở để hợptác với nước ngoài phát triển ngành công nghiệp giấy Trong thời gian vừa qua,Việt Nam đã có chính sách bảo vệ và trồng mới khá tốt, do vậy chắc chắn đây vẫn
là một yếu tố đầu vào tiềm năng, làm cơ sở để đẩy mạnh xuất khẩu
Cơ sở hạ tầng.
Tuy đã được đầu tư và có cải thiện đáng kể trong những năm gần đây, hệthống kết cấu hạ tầng của nước ta bao gồm điện, cáp thoát nước, đường, cầu, bếncảng, đường sông, đường biển, đường hàng không, kho tàng, trong đó có chuyên
Trang 22dụng như kho lạnh, viễn thông, Internet, bốc xếp, vận tải…còn nhiều mặt lạc hậu
so với khu vực giá đất xây dựng đô thị và khu công nghiệp bị đảy lên quá cao làmột bất lợi về các yếu tố đầu vào cho kinh doanh
Cản trở nghiêm trọng nhất từ kết cấu hạ tầng đối với năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp là hệ thống dịch vụ độc quyền, áp đặt giá quá cao với chất lượngdịch vụ chưa tốt, năng suất lao động và hiệu quả sử dụng phương tiện thấp chi phícho các dịch vụ về hạ tầng của doanh nghiệp trong giai đoạn đầu phát triển ở nước
ta cao quá mức so với các nước trong khu vực, làm giảm các lợi thế khác của nềnkinh tế về lao động, sự ổn định chính trị xã hội…
Khoa học công nghệ.
Về đầu tư cho khoa học, công nghệ
- Đầu tư cho khoa học công nghệ chủ yếu từ nguồn ngân sách và được
sử dụng một cách chưa hiệu quả cao
- Vai trò của doanh nghiệp cho khoa học công nghệ đối với đầu tư chokhoa học công nghệ còn quá thấp
- Việc đầu tư cho các đề tài, chương trình nghiên cứu khoa học, côngnghệ chưa thật sự căn cứ vào nhu cầu của nền kinh tế và của xã hội, do vậy giátrị sử dụng thấp
Về chuyển giao công nghệ và phổ biến công nghệ
- Tỷ trọng hàng hóa và dịch vụ sử dụng công nghệ vừa và cao ở nước
ta còn ở mức thấp
- Những công nghệ được đầu tư trong những năm qua chủ yếu là nhậpkhẩu từ nước ngoài Điều này cho thấy thực tế là những kết quả hoạt độngkhoa học, công nghệ trong nước thời gian qua chưa có tác động rõ rệt tới việc
Trang 23nâng cao trình độ công nghệ của các doanh nghiệp nước ta và tốc độ chuyểngiao công nghệ trong nước rất hạn chế.
- Các cơ quan nghiên cứu cũng chưa có “ lực đẩy” để gắn kết hơn cáccông trình nghiên cứu với hoạt động của doanh nghiệp cũng như chưa có chú ýtới việc quản bá kết quả nghiên cứu cho doanh nghiệp
- Hiện tại vẫn chưa có chính sách hữu hiệu thúc đẩy các cơ quannghiên cứu triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu của mình Thêm vào đó,các hoạt động hỗ trợ thị trường công nghệ chưa được tổ chức tốt Hệ thốngthông tin và dịch vụ khoa học, công nghệ chưa làm tốt vai trò trung gian, thúcđẩy sự trao đổi thông tin giữa bên cung cấp công nghệ và bên có nhu cầu đổimới công nghệ
Lao động.
- Lực lượng lao động dồi dào
- Tỷ lệ lao động trẻ cao
- Tỷ lệ tham gia lao động cao
- Giá cả sức lao động tương đối thấp
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp
- Thiếu lao động chất xám về số lượng và chất lượng
- Tác phong và kỷ luật lao động chưa cao
Vốn đầu tư.
Xét về cơ cấu nguồn vốn đầu tư thì tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực Nhànước rất cao Nguồn vốn này có vị trí quan trọng vì đây là nguồn hình thành cáccông trình trọng điểm của quốc gia, nhất là công trình kết cấu hạ tầng xã hội củađất nước
Nếu xét về cơ cấu vốn đầu tư theo ngành thì tỷ trọng vốn đầu tư vào côngnghiệp- xây dựng đã tăng nhanh Điều dó là phù hợp với việc chuyển sang giai
Trang 24đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhóm ngành này đã thuhút được nhiều hơn các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nguồn vốn của cácdoanh nghiệp ngoài quốc doanh và vốn tín dụng Tuy nhiên, việc đầu tư cho nhómngành này cũng có những hạn chế bất cập.
Các ngành công nghiệp phụ trợ.
Các ngành công nghiệp phụ trợ được hiểu là những ngành công nghiệp cungcấp các đầu vào cho những ngành chính Đặc biệt có những ngành công nghiệpphụ trợ chung với những ngành như hóa chất, cơ khí, thép, nhựa…Tuy nhiên,những ngành công nghiệp phụ trợ này ở Việt Nam đều kém phát triển Gây khókhăn cho việc mua sắm đầu vào và nguyên liệu ở thị truờng trong nước
Thị trường trong nước.
Trong giai đoạn vừa qua thị trường hàng hóa và dịch vụ trong nước cũng đã
có những bước phát triển Tuy nhiên, trên thị trường nội địa vẫn tồn tại không ítnhược điểm và tiềm ẩn nhiều bất ổn, ảnh hưởng đến năng lực xuất khẩu của cácdoanh nghiệp Việt Nam
Bên cạnh những hạn chế của thị trường, bản thân các doanh nghiệp ViệtNam chưa khai thác hết thị trường trong nước Các doanh nghiệp đều mong muốnhướng hoạt động của mình vào thị trường, song rất ít doanh nghiệp tổ chức nghiêncứu thị trường và người tiêu dùng
Chiến lược doanh nghiệp và môi trường cạnh tranh
Khả năng quản lý doanh nghiệp.
Trình độ học vấn nói chung của chủ doanh nghiệp hoặc giám đốc doanhnghiệp Việt Nam không thấp, tuy nhiên vẫn còn một bộ phận không nhỏ còn ởtrình độ tốt nghiệp văn hóa phổ thông Về kinh nghiệm hoạt động, đa số chủ doanh
Trang 25nghiệp, Giám đốc đều đã trải qua hoạt động thực tiễn trước đó Đối với các doanhnghiệp Nhà nước thì Giám đốc thường được tuyển chọn, bổ nhiệm theo truyềnthống “ kinh nghiệm”, “ sống lâu lên lão làng”, nên độ tuổi rất cao.
Việc vận dụng lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của M.Porter đem lại một
số nhận xát về tiềm năng xuất khẩu như sau:
- Trong số các yếu tố cấu thành lợi thế cạnh tranh thì Việt Nam chỉ cóthuận lợi về điều kiện tự nhiên và lao động đơn giản Đây là các đầu vào cơbản nhưng không quan trọng bằng các đầu vào cao cấp Còn các đầu vào kháccủa nước ta đều hạn chế, đặc biệt là chưa có cơ chế hình thành các đầu vào mộtcách hiệu quả Đối với 3 yếu tố cấu thành còn lại, chúng ta đều mới chỉ bắt đầuquan tâm đến chứ chưa có được những kết quả đáng kể nào
- Bắt nguồn từ khối kim cương của Việt Nam, cơ cấu hàng xuất khẩucủa Việt Nam hiện nay cũng chủ yếu là những ngành dựa trên nguồn lực tựnhiên hoặc lao động Việt Nam chưa có những mặt hàng xuất khẩu khai thácđược đầy đủ 4 yếu tố cấu thành của lợi thế cạnh tranh Chỉ có những ngành nhưvậy mới đem lại kim ngạch xuất khẩu như yêu cầu đặt ra
- Muốn có được kim ngạch xuất khẩu như kế hoạch giải pháp bềnvững và lâu dài là phải phát triển đầy dủ khối kim cưong của nước ta, trong đóchú trọng hơn đến các ngành công nghiệp phụ trợ, phát triển thị trường trongnước và hình thành môi trường cạnh tranh hơn
1.5 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam từ việc phát triển hoạt động xúc tiến xuât khẩu của một số Quốc gia trên thế giới.
Học hỏi kinh nghiệm của các nước đã thành công trong việc tổ chức các hoạtđộng xúc tiến thương mại và rút ra những bài học kinh nghiệm tổ chức , quản lýhoạt đông xúc tiến xuất khẩu là việc làm thiết thực Tác giả xin được nêu ra dướiđây những bài học kinh nghiệm dựa theo những thông tin của Trung tâm thương
Trang 26mại quốc tế -ITC kết hợp với việc nghiên cứu một số tổ chức xúc tiến thương mạiđiển hình của các nước thành viên WTO.
1.5.1 Các điều kiện cơ bản để tổ chức xúc tiến xuất khẩu hoạt động thành công.
Để tổ chức xúc tiến xuất khẩu hoạt động thành công ,nhìn chung các điềukiện cơ bản sau đây cần phải đáp ứng:
Phải xác định rõ ràng vai trò và lĩnh vực hoạt động chính yếu của tổ chức xúctiến xuất khẩu việc xác định này có một ảnh hưởng quan trọng đối với cơ cấu của
cơ quan lãnh đạo và các cấp điều hành các tổ chức này
Tổ chức này nên có một vị trí mang tính chất pháp lý nằm trong cơ cấuchung của Chính phủ , phải có phương tiện hoạt động và quỵền hành cần thiết đểthực hiện các nhiệm vụ được giao
Mục đích của tổ cức nên được trình bày rõ ràng ,do đó tránh được lầm lẫn vềcác mục tiêu và sự đảm đương các nhiệm vụ không liên quan đến các mục tiêuchính của tổ chức
Phải đảm bảo các nguồn lực đầy đủ ,thích đáng về cả nhân lực và tài chính
1.5.2 Cơ cấu tổ chức của các tổ chức xúc tiến xuất khẩu
Trước hết ,cần phải xác định rõ vai trò ,mục tiêu, chức năng hoạt động của
tổ chức xúc tiến xuất khẩu và xây dựng tốt một cơ chế phối hợp giữa các tổ chứclàm hoạt động xúc tiến xất khẩu trong cùng một nuớcvới nhau Trên cơ sở xácđịnh được mục tiêu hoạt động và chức năng hoạt động của các tổ chức xuất khẩu
sẽ lựa chọn một mô hình tổ chức thích hợp cho việc hoạt động của các tổ chức này.Mô hình cơ cấu tổ chức của các tổ chức xúc tiến xuất khẩu của các nước khônghoàn toàn giống nhau nhưng tựu chung lại chúng có một số điểm tương đồng Sau
Trang 27khi nghiên cứu mô hình tổ chức xúc tiến xuất khẩu của các nước như Pháp ,NhậtBản ,Hàn Quốc ,Malaysia ,Thái Lan , có thể thấy các bộ phận chính của tổ chứcxúc tiến xuất khẩu(xem bảng phụ lục 1).
Mỗi bộ phận trong cơ cấu chung của các Tổ Chức xúc tiến xuất khẩu cónhiệm vụ cụ thể như sau :
Bộ phận nghiên cứu và lập kế hoạch
Trong các tổ chức xúc tiến xuất khẩu của các nước thành viên WTO, chỉ cómột vài Tổ Chức xúc tiến xuất khẩu có bộ phận này như Nhật Bản, Thái Lan, HànQuốc Bộ phận nghiên cứu và lập kế hoạch có nhiệm vụ phân tích thường xuyêntình hình thưong mại quốc tế, đề xuất những ý kiến tới lãnh đạo của tổ chức và các
cơ quan chính phủ Bộ phận này cũng hỗ trợ trong việc lập các chưong trình làmviệc của tổ chức xúc tiến xuất khẩu như chiến lược xây dựng thương hiệu quốcgia, nghiên cứu thị trường, khả năng cung ứng cho xuất khẩu trong thời kỳ ngắnhạn, trung hạn hay dài hạn, các cơ hội kinh doanh ở thị trường ngoài nước, cácchiến lược thâm nập thị trường nước ngoài, các chương trình xúc tiến xuất khẩuđối với từng loại sản phẩm, thị trường và xác định tiềm năng phát triển xuất khẩuthông qua phân tích thường xuyên các cơ hội mới ở thị trường nước ngoài …Ở cácnước, xu hướng phổ biến là tập trung vào các việc nghiên cứu và lập kế hoạch, bởi
vì những hoạt động này được xem là rất cần thiết cho việc tiến hành các hoạt độngxúc tiến xuất khẩu trợ giúp cho các doanh nghiệp
Bộ phận cung cấp dịch vụ thông tin
Hầu hết các tỏ chức xúc tiến xuất khẩu của các nước thành viên WTO đều cócác bộ phận cung cấp dịch vụ thông tin Bộ phận này có thể nằm trong bộ phậnxúc tiến trong nước hoặc nằm trong bộ phận văn phòng đại diện ở nước ngoài,cũng có thể là một bộ phận độc lập Một trong những hạn chế mà các nhà sản xuất
và xuất khẩu thường gặp nhất là sự thiếu thông tin về các thị trường nước ngoài
Trang 28Do đó, cung cấp dịch vụ thông tin là một trong những hoạt động chủ yếu của các
tổ chức xúc tiến xuất khẩu, đặt biệt đối với các tổ chức xúc tiến xuất khẩu của cácnước như nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc….Dịch vụ này được cung cấp nhằm đápứng nhu cầu của các nhà sản xuất và các nhà xuất khẩu trong nước về các cơ hộikinh doanh ở nước ngoài Các dịch vụ này tận dụng triệt để các nguồn thông tin vàcác phương tiện cung cấp thông in như Internet, các mạng thông tin thương mạitoàn cầu để truyền đạt thông tin theo cách tốt nhất có thể được
Bộ phận phụ trách hội chợ, triễn lãm thương mại quốc tế
Hầu hết các tổ chức xúc tiến xuất khẩu trên thế giới đều có các bộ phận phụtrách vấn đề hội chợ, triễn lãm thưong mại quốc tế Bộ phận này có vai trò lập kếhoạch các chương trình hội chợ triễn lãm quốc tế hàng năm ở nước ngoài và trongnước Bộ phận này cũng có thể kiêm cả chức năng phụ trách các vấn đề liên quantới việc đưa đón các phái đoàn thương mại ra, vào một quốc gai Bất kỳ tổ chứcxúc tiến xuất khẩu nào trên thế giới thành lập đều có chung một nhiệm vụ chính đó
là xúc tiến quan hệ thương mại và đầu tư với nước ngoài Hội chợ triễn lãm quốc
tế chính là chiếc cầu nối quan trong để cho các doanh nghiệp trong nước tìm kiếmđối tác nước ngoài, bởi vì ngay tại đây, người mua và người bán trực tiếp đượcgặp nhau và trao đổi công việc Tuy nhiên, riêng tổ chức JETRO thường tổ chứccác hội chợ triền lãm “ngược” nhằm trưng bày những hàng hoá mong muốn nhậpkhẩu vào Nhật Bản
Bộ phận phụ trách đào tạo.
Công tác đào tạo luôn đuợc các tổ chức xúc tiến xuất khẩu coi là một chiếnlược quan trọng trong hoạt động của mình Đào tạo một đội ngũ cán bộ giỏi vềchuyên môn xúc tiến thương mại quốc tế và thông thạo ngoại ngữlà một việc làmhết sức cần thiết của tất các tổ chức xúc tiến xuất khẩu nhằm nâng cao hơn nữachất lượng của các hoạt động xuất khẩu Bởi vì suy cho đến cùng con người sẽ là
Trang 29chủ thể của tất cả các hoạt động xuất khẩu Một số tổ chức xúc tiến xuất khẩu(như: KOTRA) thường ưu tiên tuyển nhân viên thông thạo tiếng Anh và cả ngônngữ của nước sỡ tại cho văn phòng đại diện ở nước ngoài Hiệu quả của hoạt độngxúc tiến xuất khẩu, rõ ràng vì vậy mà tăng lên rất nhiều Hầu hết các nhân viênnuớc ngoài làm việc cho KOTRA tại Việt Nam đều thông thạo tiếng việt và khôngcần phiên dịch khi làm việc với các đối tác Việt Nam.
Ngoài các bộ phận trên, các tổ chức xúc tiến xuất khẩu có thể có các bộ phậnkhác như: bộ phận chuyên trách về các hoạt động của các văn phòng đại diện nướcngoài, bộ phận hỗ trợ cho các nhà kinh doanh trong một số lĩnh vực như thủ tụcgiấy tờ, marketing, bộ phận phụ trách hợp tác quốc tế…như mô hình của KOTRA( Hàn Quốc) hay DEP( Thái Lan)
1.5.3 Xây dựng cơ chế thích hợp.
Xây dựng cơ chế phối hợp cho các tổ chức xúc tiến xuất khẩu cũng là mộtnhân tố quan trọng trong việc mang lại sự thành công của các tổ chức xúc tiến xuấtkhẩu kinh nghiệm các nước cho thấy xây dựng được một cơ chế phối hợp tốt chocác tổ chức xúc tiến xuất khẩu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt dộng xúctiến xuất khẩu của các tổ chức này
Tổ chức xúc tiến xuất khẩu dù thường xuyên được giao nhiệm vụ điều phốicác vấn đề xúc tiến thương mại nói chung và xúc tiến xuất khẩu nói riêng, nhưng
tổ chức này cũng không được giao đủ thẩm quyền để hoàn thành nhiệm vụ củamình Vì vậy, cần phải quy định rõ bằng văn bản những thẩm quyền mà tổ chứcxúc tiến xuất khẩu có được đối với những tổ chức khác Cần lưu ý rằng tổ chứcxúc tiến xuất khẩu nên tập trung vào việc cung cấp những dịch vụ cho cộng độngxuất khẩu Đi sâu vào những trách nhiệm bao gồm cả những chức năng điều phốivượt ngoài phạm vi hoạt động của mình sẽ không chỉ làm giảm khả năng của xúctiến thương mại mà còn làm thay đổi quan điểm và cách nhìn nhận
Trang 301.5.4 Quy định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của tổ chức xúc tiến xuất khẩu.
Đó là phải có sự xác định rõ ràng các chức năng, nhiệm vụ của các tổ chứcxúc tiến xuất khẩu, đặt biệt về vai trò của tổ chức này trong việc hoạch định chínhsách và thực hiện các hoạt động xúc tiến Cho dù trọng trách của nó thế nào đichăng nữa, Tổ chức xúc tiến xuất khẩu phải được đặt ở cấp thẩm quyền nào đó để
có thể thực hiện những nhiệm vụ của mình Nếu không xác đinh rõ mục tiêu, chứcnăng của Tổ chức xúc tiến xuất khẩu sẽ dẫn đến các hoạt động không tập trunggây mất hiệu quả
Theo điều lệ và các quy định điều chỉnh việc thành lập và hoạt động của các
tổ chức xúc tiến xuất khẩu trên thế giới thì có rất nhiều cách để xác định các chứcnăng của các tổ chức này Một số tổ chức xúc tiến xuất khẩu được giao nhiệm vụduy nhất là thúc đẩy xuất khẩu các mặt hàng phi truyền thống vì những mặt hàngxuất khẩu truyền thống từ lâu đã chiếm một tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuấtkhẩu Điều này đặc biệt đúng với Châu Mỹ Latinh nơi mà bình quân 20 tổ chứcxúc tiến xuất khẩu thuơng mại quốc tế thì 16 tổ chức đảm nhiệm khâu xúc tiếnxuất khẩu các sản phẩm phi truyền thống Hầu hết các tổ chức xúc tiến thương mạiquốc tế còn lại thì đều được thực hiện chức năng xúc tiến xuất khẩu đối với cả sảnphẩm truyền thống và phi truyền thống
1.5.5Tham gia hoạch định chính sách.
Sự khác biệt giưa tổ chức xúc tiến xuất khẩu với nhiều tổ chức khác là sựtham gia vào các công tác hoạch định chính sách ngoại thương Hầu hết các tổchức xúc tiến xuất khẩu ở các nước bao gồm cả các nước phát triển chỉ tham giavào việc đưa ra các kiến nghị về chính sách ở mức độ vừa phải Mặc dù vây,nhưng nhiều tổ chức xúc tiến xuất khẩu vẫn có bộ phận nghiên cứu môi truờngkinh doanh trong và ngoài nước, nghiên cứu thị truờng, các thông tin thươngmại…để đệ trình những kiến nghị lên các cơ quan có thẩm quyền
Trang 31Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, khi đã là thành viên của WTO, ViệtNam sẽ phải chịu sự điều chỉnh của các nguyên tắt, quy định của WTO, bao gồm
cả các quy định liên quan đến xúc tiến xuất khẩu Với những quy định này, ViệtNam sẽ không đựoc sử dụng những hình thúc xúc tiến xuất khẩu bị WTO cấm nhưtrợ cấp xuất khẩu, thưởng xuất khẩu…mà cần tìm kiếm và chuyển sang nhữnghình thức khác vừa không trái với quy định của WTO, vừa đảm bảo hiệu qủa hoạtđộng xúc tiến xuất khẩu
Kinh nghiệm xúc tiến xuất khẩu của các nước Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc,Thái Lan, Malấyi…đã chỉ ra những hình thức xúc tiến xuất khẩu có thể sử dụngđược mà không trái với các quy định của WTO như: xây dựng và phát triểnthương hiệu quốc gia, tích cực tham gia các hội trợ triến lãm thương mại quốc tế,cung cấp thông tin thương mại, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng Những kinhnghiệm xúc tiến xuất khẩu của các nước thành viên WTO sẽ là bài học quý giá đốivới Việt Nam, nếu chúng ta biết nghiên cứu và tận dụng có chọn lọc, phù hợp vớiđiều kiện của Việt Nam
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU TRƯỚC VÀ SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO.
2.1 Tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 2000-2007
2.1.1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu.
Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá hàng năm thời kỳ
2000-2006 là 19,3%, được xếp vào mức cao nhất khu vực, chỉ đứng sau Trung Quốc Từchỗ chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ so với tổng thu nhập quốc dân (24% GDP năm 1991),đến nay xuất khẩu đã chiếm 64,9%, đứng thứ 5 so với các nước trong khu vựcĐông Nam Á, thứ 6 ở châu Á, thứ 8 trên thế giới Nếu như năm 2000 tổng kimngạch xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt xấp xỉ 14,5 tỉ USD, thì năm 2006 đã đạt39,6 tỉ USD, gấp 2,7 lần năm 2000, đứng thứ 6/11 nước khu vực Đông Nam Á,
Trang 3239/165 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá bìnhquân đầu người năm 2006 gấp 2,5 lần so với năm 2000, tăng 20,7% so với năm
2005, đứng thứ 6 trong khu vực, thứ 25 ở châu Á, thứ 92 trên thế giới Hệ số giữatốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá với tốc độ tăng GDP đạt hơn 2,7 lần.Đóng góp của nhân tố tăng khối lượng xuất khẩu vào tăng kim ngạch xuấtkhẩu của cả nước đạt cao nhất trong năm 2004, có giảm đi trong năm 2005 và đãtăng trở lại trong năm 2006 Đây là dấu hiệu tích cực đối với xuất khẩu, lượnghàng hóa xuất khẩu tăng thể hiện quy mô sản xuất đã được mở rộng, là yếu tố giúpduy trì nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu một cách bền vững (xem bảng 2.1)
Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu những năm gần đây (%).
Nguồn: Bộ Thương mại
Trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2007, xuất khẩu đã trở thành nhân tố quantrọng và là động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế Nhìn chung, nền kinh tếquốc dân đã được định vị theo hướng xuất khẩu và độ mở cửa là tương đối rộng
Trang 332.1.2 Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu
2.1.2.1 Nhóm hàng khoán sản, nhiên liệu.
Trong những năm qua, nhóm hàng nguyên nhiên liệu chiếm tỷ trọng caotrong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
a) Đối với dầu thô.
Kim ngạch xuất khẩu:
Sản lượng xuất khẩu tăng dần trong suốt giai đoạn 2000 đến năm 2004 từ15423,5 nghìn tấn lên 19500,6 nghìn tấn Tuy nhiên, từ năm 2005 đến năm 2007ngành dầu khí đứng trước những thách thức rất lớn, sản lượng khai thác dầu thôtrong nước khó gia tăng trong thời gian tới do nguồn tài nguyên bị hạn chế, các mỏdầu hiện tại đang bị giảm dần sản lượng trong khi chưa có kế hoạch cụ thể vànguồn công nghệ hiện đại đủ mạnh để khai thác những mỏ dầu mới thay thế nêntrong những năm tới, theo dự báo sản lượng khai thác dầu thô sẽ khó tăng cao
Trong giai đoạn này dầu thô là một sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của ViệtNam Thu nhập từ đó dóng góp rất lớn vào tổng thu nhập quốc dân, đạt khoảng 5.6
tỷ USD vào năm 2007 chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Toàn
bộ sản lượng dầu thô cho đến thời điểm này là xuất khẩu toàn bộ vì Việt Namchưa có nhà máy lọc dầu
Trang 34Hình 2.1: Khối lượng và kim ngạch xuất khẩu dầu
thô giai đoạn 2000-2007
Kim ngạch Khối lượng
Nguồn: Báo cáo Bộ thương mại.
Qua biểu đồ, có thể thấy rằng xuất khẩu dầu thô trong những năm qua đạt tốc
độ bình quân rất cao khoảng 22,8%/năm Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kim ngạchxuất khẩu dầu thô có xu hướng giảm: giai đoạn 1996-2000 đạt 32.56%, giai đoạn2000- 2005 xuống còn 17.73%, năm 2006 là 9.51%, năm 2007 giảm mạnh còn2.13%
Bên cạnh đó, hình trên cũng cho thấy khối lượng xuất khẩu dầu thô tăng đềutrong giai đoạn 2000-2005 thì kim ngạch xuất khẩu dầu thô của Việt Nam vẫn cónhững biến động nhỏ Trong năm 2006 và 2007, mặc dù khối lượng xuất khẩugiảm nhưng kim ngạch xuất khẩu vẫn tăng do giá xăng dầu trên thế giới tăng Điềunày thể hiện sự phụ thuộc của kim ngạch xuất khẩu vào diễn biến giá dầu trên thếgiới
Trang 35Cơ cấu thị trường xuất khẩu.
Hiện nay cơ cấu thị trường xuất khẩu dầu thô của Việt nam là các nướcAustralia, Nhật Bản, Singapore, Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan, chiếm khoảng64,83% tổng kim ngạch xuất khẩu dầu thô của Việt Nam Thị trường xuất khẩuchủ yếu là Châu Á và mức độ tập trung tương đối cao nhưng Việt Nam hiện nayvẫn chỉ là một nhà cung cấp dầu thô nhỏ, chiếm khoảng 0.6% so với nhu cầu củatoàn thế giới
Hình 2.2:Cơ cấu thị trường xuất khẩu dầu thô
Nguồn: Báo cáo Bộ thương mại.
Cơ cấu doanh nghiệp.
Khai thác dầu mỏ ở Việt Nam đang do tập đoàn dầu khí quốc giaPetroVietnam quản lý Công việc khai thác dầu hiện đang thu hút đầu tư nước
Trang 36ngoài rất lớn, do các mỏ dầu ngoài khơi Việt Nam được đánh giá là những mỏ dầuthuộc loại lớn nhất thế giói, ngoài khu vực Trung Đông Trữ lượng dầu óc thể khaithác được ước tính khoảng 0.4 tỷ tấn dầu thô và 0.7 tỷ tấn ga Hiện nay, các công
ty Nga, Malaysia, Nhật Bản và Cannada đang tham gia vào khai thác và snả xuấtdầu của Việt Nam
b) Đối với than đá.
Kim ngạch kim ngạch.
Trong những năm qua, than dá là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủlực của Việt Nam Những năm 2001, xuất khẩu than đá đã phục hồi và đạt tốc độtăng trưởng cao sau sự sụt giảm từ năm 1996-2000 Trong giai đoạn 2001-2005,tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu than đá đạt bình quân 51,5%/năm, đặcbiệt là từ năm 2004 đến nay sản lượng khai thác than dá đã tăng mạnh và đem lạikim ngạch xuất khẩu khoảng 1 tỷ USD năm 2007
Tuy nhiên, hình sau cho thấy phần lớn sự gia tăng là do tăng về sản lượngkhai thác, do đó, sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tài nguyên thiên nhiên của đất nước
và khó có khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng này
Trang 37Hình 2.3:Khối lượng và kim ngạch xuất khẩu than
đá giai đoạn 2000-2007
94 113 156 184
355 669
927 1000
3.3 4.2
6.4 7.2
11.6 17.8 29.7 31.9
Kim ngạchKhối lượng
Nguồn: Báo cáo Bộ thương mại.
Cơ cấu thị trường.
Về cơ cấu thị trường, Nhật Bản và Trung Quốc là các thị trường xuất khẩuthan chủ yếu của Việt Nam Hai thị trường này chiếm tỷ trọng 80% kim ngạchxuất khẩu Đặc biệt, riêng thị trường Trung Quốc chiếm đến 50% kim ngạch xuấtkhẩu nên chưa đem lại hiệu quả cao và còn thể hiện sự phụ thuộc Ở thị trườngnày, Việt Nam chịu những điều kiện tương tự như hầu hết các đối thủ cạnh tranhkhác, những thị trường lớn như Nhật Bản và EU tạo điều kiện thâm nhập thịtrường tự do cho hầu hết các nước xuất khẩu
Trang 38Hình 2.4:Cơ cấu thị trường xuất khẩu than
Nguồn: Báo cáo Bộ thương mại.
2.1.2.1 Nhóm hàng nông-lâm-thủy sản.
Giai đoạn 2000- 2005, tố độ tăng kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng nàyđạt bình quân 14%/năm; tỷ trọng có xu hướng giảm dần từ 24,3% năm 2001xuống còn 21,1% năm 2005 Như vậy, nếu so sánh kết quả này với mục tiêu đề ratrong chiến lược là giảm dần tỷ trọng xuất khẩu nhóm hàng nông lâm thủy sảnxuống còn 22% vào năm 2005 thì sự chuyển dịch này là phù hợp với định hướng
và mục tiêu đề ra
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trong nhóm này là thủy sản, gạo, cà phê, rauquả, chè Trong giai đoạn 2001-2005, sáu mặt hàng này đã chiếm đến 90,3% tổngkim ngạch của nhóm Các mặt hàng khác như hạt tiêu, hạt điều tuy đã bắt đầu xuất
Trang 39khẩu từ khá lâu nhưng kim ngạch nhỏ, hầu như không ảnh hưởng đến tỷ trọng củanhóm hàng này.
Hình 2.5:Cơ cấu xuất khẩu nhóm hàng
nông lâm thủy sản giai đoạn 2001-2005
Nguồn: Báo cáo Bộ thương mại.
Kim ngạch xuất khẩu:
Trong giai đoạn 2000-2005 kim ngạch xuất khẩu gạo có những biến độngtương đối lớn, tăng khoảng 17.8%/năm Tuy nhiên, 2 năm 2006 và 2007 kimngạch xuất khẩu giảm mạnh từ 48,11% năm 2005 xuống còn -8% năm 2007.Những biến động này là do sự kết hợp của cả những yếu tố về lượng và giá cả.Trong những năm giá gạo thế giới xuống thấp thì lượng gạo xuất khẩu của chúng
ta thường tăng, ngược lại, những năm giá gạo tăng thì lượng xuất của chúng ta
Trang 40thường sụt giảm Điều này dẫn đến việc kim ngạch xuất khẩu của chúng ta trongnhững năm gần đây không cao.
Hình 2.6:Khối lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo
5.24.7 4.56
Kim ngạch Khối lượng
Nguồn: Báo cáo Bộ thương mại.
Cơ cấu thị trường xuất khẩu.
Hiện nay, Việt Nam đang là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới.Tuy nhiên, do chất lượng gạo Việt Nam chưa cao nên chủ yếu mới được bán trênnhững thị trường dẽ tính như Philippine, Inđonêsia, Malaysia và một số thị trườngChâu Phi Trên phân đoạn thị trường này, có thể nói, chúng ta đã thâm nhập được
và có năng lực cạnh tranh khá tốt, thể hiện ở những trường hợ chúng ta thắng thầucung cấp gạo cho các nước Philipine, Irắc, Tuy nhiên, Việt Nam hầu như chưathâm nhập được vào những thị trường gạo đạt chất lượng cao