Thực tế là việc tăng cổ tức thường được coi là một thôngtin tốt dẫn đến việc tăng giá cổ phiếu, và ngược lại khi các công ty giảm hoặc không trả cổ tứcnữa thì giá cổ phiếu sẽ sụt giảm..
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÀI THUYẾT TRÌNH
Đề tài:
THỰC TRẠNG VỀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn : PGS TS Trần Thị Thùy Linh Nhóm thực hiện : Nhóm 2
Niên khóa: 2011 – 2013
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 2 - LỚP NGÂN HÀNG NGÀY 2 – K21
1 MAI THỊ THƯƠNG HIỀN
2 MAI XUÂN DŨNG 02/04/1987 Thanh Hóa
Trang 3PHẦN I: LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH CỔ TỨC
1 Các qua điểm về chính sách cổ tức
1.1. Chính sách cổ tức trong một thị trường vốn hoàn hảo
- Quan điểm chính sách cổ tức không liên quan đến giá trị công ty của Merton Miller vàFranco Modigliani (M&M dividend irrelevance proposition)
Theo Merton Miller và Franco Modigliani (1961), thì trong một thị trường hoàn hảo (không
có thuế, không có chi phí phát hành, chi phí giao dịch chứng khoán và chi phí thông tin), chínhsách cổ tức không ảnh hưởng đến giá trị vốn cổ phần của cổ đông Giả định cơ bản của quanđiểm này là các quyết định đầu tư của công ty không chịu ảnh hưởng của chính sách cổ tức Khi
đó chính sách đầu tư của công ty là điều quan trọng nhất vì nó quyết định dòng thu nhập trongtương lai của công ty và do vậy, quyết định giá trị của công ty Còn việc dòng thu nhập đó đượcphân chia giữa cổ tức và thu nhập giữ lại như thế nào không quan trọng
Tuy nhiên, nếu ta so sánh quan điểm này với tình hình thực tế của thị trường chứng khoán(TTCK) thì có thể thấy sự mâu thuẫn Thực tế là việc tăng cổ tức thường được coi là một thôngtin tốt dẫn đến việc tăng giá cổ phiếu, và ngược lại khi các công ty giảm hoặc không trả cổ tứcnữa thì giá cổ phiếu sẽ sụt giảm Nếu quả thực chính sách cổ tức không quan trọng thì tại sao lại
có những phản ứng như vậy trên thị trường?
- Quan điểm coi chính sách cổ tức là tín hiệu dự báo sự phát triển của công ty (Dividendsignaling hypothesis)
Theo nghiên cứu của Bhattachar (1979) và Miller và Rock (1985) thì các nhà đầu tư khôngphản ứng với chính sách cổ tức mà với các thông tin chứa đựng bên trong chính sách cổ tức.Việc tăng cổ tức có thể là một tín hiệu cho rằng các nhà quản trị công ty rất lạc quan về dòngthu nhập trong tương lai của công ty Vì thông thường các công ty rất ngại cắt giảm cổ tức nên
họ chỉ quyết định tăng cổ tức nếu tin rằng có thể duy trì mức cổ tức cao đó trong tương lai Dovậy mà tăng cổ tức sẽ dẫn đến giá cổ phiếu tăng Nhưng chính tín hiệu lạc quan - dòng thu nhậpcao trong tương lai - chứ không phải là phương tiện truyền đạt tín hiệu - cổ tức tăng - làm chogiá cổ phiếu tăng lên
Như vậy, theo các nhà nghiên cứu này thì chính sách cổ tức có chứa đựng thông tin và cóthể được coi là một tín hiệu về khả năng phát triển trong tương lai của công ty Tuy nhiên quanđiểm này chỉ có ý nghĩa khi thoả mãn hai điều kiện: Thứ nhất, các nhà đầu tư coi trọng thôngtin này; Thứ hai, cổ tức là một tín hiệu về triển vọng phát triển của công ty và là một tín hiệuđáng tin cậy hơn các tín hiệu khác Quan điểm này cho rằng cả hai điều kiện trên đều tồn tại.Các nhà đầu tư luôn quan tâm đến chính sách cổ tức vì cổ tức là một trong hai nguồn thu nhập
Trang 4chính của họ Còn mức độ tin cậy cao của chính sách cổ tức khi đóng vai trò là tín hiệu về khảnăng tăng trưởng của công ty là hoàn toàn có thể lý giải được Vì thực tế, nếu công ty tuyên bốtăng cổ tức mà không có đủ thu nhập để trả thì sẽ phải huy động vốn từ bên ngoài hoặc phải hysinh các khoản đầu tư trong tương lai Vì thế, tăng cổ tức là một tín hiệu có độ tin cậy cao hơn
và ràng buộc trách nhiệm của nhà quản lý công ty nhiều hơn các tín hiệu khác
Tuy nhiên, trong thực tế thì hầu như tất cả các công ty đều cố gắng duy trì mức cổ tức ổnđịnh Do vậy nên chính sách cổ tức không còn thực sự là một tín hiệu lạc quan về tương lai nữa.Các nhà đầu tư bắt đầu xem xét tới các yếu tố bên ngoài cổ tức như nguồn thu nhập bằng tiềnmặt mà công ty có thể dùng để trả cổ tức Nếu công ty trả mức cổ tức cao hơn nguồn tiền mặtnày thì giá cổ phiếu trên thị trường của công ty sẽ giảm, phản ánh niềm tin của các nhà đầu tưvào việc mức cổ tức đó không thể duy trì lâu dài Một thực tế nữa làm cho quan điểm này giảmgiá trị là sự phổ biến của các công cụ phân tích như máy tính, các nguồn dữ liệu giá rẻ và cácphần mềm phân tích đã cung cấp cho các nhà phân tích nhiều thông tin đáng tin cậy hơn về hoạtđộng và triển vọng phát triển của các công ty phát hành chứng khoán
Mặc dù quan điểm này vẫn còn nhiều tranh cãi nhưng có một điểm mà các nhà đầu tư đềunhận thấy rõ ràng, đó là việc cắt giảm cổ tức nói chung sẽ gây ra phản ứng tiêu cực trên TTCK.Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng còn phụ thuộc vào kỳ vọng của các nhà đầu tư Chẳng hạn nhưkhi IBM công bố giảm 55% cổ tức vào ngày 26/1/1993 thì giá cổ phiếu IBM lại tăng nhẹ, điềunày là do việc giảm cổ tức đã được dự đoán và phản ánh vào giá cổ phiếu từ trước đó Giá cổphiếu IBM đã giảm mạnh từ trước đó một tháng, khi IBM tuyên bố rằng công ty đang cân nhắc
về việc cắt giảm cổ tức Cũng có trường hợp mức cổ tức tăng nhưng không cao như dự kiến làmcho giá cổ phiếu giảm vì các nhà đầu tư cho rằng dòng thu nhập trong tương lai của công ty sẽthấp hơn mong đợi
1.2. Chính sách cổ tức trong một thị trường vốn không hoàn hảo
Quan điểm của Miller và Modigliani dựa trên giả định một thị trường vốn hoàn hảo Trongthực tế, cổ tức và lãi vốn đều bị đánh thuế, việc phát hành và giao dịch chứng khoán đều phảichịu chi phí và có sự bất đối xứng thông tin giữa các nhà quản lý công ty và người đầu tư Liệutrong một thị trường vốn không hoàn hảo như vậy, thì nhà đầu tư có bàng quan với chính sách
cổ tức của công ty hay không? Sau đây là một số quan điểm của các nhà nghiên cứu về các tácđộng này:
Thứ nhất, tác động của thuế:
Hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong một thế giới không có thuế thì các nhà đầu tư sẽbàng quan với việc nhận cổ tức hay lãi vốn Nhưng trong thực tế, thu nhập từ cổ tức bị đánhthuế cao hơn nhiều so với thu nhập từ lãi vốn Vì thế sẽ rất logic khi rút ra kết luận là các nhàđầu tư có thể không thích nhận cổ tức Điều này sẽ được phản ánh trong giá cổ phiếu Những
Trang 5yếu tố khác không đổi, giá cổ phiếu của các công ty trả cổ tức sẽ thấp hơn giá cổ phiếu của cáccông ty giữ lại thu nhập để tái đầu tư.
Tuy nhiên nếu xét trong thực tế thì phần lớn các công ty của Mỹ dành từ 40% đến 50% thunhập để trả cổ tức Như vậy thì, mặc dù việc trả cổ tức xét trên khía cạnh thuế là không có lợicho cổ đông nhưng phải có những lý do nào đó khiến các công ty vẫn quyết định làm việc này.Theo nghiên cứu của Black và Scholes (1974), khi các công ty quyết định trả cổ tức thì điều đóchứng tỏ việc trả cổ tức mang lại một số lợi ích cho cổ đông Các lợi ích đó bao gồm: Việc trả
cổ tức có lợi cho những cổ đông đang cần thu nhập và tránh cho họ khỏi việc phải bán cổ phiếu
và chịu phí môi giới; Giúp các cổ đông đánh giá được rủi ro của công ty, nhất là khi công ty dotrả mức cổ tức cao phải huy động vốn từ bên ngoài Khi đó các cổ đông sẽ có cơ hội được xemxét các điều khoản mà công ty thỏa thuận khi huy động vốn Điều này sẽ phần nào làm giảm sựbất đối xứng về thông tin giữa nhà quản lý công ty và các cổ đông
Black và Scholes còn phát triển quan điểm của mình hơn nữa Họ chia các nhà đầu tư làm
ba nhóm: Nhóm một là những người thích cổ tức; Nhóm hai là những người bàng quan với cổtức; Nhóm ba là những người không thích cổ tức Các cổ phiếu trả cổ tức cao sẽ thu hút nhữngngười thích cổ tức, chẳng hạn như các nhà đầu tư có tổ chức ở Mỹ, vì họ chỉ phải chịu thuế đốivới 30% cổ tức nhận được từ một công ty khác, hoặc thu hút những nhà đầu tư cá nhân có mứcthuế thu nhập thấp Ngược lại những cổ phiếu trả cổ tức thấp sẽ thu hút những người khôngthích cổ tức, ví dụ như các nhà đầu tư cá nhân phải chịu mức thuế thu nhập cao Khi công tychọn một chính sách cổ tức nhất định, công ty sẽ thu hút một nhóm nhà đầu tư nhất định Khithay đổi chính sách cổ tức thì công ty đó sẽ thu hút một nhóm nhà đầu tư khác Giả sử 40% cácnhà đầu tư thích cổ tức cao, nhưng chỉ có 20% các công ty trả mức cổ tức cao Khi đó các công
ty trả mức cổ tức cao sẽ không đáp ứng được cầu và giá cổ phiếu của họ sẽ tăng Kết quả là cáccông ty có mức cổ tức thấp sẽ chuyển sang trả mức cổ tức cao, và đến khi nào số công ty trả cổtức cao chiếm 40%, thì thị trường cổ tức cân bằng và lúc này chính sách cổ tức không ảnhhưởng đến giá cổ phiếu nữa
Thứ hai, tác động của chi phí phát hành và sự pha loãng quyền sở hữu:
Việc trả mức cổ tức cao cũng có nghĩa là công ty phải huy động vốn từ bên ngoài khi cầnvốn đầu tư Khi đó công ty phải chịu chi phí phát hành và sự pha loãng quyền sở hữu (khi pháthành thêm cổ phiếu) Những chi phí này có thể khiến công ty không muốn trả mức cổ tức cao
2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách cổ tức
2.1 Các hạn chế pháp lý ngăn cấm cổ tức làm suy yếu vốn
Khi ấn định chính sách cổ tức của mình thì doanh nghiệp đều phải cân nhắc các hạn chế vềmặt pháp lý như:
Trang 6- Hạn chế suy yếu vốn: tức là doanh nghiệp không thể dung vốn (gồm mệnh giá cổ phầthường và thặng dư vốn) để chi trả cổ tức.
- Hạn chế lợi nhuận ròng: tức là cổ tức phải được chi trả từ lợi nhuận ròng hiện nay vàthời gian qua, nhằm ngăn cản các chủ sở hữu thường rút vốn đầu tư ban đầu và làm suy yếu vịthế an toàn của các chủ nợ của doanh nghiệp
- Hạn chế về khả năng thanh toán: tức là không chi trả cổ tức khi doanh nghiệp mất khảnăng thanh toán (nợ nhiều hơn tài sản), nhằm đảm bảo quyền ưu tiên của chủ nợ đối với tài sảncủa doah nghiệp
2.2 Các khoản giới hạn trong hợp đồng trái phiếu công ty và các thỏa thuận tài trợ khác
Các điều khoản hạn chế này có thể giới hạn tổng mức cổ tức của một doanh nghiệp có thểchi trả Hoặc yêu cầu về quỹ dự trữ thanh toán nợ đôi khi cũng hạn chế việc chi trả cổ tức hoặcnếu vốn luân chuyển (tài sản lưu động trừ nợ ngắn hạn) hay tỷ lệ nợ hiện hành không cao hơnmột mức nhất định nào đó, thì doanh nghiệp không thể chi trả cổ tức
2.3 Các ảnh hưởng của thuế
Khi quyết định chi trả cổ tức, doanh nghiệp sẽ cân nhắc đến sự chênh lệch giữa thuế suấtđánh trên thu nhập lãi vốn và thu nhập cổ tức ngoài ra, thu nhập cổ tức bị đánh thuế ngay(trong năm hiện hành), còn thu nhập lãi vốn có thể hoãn đến các năm sau
2.4 Nhu cầu thanh khoản
Chi trả cổ tức là dòng tiền ra đi; vì vậy, khả năng thanh khoản của doanh nghiệp phụ thuộcvào các tài sản có tính thanh khoản cao, nhất là tiền mặt
2.5 Khả năng vay và tiếp cận các thị trường vốn
Doanh nghiệp lớn, có uy tín, dễ tiếp cận với thị trường tín dụng và các nguồn vốn bên ngoàithì càng có khả năng chi trả cổ tức bởi khả năng thanh khoản linh hoạt và tận dụng các cơ hộiđầu tư Ngược lại với các doanh nghiệp nhỏ, chỉ có vốn cổ phần, khó tiếp cận vốn bên ngoài thìkhi có cơ hội đầu tư mới thuận lợi, thường việc chi trả cổ tức không nhất quán với mục tiêu tối
đa hóa lợi nhuận doanh nghiệp
2.6 Tính ổn định của lợi nhuận
Một doanh nghiêp có lịch sử lợi nhuận ổn định thường sẵn lòng chi trả cổ tức cao hơn mộtdoanh nghiệp có thu nhập không ổn định
2.7 Các cơ hội tăng trưởng vốn
Trang 7Thông thường, các doanh nghiệp tăng trưởng nhanh thường có nhu cầu để tài trợ các cơ hộiđầu tư hấp dẫn vì vậy họ thường giữ lại phần lớn lợi nhuận và tránh bán cổ phần mới ra côngchúng, vừa tốn kém, vừa bất tiện.
2.8 Lạm pháp
Trong môi trường lạm phát, vốn phát sinh từ khấu hoa không đủ thay thế tài sản đã cũ kỹ,lạc hậu; hơn nữa nhu cầu vốn luân chuyển, số dư tiền mặt giao dịch của doanh nghiệp cũng tănglên Do đó, doanh nghiệp cần phải giữ lại lợi nhuận nhiuều hơn
2.9 Ưu tiên của cổ đông (hiệu ứng khách hàng)
Một doanh nghiệp được kiểm soát chặt chẽ với tương đối ít cổ đông thì ban điều hành có thể
ấn định mức cổ tức theo ưu tiên của các cổ đông (tức là mục tiêu, sơ thích của cổ đông) Còndoanh nghiệp có số lượng cổ đông lớn, rộng rãi thì không thể tính đến ưu tiên cảu cổ đông khiquyết định chi tar cổ tức mà chỉ có thể xem xét các yếu tố cơ hội đầu tư, nhu cầu dòng tiền, tiếpcận thị trường tài chính và các yếu tố liên quan khác “hiệu ứng khách hàng” cho thấy các nhàđầu tư sẽ chọn công ty có chính sách cổ tức phù hợp với mục tiêu của mình
2.10 Bảo vệ chống loãng giá
Việc quyết định giữ lại lợi nhuận, chi trả cổ tức có thể còn phụ thuộc vào các quyết định tàitrợ, cấu trúc vốn tối ưu của doanh nghiệp Rủi ro loãng giá, tức quyền lợi của chủ sở hữu theophần trăm bị loãng, xuất hiện khi doanh nghiệp phát hành cổ phần mới vì có thể cổ đông khôngmua hoặc không thể mua theo tỷ lệ tương ứng vì vậy cso một vài doanh nghiệp lựa chọn chi tar
cổ tức thấp để tránh rủi ro loãng giá
Ngoài ra, trong thực tế, còn rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn chính sách cổ tứcnhư: cấu trúc cổ đông, hình thức sở hữu, quy mô doanh nghiệp, khả năng tạo lợi nhuận, đặcđiểm phát triển của doanh nghiệp, lãi suất ngân hàng,…
Trang 8PHẦN II: THỰC TRẠNG CHI TRẢ CỔ TỨC TẠI VIỆT NAM
1 Sơ lược các hình thức chi trả cổ tức mà các doanh nghiệp Việt Nam đang áp dụng :
Thông thường, có 3 phương thức chi trả cổ tức cơ bản là:
cổ tức bằng tiền mặt;
cổ tức bằng cổ phiếu;
cổ tức bằng tài sản
Trong đó, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam chỉ thực hiện việc chi trả cổ tức bằng
tiền mặt và bằng cổ phiếu thưởng
Đặc điểm của cổ tức trả bằng tiền mặt
Cổ tức tiền mặt được trả tính trên cơ sở mỗi cổ phiếu, được tính bằng phần trăm trên mệnhgiá Mệnh giá là giá trị được ấn định trong giấy chứng nhận cổ phiếu theo điều lệ hoạt động củacông ty
Trả cổ tức bằng tiền mặt làm giảm tiền mặt dẫn đến giảm tài sản và giảm vốn lợi nhuận,nghĩa là làm giảm vốn cổ phần cổ đông nhưng giá trị doanh nghiệp vẫn không đổi
Cổ tức tiền mặt làm chuyển giao giá trị kinh tế từ công ty sang cho các cổ đông thay vìcông ty sử dụng tiền đó cho hoạt động của mình.Tuy nhiên, điều này cũng gây ra một sự giảmmạnh trong giá cổ phần của công ty một lượng đúng bằng cổ tức được chia
Chia cổ tức bằng tiền mặt sẽ tạo ra sự an toàn hơn đối với nhà đầu tư Tuy nhiên, việc thanhtoán cổ tức bằng tiền mặt ở mức cao sẽ có những hạn chế:
+ Vốn tích luỹ bị giảm về mặt tương đối do dùng lượng tiền mặt để phân phối cho
các cổ đông
Như chúng ta đã biết lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp được chia thành hai phần:
Một phần được giữ lại để đầu tư cho các dự án trong tương lai của doanh
nghiệp
Một phần được dùng để chia cổ tức cho các cổ đông
Có những trường hợp, doanh nghiệp không chia cổ tức mà để dành cho việc tái đầu tư.Cũng có những trường hợp ngược lại, tất cả lợi nhuận đều được dùng để chia cổ tức Nói tómlại, khi doanh nghiệp dùng một phần lớn lợi nhuận của mình để phân phối cho các cổ đông sẽlàm cho vốn tích lũy tức lợi nhuận giữ lại bị giảm
+ Tốc độ đầu tư các dự án mới sẽ bị ảnh hưởng (về số lượng dự án cần triển khai
ngay)
Nếu doanh nghiệp dùng phần lớn lợi nhuận của mình để trả cổ tức cho các cổ đông màkhông đặc biệt quan tâm đến việc tái đầu tư thì tất nhiên, doanh nghiệp sẽ phải gặp khó khăntrong việc huy động vốn cho các dự án đầu tư mới điều này sẽ làm ảnh hưởng đến tiến độ đầu
tư các dự án mới
Trang 9+ Có thể tăng các khoản vay ngân hàng và như vậy tổng số tiền lãi vay phải trả tăng lên, làmgiảm lợi nhuận sau thuế Khi các doanh nghiệp sử dụng nợ vay vào hoạt động kinh doanh cóthể làm gia tăng hoặc giảm sút tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ vì lãi tiền vay phải trả cho tổchức tín dụng tài chính hoặc trái phiếu là chi phí sử dụng vốn mang tính cố định, không phụthuộc vào kết quả kinh doanh.
+ Có thể làm tăng rủi ro trong các dự án đầu tư khi tỷ trọng tiền vay ở mức lớn Các doanhnghiệp này khi cần vốn để tài trợ cho hoạt động của mình sẽ phải tìm đến các nguồn vốn vay cóchi phí cao hơn Việc sử dụng vốn vay sẽ tạo ra hiệu ứng đòn bẩy tài chính Mức độ hiệu ứngcủa đòn bẩy tài chính được thể hiện ở hệ số nợ: Công ty có hệ số nợ cao thì hệ số đòn bẩy tàichính cao và ngược lại
+ Làm giảm việc tích luỹ nguồn vốn lưu động
+ Ngoài ra, việc chia cổ tức bằng tiền mặt ngày càng cao như vậy sẽ tạo ra áp lực lớn đốivới Ban quản lý của công ty trong việc duy trì tỷ lệ cổ tức đó tránh việc cắt giảm trongnhững năm tới
Đặc điểm cổ tức trả bằng cổ phiếu
Trả cổ tức bằng cổ phiếu là doanh nghiệp đưa ra thêm những cổ phiếu của doanh nghiệptheo tỷ lệ đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua Doanh nghiệp không nhận được khoản tiềnthanh toán nào từ phía cổ đông
Bản chất của việc chia cổ tức bằng cổ phiếu:
Chia cổ tức bằng cổ phiếu là một nghiệp vụ làm tăng số lượng cổ phiếu, chứ không làm giatăng giá trị vốn cổ phần Nói cách khác, về phương diện hạch toán kế toán, đó là một bút toánchuyển từ tài khoản thặng dư vốn sang vốn điều lệ của bảng cân đối kế toán một công ty Khithưởng cổ phiếu cho cổ đông, doanh nghiệp thường sử dụng dùng nguồn hình thành từ vốnthặng dư (số tiền chênh lệch giữa giá bán và mệnh giá khi doanh nghiệp phát hành cổ phiếutăng vốn điều lệ) và lợi nhuận tích lũy lại qua các năm (giống như khi trả cổ tức bằng cổ phiếu)
để chuyển thành vốn điều lệ Số lượng cổ phiếu của doanh nghiệp tăng lên đồng nghĩa vớiviệc vốn điều lệ tăng lên nhưng giá trị của doanh nghiệp vẫn giữ nguyên bởi nguồnthặng dư vốn và lợi nhuận giữ lại bị giảm đi tương ứng
Điều đó cho thấy rằng, giá trị tài sản của mỗi cổ đông cũng không hề tăng lên, mặc dù sốlượng cổ phiếu trong tài khoản của mình tăng lên Việc doanh nghiệp công bố thưởng cổ phiếucho cổ đông chính là dùng tài sản của cổ đông thưởng cho chính các cổ đông đó Mà doanhnghiệp là của các cổ đông Nên, nhìn từ góc độ cổ đông thì đó là việc "tự thưởng", bớtmột phần tài sản của mình để thưởng lại cho mình
Tại sao các doanh nghiệp lại chọn chính sách chia cổ tức bằng cổ phiếu?
Có nhiều lý do để doanh nghiệp quyết định chia cổ tức bằng cổ phiếu, sau đây xin trình bày
3 lý do chính:
Trang 10Có doanh nghiệp chia thưởng nhằm hỗ trợ cổ đông không phải chịu thuếthu nhập cánhân.
Nhưng cũng có những doanh nghiệp chọn hình thức này để tăng vốn điều lệ, từ đó tăngnăng lực tài chính và có cơ hội tiếp cận khoản vay lớn hơn để thực hiện các dự án lớn
Trong chừng mực nào đó, việc phát hành cổ phiếu thưởng giống như doanh nghiệpchia nhỏ cổ phần để giá mỗi cổ phiếu sau khi chia nhỏ sẽ giảm xuống, tạo tính thanhkhoản trên thị trường Đặc biệt là đối với những cổ phiếu có thị giá cao, việc chia tách sẽ giatăng tính thanh khoản do giá cổ phiếu đã được điều chỉnh giảm theo tỷ lệ chia thưởng Ngoài
ra, việc chia cổ phiếu thưởng hay trả cổ tức bằng cổ phiếu như là một cách để doanhnghiệp tránh bị mang tiếng trả cổ tức tiền mặt cực kỳ cao Chính vì những mục đích trên mà cácdoanh nghiệp ngày càng ưa chuộng hình thức chi trả cổ tức bằng cổ phiếu Chính điều này tạo
ra một số bất cập trong phương pháp phân phối lợi nhuận này
2 Thực trạng chi trả cổ tức của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian gần đây:
Tính đến ngày 22/6/2012, tại 2 sàn chứng khoán đã có tới 95% công ty niêm yết tổ chứcthành công đại hội cổ đông thường niên 2012 Nhiều tranh cãi, bức xúc cao trào hơn năm ngoái,trong đó, nóng nhất là chuyện chi trả cổ tức năm 2011 với những thất vọng, vui buồn và lo lắng.Khi đầu tư vào cổ phiếu, nhà đầu tư kỳ vọng vào 2 nguồn lợi nhuận: cổ tức và lợi nhuậnchênh lệch từ việc mua đi bán lại cổ phiếu Tuy nhiên do thị trường chứng khoán suy giảm, giá
cổ phiếu phần lớn giảm 30%-70% từ đầu năm năm 2011 đến giữa tháng 6/2012, khoản lợinhuận từ chênh lệch giá hoàn toàn không có Điều này khiến chuyện chi trả cổ tức nóng hơn rấtnhiều so với các năm trước
Tại các đại hội đồng cổ đông 2012, hàng nghìn cổ đông của các công ty thua lỗ phải ngậmngùi biểu quyết thông qua tỷ lệ chi trả cổ tức năm 2011 là 0% hoặc chỉ có 3-5%
Theo thống kê, năm 2011, cả hai sàn có khoảng 120 công ty thua lỗ, kể cả môt loạt các đạigia như SJS (lỗ 71 tỷ đồng, so với mức lãi 457 tỷ đồng trong năm 2010), TLH (lỗ ròng hơn 40
tỷ đồng), NVT (lỗ ròng 70,3 tỷ đồng), VSP (lỗ 535 tỷ đồng), HLA (lỗ 19,5 tỷ đồng), THV(lỗ198 tỷ đồng), chưa kể đến nhiều công ty chỉ lãi có vài trăm triệu đồng Lỗ nặng hoặc lãikhông đáng kể, các doanh nghiệp này không có tiền để trả cổ tức
Một loạt doanh nghiệp liên tục xin lùi ngày chi trả cổ tức năm 2010, có công ty lần lữa xinkhất nợ tới 3,4 lần với lý do chưa thu xếp được nguồn tiền, còn cổ tức năm 2011, thì vẫn chưacó
Công ty cổ phần Sông Đà 4 (SD4) khất cổ tức 2 tháng Đầu năm 2012, Công ty cổ phầnSông Đà 9.06 (S96) thông báo thay đổi lần thứ 2 thời gian thanh toán cổ tức năm 2010 (ngày
Trang 11chốt ban đầu là 12/8/2011) đến tận 29/6/2012 Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Đầu tư Tổnghợp Hà Nội (SHN) cũng quyết định trả cổ tức năm 2010 đến hết 30/6/2012.
Ngoài chuyện nóng nhất là công ty không có tiền chia cổ tức, nhiều công ty niêm yết đãbuộc phải điều chỉnh giảm cổ tức trong năm Điển hình là Licogi 16 (mã LCG, HOSE) đã bấtngờ thay đổi tỷ lệ cổ tức từ 15% xuống còn 5% tại đại hội đồng cổ đông thường niên 2012.Các cổ đông của Petroland (mã PTL-HOSE) cũng nhận được một bất ngờ lớn khi lợi nhuậnsau kiểm toán 2011 tăng hơn gấp đôi từ 48,5 tỷ đồng lên 128 tỷ đồng, trong khi điều chỉnh giảmlợi nhuận 2010 từ 156,8 tỷ đồng xuống vỏn vẹn còn 0,5 tỷ đồng Do vậy, tỷ lệ chia cổ tức năm
2011 của PTL đã bị giảm từ 18% xuống còn 4% Hiện PTL vẫn chưa thể chi trả cổ tức 2011như kế hoạch (20/06) do chưa thu xếp được tiền và thông báo “ngâm” cổ tức thêm 3 tháng.Tại đại hội đồng cổ đông năm 2012, Công ty Cổ phần Cáp Sài Gòn (mã CSG, HOSE) cũng
đã quyết định điều chỉnh giảm tỷ lệ cổ tức từ 15% xuống còn 3,5% và giảm vốn điều lệ củacông ty xuống còn hơn 53 tỷ đồng ITA cũng đã quyết định giảm tỷ lệ cổ tức và cổ phiếuthưởng từ 50% xuống còn 30% trong năm 2011 do lợi nhuận trước thuế chỉ đạt 89,8 tỷ đồng,bằng 11% so với năm trước
Năm 2011, Minh Hữu Liên (MHL) có số lợi nhuận sau khi phân phối không còn đủ để chia
cổ tức cho các cổ đông VCR quyết định không chia cổ tức cho cả hai năm 2011 và 2012, trongkhi cổ tức năm 2010 bằng tiền với tỷ lệ 15% đến tháng 6/2012 VCR mới thanh toán
Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng số 8 (CIC8) có sáng kiến mới nhất trên thị trườngchứng khoán là chi trả cổ tức bằng căn hộ dự án Các cổ đông có thể nhận căn hộ hoặc nền đấttại các dự án do CIC8 làm chủ đầu tư với chính sách ưu đãi Đây là một “chiêu” rất độc đáo củaCIC8, bởi vì vừa bán được căn hộ dự án đang ế ẩm vừa chia được cổ tức cho cổ đông
Một độc chiêu khác là đại hội đồng cổ đông 2012 của TLH đã thông qua phương án chia cổtức năm 2011 bằng cổ phiếu từ nguồn cổ phiếu quỹ Như vậy, TLH vừa không phải tăng vốnđiều lệ, vừa trả được cổ tức cho cổ đông
Bên cạnh đó, nhiều nhà đầu tư rất vui mừng khi nhận được thông báo tỷ lệ cổ tức năm 2011được điều chỉnh tăng mạnh so với kế hoạch đã được đại hội đồng cổ đông cổ đông thông quatrước đó, nhờ doanh nghiệp đạt kết quả kinh doanh rất ấn tượng trong năm 2011
Kỷ lục về trả cổ tức trong số các doanh nghiệp đang niêm yết trên hai sàn chứng khoán làCông ty cổ phần Khoáng sản Hà Giang (mã HGM, HNX) Năm 2011, với lãi ròng gấp 2,6 lần
so với năm trước, đạt hơn 149 tỷ đồng, HGM quyết định trả cổ tức 80% trong năm 2011 thay vìmức tối thiểu 25% như kế hoạch
Công ty CNG Việt Nam (mã CNG, HOSE) với tỷ lệ cổ tức tăng từ 25% lên đến 70% Công
ty cổ phần Sản xuất kinh doanh & Xuất nhập khẩu Bình Thạnh (mã GIL, HOSE) cũng tăng cổ
Trang 12tức lên 60% Hội đồng quản trị Công ty Khoáng Sản Bình Định (mã BMC, HOSE) đã quyếtđịnh tăng cổ tức từ 22% lên 50%.
Năm 2011, Công ty cổ phần Thủy sản Cửu Long An Giang (mã ACL, HOSE) ghi nhận lợinhuận ròng đạt 114,88 tỷ đồng, tăng 93% so năm trước, cổ tức của ACL cũng tăng từ 15% lên45%
Ngành cao su thiên nhiên có hai công ty tăng khá mạnh cổ tức năm 2011 là Công ty cổ phầnCao su Đồng Phú (mã DPR, HOSE) chia cổ tức năm 2011 theo tỷ lệ 50% bằng tiền mặt vàCông ty cổ phần Cao Su Hòa Bình (mã HOSE, HRC) có tỷ lệ cổ tức tăng từ 20% lên 30%.Hai đại gia là Vinamilk (mã VNM, HOSE) cũng quyết định nâng cổ tức lên 40% và Tổngcông ty Cổ phần phân bón & hóa chất dầu khí (mã DPM, HOSE) cũng quyết định nâng chỉ tiêu
cổ tức từ 15% lên 35%
Trả tỷ lệ cổ tức cao sẽ làm hài lòng nhà đầu tư, nhất là những người bị thâm hụt lớn tàikhoản đầu tư khi mua vào những cổ phiếu có giá suy giảm mạnh trong năm 2011 và 2012 Hơnnữa, trả cổ tức cao còn lấy lòng tin của nhà đầu tư về ban lãnh đạo luôn quan tâm đến việc tăngmức sinh lời đồng tiền của họ, khiến họ tiếp tục gắn bó với công ty
Điều này còn làm tăng mức hấp dẫn của cổ phiếu trên thị trường Tuy nhiên, trả cổ tức caotới mức gần như không giữ lại lợi nhuận chưa phân phối sẽ làm giảm sức mạnh tài chính củacông ty, tăng khả năng vay nợ, khiến chi phí tài chính tăng cao và lợi nhuận giảm
3 Thực trạng chi trả cổ tức của các công ty bất động sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
3.1 Vài nét về thị trường bất động sản Việt Nam
Sau cơn bão tài chính quốc tế, thị trường bất động sản Việt Nam đã lâm vào tình trạng thiếuvốn từ cuối năm 2008, và tình trạng này thường trực từ đó cho đến nay
Diễn biến thị trường bất động sản Việt Nam từ cuối năm 2007 tới tháng 2/2008 đều thấy rõ,tình trạng “sốt giá” nhà đất trên thị trường đã tạo nên một khoảng siêu lợi nhuận mà nhà đầu tưkhông phải làm gì Theo tổng kết giá thị trường của một số dự án tại 2 đô thị lớn nhất (Hà Nội
và thành phố Hồ Chí Minh) thì giá nhà đất vào đầu năm 2008 cao gấp 2 tới 3 lần so với đầunăm 2007 Trên thị trường, giá nhà đất ở nhiều khu “đất vàng” thuộc 2 thành phố lớn này đã đạtngưỡng 1 tỷ đồng/1m2 Trong hoàn cảnh “sốt giá nhà đất”, số người đăng ký mua nhà dự ánluôn luôn vượt từ 7 tới 10 lần số lượng căn hộ bán ra của dự án, tức là tỷ lệ cầu ảo vượt cungthật quá cao
Tới giữa năm 2008, thị trường bất động sản có dấu hiệu rơi vào trầm lắng Tới QuýIV/2008, tình trạng giảm giá nhà đất đã xảy ra do Chính phủ nâng lãi suất tín dụng, giảm cungtiền ra thị trường, ngăn luồng tín dụng vào thị trường bất động sản nhằm kiềm chế lạm phát