1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP cân đối NGÂN SÁCH NHÀ nước TRONG nền KINH tế THỊ TRƯỜNG ở VIỆT NAM

31 796 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Và Giải Pháp Cân Đối Ngân Sách Nhà Nước Trong Nền Kinh Tế Thị Trường Ở Việt Nam
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thanh Dương
Trường học Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 307 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực chất, NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trìnhtạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước khi nhà nước tham giaphân phối các nguồn tài c

Trang 1

I NHỮNG THUẬT NGỮ LIÊN QUAN

1.1 Ngân sách nhà nước:

1.1.1 Khái niệm ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước, hay ngân sách chính phủ, là một phạm trù kinh tế và là phạmtrù lịch sử; là một thành phần trong hệ thống tài chính Thuật ngữ “Ngân sách nhànước” được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã hội ở mọi quốc gia Songquan niệm về NSNN lại chưa thống nhất, đã có nhiều định nghĩa về NSNN tùy theocác trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu

Luật NSNN của Việt Nam được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002 địnhnghĩa: NSNN là tòan bộ các khoản thu, chi của nhà nước được cơ quan nhà nước cóthẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện cácchức năng và nhiệm vụ của nhà nước

Nội dung chính của quan niệm về ngân sách nhà nước:

- NSNN là bản dự trù thu chi tài chính của nhà nước trong một khoảng thời giannhất định, thường là một năm

- NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ bản củanhà nước

- NSNN là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nước huy động

và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau

Thực chất, NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trìnhtạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước khi nhà nước tham giaphân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của nhà nướctrên cơ sở luật định

1.1.2 Mối quan hệ phát sinh trong ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia Nó baogồm những quan hệ tài chính nhất định trong tổng thể các quan hệ tài chính quốc gia,

cụ thể:

- Quan hệ tài chính giữa nhà nước và công dân;

Trang 2

- Quan hệ tài chính giữa nhà nước với doanh nghiệp;

- Quan hệ tài chính giữa nhà nước với tổ chức xã hội;

- Quan hệ tài chính giữa nhà nước với quốc tế

1.1.3 Đặc điểm của ngân sách nhà nước

Đặc điểm của ngân sách nhà nước là:

- Hoạt động thu chi của NSNN luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trịcủa nhà nước, và việc thực hiện các chức năng của nhà nước, được nhà nướctiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định;

- Hoạt động NSNN là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nó thể hiện ởhai lĩnh vực thu và chi của nhà nước;

- NSNN luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng những lợi íchchung, lợi ích công cộng;

- NSNN cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác Nét khác biệt củaNSNN với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, nó được chiathành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi dùng cho nhữngmục đích cố định;

- Hoạt động thu chi của NSNN được thực hiện theo nguyên tắc không hoàn trảtrực tiếp là chủ yếu

1.1.4 Vai trò ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước có vai trò rất quan trọng trong tòan bộ hoạt động kinh tế,xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước Cần hiểu rằng, vai trò củaNSNN luôn gắn liền với vai trò của nhà nước theo từng giai đoạn nhất định Đốivới nền kinh tế thị trường, NSNN đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộnền kinh tế, xã hội

Ngân sách nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướngphát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội

Trang 3

1.1.4.1 Điều tiết trong kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế

Ngân sách nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kíchthích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền Trước hết, Chính phủ sẽhướng hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà chính phủđã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tếphát triển ổn định và bền vững

Thông qua hoạt động chi Ngân sách, nhà nước sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho

cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên

cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển cácdoanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (có thể thấy rõ nhất tầm quan trọngcủa điện lực, viễn thông, hàng không đến hoạt động kinh doanh của các doanhnghiệp) Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp nhà nước là mộttrong những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơivào tình trạng cạnh tranh không hòan hảo Và trong những điều kiện cụ thể, nguồnkinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển củacác doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyểnsang cơ cấu mới hợp lý hơn Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn

tài chính thông qua thuế, ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai trò địnhhướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh

1.1.4.2 Giải quyết các vấn đề xã hội

Trợ giúp trực tiếp dành cho những người có thu nhập thấp hay có hoàn cảnhđặc biệt như chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho cácmặt hàng thiết yếu, các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sáchviệc làm, chống mù chữ, hỗ trợ đồng bào bị lụt

1.1.4.3 Góp phần ổn định thị trường, chống lạm phát,

bình ổn gi cả thị trường hàng hoá

Nhà nước chỉ điều tiết những mặt hàng quan trọng những mặt hàng mang tínhchất chiến lược Cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế xuất nhập

Trang 4

khẩu, dự trữ quốc gia Thị trường vốn sức lao động: thông qua phát hành trái phiếu

và chi tiêu của chính phủ Kiềm chế lạm phát: Thông qua NHTW với chính sáchtiền tệ thích hợp, NSNN góp phần điều tiết thông qua chính sách thuế và chi tiêucủa chính phủ

1.2 Cân đối ngân sách nhà nước

1.2.1 Khái niệm cân đối ngân sách nhà nước

Cân đối NSNN là một trong những cân đối vĩ mô quan trọng của nền kinh tế, nó là

bộ phận của chính sách tài khóa, phản ánh sự điều chính mối quan hệ tương tácgiữa thu và chi NSNN nhằm đạt được mục tiêu kinh tế- xă hội mà nhà nước đã đề

ra ở tầm vĩ mô cũng như trong từng lĩnh vực và địa bàn cụ thể

1.2.2 Mối tương quan giữa thu và chi

Mối tương quan giữa thu và chi NSNN trong một tài khóa được biểu hiện qua 3trạng thái:

- NSNN cân bằng: nhà nước huy động nguồn thu vừa đủ để trang trải nhucầu chi tiêu;

- NSNN bội thu (thặng dư): thu NSNN lớn hơn chi NSNN Nguyên nhâncủa trình trạng này là do nhà nước đă huy động nguồn lực quá mức cầnthiết, hoặc nhà nước đă không xây dựng được chương trình chi tiêutương ứng với khả năng tạo nguồn thu; nhưng cũng có thể là do nền kinh

tế đang rất thịnh vượng, thu NSNN dồi dào và nhà nước chủ động sắpxếp thặng dư NSNN cho những tài khóa tiếp theo;

- NSNN bội chi (thâm hụt): nghĩa là chi NSNN lớn hơn thu NSNN Trongtường hợp này, thu NSNN không đáp ứng được nhu cầu chi Nguyênnhân có thể là do nhà nước không sắp xếp được nhu cầu chi cho phù hợpgây lăng phí; không có biện pháp thích hợp để khai thác đủ nguồn lực vànuôi dưỡng nguồn lực và nuôi dưỡng nguồn thu; nhưng cũng có thể donền kinh tế suy thoái theo chu kỳ hoặc ảnh hưởng bởi thiên tai hay chiến

Trang 5

tranh, thu NSNN giảm sút tương đối so với nhu cầu chi để phục hồi nềnkinh tế.

1.2.3 Nội dung cơ bản của cân đối ngân sách nhà nước 1.2.3.1 Kỷ luật tài khóa tổng thể, phân bổ và sử dụng nguồn lực hiệu quả

Thiết lập, tôn trọng kỷ luật tài khóa tổng thể và phân bổ và sử dụng nguồn lựchiệu quả là 2 vấn đề rất quan trọng đối với việc giải quyết mối quan hệ tương quangiữa thu, chi NSNN

- Thiết lập, tôn trọng kỷ luật tài khoá tổng thể

Đối với một nền kinh tế, nguồn lực tài chính cung ứng để thỏa mãn các nhu cầu

là có giới hạn, nếu để chi tiêu ngân sách gia tăng quá mức cho phép sẽ dẫn đến nhữnghậu quả: (i) gia tăng gánh nặng nợ của nền kinh tế trong tương lai; (ii) gia tăng gánhnặng về thuế; (iii) phá vỡ cân bằng kinh tế, đó là cân bằng về tiết kiệm – đầu tư, cânbằng cán cân thanh toán, từ đó ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế Vì vậy, khicân đối NSNN cần phải thiết lập và tôn trọng kỷ luật tài khóa tổng thể để ổn địnhkinh tế vĩ mô

- Phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính hiệu quả

Đối với một nền kinh tế, do nguồn lực tài chính là có giới hạn, cho nên sau khiđã thiết lập kỷ luật tài chính tổng thể, vấn đề quan trọng khi cân đối NSNN là phảiphân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính hiệu quả

Muốn vậy, khi lập kế hoạch ngân sách chính phủ cần phải đánh đổi và lựa chọngiữa các mục tiêu chiến lược trong từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội Thử thách

ở đây là cấu trúc sắp xếp thể chế như thế nào để tạo ra động lực cho sự phân bổnguồn lực theo các ưu tiên chiến lược chặt chẽ và nâng cao chất lượng thông tin cầnthiết để thực hiện điều đó có hiệu quả Có thể nói, thực hiện chiến lược này là rất khó,bởi vì hầu như nó còn tùy thuộc vào việc chính phủ có đưa ra được các luận cứ khoahọc cho các quyết định chiến lược và đánh giá nguồn tài chính trong suốt thời gian

Trang 6

thực hiện chính sách đó hay không Điều quan trọng ở đây là chính phủ phải xâydựng các thể chế để hỗ trợ cho việc hoạch định chính sách chiến lược hợp lý

1.2.3.2 Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước để đảm bảo cân đối trong hệ thống ngân sách nhà nước

Trên góc độ hệ thống NSNN, phạm vi cân đối NSNN bao gồm cân đối NSTW

và NSĐP, trong đó cân đối NSTW có vai trò rất quan trọng Bởi lẽ (i) trong hệ thống,NSTW thường tập trung đại bộ phận những nguồn thu lớn, qua đó đảm nhận nhữngkhoản chi gắn liền với việc thực hiện các dự án có tầm chiến lược phát triển của quốcgia Thông qua đó, NSTW không những định hướng phát triển kinh tế - xã hội nóichung mà còn định hướng sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương; (ii) ngânsách trung ương đảm trách vai trò điều phối nguồn lực tài chính giữa các cấp ngânsách trong hệ thống ngân sách và cân đối NSNN Còn cân đối NSĐP phải gắn liềnvới việc đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ tổ chức quản lý kinh tế - xã hội của các cấpchính quyền địa phương Với vai trò thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển, cân đốiNSĐP sẽ tạo ảnh hưởng nhất định đến các hoạt động kinh tế - xã hội trong phạm vivùng và trên phạm vi cả nước Như vậy, cân đối NSTW và cân đối NSĐP có sự tươngtác lẫn nhau trong quá trình thu, chi NSNN Sự tương tác này được hình thành trên cơ

sở có sự thống nhất về thể chế chính trị, thống nhất về cơ sở kinh tế và sự ràng buộcbởi các nguyên tắc tổ chức hệ thống chính quyền Cả hệ thống NSNN được cân đốitốt vừa là kết quả vừa là nguyên nhân của một nền kinh tế - xã hội ổn định Một cấpngân sách được điều hành tốt không chỉ liên quan đến việc ổn định, thúc đẩy pháttriển kinh tế - xã hội trong phạm vi của cấp chính quyền tương ứng quản lý, mà còncó thể góp phần vào việc điều hành ngân sách cấp khác, địa phương khác thuận lợihơn và ngược lại Do vậy, phân cấp quản lý NSNN là một vấn đề quan trọng trongcân đối NSNN Và yêu cầu đặt ra là phải thiết lập nội dung phân cấp sao cho đảm bảođược mối quan hệ cân đối giữa nguồn thu và nhiệm vụ chi của các cấp ngân sách trên

cơ sở phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống

Trang 7

1.3 Bội chi ngân sách nhà nước

1.3.1 Khái niệm bội chi ngân sách nhà nước

Bội chi NSNN là tình trạng chi NSNN vượt quá thu NSNN trong một năm, làhiện tượng NSNN không cân đối thể hiện trong sự so sánh giữa cung và cầu về nguồnlực tài chính của nhà nước Ngày nay, bội chi NSNN đã trở thành hiện tượng phổbiến không chỉ đối với những quốc gia đang phát triển mà còn đối với cả những quốcgia phát triển

1.3.2 Đo lường mức bội chi ngân sách nhà nước

Về mặt kỹ thuật, NSNN có bội chi hay không, bội chi nhiều hay ít, còn tùythuộc vào cách đo lường bội chi NSNN Cũng cần nhấn mạnh rằng, không có hệthống thông tin kinh tế nào là hoàn hảo Mỗi khi nhìn thấy một con số nào đó đượcbáo cáo trên các phương tiện thông tin thì điều quan trọng là phải biết nó được tínhnhư thế nào và những gì bị bỏ qua Điều này, đặc biệt đúng với bội chi NSNN Có bayếu tố ảnh hưởng đến kết quả đo lường bội chi NSNN: (i) phạm vi tính bội chiNSNN; (ii) việc xác định các khoản thu, chi trong cân đối NSNN; (iii) thời gian ghinhận thu – chi NSNN

1.3.2.1 Phạm vi tính bội chi ngân sách nhà nước

Tùy theo phạm vi xác định bội chi NSNN là bội chi toàn diện, bội chi củachính phủ hay bội chi ngân sách trung ương, kết quả đo lường bội chi NSNN sẽ khácnhau

1.3.2.2 Xác định các khoản thu, chi trong cân đối ngân sách nhà

nước

Khi tính bội chi NSNN cần cân nhắc có nên đưa một số các khoản thu chi cótính đặc thù, bên cạnh các khoản thu, chi NSNN thông thường vào công thức tính haykhông, vì mức độ ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu tài khóa và kết quả thu đượcrất khác nhau Vấn đề này có ảnh hưởng tới các biện pháp, chính sách cân đối Chẳnghạn, hiện có nhiều tranh luận liệu có nên đưa các khoản thu từ vay nợ của chính phủ,viện trợ ODA, các khoản chi trả nợ gốc … vào trong cân đối NSNN hay không?

Trang 8

- Theo thông lệ quốc tế, thu trong cân đối NSNN bao gồm các khoản thu vào

quỹ NSNN mà khoản thu đó không kèm theo, không làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trảtrực tiếp Chi trong cân đối NSNN là các khoản chi ra từ NSNN được đảm bảo bằngcác nguồn thu NSNN trong cân đối Điều này cũng có nghĩa là những khoản chi củanhà nước nhưng do các nguồn khác đảm nhiệm thì không tính vào chi trong cân đốiNSNN Như vậy, theo thông lệ quốc tế, thu trong cân đối NSNN bao gồm: các khoảnthu thuế, phí và các khoản thu khác (kể cả viện trợ không hoàn lại) mà không baogồm các khoản vay trong và ngoài nước Chi trong cân đối NSNN bao gồm chi đầu tưphát triển, chi thường xuyên, các khoản chi khác, chi trả lãi vay mà không bao gồmchi trả nợ gốc tiền vay Chi trả lãi tiền vay cần được xếp vào chi NSNN vì nó là hệquả của việc điều hành chính sách NSNN có bội chi và được chính nguồn thu trongcân đối NSNN đảm bảo

1.3.2.3 Xác định thời gian ghi nhận thu, chi ngân sách nhà

nước

Việc phân định thời gian ghi nhận thu, chi NSNN trong cân đối hợp lý sẽ giúpcho chính phủ tổng kết và đánh giá tình hình tài chính của quốc gia, qua đó có biệnpháp điều chỉnh kịp thời, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công Trênthực tế, xác định thời gian ghi nhận thu – chi NSNN tùy thuộc vào qui tắc kế toánchính phủ được áp dụng là kế toán thực thu - thực chi hay kế toán dồn tích Và chínhqui tắc kế toán được áp dụng sẽ ảnh hưởng đến kết quả đo lường bội chi NSNN trongtừng tài khóa Với kế toán thực thu – thực chi, nghiệp vụ kinh tế phát sinh chỉ đượcghi chép vào sổ sách kế toán khi thực sự có phát sinh thu chi tiền tệ Trong khi đó, với

kế toán dồn tích thì bất kỳ nghiệp vụ kinh tế nào phát sinh cũng phải được ghi nhậnđúng với bản chất của vấn đề

Trang 9

II THỰC TRẠNG CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1 Cân đối ngân sách nhà nước Việt Nam giai đoạn 2000-2008

Trong giai đoạn 2000 – 2008 nền kinh tế nước ta bước vào giai đoạn phát triểnmạnh Giai đoạn nền kinh tế bước vào thời kỳ hội nhập quốc tế: (i) hoàn tất lộ trìnhcắt giảm thuế quan theo hiệp định CEFT của khối AFTA vào năm 2006; (ii) tiếp đến

là gia nhập WTO vào năm 2007 Đi liền với quá trình tự do hóa thương mại, tronghoạt động NSNN cần phải thực hiện nhiều cải cách để vừa đảm bảo phù hợp thông lệquốc tế – đặc biệt là phù hợp với thiết chế và lộ trình hội nhập mà Việt Nam đã vàđang tham gia ký kết, đồng thời vừa phải đảm bảo nguồn thu NSNN vững chắc đểcân đối NSNN chủ động và hiệu quả Nhà nước ta đã xây dựng được những khuônkhổ pháp lý về các biện pháp thực hiện Và cân đối ngân sách đã đạt được những kếtquả như sau:

Bảng 1: Tổng hợp quyết toán thu –chi từ năm 2000 đến 2008

Trang 10

1.1 Đối với thu ngân sách nhà nước

Khai thác nguồn thu hợp lý là công việc cốt lõi đầu tiên của cân đối NSNN.Chính sách thu NSNN được coi là hợp lý khi thỏa mãn đồng thời 4 điều kiện chủ yếu:(i) giải quyết được nhu cầu chi tiêu của Nhà nước; (ii) kích thích kinh tế tăng trưởng;(iii) điều tiết được thu nhập; và (iv) phù hợp thông lệ quốc tế Để thỏa mãn các điềukiện đó, trước hết cần phải thiết lập kỷ luật tài khóa tổng thể, kế đến là phải thực hiệncải cách thuế theo hướng hoàn thiện chính sách thuế và cải tiến công tác quản lý thu

1.1.1 Về thiết lập kỷ luật tài khóa tổng thể

Dựa vào chiến lược phát triển kinh tế xã hội 5 năm, kỷ luật tài khóa tổng thể đãđược Chính phủ thiết lập cho từng thời kỳ bằng việc quyết định tỷ lệ động viên vàoNSNN trên GDP (giai đoạn 2001-2005 là 20-21%); tỷ lệ chi NSNN trên GDP (96-

2000 là 24-25%GDP; 2001-2005 là 23-24%); từ đó gián tiếp qui định mức bội chiNSNN; mức vay nợ trong và ngoài nước để bù đắp bội chi NSNN

1.1.2 Về cải cách thuế

- Hoàn thiện chính sách thuế

+ Cải cách thuế bước hai: Qua cải cách bước một, bước đầu thuế đã phát huy vaitrò điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo nguồn thu ngày càng lớn cho NSNN Sang giaiđoạn 2000-2003, cải cách hệ thống chính sách thuế bước hai được thực hiện theochiều sâu, mở rộng diện thu theo hướng bồi dưỡng và tạo nguồn thu mới, khắc phụctình trạng chồng chéo, trùng lắp và phức tạp, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triểntheo hướng CNH – HĐH, từng bước phù hợp với thông lệ quốc tế để tạo điều kiệnthuận lợi cho tiến trình hội nhập Trên tinh thần đó, Việt Nam đã đổi mới căn bản hệthống thuế bằng việc ban hành Luật thuế giá trị gia tăng thay cho Luật thuế doanhthu; Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thay cho thuế lợi tức; Luật thuế tiêu thụ đặc biệtsửa đổi, bổ sung; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu; bãi bỏ một số sắc thuế, phí, lệ phí không còn phù hợp; sửa đổi, bổ sunghoặc ban hành mới một số loại thuế và phí có tác động mạnh mẽ đến các hoạt độngkinh tế như thuế thu nhập cá nhân, thuế tài nguyên, thuế đất, thuế tài sản

Trang 11

+ Cải cách thuế bước ba: Cải cách thuế bước hai tuy đã góp phần hoàn thiệnchính sách thuế cho phù hợp với lộ trình hội nhập, song những nhược điểm cơ bảncủa hệ thống thuế được tổng kết khi kết thúc cải cách bước một vẫn chưa được giảiquyết triệt để Cụ thể: (i) hệ thống thuế vẫn còn phân biệt đối xử giữa các đối tượngnộp thuế, giữa doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài theo hướng ưu đãi cho các nhà đầu tư nước ngoài, trong khi chính sách pháttriển kinh tế là coi trọng nội lực; (ii) hệ thống thuế vẫn rất phức tạp, chồng chéo Tínhphi trung lập của thuế giá trị gia tăng với việc qui định nhiều mức thuế suất đã làmcho việc tính toán khấu trừ thuế rất khó khăn Thuế nhập khẩu với hệ thống đa thuếsuất và được phân loại dựa vào công dụng của hàng hóa đã tạo nhiều kẽ hở cho gianlận thương mại, khai báo thuế tùy tiện… (iii) mức thuế suất cận biên tối đa của thuếthu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao còn khá cao sovới các nước trong khu vực, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư Do vậy, cảicách thuế bước ba được thực hiện Trọng tâm của cải cách thuế bước ba là hướng vàothực hiện ba mục tiêu: đơn giản, công bằng, hiệu quả của hệ thống chính sách thuế

Theo đó, Chính phủ đã tiến hành triển khai bước đầu công việc cải cách thuếtheo lộ trình đã hoạch định Để khuyến khích đầu tư trên cơ sở vẫn đảm bảo nguồnthu cho ngân sách, Nhà nước đã giảm gánh nặng thuế qua việc giảm thuế suất, đơngiản hóa hệ thống thuế, mở rộng đối tượng chịu thuế Cụ thể: (i) Thuế Thu nhậpdoanh nghiệp được áp dụng thống nhất, không phân biệt thành phần kinh tế, khôngphân biệt doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vớithuế suất 28% và các mức thuế suất ưu đãi là 20%, 15% và 10%; bổ sung thu nhập từchuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất vào thu nhập chịu thuế; thống nhấtđiều kiện ưu đãi thuế theo lĩnh vực và địa bàn phù hợp với luật khuyến khích đầu tưtrong nước; mở rộng phạm vi ưu đãi đầu tư; các qui định về chi phí hợp lý, hợp lệcũng được bổ sung, sửa đổi (ii) Thuế giá trị gia tăng áp dụng 3 mức thuế suất 0%,5% và 10% Bổ sung hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, sản phẩm in vàmột số dịch vụ xuất khẩu vào diện chịu thuế GTGT Bãi bỏ qui định khấu trừ thuế

Trang 12

GTGT đầu vào theo tỷ lệ % qui định, điều kiện khấu trừ đầu vào đối với hàng hóa,dịch vụ xuất khẩu được qui định chặt chẽ hơn Bãi bỏ các chế độ ưu đãi qua thuếGTGT để tăng tính trung lập và nâng cao tính hiệu quả, hiệu lực hành thu (iii) Thuếtiêu thụ đặc biệt cũng được sửa đổi, bổ sung theo hướng mở rộng diện chịu thuế (kinhdoanh xổ số, các hoạt động kinh doanh giải trí có đặt cược); tăng thu đối với rượutrên 40 độ, bài lá, vàng mã, kinh doanh vũ trường, mát xa, karaoke; giảm thu đối vớibia hơi, kinh doanh sân gôn, ô tô

Những nội dung cải cách thuế bắt đầu có hiệu lực từ 1/1/2004 Mặc dù còn khásớm để kiểm định tính thực tiễn của những thay đổi của cải cách thuế giai đoạn 3 đãgóp phần cải thiện tình trạng cân đối NSNN như thế nào, nhưng theo ý kiến của nhiềuchuyên gia, những cải cách thuế thời gian qua đang tiến gần đến những chuẩn mựcquốc tế

1.1.3 Cải cách công tác quản lý thu

Từ 2000 đến nay đã thực hiện được một số nội dung quan trọng: (i) bỏ chế độchuyên quản, tách hoạt động quản lý và hoạt động thanh tra làm 2 bộ phận riêng biệttrong cơ quan thuế; (ii) thực hiện chế độ tự kê khai của người nộp thuế; (iii) quan tâmđến đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn của cán bộ thuế

Bảng 2: Phân tích tăng thu qua các năm từ 2000 đến 2008

Đơn vị tính: nghìn tỷ Đồng

TỔNG THU 90,749 123,860 152,274 190,928 228,287 279,472 315,915 416,783 Thu trong nước (Không kể

thu từ dầu thô) 46,233 63,530 78,687 104,576 119,826 145,404 174,298 229,786

Trang 13

90,749 nghìn tỷ đồng nhưng đến năm 2008, theo quyết toán của bộ tài chính đưa ratổng nguồn thu đạt được là 416,783 nghìn tỷ đồng Một sự thay đổi rất lớn thể hiện sựhiệu quả trong khai thác các nguồn thu

Nguồn thu trong nước vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn thu NSNN.Chứng tỏ thuế và các nguồn thu trong nước là nguồn quan trọng trong ngân sách củanước ta Nguồn thu từ thuế mỗi năm đều cao hơn mức chi thường xuyên Nhờ vậy đãđáp ứng được phần lớn nhu cầu chi của nhà nước, tôn trọng triệt để nguyên tắc cânđối NSNN mà Luật NSNN qui định : “Tổng số thu từ thuế, phí và lệ phí phải lớn hơntổng số chi thường xuyên và góp phần tích lũy ngày càng cao vào chi đầu tư pháttriển” Hãy nhìn vào bảng cơ cấu NSNN ở bên dưới chúng ta sẽ thấy rõ điều đó

Bảng 3: Cơ cấu thu ngân sách nhà nước từ năm 2000 đến 2008

Nguồn: http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=389&idmid=3&ItemID=9885

Nguồn thu trong nước luôn luôn chiếm trên 50% tổng nguồn thu trong nước.Dầu thô vẫn luôn là nguồn thu lớn cho NSNN, nhưng về lâu dài chúng ta không thểxuất dầu thô mãi Cần phải xây dựng nhiều nhà máy lọc dầu hơn nữa để nhằm tăngthu cho Ngân sách

1.2 Đối với chi ngân sách nhà nước

Nguồn lực NSNN luôn có hạn so với nhu cầu phát triển, bởi thế, tôn trọng kỷluật tài khóa tổng thể, phân bổ và sử dụng nguồn lực NSNN hợp lý là một nội dung

Trang 14

quan trọng quyết định đến kết quả cân đối NSNN Từ khi có luật NSNN, chính sáchchi NSNN của Việt Nam đã có nhiều biến chuyển tích cực Để tôn trọng được kỷ luậttài khóa tổng thể, Nhà nước chủ trương đẩy mạnh chính sách xã hội hóa các khoảnchi giáo dục, y tế …; thực hành tiết kiệm và tăng cường kiểm soát chi Những chínhsách này không những góp phần làm giảm áp lực chi ngân sách mà còn góp phần cơcấu lại chi ngân sách theo hướng xóa bỏ những khoản chi bao cấp cho xã hội đểNSNN tập trung vào những khoản chi cơ bản làm nền tảng phát triển kinh tế – xã hội.Bên cạnh chủ trương xã hội hóa dịch vụ công, chính sách khoán chi đã được thí điểm

và từng bước triển khai mở rộng… Tất cả đã mang lại những kết quả nhất định trongviệc tôn trọng kỷ luật tài khóa tổng thể về phân bổ và sử dụng nguồn lực hợp lý hơn.Ngoài ra, trong giai đoạn 2000 – 2008, trên cơ sở thu NSNN hàng năm tăng trưởngkhá nên tổng chi NSNN hàng năm cũng tăng, một mức tăng khá cao, tạo điều kiệnthuận lợi cho việc cơ cấu lại các khoản chi để có thể phân bổ hợp lý hơn giữa các loạihình chi tiêu, giữa các ngành, các lĩnh vực

Bảng 4: Quyết toán chi Ngân sách nhà nước từ năm 2000 đến 2008

TỔNG CHI 108,961 129,773 148,208 181,183 214,176 262,697 308,058 399,402 494,600 Chi đầu tư phát triển 29,624 40,236 45,218 59,629 66,115 79,199 88,341 112,160 135,911

Trong đó: Chi XDCB 26,211 36,139 40,740 54,430 61,746 72,842 81,078 107,440 124,664

Bảng 5: Cơ cấu chi ngân sách nhà nước từ 2000 đến 2008

TỔNG CHI 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00 100.00 Chi đầu tư phát triển 27.19 31.00 30.51 32.91 30.87 30.15 28.68 28.08 27.48

Trang 15

Chi phát triển sự nghiệp

kinh tế xã hội 56.74 55.14 52.66 52.77 50.42 50.37 52.54 53.06 52.26

Như vậy, về mặt chính sách, ngoài mục tiêu tăng trưởng, phân bổ và sử dụngNSNN thời gian này còn chú trọng đến mục tiêu giảm nghèo, tạo công bằng xã hội

Để thực hiện mục tiêu này, ngoài việc phân bổ chi đầu tư phát triển theo vùng, miềncó lưu ý đặc biệt đến các xã nghèo, còn có 2 công cụ khác được sử dụng: bổ sung cânđối NSNN theo mặt bằng cân đối chung trên toàn quốc thông qua các tiêu chuẩn địnhmức chi thường xuyên và triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia như chươngtrình quốc gia về xóa đói giảm nghèo và tạo việc làm, chương trình 135 cho các xã

Ngày đăng: 08/01/2014, 11:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tổng hợp quyết toán thu –chi từ năm 2000 đến 2008 - THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP cân đối NGÂN SÁCH NHÀ nước TRONG nền KINH tế THỊ TRƯỜNG ở VIỆT NAM
Bảng 1 Tổng hợp quyết toán thu –chi từ năm 2000 đến 2008 (Trang 9)
Bảng 2: Phân tích tăng thu qua các năm từ 2000 đến 2008 - THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP cân đối NGÂN SÁCH NHÀ nước TRONG nền KINH tế THỊ TRƯỜNG ở VIỆT NAM
Bảng 2 Phân tích tăng thu qua các năm từ 2000 đến 2008 (Trang 12)
Bảng 5 : Cơ cấu chi ngân sách nhà nước từ 2000 đến 2008 - THỰC TRẠNG và GIẢI PHÁP cân đối NGÂN SÁCH NHÀ nước TRONG nền KINH tế THỊ TRƯỜNG ở VIỆT NAM
Bảng 5 Cơ cấu chi ngân sách nhà nước từ 2000 đến 2008 (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w