Chính điều này đã làm cho nợ xấu gia tăng làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng và hiệu quả kinh doanh của từng ngân hàng nói riêng, toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung.. Nhiều ch
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TP.HCM, Tháng 03/2013
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU .2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI .3
I ĐỊNH NGHĨA NỢ XẤU .3
II TÁC ĐỘNG CỦA NỢ XẤU ĐẾN NỀN KINH TẾ .4
III KINH NGHIỆM XỬ LÝ TỔN THẤT NỢ XẤU CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI .5
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM .8
I THỰC TRẠNG NỢ XẤU TẠI NHTM VIỆT NAM .8
1 Thực trạng 8
2 Nguyên nhân 9
II NHỮNG BIỆN PHÁP ĐÃ ÁP DỤNG TRONG THỜI GIAN VỪA QUA 13
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG GIẢI PHÁP XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 15
I NHÓM GIẢI PHÁP CHÍNH PHỦ ĐỀ RA TRONG ĐỀ ÁN CƠ CẤU LẠI HỆ THỐNG CÁC TCTD GIAI ĐOẠN 2011-2015 15
II NHÓM GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT 15
1 Đối với Ngân hàng Nhà nước 15
2 Đối với Ngân hàng thương mại 19
KẾT LUẬN 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Sau 20 năm đổi mới, chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế nước ta đã có những bước chuyển đáng kể Hiện nay nền kinh tế Việt Nam được đánh giá là có tốc độ tăng trưởng cao, ổn định, có môi trường đầu tư an toàn trong khu vực và trên thế giới Đóng góp vào sự thành công đó phải kể đến là ngành Ngân hàng nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng Với việc khơi thông và phát triển một lượng vốn lớn đáp ứng nhu cầu phát triển, cung cấp các dịch vụ tiện ích phục vụ cho quá trình lưu thông hàng hoá và tiền tệ, các ngân hàng thương mại Việt Nam góp phần đưa nước nhà phát triển và đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hoà, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế cho toàn nền kinh tế
Bên cạnh những thành tựu đạt đạt cũng phải kể đến những khiếm khuyết, trở ngại mà ngành ngân hàng gặp phải trong quá trình phát triển và vấn đề đang được ưu tiên hàng đầu mà Chính phủ đặt ra đối với Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại phải giải quyết để thực hiện quá trình tái cơ cấu ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2011-
2015 là nợ xấu và hàng tồn kho
Với sự phát triển quá nóng của nền kinh tế, tăng trưởng tín dụng phát triển trong khi đó khả năng quản trị rủi ro của các ngân hàng chưa theo kịp với đà phát triển nóng của tín dụng Chính điều này đã làm cho nợ xấu gia tăng làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng và hiệu quả kinh doanh của từng ngân hàng nói riêng, toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung
Như vậy, nợ xấu được xem là “cục máu đông” làm tắc nghẽn dòng máu tín dụng trong
cơ thể nền kinh tế Việt Nam hiện nay Nhiều chuyên gia và những nhà quản trị tài chính đưa ra nhiều quan điểm cũng như những biện pháp khác nhau về việc xử lý khối lượng nợ xấu đang
tồn tại trong hệ thống các ngân hàng của Việt Nam hiện nay Với đề tài: “ Thực trạng và định
hướng giải pháp xử lý nợ xấu tại Ngân hàng thương mại Việt Nam ”, nhóm nghiên cứu
muốn đưa ra các một cái nhìn khái quát về thực trạng nợ xấu và định hướng giải quyết nợ xấu tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian sắp tới nhằm xây dựng một ngành tài chính ngân hàng lành mạnh và đủ sức cạnh trạnh với các Ngân hàng thương mại trong khu vực
Trang 4Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I Định nghĩa nợ xấu:
- Uỷ ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra:
Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực
hiện hành động gì để cố gắng thu hồi;
Người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày
Tuy nhiên, một vài quốc gia báo cáo nợ xấu bao gồm các khoản nợ quá hạn trên 30 ngày hoặc báo cáo các khoản nợ quá hạn
- Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) về ngân hàng thường đề cập các khoản nợ bị giảm giá trị thay vì thường sử dụng thuật ngữ nợ xấu Về cơ bản, IAS chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn
- Theo hướng dẫn để tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia (FSIs), Quỹ Tiền tệ Quốc tế - IMF đưa ra định nghĩa nợ xấu như sau: Một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi đã quá hạn
90 ngày hoặc hơn đã được vốn hoá, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thoả thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy các dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ
- Theo quy định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và có một số sửa đổi trong Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 có định nghĩa nợ xấu như sau: Nợ xấu là nợ thuộc nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5 bao gồm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn quy định taị Điều 6 hoặc Điều 7 của Quyết định 493 và Quyết định 18 nói trên Về cơ bản nợ xấu tức là các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày trở lên; các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ và khách hàng chưa trả đủ lãi và gốc
Trang 5Như vậy có sự khác biệt về định nghĩa nợ xấu của Việt Nam và các thông lệ quốc tế Để
có cái nhìn tổng quát hơn về mặt định lượng và định tính của các quan điểm về nợ xấu, ta thực hiện so sánh như sau:
Mục tiêu
tính nợ xấu
Giám sát và ổn định hoạt động hệ thống ngân hàng
Lập báo cáo kết quả hoạt động trong kỳ
Tính toán chỉ tiêu lành mạnh tài chính
Lập báo các kết quả hoạt động trong kỳ
Định lượng Nợ quá hạn 90 ngày
trở lên
Nợ quá hạn 90 ngày trở lên
Nợ quá hạn 90 ngày hoặc hơn
Nợ quá hạn từ ngày 90 ngày (Điều 6 – QĐ 493)
Định tính
Dấu hiệu khoản vay chưa được thanh toán, các mất mát có thể xảy ra trong tương lai
Dấu hiệu khách quan là khoản vay bị giảm giá trị
Dấu hiệu người vay có khả năng không trả được
nợ
Dấu hiệu khoản nợ không thu hồi được và
có khả năng mất vốn (Điều 7 – QĐ 493)
Theo số liệu mà Thanh tra Ngân hàng Nhà nước công bố nợ xấu của các NHTM Việt Nam tính đến ngày 31/03/2012 là 202.000 tỷ đồng chiếm 8,6% tổng dư nợ nhưng Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Ratings cho rằng nợ xấu tại Việt Nam theo chuẩn mực kế toán thế giới ước lượng có thể lên tới khoảng 13% Sở dĩ số liệu nợ xấu tại các NHTM Việt Nam theo tính toán của Việt Nam thấp hơn so với cách tính theo thông lệ quốc tế là do Việt Nam tính toán
nợ xấu chủ yếu dựa vào các chỉ tiêu định lượng và chỉ có một số ít NHTM áp dụng tiêu chuẩn định tính để xác định nợ xấu
Sự chênh lệch lớn về số liệu nợ xấu là do tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro của Việt Nam không theo thông lệ quốc tế Tình trạng sản xuất kinh doanh đình đốn, doanh nghiệp phá sản tăng mạnh, thị trường bất động sản và chứng khoán đi xuống là những lý do khiến các chuyên gia cho rằng con số nợ xấu của hệ thống ngân hàng cao hơn nhiều so với số liệu chính thức Theo nhóm chuyên gia của Trung tâm nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), con số nợ xấu của các ngân hàng ở mức từ 8,25% cho đến 14,01%, kể cả không bao gồm số nợ của Vinashin và các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) khác Như vậy, có thể hiểu là con số nợ thấp nhất nằm trong khoảng từ 8,25% đến 14,01%
Trang 6II Tác động của nợ xấu đến nền kinh tế:
Kiểm soát và xử lý nợ xấu đang là vấn đề đặt ra hàng đầu không chỉ trong hệ thống ngân hàng nói riêng mà trong toàn bộ nền kinh tế nói chung Việc tỷ lệ nợ xấu cao như tại các NHTM Việt Nam hiện nay nếu chúng ta không kiểm soát và xử lý kịp thời thì hậu quả của nó
sẽ tác động đến nền kinh tế như sau:
- Nợ xấu cao có thể làm giảm lợi nhuận hoặc gây thua lỗ đối với ngân hàng do tăng trích lập dự phòng rủi ro, làm xói mòn niềm tin đối với những người gửi tiền, các nhà đầu tư và nếu không sớm cải thiện sẽ gây ra rủi ro thanh khoản và ảnh hưởng rất lớn đến an toàn của
hệ thống ngân hàng
- Tỷ lệ nợ xấu cao sẽ gây bất ổn cho nền kinh tế vĩ mô, nợ xấu cao là một trong những tác nhân gây ra lạm phát cao và sau đó kéo theo lãi suất trong nền kinh tế cũang tăng cao do Ngân hàng Nhà nước phải thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt để kiềm chế lạm phát và lãi suất cao sẽ gây ra khó khăn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính cao
- Ngoài ra ngân hàng Trung ương của bất kì quốc gia nào cũng đều có nhiệm vụ bảo đảm hệ thống ngân hàng hoạt động một cách an toàn và ổn định Vì nếu có sự thất thoát trong hoạt động tín dụng nào đó dù chỉ là 1 ngân hàng và ở 1 mức độ nhất định nào đó cũng sẽ đe doạ tới sự tan toàn và ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng
III Kinh nghiệm xử lý tổn thất nợ xấu của các nước trên thế giới:
Với những tác động của nền kinh tế trong thời gian vừa qua và xu hướng đổi mới, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của một số nước thế giới Vấn đề giải quyết nợ xấu được coi như
là vấn đề trọng tâm trong giai đoạn đầu thực hiện đề án tái cơ cấu hệ thống NHTM của một số nước thế giới Thông qua quá trình đúc kết thông tin, tìm hiểu về cách thức xử lý nợ xấu của một số nước trên thế giới, nhóm nghiên cứu đã đúc kết được những kinh nghiệm xử lý tổn thất nợ xấu của nước bạn để từ đó đúc ra được những kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình thực hiện tại Việt Nam và chi tiết như sau:
Gia
Nguyên nhân chính xảy ra nợ xấu
Cách thức thực hiện
1 Mỹ Khủng hoảng tài Cục Dữ trữ Liên bang Mỹ (FED) quyết định bơm 700 tỷ USD vào
Trang 7chính năm 2008 bắt nguồn từ việc bong bong bất động sản bị phá
vỡ
nền kinh tế Lượng tiền này dùng vào việc:
- Giải quyết thanh khoản tạm thời cho các Tổ chức tín dụng yếu kém;
- Mua cổ phiếu ưu đãi của các ngân hàng với mục đích FED không tham dự vào hoạt động điều hành của các Ngân hàng mà chỉ đầu tư vốn nhằm giúp các Ngân hàng thoát khỏi tình trạng trì trệ
2 Hàn
Quốc
Yếu kém trong cấu trúc nền kinh
tế cộng với khủng hoảng tiền
tệ năm 1997 dẫn đến khủng hoảng tín dụng và khủng hoảng tiền
tệ
- Buộc các Tổ chức tín dụng phải sử dụng vốn để xử lý một nửa giá trị các khoản nợ xấu bằng việc yêu cầu các khách hàng trả nợ hoặc bán tài sản thế chấp
- Cải tiến chức năng, nhiệm vụ của Công ty Quản lý tài sản Hàn Quốc (KAMCO) và để Công ty mua lại một nửa các khoản nợ xấu Hoạt động của KAMCO như sau:
KAMCO ưu tiên mua các khoản nợ mà có thể dễ dàng chuyển giao quyền thu nợ, các khoản nợ có thể giúp các TCTC khôi phục lại hoạt động và hình ảnh trước công chúng, và các khoản cho vay đồng tài trợ
Sau khi mua lại, KAMCO nhóm các khoản nợ xấu này lại để
phát hành các chứng khoán có đảm bảo bằng tài sản dựa trên các khoản nợ xấu đã mua hoặc bán cho các nhà đầu tư thông qua đấu giá quốc tế cạnh tranh
- Áp dụng tiêu chuẩn phân loại nợ theo tiêu chuẩn quốc tế và huy động tới 157 nghìn tỷ Won để bơm vốn vào các TCTC và giải quyết thanh khoản
Trang 83 Trung
Quốc
Cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung do các NHTM Nhà nước lớn của Trung Quốc thực hiện cho vay theo chỉ định vào các Công ty và
Dự án Nhà nước
→ Nợ xấu gia tăng khi các Công ty/ Dự án làm ăn kém hiệu quả và thua lỗ
- Sử dụng cách phân loại nợ thành 5 nhóm theo cách chia của BIS thay vì 4 nhóm như trước đây, thực hiện phê duyệt tín dụng một cách độc lập với ít can thiệp hành chính từ phía chính quyền địa phương hơn
- Thành lập của 4 công ty quản lý tài sản được Chính phủ tài trợ Các AMC đã sử dụng nhiều biện pháp để xử lý nợ xấu bao gồm thanh lý tài sản, bán tài sản trực tiếp cho các nhà đầu tư và chứng khoán hóa những khoản nợ xấu này Việc xử lý nợ xấu của Trung Quốc còn gắn liền với tái cơ cấu Doanh nghiệp Nhà nước nên các AMC cũng có vai trò trong quá trình tái cơ cấu DNNN thông qua các biện pháp hoán đổi nợ thành cổ phần và tái cấu trúc doanh nghiệp
- Chứng khoán hóa các khoản nợ xấu
4 Malay
sia
Khủng hoảng tài chính 1997
- Thành lập Công ty AMC:
Nhiệm vụ chính là loại bỏ các khoản nợ xấu khỏi bảng kế toán
của các định chế tài chính với mức giá hợp lý và tối đa hóa giá trị có thể phục hồi của các khoản nợ
Quản lý tài sản, cân bằng các mục tiêu: không thở thành nhà
kho của nợ xấu, tối đa hóa giá trị phục hồi, không làm rối loạn thị trường khi bán ra các tài sản, tạo ra lợi nhuận trên vốn
Thiết lập một cơ chế minh bạch và rõ ràng trong việc xử lý các
tài sản, chỉ định các chuyên gia quản lý và xem xét các chuyên viên này, cơ chế chào bán mở và được thực hiện bởi các hãng chuyên nghiệp
- Bơm vốn là việc các cổ đông ngân hàng chấp nhận việc giảm cổ phần trong tổ chức tài chính, thay đổi hội đồng quản trị, ban lãnh đạo
- Phát triển thị trường trái phiếu
Trang 9Chương 2: THỰC TRẠNG NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
I Thực trạng nợ xấu tại NHTM Việt Nam:
1 Thực trạng:
Tình hình nợ xấu trong thời gian gần đây đã được đề cập đến nhiều nhưng hầu như bài toán hóc búa này chưa có lời giải cuối cùng
- Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh
tế tài chính và suy thoá kinh tế toàn cầu từ
năm 2008 đến nay, nền kinh tế Việt Nam
đã chịu tác động tiêu cực và kinh tế vĩ mô
không thuận lợi Hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp gặp nhiều
khó khăn Vì vậy, nợ xấu của hệ thống
Trang 10NHTM có chiều hướng gia tăng Số liệu nợ xấu được công bố gần đây đã phản ảnh được điều này
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế tính đến thời điểm ngày 30/09/2012 là 2.880.000 tỷ đồng, trong đó nợ xấu của toàn ngành ngân hàng được xác định dự kiến hết năm 2012 là khoảng 10%, tương đương với 290.000 tỷ đồng Tính từ năm
2008, nợ xấu của Việt Nam liên tục tăng và đến 2012 đã tăng tới 99% Theo số liệu của các tổ chức tín dụng, tính đến ngày 30/9/2012, tỷ lệ nợ
xấu của toàn hệ thống là 4,93%, nhưng theo
Ngân hàng Nhà nước tỷ lệ này là 8,82% Bản
chất của nợ xấu ngân hàng là do khách hàng
vay vốn sử dụng vốn vay không hiệu quả, và nó
thường phát sinh sau một chu kỳ vay vốn, thậm
chí sau một thời gian dài Nợ xấu hiện nay của
các NHTM được tích lũy từ trước đây do môi
trường kinh doanh xấu đi kể từ năm 2008,
khách hàng vay gặp nhiều khó khăn về tài chính và hoạt động, vì vậy, nợ xấu của hệ thống các NHTM có chiều hướng gia tăng nhanh trong thời gian gần đây Trong bối cảnh dư nợ tín dụng không tăng từ đầu năm 2012 trở lại đây cho thấy nợ xấu phát sinh mới chủ yếu là các khoản tín dụng đã được cấp trước đây, đặc biệt là trong giai đoạn tăng trưởng tín dụng nhanh
Có thể thấy rằng tỷ lệ nợ xấu của các NHTM báo cáo và số liệu của các Cơ quan Giám sát
là có sự khác biệt đáng kể, phản ánh các quan hệ tài chính tiền tệ và quan hệ tín dụng ngân hàng chưa thực sự minh bạch
- Tỷ lệ nợ xấu của nhóm các NHTM chiếm tỷ trọng rất lớn trong toàn hệ thống ngân hàng
và đồ thị bên dưới biểu thị tỷ lệ nợ xấu của một số NHTM tại thời điểm 31/12/2011 và thời điểm 30/09/2012:
Trang 11Từ đồ thị cho thấy chỉ trong 9 tháng đầu năm 2013, tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng đã có
sự gia tăng tương đối và điều này buộc các ngân hàng phải gia tăng việc trích lập dự phòng rủi ro và là nguyên nhân làm sụt giảm lợi nhuận
Với tình hình thị trường chứng khoán và bất động sản giảm giá mạnh trong thời gian qua thì nhiều chuyên gia đưa ra giả định là từ 50% đến 100% các khoản cho vay chứng khoán và bất động sản thuộc diện nợ xấu, điều tra của các nhóm chuyên gia cho thấy tất cả các khoản cho vay chứng khoán và bất động sản hiện thuộc diện đảo nợ hoặc khoanh nợ Riêng về khu vực bất động sản tính đến 31/10/2012, tổng dư nợ bất động sản khoảng 207.595 tỷ đồng, tăng 3,6% so với cuối năm 2011 và nợ xấu của khu vực bất động sản khoảng 13,5% tổng dư nợ bất động sản, tương đương hơn 28.000 tỷ đồng
2 Nguyên nhân:
Có rất nhiều nguyên nhân và các lý giải trái chiều nhau về nguyên nhân làm gia tăng nợ xấu của các NHTM Việt Nam trong thời gian vừa qua Dưới góc độ nghiên cứu của mình, nhóm nghiên cứu đưa ra những nguyên nhân xuất phát từ các chủ thể trong nền kinh tế cụ thể như sau:
2.1 Nguyên nhân xuất phát từ phía ngân hàng:
- Chính sách tín dụng không hợp lý, các ngân hàng
quá đặt nặng vào các mục tiêu tăng trưởng tín
dụng và lợi nhuận dẫn đến tăng trưởng tín dụng
nóng hoặc cho vay tập trung nguồn vốn quá nhiều
Trang 12vào một doanh nghiệp hoặc một ngành kinh tế nào đó, trong đầu tư ngân hàng chú trọng vào những lĩnh vực có rủi ro cao, danh mục cho vay thiếu đa dạng cho nên hạn chế phân tán rủi ro Trong thời gian vừa qua giá trị tổng tài sản của các ngân hàng tăng trưởng rất nhanh do áp lực tăng vốn điều lệ nhằm đảm bảo đúng quy định của Ngân hàng Nhà nước Mặt khác, với việc phát triển của thị trường chứng khoán năm 2007 đã mở rộng được các kênh huy động vốn của NHTM Tổng tài sản tăng, hoạt động kinh doanh chủ yếu của các NHTM Việt Nam phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng Do đó, khi tăng trưởng tín dụng, các ngân hàng phải chấp nhận một tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ nhất định và nếu tỷ lệ này vượt quá khả năng kiểm soát của ngân hàng thì nợ xấu sẽ tăng cao
- Chiến lược quản trị rủi ro chưa tốt, trong thời gian qua khi tình hình kinh tế khá thuận lợi,
để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng tín dụng, các ngân hàng đã mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động quá nhanh vượt quá khả năng kiểm soát của ngân hàng Mặt khác, một số ngân hàng chưa xây dựng được chiến lược quản trị rủi ro tín dụng có khả năng thích ứng với tình hình biến động của thị trường, đặc biệt là theo chiều hướng xấu Do đó chiến lược quản trị rủi ro chưa tốt cộng với tốc độ tăng trưởng tín dụng cao và với tình hình kinh tế những năm gần gây biến động theo chiều hướng bất lợi đã làm cho khả năng kiểm soát rủi
ro tín dụng của các ngân hàng gặp nhiều khó khăn Việc cấp tín dụng của một số ngân hàng còn quá tập trung vào một số lĩnh vực rủi ro cao như kinh doanh bất động sản, kinh doanh chứng khoán Và một khi các thị trường này gặp rủi ro hay có những biến động thì
sẽ tác động trực tiếp đến hiệu quả tín dụng cũng như nợ xấu tại các ngân hàng
- Hoạt động thâu tóm, mua bán, sáp nhập, các công ty sân sau, “đầu tư chéo” và “sở hữu chéo” của các ngân hàng đã tạo ra những vòng luẩn quẩn của dòng tiền Đây cũng là những hoạt động tiềm ẩn nhiều nợ xấu nhưng rất khó chỉ ra để xử lý khi tính minh bạch và giải trình còn hạn chế
Có thể nói, nợ xấu là hệ quả của tác động tiêu cực của kinh tế trong nước và thế giới; cùng với nó, tình trạng rủi ro chéo trong nền kinh tế và hệ thống tài chính đã cộng hưởng làm nợ xấu gia tăng và trở nên phức tạp Nói cách khác, nợ xấu phát sinh do cả yếu tố bên ngoài (tác động của kinh tế vĩ mô) và yếu tố nội tại của hệ thống tài chính - ngân hàng và rủi ro chéo chính là một yếu tố chủ yếu mang tính nội tại của hệ thống tài chính
Tình trạng này sẽ dẫn đến hệ quả nợ xấu sẽ chạy lòng vòng giữa ngân hàng và các doanh nghiệp có quan hệ mật thiết Như vậy, nợ xấu sẽ ngày một phình to và càng khó xác
Trang 13định, lãi suất sẽ tiếp tục bị đẩy lên cao và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh càng khó tiếp cận được vốn vay của ngân hàng
- Sự giảm sút đạo đức và năng lực nghề nghiệp của một số cán bộ ngân hàng: Kinh doanh ngân hàng dựa trên sự tin cậy và mức độ tín nhiệm Do đó, đạo đức và năng lực nghề nghiệp không chỉ là cần thiết mà còn mang tính bắt buộc trong việc ra quyết định, quản lý
và kiểm soát hoạt động tín dụng nói riêng và các hoạt động kinh doanh khác nói chung Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân xuất phát từ các chủ thể trực tiếp thẩm định và quản lý khoản vay đã đẩy nợ xấu tăng cao xuất phát từ vi phạm đạo đức và năng lực yếu kém của các nhân viên Ngân hàng,cụ thể như sau:
Do người thẩm định và xét duyệt khoản vay chưa am hiểu về thị trường, thiếu thông tin hay phân tích thông tin không đầy đủ dẫn đến quyết định cho vay và đầu tư không đúng
Tình trạng các nhân viên ngân hàng cấu kết với khách hàng nhằm che giấu sự thật, gian
lận, cố ý làm trái quy định của Ngân hàng Nhà nước và NHTM Điều này đã được minh chứng bằng việc trong năm 2012, Toà án Kinh tế Việt Nam đã xét xử các vụ án vi phạm đạo đức của các cán bộ ngân hàng như Agribank, Vietinbank, BIDV,… Và gây thiệt hại cho nền kinh tế hàng tỷ đồng
Ngân hàng bố trí cán bộ thiếu đạo đức hoặc hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Sau khi cho vay thiếu giám sát và quản lý khoản vay, chất lượng công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ của ngân hàng không tốt, việc chia sẻ thông tin về khách hàng vay giữa các ngân hàng còn lỏng lẻo
2.2 Nguyên nhân xuất phát từ phía khách hàng vay:
- Khách hàng quản lý sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, sử dụng vốn vay không đúng mục đích, tiền vay về không có tác dụng thúc đẩy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, dẫn đến doanh nghiệp vay vốn làm ăn kém hiệu quả, nợ ngân hàng tăng
- Khách hàng thiếu ý thức trong vấn đề sử dụng vốn vay, hoặc thiếu ý thức trong vấn đề trả
nợ, không lo lắng, không quan tâm đến nợ ngân hàng, mặc dù khả năng tài chính của doanh nghiệp có Hay bản thân doanh nghiệp cũng cho vay, mà số vốn đó bị các doanh nghiệp khác chiếm dụng quá mức, dẫn tói khả năng không thể trả được nợ cho ngân hàng
- Tình hình tài chính của doanh nghiệp không tốt, thiếu minh bạch, sử dụng vay nợ quá lớn trong cấu trúc vốn dẫn đến khi lãi suất thị trường tăng cao, các doanh nghiệp không có khả năng trả được nợ vay Theo báo cáo tài chính quý III/2011, có 14 doanh nghiệp có tổng