Phân loại chất thải rắn sinh hoạt [8] Tùy thuộc vào nguồn gốc phát sinh và tính chất của chất thải rắn sinh hoạt mà có nhiều cách phân loại CTRSH khác nhau, sau đây là một số cách phân l
Trang 1MỞ ĐẦU
Ngày nay, cùng với sự phát triển khoa học kỹ thuật, đời sống người dân khôngngừng nâng cao thì vấn đề môi trường luôn là điểm nổi bật và cần phải quan tâm củatất cả các nước trên thế giới
Rác thải là một phần tất yếu của cuộc sống, không một hoạt động nào trong sinhhoạt hằng ngày không sinh ra rác Xã hội ngày càng phát triển thì số lượng rác thải rangày càng nhiều và dần trở thành mối đe dọa thực sự với đời sống con người
Ở Việt Nam, nền kinh tế đang trên đà phát triển đời sống của người dân càngđược nâng cao, lượng rác thải phát sinh càng nhiều Bên cạnh đó thì hệ thống quản lýthu gom chất thải rắn chưa thực sự có hiệu quả gây ra tình trạng ô nhiễm môi trườngnghiêm trọng ở nhiều nơi Hiện nay, chỉ ở các trung tâm lớn như ở thành phố, thị xãmới có công ty môi trường đô thị có chức năng thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt, còntại các vùng nông thôn hầu như chưa có biện pháp thu gom và xử lý rác thải hữu hiệu
Thị trấn Kiến Giang là một trong những vùng phát triển nhất của huyện LệThuỷ Trong những năm qua nền kinh tế ở đây phát triển sôi động nhiều nhà máy xínghiệp, cơ sở hạ tầng mọc lên, kinh tế phát triển kéo theo hàng loạt vấn đề về môitrường, lượng chất thải phát sinh ngày càng nhiều
Trong khi đó biện pháp quản lý chất thải tại địa phương chưa được quan tâmđúng mức, nguồn kinh phí đầu tư cho công tác thu gom và xử lý rác thải chưa cao, cán
bộ môi trường giám sát thu gom và quản lý rác thải sinh hoạt chưa làm việc đúng nănglực Vì vậy tìm kiếm giải pháp để quản lý chất thải rắn tại địa phương đạt hiệu quảđang được các cơ quan chức năng quan tâm
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn đó chúng tôi tiến hành chọn đề tài:
“ Đánh giá tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn Kiến Giang - Lệ Thuỷ - Quảng Bình và đề xuất biện pháp quản lý ”, nhằm tìm ra
hướng xử lý tốt cho vấn đề rác sinh hoạt trên địa bàn huyện
CHƯƠNG 1
Trang 2TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ XÃ HỘI
HUYỆN LỆ THỦY - QUẢNG BÌNH
1.1.1 Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
1.1.1.1 Đặc điểm tự nhiên [1,9]
Lệ Thủy là một huyện nằm ở phía nam tỉnh Quảng Bình, có vị trí địa lý như sau:
phía nam giáp huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị, phía bắc giáp huyện Quảng Ninh phíatây giáp tỉnh Khammouan của Lào, phía đông giáp Biển Đông Vị trí địa lý và cấu trúcđịa hình được thể hiện ở hình 1.1:
Hình 1.1 Vị trí địa lý huyện Lệ Thủy
nhiên là đồi núi Toàn bộ diện tích được chia thành vùng sinh thái cơ bản: vùng núicao, vùng đồi và trung du, vùng đồng bằng, vùng cát ven biển
Trang 3Lệ Thủy mang đặc trưng của khí hậu vùng Bắc trung bộ được thẻ hiện như sau:
Do huyện Lệ Thủy nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa và luôn bị tác động bởi khí hậu củaphía Bắc và phía Nam và được chia làm hai mùa rõ rệt:
Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm2.000 - 2.300mm/năm Thời gian mưa tập trung vào các tháng 9, 10 và 11
Mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8 với nhiệt độ trung bình 24oC - 25oC Ba tháng
có nhiệt độ cao nhất là tháng 6, 7 và 8
1.1.1.2 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên [1,9]
Tài nguyên nước: Có các công trình đại thủy nông, trung nông và một loạt hồchứa nhỏ khác với dung tích hàng trăm triệu m3 nước, phục vụ đắc lực cho sản xuấtnông nghiệp
Tài nguyên rừng : Lệ Thủy có 94.231 ha rừng chiếm 66,63% diện tích tự nhiên
rừng có nhiều gỗ quý và hàng ngàn ha thông nhựa cung cấp nguyên liệu quý cho côngnghiệp chế biến
Tài nguyên khoáng sản: huyện Lệ Thủy có đá vôi để phát triển công nghiệp vàvật liệu xây dựng, có suối nước nóng Bang khai thác chế biến làm nước giải khát , cótrữ lượng lớn cát trắng dùng để sản xuất thủy tinh cao cấp Ngoài còn có vàng, chìkẽm,
Tài nguyên biển : Lệ Thủy có đường bờ biển dài 30km với Ngư trường rộng, cónguồn lợi hải sản phong phú Ven biển có bãi cát sạch đẹp có thể xây dựng các khunghỉ mát, bãi tắm,
Nhìn chung Lệ Thủy có điều kiện tự nhiên, tài nguyên tương đối thuận lợi choviệc phát triển một nền kinh tế tổng hợp đa dạng, bền vững gồm có: công nghiệp - tiểuthủ công nghiệp, thương mại dịch vụ và sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên vẫn còn một
số khó khăn như: khí hậu khắc nghiệt bởi thường xuyên có bão, lụt vào mùa mưa vànắng hạn, gió Tây nam vào mùa khô
1.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội huyện Lệ Thủy
1.1.2.1 Dân số [10]
Trang 4Hiện nay huyện Lệ Thủy có 28 xã với tổng dân số thống kê được năm 2008 là149.626 người, lao động năm 2008 là 78.785 người chiếm 52,80% dân số toàn huyện.
Kết quả điều tra dân số ở một số xã huyện Lệ Thủy được thể hiện ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Dân số một số xã ở huyện Lệ Thủy
1.1.2.2 Hiện trạng phát triển kinh tế [9]
- Về tăng trưởng kinh tế:
Giá trị sản xuất của huyện Lệ Thủy – Quảng Bình tăng bình quân hàng năm8,35%, trong đó giá trị ngành nông nghiệp tăng 6,1%, ngàng công nghiệp xây dựngtăng 17%, thương mại và dịch vụ tăng 16,8% Cơ cấu kinh tế đã có sự dịch chuyển
Trang 5đúng hướng Ngành nông nghiệp giảm từ 54,95% năm 200 xuống còn 45,30% năm
2005, ngành công nghiệp xây dựng và dịch vụ tăng từ 45,05% năm 2000 lên 54,7%năm 2005
Thủy lợi: hiện nay có 3 công trình thủy nông là An Mã, Cẩm Ly, Thanh Sơn, 95trạm bơm điện và 34 hồ đập nhỏ đảm bảo tưới tiêu cho 4500 - 5000 ha mỗi vụ chiếm82%diện tích toàn lúa huyện
1.1.2.3 Giáo dục và đào tạo [9]
Hiện tại có 29 trường mẫu giáo, 34 trường tiểu học, 24 trường trung học cơ sở ,
6 trường trung học phổ thông Toàn huyện có 100% xã được công nhận xóa mù chữ vàphổ cập giáo dục tiểu học, 32% cơ sở được công nhận phổ cập trung học cơ sở, 615trường tiểu học đạt tiêu chuẩn quốc gia
Trang 61.1.2.4 Y tế [12]
Với một bệnh viện gồm 140 giường bệnh, 28 trạm y tế với 118 giường bệnh Sốlượng cán bộ y tế trên địa bàn là 247 cán bộ, gần 99% số trẻ em trong độ tuổi đượctiêm văcxin phòng bệnh Đã tổ chức khám chữa bệnh cho nững người nghèo, tàn tật, côđơn và các đối tượng chính sách
Đất nông nghiệp có 111254,97 ha chiếm 78,67% diện tích tự nhiên
Đất phi nông nghiệp có 9.318,94 ha chiếm 6,59% diện tích tự nhiên bao gồm:đất ở, đất chuyên dùng, đất tính ngưỡng, đất nghĩa trang nghĩa địa.
Đất chưa sử dụng có 20839,51 ha chiếm 14,74% diện tích tự nhiên
1.2 TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
1.2.1 Định nghĩa về chất thải rắn sinh hoạt:
Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải rắn liên quan đến các hoạt động sinhhoạt của con người, nguồn gốc tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan,trường học, trung tâm dịch vụ, thương mại Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần baogồm thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, vỏ, rau quả, kim loại, sành sứ, thủytinh, gạch ngói vỡ, đất đá, cao su, chất dẻo, xương động vật, lông gà, [13]
1.2.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt [8]
Theo Nguyễn Văn Phước:
Rác thải được phát sinh từ các nguồn khác nhau, tùy thuộc vào các hoạt động
mà rác được phân chia thành các loại như sơ đồ 1.2
Trang 7Sơ đồ 1.1 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
Qua sơ đồ 1.2 ta thấy chất thải rắn sinh hoạt được thải ra từ nhiều hoạt độngkhác nhau như: các khu dân cư, khu thương mại, cơ quan công sở, các hoạt động côngnông nghiệp, tuy nhiên hàm lượng và thành phần rác thải ở các khu vực là khác nhau,trong số đó rác thải sinh hoạt chiếm đa số
1.2.3 Phân loại chất thải rắn sinh hoạt [8]
Tùy thuộc vào nguồn gốc phát sinh và tính chất của chất thải rắn sinh hoạt mà
có nhiều cách phân loại CTRSH khác nhau, sau đây là một số cách phân loại cơ bản:
Dựa vào hàm lượng hữu cơ, vô cơ ta có thể chia như sau:
Rác hữu cơ: là những loại rác thải trong sinh hoạt, ăn uống hàng ngày
Rác vô cơ: là những loại rác có khả năng tái sử dụng như giấy tờ, sách báo, hộpnhựa, ni lon,
Loại thủy tinh: chai, lọ,
Dựa vào đặc điểm, rác thải được chia thành rác thải thực phẩm, rác thải bỏ đi,rác thải nguy hại
Rác thải thực phẩm: bao gồm các thực phẩm thừa thãi không ăn được sinh ratrong khâu chuẩn bị, dự trữ, nấu ăn,…
Rác thải bỏ đi: bao gồm các rác thải không sử dụng được hoặc không có khảnăng tái chế sinh ra từ các hộ gia đình, công sở hoạt động thương mại,…
Rác thải nguy hại, rác thải hoá chất, sinh học, dễ cháy, dễ nổ hoạc mang tínhphóng xạ theo thời gian có ảnh hưởng đến đời sống con người, động vật, thực vật
1.2.4 Thành phần và tính chất của chất thải rắn sinh hoạt
Khu
dân cư
Khu thương mại, khách sạn
Khu công cộng (nhà ga, )
Cơ quan công sở
Khu xây dựng
và phá hủy công trình xây dựng
Hoạt động công nghiệp, nông nghiệp
CTRSH
Trang 8Theo đánh giá của những nhà nghiên cứu và khoa học thì chất thải rắn sinh hoạtchủ yếu chứa các chất hữu cơ khá cao tiếp đó là các chất vô cơ [4].
Thành phần cụ thể được thể hiện như bảng 1.2
Bảng 1.2 Thành phần vật lý của chất thải rắn sinh hoạt
(Nguồn: Bộ KHCN-MT Hà Nội 12-2000)
Qua bảng 1.2 ta thấy trong thành phần chất thải rắn sinh hoạt thì các chất hữu cơchiếm tỷ lệ cao các thành phần kim loại, da, cao su chiếm tỷ lệ thấp vì vậy trong quátrình quản lý và xử lý chất thải sinh hoạt ta cần chú ý và tập trung vào lượng chất thảirắn hữu cơ này nhằm đạt hiệu quả cao trong quá trình xử lý
Thành phần
Phần trăm trọng lượng Giới hạn dao
Trang 9Theo thống kê của Bộ khoa học và Công nghệ và Môi trường thì tổng lượngchất thải rắn sinh hoạt phát sinh hàng năm là rất lớn với thành phần phong phú và phứctạp, tiêu biểu ở 3 thành phố lớn sau [2]:
Bảng 1.3 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt ở ba thành phố lớn nước ta
Trang 101.2.5 Một số ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường và con người
1.2.5.1 Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường
Hiện nay do khối lượng rác thải phát sinh với một lượng quá lớn, ở các địaphương công tác thu gom xử lý và tiêu hủy đã và đang vượt quá năng lực Điều này lànguyên nhân chủ yếu tác động xấu đến môi trường đất, nước, không khí và sức khỏecộng đồng [6]
Ảnh hưởng trực tiếp của rác thải trước hết là môi trường và sức khỏe cộng đồng.Các bãi tập trung rác không những là những nơi gây ô nhiễm mà còn là các ổ dịchbệnh, nơi ruồi muỗi và các vi sinh vật gây bệnh sinh sôi phát triển ảnh hưởng lớn tớisức khỏe của người dân, là mối nguy hại cho sự tồn tại, phát triển và bền vững củacộng đồng dân cư trong vùng
Trong thành phần rác thải chứa nhiều chất độc, do đó khi rác thải được đưa vàomôi trường thì các chất độc xâm nhập vào trong đất sẽ tiêu diệt nhiều loài sinh vật cóích cho đất như: Giun, vi sinh vật, nhiều loài động vật không xương sống, ếch, nháilàm cho môi trường đất bị giảm đa dạng sinh học và phát sinh nhiều sâu bọ phá hoạicây trồng
Đối với môi trường không khí: mùi hôi từ các điểm trung chuyển rác thải trong
khu vực dân cư đã gây ô nhiễm môi trường không khí và gây mùi khó chịu Hiện naymôi trựờng không khí ở nông thôn đang bị ảnh hưởng do rác thải sinh hoạt Chất thảisinh hoạt phát sinh ở nông thôn chứa lượng chất hữu cơ cao, khi phân huỷ đã phát tánvào không khí nhiều hợp chất nguy hại như: H2S, NH3, CH4, CO2,… các khí này lànguyên nhân làm cho trái đất nóng lên
Đối với môi trường đất: Trong chất thải rắn sịnh hoạt chứa một lượng lớn các
chất hữu cơ, khi phân huỷ hoà tan vào nước sẽ ngấm sâu vào đất làm cho đất bị đổimàu, xói mòn, biến chất và suy giảm chất lượng đất Ngoài ra rác thải còn làm hạn chếquá trình phân hủy, tổng hợp chất dinh dưỡng, làm đất giảm độ phì nhiêu, bị chua,năng suất cây trồng giảm Làm giảm tính đa dạng sinh học phát sinh nhiều sâu bọ pháhoại cây trồng Các loại rác thải khó bị phân hủy hay hoàn toàn không bị phân hủy
Trang 11sinh học tồn tại lâu dần dẫn đến chúng sẽ trộn lẫn vào trong đất làm cho lượng chất hữu
cơ trong đất giảm đi và mật số vi sinh vật cũng sẽ giảm, đất sẽ bạc màu và không canhtác được Ngoài ra, rác thải sinh hoạt tồn tại tràn lan, không được thu gom thì nó cũng
sẽ ảnh hưởng đến lối sống văn hóa, vẻ mỹ quan của vùng nông thôn Nếu như rác thải
ở nông thôn không được quan tâm đúng mức thì ít nhiều cũng sẽ ảnh hưởng đến ý thứccũng như sức khỏe nói riêng trong thế hệ tương lai
Đối với môi trường nước: rác thải và các chất ô nhiễm đã biễn đổi màu của mặt
nước thành màu đen, từ không mùi đến có mùi khó chịu Nồng độ của chất bẩn hữu cơ
đã làm cho thủy sinh vật trong nguồn nước mặt bị xáo trộn làm giảm diện tích ao hồ,làm giảm khả năng tự làm sạch của nước, cản trở dòng chảy, hệ sinh thái trong ao hồ bịhủy diệt Dẫn đến môi trường nước bị ô nhiễm
1.2.5.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến sức khoẻ con người
Hiện nay với tình trạng ô nhiễm ngày càng tăng do chất thải rắn phát sinh ởnông thôn, nó đã gián tiếp góp phần làm phát sinh nhiều bệnh tật, ảnh hưởng đến sứckhoẻ của người dân sống trong khu vực [7]
Trong thành phần rác thải có rất nhiều chất độc, khi không được thu gom rácthải tồn đọng trong không khí lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ con người xungquanh Những người thường xuyên tiếp xúc với rác thải, những người làm công việcthu nhặt các phế liệu từ rác thải dễ mắc bệnh viêm phổi, sốt rét, các bệnh về mắt, tai,mũi, họng,
Theo tổ chức y tế thế giới, trên thế giới có 5 triệu người chết và có gần 40 triệutrẻ em mắc các bệnh có liên quan tới rác thải, 26 bệnh truyền nhiễm trong cộng đồngđều liên quan tới ô nhiễm môi trường Nổi bật trong số các bệnh tật do ô nhiễm môitrường là nhóm bệnh truyền nhiễm bao gồm nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính, viêmphổi, viêm họng, cúm, tiêu chảy, hội chứng lỵ, bại não, sốt xuất huyết, viêm gan do vi
rút, Ngoài ra còn có tới 80% dân số Việt Nam bị mắc bệnh giun sán [16].
Các bệnh viêm nhiễm liên quan tới đường hô hấp khoảng 36,1%, các triệuchứng về mắt là 28,5% rối loạn chức năng thông khí phổi là 22,8% Đặc biệt là cácbệnh liên quan tới ô nhiễm môi trường ảnh hưởng lên trẻ em là nhiều nhất [16]
Trang 12Bên cạnh đó việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng cách, trong quátrình canh tác sẽ để lại ảnh hưởng nghiêm trọng Do người dân tiếp xúc với thuốc bảo
vệ thực vật thường xuyên nên dễ bị các bệnh ngoài da như nổi mẫn đỏ, ung thư da haynhiều bệnh về da khác và khả năng bị ngộ độc là rất cao, đặc biệt ở các nước đang pháttriển nơi mà hầu hết người dân không có kiến thức về phòng bị, bảo vệ sức khỏe cho
cơ thể [2]
Mặt khác, việc xử lý chất thải rắn luôn phát sinh những nguồn gây ô nhiễm, nếukhông có biện pháp xử lý triệt để dẫn đến môi trường sống phát sinh nhiều bệnh tậtdịch bệnh
1.2.6 Tình hình phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
1.2.6.1 Tình hình phát sinh chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới
Trong vài thập kỷ vừa qua, do sự phát triển kinh tế và bùng nổ dân số diễn ramạnh mẽ, tình trạng lượng rác thải phát sinh ngày càng gia tăng gây ô nhiễm môitrường sống đã trở thành vấn đề lớn của hầu hết các nước trên thế giới Nếu tính bìnhquân mỗi ngày một người thải ra 0.5kg rác thải ra thì mỗi ngày trên thế giới sẽ thải ra 3triệu tấn rác thải [2,13]
Theo con số thông kê chưa đầy đủ, mỗi năm thế giới thải ra 10 tỷ tấn rác, trong
đó 4 tỷ tấn rác được thải ra từ các nước trong tổ chức hợp tác và phát triển kinh tếOECD trong những năm 1990 Nhưng đứng đầu vẫn là Mỹ với 2 tỷ tấn [19]
Tại Anh hằng năm thải ra 27 triệu tấn rác hỗn tạp không qua tái chế Chia đều chocác gia đình trung bình mỗi hộ thải nửa tấn rác hàng năm và con số này đã đưa nướcAnh trở thành thùng rác của châu lục
Ở Nga, lượng rác thải phát sinh theo bình quân đầu người là 300 kg/người, nhưvậy mỗi năm ở Nga có khoảng 50 triệu tấn rác Ở Pháp, lượng rác thải bình quân 1 tấn/người/năm và mỗi năm nước Pháp có khoảng 35 triệu tấn rác thải [4]
Ở Trung Quốc, lượng rác thải đô thị phát sinh hằng năm rất cao Trong năm
2004, riêng khu vực đô thị đã tạo ra 190 triệu tấn rác Theo tính toán đến năm 2030 con
số này sẽ là 480 triệu tấn rác [15].
Trang 13Tại Nhật Bản, theo số liệu của Cục Y tế và Môi sinh Nhật Bản, hàng năm nướcnày có khoảng 450 triệu tấn rác thải, trong đó chất thải rắn sinh hoạt chiếm 87 triệu tấnTrong tổng số rác thải trên, chỉ có khoảng 5% rác thải phải đưa tới bãi chôn lấp, trên36% được đưa đến các nhà máy để tái chế Số còn lại được xử lý bằng cách đốt, hoặcchôn tại các nhà máy xử lý rác Như vậy, lượng rác thải ở Nhật Bản rất lớn, nếu không
tái xử lý kịp thời thì môi trường sống bị ảnh hưởng nghiêm trọng [21].
Tại Singapo quá trình xử lý rác thải đã trở thành vấn đề sống còn ở Singapo Đểđảm bảo đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hoá nhanh, năm 1970,Singapo đã thành lập đơn vị chống ô nhiễm gọi tắt là APU, có nhiệm vụ kiểm soát ônhiễm không khí và thanh tra, kiểm soát các ngành công nghiệp mới Hiện nay, mỗingày Singapore thải ra khoảng 16.000 tấn rác Rác ở Singapore được phân loại tạinguồn nhờ vậy 56% số rác thải ra mỗi ngày (khoảng 9.000 tấn) quay lại các nhà máy
để tái chế Khoảng 41% (7.000 tấn) được đưa vào bốn nhà máy thiêu rác để đốt thànhtro Toàn bộ rác thải ở Singapo được xử lý tại 4 nhà máy đốt rác Sản phẩm thu đượcsau khi đốt được đưa về bãi chứa trên hòn đảo nhỏ Pulau Semakau, cách trung tâmthành phố 8 km về phía Nam Chính quyền Singapo khi đó đã đầu tư 447 triệu USD để
có được một mặt bằng rộng 350 ha chứa chất thải Mỗi ngày, bãi rác Semakau tiếpnhận 2.000 tấn tro rác [20]
1.2.6.2 Tình hình phát sinh chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam
Rác thải là sản phẩm tất yếu của cuộc sống được thải ra từ các hoạt động sảnxuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác như khám chữa bệnh, vuichơi giải trí của con người Cùng với mức sống của nhân dân ngày càng được nâng cao
và công cuộc công nghiệp hoá ngày càng phát triển sâu rộng, rác thải cũng được tạo rangày càng nhiều với những thành phần ngày càng phức tạp và đa dạng Tác động tiêucực của rác thải nói chung và rác thải có chứa các thành phần nguy hại nói riêng là rất
rõ ràng nếu như những loại rác thải này không được quản lý và xử lý theo đúng kỹthuật môi trường Xử lý rác thải đã và đang trở thành một vấn đề nóng bỏng ở các quốcgia trên thế giới, trong đó có Việt Nam [18]
Việt Nam là một nước nông nghiệp, dân số sống ở khu vực nông thôn chiếmmột tỷ lệ rất lớn (khoảng 80%) do vậy lượng rác thải nông thôn thải ra ngày càng
Trang 14nhiều Bên cạnh đó, sự đa dạng về sản phẩm hàng hóa để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ vàphát triển của xã hội đã làm cho rác thải trở nên đa dạng, nhiều về chủng loại và khóphân hủy, dần dần tích lũy trong môi trường và trở thành nguy cơ gây ô nhiễm Mặtkhác do chưa hiểu biết hoặc người dân có ý thức chưa cao đối với tác hại của rác thảiđến môi trường, cũng như thiếu sự đầu tư các phương tiện thu gom và xử lý rác củachính quyền địa phương đã làm cho rác thải sinh hoạt ngày càng nhiều và gây nên ônhiễm Một khi không được xử lý chúng sẽ gây ra nhiều tác hại đến môi trường nhưlàm ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí, ảnh hưởng đến sức khỏe của dân cưtrong vùng và phát sinh dịch bệnh cũng như để lại hậu quả xấu cho thế hệ tương lai[15].
Theo số lượng thống kê năm 2002 cho thấy lượng chất thải rắn sinh hoạt phátsinh bình quân khoảng từ 0,6 đến 0,8 kg/người/ngày ở các đô thi lớn và dao động từ0,4 đến 0,5 kg/người/ngày ở các đô thị nhỏ và vùng nông thôn Đến năm 2004, tỷ lệ đótăng tới 0,9 đến 1,2 kg/người/ngày ở các thành phố lớn và 0,5 đến 0,65 kg/người/ngàytại các đô thị nhỏ [2]
Theo báo cáo “Diễn biến môi trường Việt Nam 2004 - Chất thải rắn” thì hầu hếtcác loại chất thải rắn phát sinh tập trung chủ yếu ở các đô thị
Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2008, ước tính mỗi năm Việt Nam phátsinh khoảng 17 triệu tấn rác thải trong đó có 12,8 triệu tấn rác thải sinh hoạt chiếm76,5% tổng lượng rác thải [2]
Theo số liệu của Bộ Xây dựng, hiện tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thịphát sinh trên toàn quốc ước tính khoảng 21.500 tấn/ngày, đến năm 2015, khối lượngchất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ các đô thị ước tính khoảng 37000 tấn/ngày và năm
2020 là 59000 tấn/ngày cao gấp 2 - 3 lần hiện nay [17]
Theo báo cáo về diễn biến CTR của Bộ tài nguyên và Môi trường thì khối lượngCTR phát sinh tại các khu vực được thể hiện ở bảng 1.4
Bảng 1.4 Tình hình phát sinh ch t th i r n ất thải rắn ải rắn ắn.
Các loại chất thải rắn Toàn quốc Đô thị Nông thôn Tổng lượng phát sinh chất thải sinh hoạt 12.800.000 6.400.000 6.400.000
Trang 15(tấn/năm) Chất thải nguy hại từ công nghiệp
Chất thải Y tế lây nhiễm (tấn/năm) 21.000 -
Tỷ lệ phát sinh chất thải đô thị trung bình
theo đầu người ( kg/người/ngày)
Tại các đô thị lớn thì theo Chi cục Bảo vệ môi trường Hà Nội, tổng lượng rácthải sinh hoạt đô thị của thành phố vào khoảng 2.800 tấn/ngày, ngoài ra chất thải côngnghiệp, chất thải xây dựng, chất thải y tế cũng là “vấn đề rất lớn” với tổng khối lượngkhoảng 2.000 tấn khác/ngày Chất thải rắn sinh hoạt chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cácloại: khoảng 60% chất thải xây dựng chiếm khoảng 1/4 và lượng chất thải phân bùn bểphốt là 5% [6]
Ở tỉnh Bắc Ninh mỗi ngày có khoảng 533 tấn rác thải sinh hoạt và khoảng 2 tấnrác thải y tế Trong đó, khu vực nông thôn chiếm khoảng gần 250 tấn/ngày Dự báo đếnnăm 2020 con số này sẽ tăng lên là 704 tấn/ngày và 4 tấn/ngày Trong khi đó, tỷ lệ thugom rác thải sinh hoạt còn thấp, chỉ đạt khoảng 51%, tình trạng để lẫn rác thải nguy hạivới rác thải thông thường ở một số cơ sở y tế vẫn diễn ra phổ biến, đang là mối đe doạđến sức khoẻ của người dân [3]
Theo số liệu điều tra thì lượng chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị ở nước tađang có xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10%
Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả vềquy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thànhphố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%), Cao Lãnh (12,5%), Các
đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh CTRSH tăng đồng đều hàng năm và với
tỷ lệ tăng ít hơn (5,0%) [6]
Trang 16Kết quả điều tra tổng thể năm 2006 - 2007 cho thấy, lượng CTRSH đô thị phátsinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Tuy chỉ có 2
đô thị nhưng tổng lượng CTRSH phát sinh tới 8.000 tấn/ngày (2.920.000 tấn/năm)chiếm 45,24% tổng lượng CTRSH phát sinh từ tất cả các đô thị
Dưới đây là kết quả điều tra Lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ở các đô thịViệt Nam đầu năm 2007 [3]
Bảng 1.5 Lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ở các đô thị Việt Nam đầu năm 2007
STT
Loại đô thị
Lượng CTRSH bình quân trên đầu người (kg/người/ngày)
Như vậy qua bảng 1.5 ta nhận thấy rằng lượng CTRSH phát sinh nhiều nhất là ởcác loại đô thị đặc biệt và đô thị loại 1 từ 0.84 – 0.96 kg/người/ngày Do ở đây quátrình đô thị hóa diễn ra mạnh, dân cư tập trung đông, nhu cầu sinh hoạt hằng ngày tăngcao đồng nghĩa với việc CTR phát sinh nhiều Ngược lại, lượng CTRSH ở đô thị loại 4
là thấp nhất với 0.65 kg/người/ngày
1.2.7 Quy trình quản lý chất thải rắn sinh hoạt [8]
Ngày nay do lượng CTRSH ngày càng gia tăng gây ảnh hưởng đến môi trường
và sức khỏe làm mất mỹ quan đô thị vì vậy vấn đề quản lý và xử lý CTR dang đượcquan tâm và giải quyết Quá trình quản lý CTR nhìn chung bao gồm các bước cơ bảnnhư sau: CTR phát sinh quá trình thu gom quá trình lưu trữ
Trang 17Quá trình vận chuyển xử lý.
Sau đây là quá trình quản CTRSH cơ bản như sau:
1.2.7.1 Quá trình thu gom
Thu gom chất thải rắn là quá trình thu nhặt rác từ các hộ dân, công sở hay từnhững điểm thu gom chất chúng lên xe trung chuyển đến điểm trung chuyển trạm xử lýhay những điểm chôn lấp chất thải rắn
Thu gom chất thải rắn được chia làm hai loại: Hệ thống thu gom chất thải chưaphân loại tại nguồn và hệ thống thu gom chất thải đã phân loại tại nguồn
a Hệ thống thu gom chất thải chưa phân loại tại nguồn: các cách thu gom CTR dạng
này được xem xét cụ thể đối với từng nguồn phát sinh: khu dân cư biệt lập thấp tầng,khu dân cư thấp tầng và trung bình, khu dân cư cao tầng, khu thương mại và côngnghiệp
Phương pháp áp dụng cho các khu dân cư biệt lập thấp tầng: phương pháp này
bao gồm các dịch vụ thu gom lề đường, lối đi ngõ hẻm, mang đi trả về, mang đi
Phương pháp áp dụng cho các khu dân cư thấp tầng và trung bình: dịch vụ thu
gom lề đường là phương pháp phổ biến cho các khu dân cư thấp tầng và trung bình.Với dịch vụ này, đội thu gom có trách nhiệm vận chuyển các thùng chứa đầy CTR từcác hộ gia đình đến các tuyến đường thu gom bằng các phương pháp thủ công hoặc cơgiới, tùy thuộc vào số lượng CTR được vận chuyển
Phương pháp áp dụng cho các khu dân cư cao thấp tầng: đối với các khu chung
cư cao tầng các loại thùng chứa lớn được sử dụng để thu gom CTR Tùy thuộc vào kíchthước và kiểu dáng của các thùng chứa được sử dụng và áp dụng xe cơ giới để dỡ tải
Phương pháp áp dụng cho các khu thương mại công nghiệp: cả hai phương
pháp thủ công và cơ khí đều được sử dụng để thu gom CTR từ khu thương mại Đểtránh tình trạng kẹt xe, việc thu gom CTR của các khu thương mại tại nhiều thành phốlớn được thực hiện vào ban đêm hoặc sáng sớm Khi áp dụng phương pháp thu gomthủ công thì CTR được đặt vào các túi nilon bằng nhựa hoặc các loại thùng giấy vàđược đặt dọc theo đường phố để thu gom Phương pháp này thông thường được thựchiện bởi một nhóm có 3 người, trong một vài trường hợp có thêt có tới 4 người, gồm
Trang 18một tài xế và từ 2 dến 3 người đem CTR từ các thùng chứa trên lề đường đổ vào xe thugom.
b Hệ thống thu gom chất thải đã phân loại tại nguồn:
Các thành phần CTR đã phân loại tại nguồn cần phải được thu gom và đem táichế Phương pháp cơ bản đang được sử dụng là thu gom dọc theo lề đường sử dụngnhững phương tiện thu gom thông thường hoặc thiết kế các thiết bị đặc biệt chuyêndụng
Tại các khu dân cư: CTR được phân loại theo nhiều cách: phân loại tại lề đường
khi đổ chúng vào xe chở thông thường hoặc xe chuyên dụng, phân loại bởi chủ nhà đểmang đến điểm thu mua Hình thức phân loại tại lề đường giúp chủ nhà không phảimang đi xa nên được nhiều người ủng hộ
Tại các khu thương mại: CTR thường được phân loại bởi những tổ chức tư nhân
(các tổ chức này ký hợp đồng phân loại CTR với cơ sở thương mại) Thành phần CTR
có thể tái chế được cho vào từng thùng chứa riêng Các loại thùng carton được bó lại đểngay lề đường để tthu gom riêng Các lon nhôm thải ra từ các khu trung tâm thương
mại được đập dẹp để giảm kích thước khi thu gom
1.2.7.2 Trạm trung chuyển
Tuỳ thuộc vào các yếu tố kinh tế và kỹ thuật thuộc hệ thống quản lý chất thảirắn mà người ta sẽ áp dụng việc trung chuyển hay không Trạm trung chuyển là cơ sởđặt gần khu vực thu gom để xe thu gom đổ tập trung CTR chuyển từ các điểm thu gomtrong thành phố, thị xã, sau đó được chất lên các xe tải hoặc xe chuyên dụng lớn hơn
để chở đến bãi chôn lấp CTR đô thị Nhìn chung trung chuyển rác có thể áp dụng chohầu hết các hệ thống thu gom Khi xây dựng trạm trung chuyển với mục đích:
- Hạn chế tối đa sự xuất hiện các bãi rác hở không hợp pháp do khoảng cách vậnchuyển khá xa
- Vị trí các bãi đổ cách khá xa tuyến thu gom
- Việc sử dụng các loại xe thu gom vừa và nhỏ không thích hợp cho việc vậnchuyển rác đi xa
- Có nhiều tổ chức thu gom rác nhỏ từ các khu dân cư
Trang 191.2.7.3 Phương tiện và phương pháp vận chuyển:
Để đảm bảo việc vận chuyển CTR sau khi đã được thu gom thì cần phải sử dụngcác phương pháp vận chuyển Hiện nay quá trình quản lý CTR tại Việt Nam có một sốphương tiện vận chuyển như sau:
Phương tiện vận chuyển sơ cấp: xe ba gác, xe đẩy,
Phương tiện vận chuyển thứ cấp: Xe đầu kéo, xe containner,
1.2.8 Các phương pháp xử lý chất thải rắn sinh hoạt [8]
Việc xử lý CTRSH là một hoạt động không thể thiếu và chiếm vai trò quantrọng nhất trong hoạt động quản lý tổng hợp CTRSH sau hàng loạt các hoạt động giảmthiểu tại nguồn, thu gom, trung chuyển và vận chuyển chất thải Vì vậy việc lựa chọnphương án xử lý chất thải phù hợp là một yếu tố quyết định sự thành công của công tácquản lý chất thải Phương pháp lựa chọn phải đảm bảo 3 mục tiêu:
Nâng cao hiệu quả của việc quản lý CTR, đảm bảo an toàn vệ sinh môi trườngThu hồi vật liệu để tái sử dụng, tái chế
Thu hồi năng lượng từ rác cũng như sản phẩm chuyển đổi
Sau đây là một số phương pháp cơ bản:
1.2.8.1 Phương pháp cơ học.
a Giảm kích thước
Phương pháp giảm kích thước được sử dụng để giảm kích thước chất thải để cóthể sử dụng trực tiếp làm lớp che phủ trên mặt đất hay làm phân compost hoặc mộtphần được sử dụng cho các hoạt động tái sinh
Các thiết bị thường sử dụng là:
+ Búa đập, rất có hiệu quả đối với các thành phần có đặc tính giòn dễ gãy
+ Kéo cắt bằng thủy lực, dùng để làm kích thước các vật liệu mềm
+ Máy nghiền
b Phân loại theo kích thước
Phân loại kích thước hay sàng lọc là một quá trình phân loại một hỗn hợp cácvật liệu CTR có kích thước khác nhau thành hai hay nhiều loại vật liệu có cùng kích
Trang 20thước, bằng cách sử dụng các loại sàng có kích thước lỗ khác nhau Quá trình phân loạiđược thực hiện khi vật liệu còn ướt hoặc khô.
c Phân loại theo khối lượng riêng
Phân loại theo khối lượng riêng là một kỹ thuật được sử dụng rất rộng rãi, dùng
để phân loại các vật liệu có trong CTR dựa vào khí động lực và sự khác nhau về khốilượng riêng của chúng Phương pháp này được sử dụng để phân loại tách rời các loạivật liệu sau quá trình tách nghiền thành hai phần riêng biệt: dạng có khối lượng riêngnhẹ như giấy, nhựa, các chất hữu cơ và dạng có khối lượng riêng nặng như là kim loại,
gỗ và các phế liệu vô cơ có khối lượng riêng tương đối lớn
d Nén chất thải rắn sinh hoạt
Nén là kỹ thuật làm tăng mật độ dẫn đến tăng khối lượng riêng của chát thải đểcông tác lưu trữ và vận chuyển chất thải đạt hiệu quả cao hơn Một vài kỹ thuật được
sử dụng để nén chất thải rắn và thu hồi vật liệu là sau khi nén chất thải có dạng hìnhkhối, lập phương, hình tròn Nén làm giảm thể tích khi vận chuyển, tái sử dụng
b Quá trình nhiệt phân
Nhiệt phân chất thải rắn là quá trình phân hủy hay biến đổi hóa học CTR bằngcách nung trong điều kiện không có oxy và tạo ra sản phẩm cuối cùng là các chất ởdạng rắn, lỏng và khí
c Quá trình khí hóa.
Quá trình khí hóa đốt CTR trong điều kiện thiếu oxy
1.2.8.3 Xử lý chất thải rắn sinh hoạt bằng phương pháp chuyển hóa sinh học
Trang 21a Quá trình ủ phân hiếu khí
Là quá trình biến đổi sinh học được sử dụng rất rộng rãi mục đích là biến đổicác chất thải rắn hữu cơ thành chất thải rắn vô cơ dưới tác dụng của vi sinh vật Sảnphẩm tạo thành ở dạng mùn gọi là phân compost
b Quá trình phân hủy chất thải lên men kỵ khí
Là quá trình biến đổi sinh học dưới tác dụng của vi sinh vật trong điều kiện kỵkhí Áp dụng với chất thải rắn có hàm lượng rắn từ 4 - 8% bao gồm: CTR của conngười, động vật các sản phẩm dư thừa từ nông nghiệp và các chất hữu cơ trong thànhphần của chất thải rắn sinh hoạt
1.2.8.4 Phương pháp xử lý chất thải rắn nguy hại
Phương pháp hóa học hay vật lý là phương pháp làm thay đổi tính chất hóa họchay vật lý của chất nguy hại để biến nó thành không hoặc ít nguy hại
Xử lý hóa học hay vật lý gồm các phương pháp sau
Phương pháp lọc: Là phương pháp tách hạt rắn từ dòng lưu chất khi đi qua
tường xốp, các hạt rắn được giữ lại trên vật liệu lọc nhờ vào cân bằng áp suất gây bởitrọng lực, lực ly tâm, áp suất chân không
Phương pháp kết tủa: Là quá trình chuyển chất hòa tan thành dạng không tan
bằng các phản ứng hóa học hay thay đổi thành phần hóa chất trong dung dịch
Oxy hóa - khử: Là quá trình cho nhận electron để biến đổi chất nguy hại thành
dạng khác không nguy hại bởi các phản ứng oxy hóa khử
Bay hơi: Làm đặc chất thải dạng lỏng hay huyền phù bằng phương pháp cấp
nhiệt để hóa hơi chất lỏng
Đóng rắn và ổn định chất thải: Là phương pháp cố định về mặt hóa học triệt
tiêu tính linh động hay cô lập các thành phần ô nhiễm bằng lớp vỏ bền vững tạo thànhkhổ nguyên có tính toàn vẹn cấu trúc cao
Trang 23
Hình 2.1 Chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn Kiến Giang
2.2 Phương pháp nghiên cứu.
2.2.1 Nghiên cứu ngoài thực địa.
- Phương pháp hồi cứu số liệu: tình hình phát triển kinh tế xã hội, sự gia tăngdân số, điều kiện tự nhiên khí hậu tại thị trấn Kiến Giang Lệ Thủy Quảng Bình
- Phương pháp PRA (phương pháp khảo sát nhanh có sự tham gia của cộngđồng), phỏng vấn nhanh về tình hình phát sinh và thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại thịtrấn Kiến Giang – Lệ Thủy – Quảng Bình
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu
- Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê mô tả trên phần mềm excel.
2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.3.1 Thời gian.
Thời gian tiến hành nghiên cứu từ 20/11/2009 – 20/4/2010
2.3.2 Địa điểm nghiên cứu
- Thị trấn Kiến Giang - Lệ Thuỷ - Quảng Bình
- Xã Phong Thủy, An Thủy, Xuân Thủy, Liên Thủy, Lộc Thủy
- Phòng tài nguyên môi trường huyện Lệ Thủy
- Ban quản lý các công trình công cộng Lệ Thủy – Quảng Bình
Trang 24CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BIỆN LUẬN
3.1 TÌNH HÌNH PHÁT SINH, QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI THỊ TRẤN KIẾN GIANG - LỆ THỦY - QUẢNG BÌNH
3.1.1 Tình hình phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn Kiến Giang
-Lệ Thủy - Quảng Bình
Thành phần kinh tế chủ yếu của Lệ Thuỷ là nông nghiệp do vậy lượng rác thảiphát sinh chủ yếu là rác thải nông nghiệp Bên cạnh đó rác thải từ các ngành nghề kháccũng chiếm tỷ lệ tương đối lớn chủ yếu là từ các khu vực chợ, các công trình xây dựng,
cơ quan, xí nghiệp, trường học và bệnh viện thải ra nên lượng rác và thành phần thải ra
là hoàn toàn khác nhau
Trang 25Qua khảo sát và điều tra thực tế, trong thị trấn rác thải phát sinh chủ yếu từ các
hộ giađìnhbaogồmcáchoạtđộng
đi chợhàngngày, từ sân vườn, từ nghề nghiệp của gia đình như nông ngư nghiệp, buôn bán, và cácnghề thủ công Rác tạo ra từ việc đi chợ hàng ngày thường gồm các loại túi nilon, cácloại vỏ đồ hộp, thực phẩm dư thừa như rau, củ, quả, sò, ốc, rác sân vườn chủ yếu làcác loại rác hữu cơ như lá cây, cành cây, rau,
Để đánh giá tình hình phát sinh CTRSH tại thị trấn Kiến Giang – Lệ Thủy Quảng Bình chúng tôi đã tiến hành đi thực tế và sử dụng công cụ bảng hỏi (Phục lục 1)
-để điều tra về tình hình phát sinh CTR tại địa phương, kết quả nghiên cứu được thểhiện ở bảng 3.1
Bảng 3.1 Khối lượng rác phát sinh tại thị trấn Kiến Giang
Trang 26(Nguồn từ ban quản lý các công trình công cộng)
Qua bảng 3.1 chúng tôi nhận thấy rằng, khối lượng rác thải ở các xã là khácnhau Khối lượng rác phát sinh cao nhất là ở khu vực xã An Thuỷ với lượng rác phátsinh 6.634 kg/ngày do ở đây dân cư tập trung đông đường giao thông thuận lợi và lànơi tập trung nhiều khu thương mại, dịch vụ kinh doanh buôn bán Thấp nhất là xã LộcThuỷ với 3.051 kg/ ngày do ở đây dân cư thưa thớt, điều kiện kinh tế - xã hội ít pháttriển nên lượng rác phát sinh ít nhất
Trung bình một ngày thị trấn Kiến Giang thải ra khoảng 29 tấn rác và lượng rácnày có khả năng gia tăng theo thời gian Chính điều này đã làm khó khăn cho công tácthu gom và xử lý CTR trên địa bàn thị trấn Mặt khác tạo nên áp lực cho chính quyềncũng như nhân dân địa phương
Mặt khác, để đánh giá cụ thể về tình hình phát sinh CTRSH trên địa bàn chúngtôi đã tiến hành nghiên cứu về thành phần CTR được phát sinh từ các loại hình kinh tếkhác nhau Kết quả nghiên cứu được thể hiện ở bảng 3.2
Bảng 3.2 Tỷ lệ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt đối với từng ngành nghề tại thị trấn
Kiến Giang qua kết quả điều tra
Trang 27Khối lượng
0 20 40 60 80 100 120
Cán bộ công nhân viên
Kinh doanh Nông nghiệp
Hình 3.1 Biểu đồ so sánh tỷ lệ thành phần chất thải rắn sinh hoạt tương ứng với các
ngành nghề tại thị trấn Kiến Giang
Theo kết quả điều tra ở bảng 3.2 và biểu đồ 3.1 cho thấy, những hộ gia đìnhnông nghiệp có tỷ lệ thành phần hữu cơ trong chất thải rắn sinh hoạt là cao nhất chiếm78% và thành phần rác thải vô cơ là thấp nhất chiếm 22% Các các hộ gia đình kinhdoanh có tỷ lệ thành phần rác thải hữu cơ là thấp nhất chiếm 33 % và tỷ lệ thành phầnrác thải vô cơ là cao nhất chiếm 67 %
Đối với các hộ gia đình nông nghiệp, thành phần rác thải chủ yếu là rác thải hữu
cơ, các rác thải là rơm rạ sau mùa vụ, các xác lá cây trong vườn và phân các loại giasúc gia cầm nuôi trong gia đình Tỷ lệ rác thải vô cơ như các loại giấy vụn, kim loại rất
ít Chủ yếu rác thải vô cơ trong gia đình là các bao bì đựng phân bón và thức ăn giasúc, các loại chai nhựa, thuỷ tinh đựng các loại thuốc bảo vệ thực vật và các loại baonilon đã qua sử dụng
Đối với các hộ gia đình kinh doanh thì tỷ lệ này chênh lệch rất nhiều, rác thảicủa họ chủ yếu là loại bao bì, các mảnh vụn nhựa, các mảnh kim loại, các chai lọ thuỷ
Trang 28tinh, nhựa Thành phần chiếm tỷ lệ cao nhất là các thùng giấy và bìa carton do đó mà tỷ
lệ thành phần rác thải vô cơ là cao nhất
Đối với cán bộ công nhân viên chức có thành phần rác thải tương đối đồng đều.Nhìn chung thành phần rác thải của các hộ gia đình trong thị trấn Kiến Giang đadạng nhiều chủng loại khác nhau nên trước khi đưa đi xử lý cân phân loại kỹ để tái sửdụng lại rác thải vào các mục đích khác giảm thiểu tác động đến môi trường xungquanh
Thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn kiến Giang rất đa dạng và khá đặctrưng theo loại hình nông thôn Đây là vùng nông thôn, chủ yếu là hoạt động sản xuấtnông nghiệp nên trong thành phần rác thải có tới 50 – 60% là rác hữu cơ: lá, cành cây,thực phẩm dư thừa, rơm rạ,
Thành phần rác thải sinh hoạt của thị trấn Kiến Giang - Lệ Thuỷ được thể hiệnnhư bảng 3.3:
Trang 29Qua bảng 3.3 ta thấy rác thải ở Thị trấn Kiến Giang gồm nhiều thành khác nhauchiếm tỷ trọng khác nhau Chiếm tỷ trọng phần trăm cao nhất là rác thải hữu cơ với40,8% và đứng tiếp theo là gỗ, rác sân vườn với 22,7% Thành phần có tỷ trọng thấpnhất là cao su, dẻ với 0,3% Do rác thải chứa nhiều thành phần hữu cơ, lá cây nên cóthể tận dụng để sản xuất phân bón, nhưng cần có biện pháp phân loại trước khi thải ra
3.1.2 Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn Kiến Giang - Lệ Thủy - Quảng Bình
Thị trấn Kiến Giang là một khu vực có nền kinh tế phát triển nhất của huyện Lệ
Thủy, bao gồm 5 xã và 1 thị trấn, với tổng lượng rác phát sinh 29 tấn/ngày đêm
Với một lượng lớn rác thải phát sinh và đang có xu hướng tiếp tục tăng lên theothời gian, Ủy ban nhân dân huyện đã trực tiếp giao nhiệm vụ thu gom và xử lý hếtlượng rác thải này cho ban quản lý các Công trình Công cộng huyện Lệ Thủy
Với mật độ dân số đông, lượng rác phát sinh từ các hộ gia đình ngày càng nhiềunên đa số người dân đều sử dụng dịch vụ thu gom rác Quá trình thu gom, vận chuyển
và xử lý do ban quản lý các công trình công cộng diễn ra như sau:
3.1.2.1.Quá trình thu gom:
Hiện tại, nguồn nhân lực của ban quản lý các Công trình Công cộng gồm 37 cán
bộ, công nhân viên (trong đó, cán bộ quản lý 6 người, công nhân quét rác 7 người,công nhân xe đẩy tay 20 người và 4 công nhân lái xe rác) Hằng ngày những công nhânthu gom rác đẩy các xe cải tiến vào các hộ gia đình ở các con hẽm, kiệt ở các xã trungtâm của thị trấn như xã Xuân Giang, Lộc Thủy, để thu rác của từng nhà, sau đó đẩy
Trang 30đến các điểm tập kết tạm Rác ở các điểm tập kết tạm sẽ được công nhân lái xe rác đếnchở vào cuối ngày
Ngoài ra trên các tuyến đường chính ở các xã xa trung tâm và các cơ quan, công
sở, chợ, các trường học được bố trí khoảng 30 thùng rác công cộng Rác ở các thùng sẽđược công nhân lái xe nén ép rác đến bốc dở trực tiếp lên xe và chở thẳng lên bãi rácTrường Thủy để chôn lấp
Ở một số xã do xa với khu trung tâm, mặt khác giao thông khó khăn, xe cơ giớikhông thể vào sâu được nên lượng rác thu gom không triệt để, gây khó khăn cho hoạtđộng sinh hoạt của người dân
Với tần suất thu gom 2 ngày/1lần đối với các xã trung tâm của thị trấn và 3 - 4ngày/ 1 lần đối với các hộ dân sống xung quanh khu vực trung tâm, dọc các tuyếnđường chính như: đường Võ Nguyên Giáp, đường Trần Hưng Đạo, đường Lý ThườngKiệt và các tuyến đường xung quanh trung tâm thị trấn Ở một số nơi do xã trung tâm,giao thông khó khăn trong khi phương tiện và nhân lực lại thiếu thốn nên tần suất thugom ở những khu vực này là 6 - 7 ngày/1 lần
Nhìn chung, hiện tại công tác thu gom rác thải sinh hoạt ở thị trấn Kiến Giangđược thực hiện theo hình thức thu gom sơ cấp Việc thu gom chỉ đạt hiệu quả ở cáctuyến đường chính, các khu vực trung tâm của thị trấn còn ở các xã vùng ven hiệu suấtthu gom còn rất thấp Tình trạng tồn động rác ở nhiều nơi diễn ra phổ biến, đã và đanggây ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường và người dân khu vực
Tại thời điểm hiện tại, quá trình thu gom của Ban quản lý các Công trình Côngcộng diễn ra theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 3.1 Sơ đồ thu gom rác thải tại thị trấn Kiến Giang - Lệ Thủy - Quảng Bình
Qua sơ đồ thu gom của Ban quản lý các Công trình Công cộng chúng tôi nhậnthấy: quá trình thu gom của công ty rất đơn giản Rác thải từ nguồn phát sinh hộ gia
Trang 31đình, công sở, trung tâm thương mại, dịch vụ, được hộ dân thu gom tại các thùngchứa nhỏ của gia đình sau đó công nhân thu gom rác của công ty đến thu gom vàotrong các xe gom rác, xe ép, xe container vận chuyển đến bãi rác Tại bãi rác, rác thảiđược xử lý duy nhất bằng cách chôn lấp.
Qua đó ta thấy, bên cạnh những mặt đạt được trong công tác thu gom rác thảicủa Ban quản lý các Công trình Công cộng, song qua thực trạng chất thải rắn ở thị trấnKiến Giang, ta thấy vấn đề thu gom rác thải ở đây chỉ giải quyết bước đầu mang tínhchất tình thế, nhỏ lẽ Do đó để quá trình thu gom rác thải diễn ra tốt, đạt hiệu quả caoCông ty cũng như chính quyền cần có những giải pháp cụ thể, thích hợp hơn
Hình 3.2 Quá trình thu gom rác tại thị trấn Kiến Giang
3.1.2.2 Quá trình vận chuyển
Hiện nay, quá trình vận chuyển CTR tại thị trấn Kiến Giang diễn ra như sau:Tại các hộ gia đình ở trong các kiệt hẽm, do giao thông khó khăn nên xe cơ giớikhông vào được nên những công nhân thu gom rác này sẽ đẩy những xe cải tiến vàotừng hộ gia đình đổ thùng rác của họ lên xe, sau đó chở đến các điểm tập kết tạm
Rác thải ở các thùng rác công cộng đặt ở các tuyến đường lớn, chợ, khu thươngmại, Cuối mỗi ngày 1 xe ép rác và 2 xe chuyên dụng sẽ chạy theo các tuyến đườngquy định sẵn để bốc dỡ rác từ các thùng lên xe sau đó vận chuyển lên bãi rác
Hiện tại, do nguồn nhân lực và phương tiện của ban Quản lý các Công trìnhCông cộng còn thiếu nên quá trình thu gom diễn ra không triệt để Các tuyến thu gom