Tình hình lạm phát trên thế giới và ở nước ta Lạm phát ở châu Á & Thái Bình Dương: 4,6% Sau khi đạt tới mức cao nhất trong thập kỷ vào năm 2007, tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế đ
Trang 1TIỂU LUẬN VỀ LẠM PHÁT Định nghĩa lạm phát
lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế
phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác Thông thường theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu Phạm
vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một chủ đề gây tranh cãi giữa
lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự ổn
định giá cả.
Các hiệu ứng tiêu cực
1.Lạm phát dự kiến: trong trường hợp lạm phát có thể được dự kiến trước thì các thực thể tham gia vào nền kinh tế có thể chủ động ứng phó với nó, tuy vậy nó vẫn gây ra những tổn thất cho xã hội:
giữ tiền và lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát nên lạm phát làm cho người ta giữ ít tiền hơn hay làm giảm cầu
về tiền Khi đó họ cần phải thường xuyên đến ngân hàng để rút tiền hơn Các nhà kinh tế đã dùng thuật ngữ "chi phí mòn giày" để chỉ những tổn thất phát sinh do sự bất tiện cũng như thời gian tiêu tốn mà người ta phải hứng chịu nhiều hơn so với không có lạm phát
Trang 2• Chi phí thực đơn: lạm phát thường sẽ dẫn đến giá cả tăng lên, các doanh nghiệp sẽ mất thêm chi phí để in ấn, phát hành bảng giá sản phẩm
hợp do lạm phát doanh nghiệp này tăng giá (và đương nhiên phát sinh chi phí thực đơn) còn doanh nghiệp khác lại không tăng giá do không muốn phát sinh chi phí thực đơn thì giá cả của doanh nghiệp giữ nguyên giá sẽ trở nên rẻ tương đối so với doanh nghiệp tăng giá Do nền kinh tế thị trường phân bổ nguồn lực dựa trên giá tương đối nên lạm phát đã dẫn đến tình trạng kém hiệu quả xét trên góc độ vi mô
với ý muốn của người làm luật do một số luật thuế không tính đến ảnh hưởng của lạm phát Ví dụ: trong trường hợp thu nhập thực tế của cá nhân không thay đổi nhưng thu nhập danh nghĩa tăng do lạm phát thì
cá nhân phải nộp thuế thu nhập trên cả phần chênh lệch giữa thu nhập danh nghĩa và thu nhập thực tế
thước đo trong tính toán các giao dịch kinh tế, khi có lạm phát cái thước này co giãn và vì vậy các cá nhân khó khăn hơn trong việc ra các quyết định của mình
2.Lạm phát không dự kiến: đây là loại lạm phát gây ra nhiều tổn thất nhất vì
nó phân phối lại của cải giữa các cá nhân một cách độc đoán Các hợp đồng, cam kết tín dụng thường được lập trên lãi suất danh nghĩa khi lạm phát cao hơn dự kiến người đi vay được hưởng lợi còn người cho vay bị thiệt hại, khi lạm phát thấp hơn dự kiến người cho vay sẽ được lợi còn người đi vay chịu
Trang 3thiệt hại Lạm phát không dự kiến thường ở mức cao hoặc siêu lạm phát nên tác động của nó rất lớn.
Các nhà kinh tế có quan điểm rất khác nhau về quy mô của các tác động tiêu cực của lạm phát, thậm chí nhiều nhà kinh tế cho rằng tổn thất do lạm phát gây ra là không đáng kể và điều này được coi là đúng khi tỷ lệ lạm phát ổn định và ở mức vừa phải Khi lạm phát biến động mạnh, tác động xã hội của
nó thông qua việc phân phối lại của cải giữa các cá nhân một cách độc đoán
rõ ràng là rất lớn và do vậy chính phủ của tất cả các nước đều tìm cách chống lại loại lạm phát này
Nguyên nhân
Lạm phát do cầu kéo
Kinh tế học Keynes cho rằng nếu tổng cầu cao hơn tổng cung ở mức toàn dụng lao động, thì sẽ sinh ra lạm phát Điều này có thể giải thích qua sơ đồ AD-AS Đường AD dịch sang phải trong khi đường AS giữ nguyên sẽ khiến cho mức giá và sản lượng cùng tăng
đáp ứng Do đó có lạm phát
Lạm phát do cầu thay đổi
mặt hàng mà lượng cầu giảm vẫn không giảm giá Trong khi đó mặt hàng có
Trang 4lượng cầu tăng thì lại tăng giá Kết quả là mức giá chung tăng lên, nghĩa là lạm phát.
Lạm phát do chi phí đẩy
tăng Các xí nghiệp vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá thành sản phẩm Mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng tăng
Lạm phát do cơ cấu
Ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công danh nghĩa cho người lao động Ngành kinh doanh không hiệu quả, vì thế, không thể không tăng tiền công cho người lao động trong ngành mình Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận, ngành kinh doanh kém hiệu quả sẽ tăng giá thành sản phẩm Lạm phát nảy sinh vì điều đó
Lạm phát do xuất khẩu
Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặc sản phẩm được huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm khiến tổng cung thấp hơn tổng cầu Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng
Lạm phát do nhập khẩu
nhập khẩu tăng (do nhà cung cấp nước ngoài tăng giá như trong trường
giá bán sản phẩm đó trong nước cũng tăng Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên
Trang 5Lạm phát tiền tệ
cho đồng tiền ngoại tệ khỏi mất giá so với trong nước; hay chẳng hạn do
lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm Lạm phát đẻ
ra lạm phát
giá cả hàng hóa sẽ còn tăng, nên đẩy mạnh tiêu dùng hiện tại Tổng cầu trở nên cao hơn tổng cung, gây ra lạm phát
Tình hình lạm phát trên thế giới và ở nước ta
Lạm phát ở châu Á & Thái Bình Dương: 4,6%
Sau khi đạt tới mức cao nhất trong thập kỷ vào năm 2007, tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế đang phát triển ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương sẽ giảm đi một chút nhưng vẫn còn khá cao (7,7%) vào năm 2008 - mặc dù có những bất trắc về kinh tế ở Hoa Kỳ và các đồng tiền trong khu vực tiếp tục tăng giá
Cụ thể, các nền kinh tế phát triển trong khu vực sẽ tăng trưởng ở mức 1,6% vào năm 2008, giảm đi so với mức 2% năm 2007 Trung Quốc và Ấn Độ - với vai trò động lực kinh tế chính của khu vực - sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh (theo thứ tự ở mức 10,7% và 9%) vào năm 2008, thúc đẩy các nền kinh tế khác trong khu vực dự báo tỷ lệ lạm phát của các nền kinh tế đang phát triển ở châu Á - Thái Bình Dương trong năm 2008 sẽ ở mức 4,6%, và
sự tăng giá của các đồng tiền trong khu vực sẽ hạn chế tác động của giá dầu
và lương thực tăng cao
Trang 6Lạm phát tại việt nam
Lạm phát cả năm có thể lên tới 15%.Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 3 tháng đầu năm tăng 9,19%, là quý có mức tăng cao nhất tính từ năm 1995 trở lại đây, và đã vượt xa chỉ tiêu của cả năm Việt Nam hiện là nước có tỷ lệ lạm phát cao nhất ở Đông Á Và sự gia tăng tốc độ lạm phát vẫn chưa có dấu hiệu sớm chấm dứt.Không chỉ tầng lớp lao động phổ thông và công nhân trong các nhà máy chịu ảnh hưởng tiêu cực nặng nề từ tình trạng giá cả leo thang Nhiều người có trình độ học vấn cao thừa nhận bằng cấp của họ cũng chẳng giúp ích gì nhiều trong việc tìm kiếm một cuộc sống đảm bảo
Kiềm chế lạm phát
Kiềm chế lạm phát còn gọi là giảm lạm phát Có một loạt các phương thức
sách tiền tệ) Các lãi suất cao (và sự tăng chậm của cung ứng tiền tệ) là cách thức truyền thống để các ngân hàng trung ương kiềm chế lạm phát, sử dụng
thất nghiệp và suy giảm sản xuất để hạn chế tăng giá
Tuy nhiên, các ngân hàng trung ương xem xét các phương thức kiểm soát lạm phát rất khác nhau Ví dụ, một số ngân hàng theo dõi chỉ tiêu lạm phát một cách cân xứng trong khi các ngân hàng khác chỉ kiểm soát lạm phát khi
nó ở mức cao
Trang 7Những người theo học thuyết Keynes nhấn mạnh việc giảm cầu nói chung,
nhà kinh tế học trọng cung chủ trương kiềm chế lạm phát bằng cách ấn định
tỷ giá hối đoái giữa tiền tệ và một số đơn vị tiền tệ tham chiếu ổn định như vàng, hay bằng cách giảm thuế suất giới hạn trong chế độ tỷ giá thả nổi để khuyến khích tích lũy vốn Tất cả các chính sách này đã được thực hiện
Một phương pháp khác đã thử là chỉ đơn giản thiết lập lương và kiểm soát giá cả (xem thêm "Các chính sách thu nhập") Ví dụ, nó đã được thử tại Mỹ
việc kiểm soát này là nó được sử dụng vào thời gian mà các biện pháp kích
"cầu" được áp dụng, vì thế các giới hạn phía cung (sự kiểm soát, sản xuất tiềm năng) đã mâu thuẫn với sự tăng trưởng của "cầu" Nói chung, phần lớn các nhà kinh tế coi việc kiểm soát giá là phản tác dụng khi nó có xu hướng làm lệch lạc các hoạt động của nền kinh tế vì nó làm gia tăng thiếu thốn, giảm chất lượng sản phẩm v.v Tuy nhiên, cái giá phải trả này có thể là
"đáng giá" nếu nó ngăn chặn được sự đình đốn sản xuất nghiêm trọng, là điều có thể có đắt giá hơn, hay trong trường hợp để kiểm soát lạm phát trong thời gian chiến tranh
Trên thực tế, việc kiểm soát có thể bổ sung cho đình đốn sản xuất như là một cách để kiềm chế lạm phát: Việc kiểm soát làm cho đình đốn sản xuất có hiệu quả hơn như là một cách chống lạm phát (làm giảm sự cần thiết phải tăng thất nghiệp), trong khi sự đình đốn sản xuất ngăn cản các loại hình lệch lạc mà việc kiểm soát gây ra khi "cầu" là cao
Trang 8Căn nguyên lạm phát & các giải pháp giảm lạm phát trong thực tế của nước ta
Lạm phát 15%, tại sao?Lạm phát tháng hai vừa qua tăng đến 15% (tính trên
12 tháng) Đó là mức tăng cao nhất trong vòng 10 năm qua và cũng thuộc hàng cao nhất tại khu vực Đông Á hiện nay Mức lạm phát cao này phải được đối chiếu với mức tăng trưởng trên 8% hằng năm trong 4 năm qua của một nền kinh tế năng động, trong đó thị trường chứng khoán và địa ốc đang bùng nổ.Đối với các nước khác, một tình trạng kinh tế như vậy có thể được xem là quá nóng và nhà nước sẽ tìm cách hạ nhiệt bằng cách thắt chặt thị trường tiền tệ và tín dụng Tuy nhiên, những nỗ lực theo chiều hướng này trong vài tháng qua đã dẫn đến thiếu hụt tiền đồng và dao động trên thị trường tài chính VN Chúng ta hãy cùng nhau phân tích căn nguyên lạm phát tại VN và tại sao cần sự xử lý thận trọng đối với tình hình hiện tại để tránh những khủng hoảng lớn, có thể gây tác hại nghiêm trọng đến ổn định xã hội.Căn nguyên lạm phát là gia tăng tín dụng, chủ yếu vì dòng vốn ngoại nhập rất lớn chưa được quản lý thích ứng, trong một môi trường dùng tỷ giá hối đoái làm neo danh nghĩa (nominal anchor) nhằm ổn định thị trường Mặc dù giá dầu trên thế giới, giá thực phẩm và nhu cầu tiêu dùng vào dịp Tết, tất cả đều gia tăng bổ sung vào mức lạm phát 15% trong tháng 2 vừa qua; nhưng những yếu tố này, theo quan điểm của chúng tôi, không quan trọng bằng quản lý dòng vốn ngoại nhập.Thật vậy, VN nhận được dòng vốn ngoại nhập rất lớn trong các năm qua, chiếm đến 39% GDP trong giai đoạn 2004-2007, riêng năm 2007 chiếm 15% Vì chương trình cổ phần hóa tiến triển chậm nên các cơ hội đầu tư vào sản xuất hữu hiệu càng bị giới hạn Các
Trang 9dòng vốn do vậy được chuyển vào TTCK, bất động sản (BĐS) và các khu vực phi thương mại khác (non-tradable sectors) Phần lớn các dòng vốn ngoại nhập được hướng đến thị trường BĐS Đây là một lý do khiến giá đất tại các thành phố lớn VN được xếp vào hạng cao nhất thế giới Tương tự, chỉ
số TTCK đã tăng gấp ba vào tháng 9.2007, so với cuối năm 2005.Một số dòng vốn ngoại nhập đã được niêm - cất (sterilized) bằng cách phát hành trái phiếu để hút ngoại tệ ra khỏi thị trường, qua hoạt động của thị trường
mở, đã không tác động trên nguồn cung tiền Nhưng các dòng vốn khác không được niêm - cất, nghĩa là bị tiền tệ hóa, đã góp phần tăng nguồn cung tiền Khối lượng tiền tệ tăng 30% mỗi năm trong giai đoạn 2004 - 2006, và tăng trên 40% trong nửa đầu năm 2007.Có nên hút đô la hay không?Vì muốn giữ tỷ giá để cạnh tranh, Nhà nước đang ở thế "tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa": Nếu Nhà nước niêm - câæt vốn ngoại nhập (cho dù chưa kể cái giá ngân sách nhà nước phải trả vì lãi suất cao hơn), đồng nội tệ sẽ tăng giá, khiến cho một nền kinh tế hướng xuất khẩu như VN phải chịu giảm tỷ lệ tăng trưởng.Nhưng nếu dòng vốn ngoại nhập không được niêm - cất đúng và
đủ, để thích nghi với số lượng tiền cần có để dùng cho giao dịch, kết quả sẽ
là nguồn cung tiền gia tăng, dẫn đến gia tăng giá cả nội địa Đây chính là trường hợp của VN.Kể từ giữa năm 2007, chính sách ghìm cương gia tăng tín dụng đã được thực hiện bằng cách nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc và các mức lãi suất căn bản, lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu Quản lý các dòng vốn
có mức độ lớn như vậy (chiếm 15% GDP trong năm 2007) đặt ra thách thức rất lớn, ngay cả đối với các nhóm quản trị kinh tế lão luyện Khó khăn là ở chỗ, việc niêm - cất toàn diện ngoại tệ sẽ khiến đồng nội tệ tăng giá, và điều này sẽ thu hút thêm nhiều dòng vốn vào hơn nữa, do giới đầu cơ nước ngoài muốn lợi dụng tình thế (đồng nội tệ lên giá tức là nhà đầu tư nước ngoài sẽ
có lợi khi đầu tư vào tiền đồng, trước hết là nhờ lãi suất cao, sau đó là khi họ
Trang 10đổi tiền đồng lấy lại ngoại tệ).Chỉ có một sự kết hợp giữa các chính sách kinh tế thực tế và cẩn mật mới có thể tránh được những hậu quả tai hại.Việc thắt chặt thanh khoản trong hai tháng qua - bằng cách nâng ba mức lãi suất
cơ bản và buộc các ngân hàng mua 20.000 tỉ đồng - đã ảnh hưởng bất lợi đến thị trường tín dụng Và điều này lại xảy ra ngay lúc các thị trường tài sản bắt đầu phát triển chậm lại hay chựng lại Bên cạnh đó, việc thắt chặt kiểm soát đối với một số loại giá có lẽ sẽ không đem lại hiệu quả cao vì kinh nghiệm cho thấy rằng kiểm soát trực tiếp đang trở thành khó khăn hơn trong một nền kinh tế ngày càng hướng vào thị trường.Quả thật, nguy cơ khủng hoảng rất lớn trong thời điểm hiện nay Nếu lòng tin không được củng cố thì các dòng vốn ngoại nhập có thể nhanh chóng giảm xuống hay ngưng lại Nhà đầu tư trong nước sẽ lo sợ và cố gắng rút khỏi các thị trường tài sản Đặc biệt là trong một môi trường mà khung pháp lý còn chưa rõ ràng, rất khó để biết được đầu tư nào là tốt hay dở, hoặc nên rút ra hay tiếp tục đầu tư Điều này
sẽ làm giảm giá tài sản rất nhanh, và làm suy yếu rõ rệt bảng cân đối tài sản của các ngân hàng tham gia vào các thị trường này Khả năng thanh toán của các tổ chức tài chính sẽ bị giảm sút và nhiều tổ chức thậm chí phải giải thể.Các dấu hiệu đáng ngại Tỷ lệ giá-lãi (P/E) của đa số công ty có tên trên sàn chứng khoán là vào khoảng 32 vào giữa năm 2007 Đây là tỷ lệ khá cao, tương đương với tỷ lệ tại Thái Lan và Malaysia ngay trước cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 Dù tỷ lệ này đã giảm, tính từ thời điểm đó, nhiều nhà quan sát tin rằng chiều hướng "giảm đến giá trị thật" sẽ tiếp tục Những vấn đề về lạm phát và đầu tư đang được nhiều người dân quan tâm - Ảnh: D.Đ.MKhủng hoảng tài chính này có thể diễn ra đồng thời với một đợt khủng hoảng tiền tệ Việc dòng vốn nước ngoài đổ vào chậm lại, hay thậm chí sẽ đảo chiều, sẽ khiến người trong nước kiếm cách gửi tiền ra nước ngoài Trong khi đó, cấu trúc của cán cân thu chi quốc tế rất dễ làm cho nền
Trang 11kinh tế VN bị tác động bởi khủng hoảng Kể từ năm 2004, nhập siêu lớn của cán cân thương mãi - 2,5 tỉ đô la và gia tăng trong năm 2007 - đã được tài trợ bằng chuyển khoản tư nhân rất đáng kể, chủ yếu từ đầu tư của kiều bào, cao hơn số kiều hối thường nhận được (ước khoảng 5 tỉ đô la, tương đương 7% GDP) Gần đây hơn, các khoản vay ngày càng tăng đã đóng một vai trò đáng kể hơn về nguồn tiền dùng để tài trợ nhập siêu Như vậy, đây là có một
sự chuyển hướng so với trước đây, khi nhập siêu chủ yếu được tài trợ bằng đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và hỗ trợ tài chính ưu đãi.Các chuyển khoản
tư nhân này, cùng với các dòng vốn ngoại nhập khác, có thể ngừng lại, nếu
sự tin tưởng trong nền kinh tế không được mau chóng củng cố thêm Các dòng vốn ngoại nhập bị cạn kiệt, kết hợp với xu hướng chuyển tiền ra nước ngoài gia tăng, sẽ gây một áp lực kinh khủng khiến giá tiền đồng phải giảm xuống.Các chuyển khoản tư nhân này, cùng với các dòng vốn ngoại nhập khác, có thể ngừng lại, nếu sự tin tưởng trong nền kinh tế không được mau chóng củng cố thêm Các dòng vốn ngoại nhập bị cạn kiệt, kết hợp với xu hướng chuyển tiền ra nước ngoài gia tăng, sẽ gây một áp lực kinh khủng khiến giá tiền đồng phải giảm xuống Để ngăn ngừa sự mất giá đột ngột, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ cố gắng nâng đỡ đồng nội tệ bằng cách bán dự trữ ngoại tệ, nhưng làm như vậy chắc chắn không thể xoay chuyển được tình hình và rốt cuộc sẽ buông xuôi, càng khiến cho tiền đồng tuột giá hơn nữa.Để ngăn ngừa sự mất giá đột ngột, Ngân hàng Nhà nước (NHNN)
sẽ cố gắng nâng đỡ đồng nội tệ bằng cách bán dự trữ ngoại tệ, nhưng làm như vậy chắc chắn không thể xoay chuyển được tình hình và rốt cuộc sẽ buông xuôi, càng khiến cho tiền đồng tuột giá hơn nữa Đó chính là tình huống đã xảy ra ở Thái Lan năm 1997 Chính người nghèo phải gánh chịu những hậu quả nặng nề nhất của đợt khủng hoảng đó Đó chính là tình huống đã xảy ra ở Thái Lan năm 1997 Chính người nghèo phải gánh chịu
Trang 12những hậu quả nặng nề nhất của đợt khủng hoảng đó Giảm lạm phát như thế nào? Để giải quyết các vấn đề kinh tế khó khăn trình bày ở trên, một số biện pháp cần được áp dụng trong ngắn hạn và trung hạn.Để giải quyết các vấn đề kinh tế khó khăn trình bày ở trên, một số biện pháp cần được áp dụng trong ngắn hạn và trung hạn Về ngắn hạn Điều trước tiên và quan trọng nhất
là chính quyền cần chú ý đến nguy cơ khủng hoảng và bằng mọi giá tránh được nguy cơ này Những chính sách thích ứng cần được thực thi mau chóng để củng cố lòng tin của thị trường và sự tín nhiệm đối với chính quyền Hơn nữa, cần phải nhận thức rằng không thể ngày một ngày hai mà chặn đứng được lạm phát, và cần thời gian để giảm lạm phát xuống một mức
độ chấp nhận được (khoảng 10%) để ổn định kinh tế.Điều trước tiên và quan trọng nhất là chính quyền cần chú ý đến nguy cơ khủng hoảng và bằng mọi giá tránh được nguy cơ này Những chính sách thích ứng cần được thực thi mau chóng để củng cố lòng tin của thị trường và sự tín nhiệm đối với chính quyền Hơn nữa, cần phải nhận thức rằng không thể ngày một ngày hai mà chặn đứng được lạm phát, và cần thời gian để giảm lạm phát xuống một mức
độ chấp nhận được (khoảng 10%) để ổn định kinh tế Khi nền kinh tế VN ngày càng gắn kết với kinh tế toàn cầu và thu nhập ngày càng tăng, tỷ lệ hàng hóa mậu dịch quốc tế trong rổ tiêu dùng do đó sẽ tăng Vì vậy giá nội địa sẽ có xu hướng tăng, nếu giá nhập khẩu cũng như chất lượng hàng nhập tăng Để củng cố lòng tin, chính quyền có thể cho thấy rõ ràng hơn năng lực phối hợp hữu hiệu các biện pháp thích ứng để chống lạm phát cũng như khả năng phối hợp những hoạt động tương đồng giữa những thành viên chính trong giới kinh tế và tài chính, trong đó có NHNN, Bộ Tài chính, các bộ khác và các ngân hàng thương mại.Khi nền kinh tế VN ngày càng gắn kết với kinh tế toàn cầu và thu nhập ngày càng tăng, tỷ lệ hàng hóa mậu dịch quốc tế trong rổ tiêu dùng do đó sẽ tăng Vì vậy giá nội địa sẽ có xu hướng
Trang 13tăng, nếu giá nhập khẩu cũng như chất lượng hàng nhập tăng Để củng cố lòng tin, chính quyền có thể cho thấy rõ ràng hơn năng lực phối hợp hữu hiệu các biện pháp thích ứng để chống lạm phát cũng như khả năng phối hợp những hoạt động tương đồng giữa những thành viên chính trong giới kinh tế
và tài chính, trong đó có NHNN, Bộ Tài chính, các bộ khác và các ngân hàng thương mại Các biện pháp cần thực hiện bao gồm: NHNN cần tham khảo ý kiến của các ngân hàng thương mại để đánh giá lại tác động của các biện pháp gần đây trên thị trường; giảm lãi suất tiết kiệm cao quá mức là hệ quả của cuộc cạnh tranh giữa các ngân hàng để huy động tiền ký thác bằng cách cho phép giảm lượng trái phiếu chính phủ mà các ngân hàng phải mua, và/hoặc cho phép sử dụng ngoại tệ để mua trái phiếu chính phủ, qua đó, hút bớt thanh khoản nhờ việc giảm lượng đô la dư thừa; xem xét lại và trì hoãn việc tăng giá xăng dầu, điện và các mặt hàng khác thông qua kiểm toán và các biện pháp nhằm giảm lãng phí và tăng hiệu quả của các doanh nghiệp sản xuất các loại hàng hóa này.Các biện pháp cần thực hiện bao gồm: NHNN cần tham khảo ý kiến của các ngân hàng thương mại để đánh giá lại tác động của các biện pháp gần đây trên thị trường; giảm lãi suất tiết kiệm cao quá mức là hệ quả của cuộc cạnh tranh giữa các ngân hàng để huy động tiền ký thác bằng cách cho phép giảm lượng trái phiếu chính phủ mà các ngân hàng phải mua, và/hoặc cho phép sử dụng ngoại tệ để mua trái phiếu chính phủ, qua đó, hút bớt thanh khoản nhờ việc giảm lượng đô la dư thừa; xem xét lại và trì hoãn việc tăng giá xăng dầu, điện và các mặt hàng khác thông qua kiểm toán và các biện pháp nhằm giảm lãng phí và tăng hiệu quả của các doanh nghiệp sản xuất các loại hàng hóa này NHNN nên mở rộng đáng kể biên độ tỷ giá hối đoái để cho tiền đồng có thể lên giá uyển chuyển hơn, hầu phản ánh mau chóng hơn thay đổi của thị trường Từ năm 2004 đến giữa năm 2007, tỷ giá hối đoái danh nghĩa hữu hiệu (nominal effective