Do vậY, để góp phần kiểm soátcác nguy cơ tiềm ẩn, để cung cấp cho người tiêu dùng thông tin của những sản phẩmnguồn gốc từ thảo dược có tác dụng trên đường hô hấp.. Tìm hiểu về bệnh đườn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA DƯỢC – ĐIỀU DƯỠNG
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH: DƯỢC HỌC
MÃ NGÀNH: 7720201
KHẢO SÁT CHẾ PHẨM CÓ TÁC DỤNG TRỊ HO NGUỒN GỐC TỪ DƯỢC LIỆU
TẠI THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG NĂM 2020
Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện
Ths TRÌ KIM NGỌC HỨA KHÁNH THU
MSSV: 1652720401665
Lớp: LTTC - ĐH DƯỢC 11G
Cần Thơ, năm 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ KHOA DƯỢC – ĐIỀU DƯỠNG
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH: DƯỢC HỌC
MÃ NGÀNH: 7720201
KHẢO SÁT CHẾ PHẨM CÓ TÁC DỤNG TRỊ HO NGUỒN GỐC TỪ DƯỢC LIỆU
TẠI THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG NĂM 2020
Cán bộ hướng dẫn: Sinh viên thực hiện
Ths TRÌ KIM NGỌC HỨA KHÁNH THU
MSSV: 1652720401665
Lớp: LTTC - ĐH DƯỢC 11G
Cần Thơ, năm 2020
Trang 3LỜI CÁM ƠN
“Uống nước nhớ nguồn” là đạo lí của dân tộc là lẽ sống tốt đẹp từ bao đời nay củangười việt nam chúng ta Trên thực tế không có thành công nào là không gắn liền vớinhững sự hổ trợ giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Vớilòng biết ơn sâu sắc nhất Tôi xin chân thành cám ơn các thầy, cô giáo Khoa Dược -Điều Dưỡng Trường Đại Học Tây Đô với vốn tri thức và tâm huyết của mình đã truyềnđạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập tại đây
Tôi xin chân thành cám ơn cô Trì Kim Ngọc đã tận tâm chỉ bảo hướng dẫn qua từngbuổi học, thảo luận về đề tài nghiên cứu khoa học Nhờ những lời hướng dẫn, dạy bảo
đó bài tiểu luận này của tôi đã hoàn thành một cách hoàn thiện
Sau cùng tôi xin kính chúc quý thầy, cô Khoa Dược Điều Dưỡng Trường Đại Học Tây
Đô và giáo viên hướng dẫn thật dồi dào sức khỏe, niềm tin để tiếp tục thực hiện sứmệnh cao đẹp của mình là truyền đạt kiến thức cho thế hệ mai sau
TP Cần Thơ, ngày tháng năm 2020
Sinh Viên thực hiện
Hứa Khánh Thu
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Trong quá trình viết bài có sự tham khảo một số tài liệu có nguồn gốc rõ ràng, dưới sự hướng dẫn khoa học của giáo viên hướng dẫn Cô Trì Kim Ngọc Các dữ kiện nêu trong bài tiểu luận là trung thực chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
TP Cần Thơ, ngày 25 tháng 11 năm 2020
Sinh Viên thực hiện
Hứa Khánh Thu
Trang 5TÓM TẮT
Mở đầu
Ngay từ thời xa xưa người dân Việt Nam, đặc biệt là những người sống ở vùngcao, vùng sâu, vùng xa đã có nhiều bài thuốc, cây thuốc được sử dụng để chữa bệnh cóhiểu quả Qua quá trình phát triển, các kinh nghiệm dân gian quý báu đó đã dần dầntích lũy nhiều kinh nghiệm, nuôi trồng dược liệu và cho ra đời nhiều dược phẩm vàthực phẩm chức năng có nguồn gốc từ thảo dược để điều trị bệnh và phòng ngừa bệnhliên quan đến bệnh đường hô hấp Các công ty dược đã nghiên cứu cho ra những sảnphẩm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng Tuy nhiên, với sự đa dạng về sản phẩmcũng như mẫu mã người tiêu dùng rất dễ mua và sử dụng, đó là con dao hai lưỡi bởidùng với liều lượng vừa phải thì có tác dụng chữa bệnh, song dùng không đúng cáchhoặc quá liều có thể dẫn đến ngộ độc hoặc biến chứng Do vậY, để góp phần kiểm soátcác nguy cơ tiềm ẩn, để cung cấp cho người tiêu dùng thông tin của những sản phẩmnguồn gốc từ thảo dược có tác dụng trên đường hô hấp Chúng tôi tiến hành thực hiện
tiểu luận “Khảo sát chế phẩm có tác dụng trị ho nguồn gốc từ dược liệu tại Thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang năm 2020” với các mục tiêu:
1 Tìm hiểu về bệnh đường hô hấp và một số dược liệu có tác dụng trị ho
2 Khảo sát các chế phẩm có tác dụng trị ho nguồn gốc từ dược liệu trên các nhàthuốc, quầy thuốc ở địa bàn Thành phố Châu Đốc, Tỉnh An Giang
Đối tượng nghiên cứu
Chế phẩm tác dụng trị ho có nguồn gốc từ dược liệu
Nhà thuốc / quầy thuốc đang hoạt động kinh doanh tại Thành Phố Châu Đốc tỉnh AnGiang
Phương pháp nghiên cứu: Tổng hợp thu thập nguồn tài liệu về các dược liệu có tácdụng trên đường hô hấp
Khảo sát 20 nhà thuốc trên địa bàn Thành Phố Châu Đốc tỉnh An Giang
Thu thập, tổng hợp và xử lý các số liệu bằng phần mềm word 2016
Kết quả:
Khảo sát 21 dược liệu có tác dụng trị ho
Khảo sát 20 chế phẩm tác dụng trị ho có nguồn gốc dược liệu:
+ Chế phẩm được nhà thuốc bán nhiều nhất là Viên Ngậm Bảo Thanh
+ Chế phẩm được bán ít nhất là Haviho
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
TÓM TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH iv
MỞ ĐẦU viii
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1
1.1 TỔNG QUAN VỀ BỆNH HO 1
1.1.1 Khái quát về bệnh ho 1
1.1.2 Phân loại bệnh ho 1
1.2 DƯỢC LIỆU CÓ TÁC DỤNG TRỊ HO 5
1.2.1 Cây Bạc Hà 5
1.2.2 Cây Húng Chanh 7
1.2.3 Cây Bạch Chỉ 8
1.2.4 Cây Bán Hạ 10
1.2.6 Cây Cam Thảo Bắc 13
1.2.7 Cây Cát Cánh 15
1.2.8 Cây Cỏ Xạ Hương 16
1.2.9 Cây Ma Hoàng 18
1.2.10 Cây Mạch Môn 19
1.2.11 Cây Thiên Môn Đông 21
1.2.12 Cây Núc Nác 23
1.2.13 Cây Tỳ Bà Diệp 24
1.2.14 Cây Quýt 26
1.2.15 Cây Thường Xuân 27
1.2.16 Cây Kha Tử 29
1.2.17 Cây Gừng 30
1.2.18 Cây Xạ Can 33
1.2.19 Cây Bọ Mắm 34
1.2.20 Cây Quất 36
1.2.21 Cây Xuyên Bối Mẫu 37
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 39
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 40
Trang 72.2.2 Cỡ mẫu 40
2.23 Phương pháp chọn mẫu 40
2.2.4 Nội dung nghiên cứu 40
2.25 Xử lý số liệu 40
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 40
3.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
3.1.1 Viên ngậm ho nam dược 40
3.1.2 Viên Ngậm Bảo Thanh 42
3.1.3 Viên Ngậm An Thanh 43
3.1.4 Viên Ngậm Hati - Tux 44
3.1.5 Viên Ngậm Bổ Phế 45
3.1.6 CODATUX 46
3.1.7 Eugica 47
3.1.8 Bổ Phế TW3 Chỉ Khái Lộ 48
3.1.9 Thiên Môn Bổ Phổi 49
3.1.10 Siro Ích Nhi 50
3.1.11 Siro Vinaho 51
3.1.12 Heviho 52
3.1.13 Slaska 53
3.1.14 Xuyên Bối Tỳ Bà Cao 54
3.1.15 Prospan 55
3.1.16 Ho Astex 56
3.1.17 Thuốc ho P/H 57
3.1.18 Ginkid 58
3.1.19 Pectol 59
3.1.20 Quất – Mật ong – Tâm Việt 60
3.2 BÀN LUẬN 66
3.2.1 Chế phẩm chứa dược liệu có tác dụng trị ho 66
3.2.2 Tình hình buôn bán thành phẩm tác dụng gan mật có nguồn gốc thảo dược tại các nhà thuốc 67
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
4.1 KẾT LUẬN 68
4.2 KIẾN NGHỊ 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 1 70
PHỤ LỤC 2 72
PHỤ LỤC 3 77
Trang 9Hình 1.10 Mạch Môn
Hình 1.11 Thiên môn đông
Hình 1.12 Núc nác
Hình 1.13 Tỳ bà ….……… Hình 1.14 Vỏ qu.ýt (trần bì)
Hình 1.15 Cây thường xuân
Hình 1.16 Cây Kha tử……… Hình 1.17 Cây Gừng
Hình 1.18 Cây Xạ can ……….Hình 1.19 Cây bọ mắm ……… Hình 1.20 Cây quất
Hình 1.21 Xuyên bối mẫu………
Trang 10MỞ ĐẦU
Nước ta nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, có địa hình thay đổi từ Bắc vàoNam, nhiệt độ và lượng mưa trung bình năm phân bố Không đồng đều đã tạo nênnhiều thảm thực vật quan trọng, với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng
về chủng loại, trong đó có nguồn tài nguyên cây thuốc Theo thống kê của Viện DượcLiệu (Bộ Y Tế), tính đến cuối năm 2007 đã ghi nhận và thống kê được ở Việt Nam có3.948 loài thực vật có giá trị làm thuốc trong đó có khoảng 3.000 loài cây mọc tựnhiên (hơn 90%), đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp nguồn nguyênliệu ban đầu để sản xuất thuốc dùng trong nước và nhập khẩu
Thị trường tiêu thụ dược liệu và các sản phẩm từ dược liệu ở Việt Nam là rất lớn, bao gồm: Hệ thống khám chữa bệnh bằng YHCTgồm có: 63 bệnh viện YHCT công lập; hệthống bệnh viện đa khoa có khoa YHCT công lập Tổ YHCT; khoảng 80% Trạm YB
Tế xã có hoạt động khám chữa bệnh bằng YHCT và gần 7.000 cơ sở hành nghề YHCT
tư nhân sử dụng dược liệu trong khám chữa bệnh Đồng thời, có 226 cơ sở sản xuất thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, được cấp số đăng ký lưu hành sử dụng dược liệu làmnguyên liệu làm thuốc trong sản xuất
(http://dantocmiennui.vn)
Ngành y tế đã tổng hợp được danh mục các loài cây thuốc từ cộng đồng các dân tộc vàthu thập, sưu tầm được gần 1.300 bài thuốc dân gian trên cả nước Những tri thức bản địa này là cơ sở quan trọng nhằm hỗ trợ cho việc sàng lọc, nghiên cứu phát triển sản phẩm phục vụ công tác phòng và chữa bệnh của nhân dân
Theo kết quả điều tra khảo sát của các nhà nghiên cứu khoa học đa nghành khác cho biết Việt Nam có khoảng 12.000 loài thực bậc cao có mạch (đã xác định tên của 8.000loài), 6.000 loài nấm, 800 loài rêu và hàng trăm loài tảo lớn Trong đó có tới gần 4.000loài thực vật bậc cao và bậc thấp được dùng làm thuốc, chúng được phân bố rộng khắp
cả nước (https://vnpca.org.vn)
Đến năm 2016, Việt Nam đã ghi nhận được trên 5.000 loài thực vật được sử dụng làm thuốc; trong đó có gần 200 loài có tiềm năng khai thác và phát triển trồng để đáp ứng nhu cầu sử dụng trong nước và hướng tới xuất khẩu (như: Quế, Hồi, Hòe, Nghệ, Actiso, Sa nhân, Kim tiền thảo, Đinh lăng, Thảo quả…)
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 80% dân số ở các nước đang phát triển sửdụng y học cổ truyền hoặc thuốc từ thảo dược để chăm sóc và bảo vệ sức khỏe Chính
vì vậy, ngoài những tiềm năng và thế mạnh về nguồn tài nguyên và thuốc từ dược liệu,Việt Nam có nhiều cơ hội giúp thúc đẩy phát triển ngành dược liệu trong nước
Trang 11Từ xa xưa con người đã biết sử dụng các loài cây hoang dại để làm thức ăn, vật liệuxây dựng, chất đốt, thức ăn gia súc hay làm đồ gia dụng và đặc biệt dùng làm thuốcchữa bệnh Khi đó, người ta chỉ biết sử dụng cây cỏ hoang dại để làm thuốc trị một sốbệnh thông thường như cảm, sốt, đau đầu, bệnh ngoài da.
Về sau mới đi sâu tìm hiểu về cây cỏ để chữa các bệnh nan y về gan, thận, tim
mạch…Cho đến nay, mặc dù khoa học hiện đại phát triển theo hướng sử dụng hóa chấtlàm thuốc để chữa trị thì cây cỏ làm thuốc vẫn đóng một vai trò quan trọng trong nền
Y học cổ truyền và là nguồn nguyên liệu quý cho nhiều loại thuốc hiện đại có nguồngốc từ các hợp chất tự nhiên.Với điều kiện tự nhiên thuận lợi và xu hướng “trở vềthiên nhiên” thì việc sử dụng các thuốc từ dược liệu của người dân ngày càng gia tăng.Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều loại dược phẩm và thực phẩm chức năng cónguồn gốc thảo dược có thành phần được chiết xuất từ cây thuốc do các công tychuyên sản xuất thuốc từ dược liệu như: Traphaco, dược phẩm OPC…Trong số đó cónhững loại cây có tác dụng điều trị các bệnh lý về đường hô hấp đặc biệt là bệnh honhư: Bạc Hà, Húng Chanh, Gừng
Tuy nhiên, với sự đa dạng về sản phẩm cũng như mẫu mã người tiêu dùng rất dễ mua
và sử dụng, đó là con dao hai lưỡi bởi dùng với liều lượng vừa phải thì có tác dụngchữa bệnh, song dùng không đúng cách hoặc quá liều có thể dẫn đến ngộ độc hoặcbiến chứng Do vậy, để góp phần kiểm soát các nguy cơ tiềm ẩn, để cung cấp chongười tiêu dùng thông tin của những sản phẩm nguồn gốc từ thảo dược có tác dụng
trên đường hô hấp Chúng tôi tiến hành thực hiện tiểu luận “Khảo sát chế phẩm có tác dụng trị ho nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh An Giang năm 2020” với các mục
tiêu:
1 Tìm hiểu về bệnh trên đường hô hấp và một số dược liệu có tác dụng trị ho
2 Khảo sát các chế phẩm có tác dụng trị ho nguồn gốc từ dược liệu trên các nhàthuốc, ở địa bàn Thành Phố Châu Đốc tỉnh An Giang
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 T NG QUAN V B NH HO Ổ Ề Ệ
1.1.1 Khái quát v b nh ho ề ệ
Ho là một phản xạ có điều kiện xuất hiện đột ngột và thường lặp đi lặp lại, nó có tác dụng giúp loại bỏ các chất bài tiết, chất có thể gây kích thích, các hạt ở môi trường bênngoài và các vi khuẩn bám vào đường hô hấp Phản xạ ho bao gồm ba giai đoạn: hít vào, một cơ chế buộc phải thở ra, hơi thở ép vào thanh môn đang đóng kín,
lượng không khí từ phổi thoát mạnh ra ngoài sau khi thanh môn mở ra, và thường đi kèm với một âm thanh đặc trưng (http://vi.wikipedia.org/wiki)
1.1.2 Phân lo i b nh ho ạ ệ
Ho mạn tính
Ho mạn tính là ho kéo dài từ 8 tuần trở lên ở người lớn, hoặc bốn tuần ở trẻ em
Nguyên nhân gây ho mạn tính nhiều khi rất khó xác định Những nguyên nhân phổbiến nhất là hút thuốc lá, chảy nước mũi sau, hen suyễn và trào ngược dạ dày thựcquản Tuy nhiên, ho kéo dài trong nhiều tuần thường là hậu quả của một bệnh lý nào
đó Trong nhiều trường hợp, thường có nhiều hơn một nguyên nhân gây ho
Các nguyên nhân sau đây, một mình hoặc kết hợp, gây ra phần lớn các trường hợp homãn tính:
Chảy nước mũi sau: Khi mũi hoặc xoang tiết ra quá nhiều chất nhầy, nó có thểchảy xuống họng và kích hoạt phản xạ ho Tình trạng này còn được gọi là hộichứng ho đường hô hấp trên (UACS)
Hen suyễn: Ho có thể là một triệu chứng của bệnh hen suyễn, có thể xuất hiệntheo mùa, sau nhiễm trùng đường hô hấp trên, hoặc trở nên nặng hơn khi tiếp xúcvới không khí lạnh hoặc một số loại hóa chất hoặc nước hoa Trong một thể củahen, ho là triệu chứng chính
Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD): Đây là bệnh khá phổ biến Acid dạdày trào ngược vào thực quản, gây kích thích cho thực quản Sự kích thích liêntục có thể dẫn đến ho mạn tính Động tác ho, lại làm trầm trọng thêm GERD -một vòng luẩn quẩn
Nhiễm trùng: Ho có thể kéo dài lâu sau khi các triệu chứng khác của viêm phổi,cảm cúm, cảm lạnh hoặc nhiễm trùng đường hô hấp trên đã biến mất Thuốchuyết áp: Thuốc ức chế men chuyển (ACE), thường được kê đơn cho bệnh tănghuyết áp và suy tim có thể gây ho mãn tính ở một số người
(https://pasteur.com.vn)
Ho cấp tính
Trang 13Ho cấp tính là tình trạng ho kéo dài dưới 3 tuần Các nguyên nhân phổ biến gây ho cấptính gồm cảm lạnh, dị ứng, hoặc các triệu chứng khác như: Bệnh tim, dạ dày và hệ thần kinh Các triệu chứng phổ biến thường đi kèm với ho cấp tính nông, thở khò khè,
sỗ mũi, viêm họng
Một số nguyên nhân phổ biến gây ho cấp tính như: Nhiễm trùng hô hấp trên là cácbệnh nhiễm trùng cổ họng, thường do virus gây ra Bệnh thường liên quan đến sốt, đauhọng và chảy nước mũi hoặc tiếp xúc với chất kích thích dị ứng.Trào ngược dạ dàythực quản (hay GERD)
Tình trạng viêm lâu dài của các đường hô hấp Hầu hết những người bị viêm phế quảnmạn tính là những người đang hút thuốc hoặc đã từng hút thuốc Viêm phế quản mạntính thường là một phần của bệnh phổi liên quan đến hút thuốc lá được gọi là bệnhphổi tắc nghẽn mạn tính (COPD)
- Ho mãn tính: ho kéo dài > 8 tuần
Nguyên nhân là bệnh lý đường hô hấp trên:
Các bệnh thường gặp gây ho bao gồm: viêm mũi vận mạch, viêm xoang, polyp mũi.Hen phế quản: là nguyên nhân gây ho kéo dài thứ hai sau bệnh lý mũi xoang Ho thường xuất hiện vào nữa đêm về sáng, khi thay đổi thời tiết, tiếp xúc vị nguyên, có thể thấy khó thở cò cử ở những trường hợp điển hình
Trào ngược dạ dày – thực quản: là nguyên nhân thường gặp Các biểu hiện thường baogồm: ho kéo dài, ho tăng khi nằm, vào lúc đói Cảm giác nóng rát sau xương ức, ợ hơi,
ợ chua, đau thượng vị
Nhiễm trùng đường hô hấp: một số ít nhiễm trùng đường hô hấp còn ho kéo dài (ngay
cả sau khi đã điều trị kháng sinh hiệu quả), thậm chí ho kéo dài quá 8 tuần
(https://kcb.vn)
Viêm phế quản mãn tính
Trang 14Là tình trạng viêm đường hô hấp mãn tính và có tổn thương trong viêm phế quản mạn
tính chủ yếu khu trú ở niêm mạc đường thở Bệnh thường khởi phát do các đợt nhiễm trùng đường hô hấp, gây viêm, phù nề, tăng tiết và thắt hẹp đường thở Khi không được điều trị phù hợp, hoặc các đợt nhiễm trùng đường hô hấp tái đi, tái lại nhiều lần, khi đó bệnh phát triển thành viêm phế quản mạn tính
Triệu chứng lâm sàng viêm phế quản mạn tính
Khi một người có các biểu hiện lâm sàng sau đây thì có thể hướng tới viêm phế quản mạn tính:
– Ho kéo dài: thường ho húng hắng, hoặc thành cơn, biểu hiện bệnh thường nặng lên sau những đợt nhiễm trùng đường hô hấp, hoặc khi có thay đổi thời tiết, khi trời lạnh, tiếp xúc khói, bụi
– Khạc đờm kéo dài, đờm thường có màu trắng, trong những trường hợp có bội nhiễm
do vi khuẩn: đờm thường có màu vàng, hoặc màu xanh
– Ít gặp sốt trong diễn biến thông thường của viêm phế quản mạn Biểu hiện này thường gặp hơn khi bệnh nhân viêm phế quản mạn bị cúm, hoặc có những đợt cấp tínhnặng do vi khuẩn
– Khó thở: cũng là biểu hiện ít gặp trong viêm phế quản mạn Nếu bệnh nhân có biểu hiện khó thở thì thường cần tìm bằng chứng chẩn đoán bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản, hoặc bệnh nhân có viêm phế quản mạn, nhưng kèm căn nguyên khác gây khó thở như: suy tim…
– Mệt mỏi: người bệnh thường than phiền mệt mỏi, tuy nhiên, ít khi gặp biểu hiện gầy sút cân.Các biểu hiện bệnh nêu trên thường xuất hiện tái đi, tái lại nhiều lần, việc điều trị mỗi đợt thường kéo dài
Các bác sỹ thường không nghi nhận dấu hiệu bất thường rõ rệt trên khi tiến hành khámbệnh cho những người có viêm phế quản mạn tính
(https://bvnguyentriphuong.com.vn)
Ho ra máu
Là tình trạng khạc ra máu khi cố gắng sức ho, máu thường có bọt, màu đỏ tươi Trướckhi ho thường có triệu chứng: nóng rát sau xương ức, đau ngực, ngứa cổ Diễn tiếngiúp gợi ý là: ho ra máu với số lượng giảm dần đến hết
Các nguyên nhân thường gặp
+Lao phổi: Đây là nguyên nhân thường gặp
Triệu chứng gợi ý: Ho khạc đàm trên 2 tuần, có thể kèm ho ra máu tươi hoặc đàmvướng máu, có thể từ ít đến nhiều, gầy sút, kém ăn, mệt mỏi, sốt nhẹ về chiều, ra mồhôi đêm, đau ngực, tình trạng nặng thì sẽ gây khó thở
Cận lâm sàng cần cho chẩn đoán: chụp X quang phổi và xét nghiệm đàm
Bệnh có tính lây lan và để lại nhiều di chứng nên cần được phát hiện và điều trị sớm
+ Dãn phế quản
Trang 15Dãn phế quản thường do di chứng của lao phổi hoặc sau một nhiễm trùng mạn tính ởphổi như áp xe phổi, viêm phổi do hít phải dị vật đường thở.
Biểu hiện bằng: ho ra máu lượng ít (3-5ml, khoảng một muỗng cà phê) tự cầm trongvòng 3-5 ngày, tái đi tái lại nhiều lần, hoặc ho ra máu lượng nhiều (>100 ml) có thểdẫn tới tử vong
Cận lâm sàng cần cho chẩn đoán: X quang phổi và CT ngực có cản quang
Điều trị bằng phẫu thuật cắt bỏ thùy phổi bị dãn, hoặc thuyên tắc mạch máu
+Ung thư phổi
Đây là bệnh lý ác tính, diễn tiến thường âm thầm, giai đoạn đầu ít có triệu chứng, hayxảy ra ở người hút thuốc lá nhiều
Giai đoạn trễ sẽ có biểu hiện: ho kéo dài, đau ngực, khó thở, sụt cân, ho ra máu thườnglượng ít
Cận lâm sàng cần cho chẩn đoán: X quang phổi, CT ngực có cản quang, nội soi phếquản, sinh thiết u
Điều trị tùy theo đánh giá giai đoạn tiến triển của bệnh
+ Bệnh lý nhiễm trùng hô hấp: Có thể do viêm phổi hoại tử, viêm phế quản cấp, áp
xe phổi, u nấm phổi, nấm phổi
Triệu chứng gợi ý thường có: sốt, ho khạc đàm mủ, đau ngực kiểu màng phổi (nghĩa làđau ngực khi ho, hít sâu vào, thay đổi tư thế)
Bordet-sẽ bị chết
Bệnh ho gà có những dấu hiệu, triệu chứng như sau:
+ Giai đoạn đầu: thường xuất hiện những cơn ho nhẹ, sau đó ho nhiều hơn kèm hắt hơi, chảy nước mũi và sốt nhẹ
+ Giai đoạn kịch phát: các cơn ho kéo dài, xuất hiện tự nhiên hoặc do một kích thích nhỏ Thậm chí có những bệnh nhân bị ho nhiều, đỏ mặt, thở rít như tiếng rít ở cổ gà khi hít thở, nôn nhiều đờm đặc Đặc biệt ho gà ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ thường kèm theo những cơn ngừng thở ngắn
+ Bên cạnh những dấu hiệu trên, trong giai đoạn này, còn kèm theo một số dấu hiệu như: chảy máu cam, xuất huyết kết mạc mắt hay bầm tím quanh mi mắt dưới
+ Giai đoạn phục hồi: ở giai đoạn này, các cơn ho ngắn lại và số cơn giảm, tình trạng
ho có thể tồn tại vài tuần rồi khỏi
Bệnh ho gà lây truyền qua đường hô hấp, do tiếp xúc trực tiếp với dịch từ niêm mạc mũi, họng của người bệnh Khả năng lây lan của bệnh rất cao, đặc biệt với trẻ em khi
Trang 16cùng sinh hoạt trong một không gian khép kín như hộ gia đình hay trường học
(https://www.vimec.com)
Ho có đờm
Ho kèm theo chất được tạo thành do chất nhầy, bạch cầu, hồng cầu mủ và những chất
lạ xâm nhập vào cơ thể Cổ họng tăng tiết chất nhầy gây ngứa ngáy, khó chịu
Người bệnh sẽ luôn có cảm giác ho liên tục đến khi loại bỏ được cục đờm ra khỏi cổ họng.bên cạnh đó còn kèm theo các biểu hiện triệu chứng: Cảm giác nặng ngực, khó thở nghẹt thở mệt mỏi, nghẹt mũi Quá trình này kéo dài có thể gây biến chứng
Viêm phế quản mãn tính: Ho có đờm kéo dài từng đợt, liên tục trong ít nhất 90 ngày trong năm Đờm màu trắng đục hoặc màu vàng, mủ
Giãn phế quản: Ho có đờm vào buổi sáng sau khi thức dậy Đờm có màu trắng đục, đóng thành khuôn
Hen phế quản: Ho có đờm trắng dính Thông thường, triệu chứng này xuất hiện thì cơngiảm dần
Viêm phổi: Đờm vàng có màu rỉ sét, kèm theo hội chứng nhiễm trùng, đau tức ngực ở vùng phổi bị viêm
Lao phổi: Cơ thể mệt mỏi, sốt nhẹ về chiều, gầy sút Xét nghiệm đờm thường cho kết quả dương tính với vi khuẩn lao
Ho do nhiễm virut
+ Ho thường là ho khan, đau ngực, ít gặp triệu chứng viêm long đường hô hấp trên + Khó thở, thở nhanh tím tái
+ Ran nổ, ran ẩm (chi nghe phổi)
+ Có thể dẫn đến suy hô hấp cấp tiến triển ARDS (Bộ Y Tế 2005)
Ho là một bệnh lý thường gặp và nhiều nguyên nhân gây ra: Trong không khí có rất nhiều hạt bụi như bụi từ thuốc lá, từ các khói công nghiệp hoặc từ những đám cháy lớn Những hạt bụi có kích thước nhỏ hơn 2.5 micro sẽ dễ dàng đi vào trong niêm mạc mũi, thẩm thấu và khuếch tán vào trong phế quản phổi, gây nên tình trạng kích ứng viêm, làm cho niêm mạc đường hô hấp bị viêm, sau đó gây ra tình trạng thiết lập
và tái tạo lại niêm mạc đường hô hấp là phù nề và dày đường hô hấp
Đối với những ảnh hưởng từ không khí ô nhiễm đến người bệnh, bản thân mỗi người cần tự bảo vệ là chính Khi ra đường cần phải đeo khẩu trang Tránh tập trung những nơi đông người vì những hạt bụi này có thể lan truyền qua đường hô hấp, rất dễ bị mắcbệnh
1.2 D ƯỢ C LI U CÓ TÁC D NG TR HO Ệ Ụ Ị
1.2.1 Cây B c Hà ạ
1.2.1.1 Tên khoa học: Mentha arvensis L.
1.2.1.2 Họ: Hoa môi (Lamiaceae)
Trang 17Hình 1.1 Cây Bạc Hà (https://herophamrm.com)
1.2.1.3 Mô tả:
Cây bạc hà là cây thảo sống lâu năm, cao từ 10-70cm, thân vuông có màu tía, mọcđứng hay bò, thân và lá đều có bông Lá mọc đối, chéo chữ thập, mép có răng cưa, mặttrên và dưới lá đều có lông che chở và lông tiết Hoa tự hình xim co, mọc vòng ở kẽ lá,cánh hoa hình hoa môi màu tím hay hồng nhạt, đôi khi có màu trắng Toàn cây có mùi
thơm (Nguyễn Huy Công 2005).
1.2.1.8 Thành phần hóa học
Hoạt chất chủ yếu trong bạc hà là tinh dầu bạc hà Tỷ lệ tinh dầu trong bạc hà thường
từ 0.5 đến 1% có khi lên tới 1.3 - 1.5 %
Thành phần chủ yếu trong tinh dầu gồm: Mentola C10H19OH có trong tinh dầu với tỷ lệ
40 - 50 %, mentola trong tinh dầu ở trạng thái tự do nhưng một phần ở dạng kết hợpvới acid axetic (Đỗ Tất Lợi, 2004)
Trang 18Ngày uống từ 4 – 8 g dạng thuốc pha
Tinh dầu và mentola
1.2.2.1 Tên khoa học: Coleus aromaticus Benth
1.2.2.2 Họ: Hoa môi (Lamiaceae)
1.2.2.4 Phân bố
Cây húng chanh có nguồn gốc ở đảo Moluques, được trồng ở khắp Việt Nam để lấy lá,
có mùi thơm dễ chịu như mùi chanh, vị trước thơm sau hắc, mát Dùng làm gia vị Tại các nước: Trung Quốc, Campuchia có tên là sak đam ray Thường chỉ dùng tươi (Đỗ Tất Lợi, 2004)
Trang 191.2.2.10 Cách dùng – liều dùng
Dùng 5 - 7 lá húng chanh, rửa sạch, ngâm nước muối Sau đó nhai và ngậm
Sử dụng 15 - 16 lá húng chanh tươi, rửa sạch Cho vào bát rồi thêm mật ong vào, đem hấp cách thủy Lấy nước uống 2 lần mỗi ngày
1.2.3 Cây B ch Ch ạ ỉ
1.2.3.1 Tên khoa học: Angelica dahurica
1.2.3.2 Họ: Hoa tán (Apiaceae)
Trang 20Hình 1.3 Cây B ch Ch (ạ ỉ http://www.thuocdantoc.org)
1.2.3.3 Mô tả
Bạch chỉ là cây sống lâu năm có chiều cao trung bình từ 1 - 1.5 m, đường kính có thểtới 2 - 3 cm Thân rỗng, mập, mặt ngoài màu tím hồng phía dưới thân nhẵn, không cólông , nhưng phía trên , gần cụm hoa thì có lông ngắn Lá phía dưới to, có cuống dài,phiến lá 2-3 lần xẻ lông chim, thùy hình trứng dài, dài 2 - 6 cm rộng 1 - 3 cm, mép córăng cưa, lá phía trên nhỏ hơn, toàn bộ cuống lá phát triển thành bẹ bao ôm lấy thân,hai mặt đều không có lông, nhưng trên đường gân của mặt trên có lông ngắn Cụm hoahình tán kép mọc ở kẽ lá hay đầu cành, cuống tán dài 4 - 8 cm, cuống tán nhỏ dài 1
cm, hoa màu trắng, quả dài chừng 6 mm, rộng 5 - 6 mm (Đỗ Tất Lợi , 2004).
1.2.3.4 Phân bố
Cây bạch chỉ mọc ở đồng bằng và những vùng núi cao mát Cây sinh trưởng tốt nhất ở khu vực miền Bắc, bao gồm các tỉnh như Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Lào Cai…
có màu trắng (Đỗ Tất Lợi, 2004).
1.2.3.8 Thành phần hóa học
Theo Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam, thành phần chủ yếu của bạch chỉ là tinh dầu Ngoài ra còn có các dẫn chất Curamin bao gồm: byak – angelicin, byak angelical, oxypeucedanin, imperatorin, isoimperatorin, phelloterin, xanthotoxin, anhydro
byakangelicin, neobyak angelicol, marmezin, hydrocarotin
Trang 21Cây bán hạ Việt Nam (Typhonium trilobatum Schott) còn gọi là củ chóc, lá ha chìa,
cây chóc chuột, là một loại cỏ không có thân, có củ hình cầu đường kính tới 2cm Lá hình tim, hay hình mác, hoậc chia 3 thuỳ dài 4 - 15 cm rộng 3.5 - 9 cm Bông mo với phần hoa đực dài 5 - 9 mm, phần trần dài 17 - 27 mm Quả mọng, hình trứng dài 6mm
1.2.4.8 Thành phần hóa học
Bán hạ Việt Nam và chưởng diệp bán hạ chưa thấy có tài liệu nghiên cứu
Bán hạ Trung Quốc Lý Thừa Cố (Trung Quốc dược dụng thực vật đồ giám) có một ít tinh dầu 0.003 - 0.013 %, một chất ancaloit, một ancol, một chất cay, phytosterol Ngoài ra còn dầu béo, tinh bột, chất nhầy
Trang 22Bột bán hạ 80g, bột gừng sống 50g, nước 3000ml đun sôi và sắc cho đếnkhi cạn còn 1000ml : Lọc qua bông và dùng với nước cất pha thêm vào cho đủ 1000ml ( mỗi ngày
dùng 200 - 600ml tương ứng với 8 - 24 g (Đỗ Tất Lợi, 2004 ).
15 cm, rộng 4 mm, mặt ngoài màu vàng lục, mặt trong màu đỏ tươi, có mùi thối; 4 nhị
dài 4 - 5 cm Quả nang chứa nhiều hạt Cây ra hoa tháng 3-6 có quả tháng 6-8 (Tuệ
Đào lấy củ già rửa sạch cắt bỏ rễ 2 đầu, đem đồ vừa chín, hoặc nhúng nước sôi, củ nhỏ
để nguyên, củ lớn bổ đôi, phơi nắng hoặc tẩm rượu, sấy khô (Bản Thảo Cương Mục)
Trang 23Rửa sạch, ủ mềm rút lõi, xắt mỏng phơi khô, dùng sống Tẩm mật một đêm rồi saovàng (dùng chín), (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược).
1.2.5.8 Thành phần hóa học
Trong rễ củ có các alcaloid, chủ yếu là stemonin, tuberostemonin, isotuberostemonin,hypotuberostemonin, oxytuberostemonin, stemin, stenin, glucid 2.3 %, lipid 0.83 %;protid 9.0 %, acid hữu cơ (citric, formic, malic, suecinic )
1.2.5.9 Công dụng
Bách bộ có tác dụng nhuận phế chỉ khái, diệt rận, sát trùng
Chủ trị các chứng: thương phong khái thấu, bách nhật khái (ho gà), phế lao, giun kim,chấy rận, chàm lở (theo y học cổ truyền)
Tác dụng diệt ký sinh trùng: dịch cồn hoặc nước ngâm kiệt của Bách Bộ có tác dụngdiệt ký sinh trùng như chấy rận, bọ chét, ấu trùng ruồi, muỗi, rệp (Trung Dược Học).Tác động lên hệ hô hấp: nước sắc Bách bộ không tỏ ra có tác dụng giảm ho do chíchIod nơi mèo Bách bộ có tác dụng làm giảm hưng phấn trung khu hô hấp của động vật,làm giảm ho do ức chế phản xạ ho Đối với kháng Histamin gây co giật, Bách bộ cótác dụng giống như Aminophylline nhưng hòa hoãn và kéo dài hơn (Trung Dược Học).Dùng trong bệnh nhiễm: Theo dõi hơn 100 bệnh nhân dùng nước sắc Bách bộ, chothấy có 85 % có hiệu quả giảm ho (Trung Dược Học)
Tác dụng trị ho: Stemonin có tác dụng làm giảm tính hưng phấn của trung tâm hô hấpcủa động vật, ức chế phản xạ ho, do đó có tác dụng trị ho Bách bộ đã được thí nghiệmchữa lao hạch có kết quả tốt (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam)
Tác dụng trị giun và diệt côn trùng: ngâm giun trong dung dịch 0.15 % Stemonin, giun
sẽ tê liệt sau 15 phút Nếu kịp thời lấy giun ra khỏi dung dịch, giun sẽ hồi phục lại.Tiêm dung dịch Stemonin sulfat (3mg) vào ếch nặng 25g, có thể làm cho ếch tê bại,sau 12 giờ thì bình phục Dùng rượu thuốc Bách bộ 1/10 trong rượu 700, ngâm hoặcphun vào con rận, rận sẽ chết sau một phút Nếu ngâm rệp, con vật sẽ chết nhanh hơn(Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam)
Tác dụng kháng khuẩn: Bách bộ có tác dụng diệt vi khuẩn ở ruột gìa và kháng vikhuẩn của bệnh lỵ, phó thương hàn (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam)
1.2.5.10 Cách dùng - liều dùng
- Bách bộ 12g, Kinh giới 10g, Bạch tiền, Cát cánh đều 10g sắc nước uống, trị ho ngoạicảm
- Bách bộ 10 - 15g sắc uống trị ho
1.2.6 Cây Cam Thảo Bắc
1.2.6.1 Tên khoa học: Radix Glycyrrhiza uralensis.
1.2.6.2 Họ: Cánh bướm (Papilionaceae)
Trang 24Hình 1.6.Cây cam thảo bắc (http://www.thuocdantoc.org)
1.2.6.3 Mô Tả
Cây cam thảo (Glycyrrhiza uralensis) là một cây sống lâu năm thân có thể cao tới 1m
hay 1.5 m Toàn thân cây có lông rất nhỏ Lá kép lông chim lẻ, lá chét 9 - 17, hìnhtrứng đầu nhọn, mép nguyên, dài 2 - 5.5 cm, rộng 1.53 cm Vào mù hạ và mùa thu nởhoa màu tím nhạt, hình cánh bướm dài 14 - 22 mm Qủa giáp cong hình lưỡi liềm dài 3
- 4 cm, rộng 6 - 8 cm, màu nâu đen, mặt quả có nhiều lông Trong quả có 2 - 8 hạt nhỏ
dẹt, đường kính 1.5 - 2 mm màu xám nâu, hoặc xanh đen nhạt, mặt bóng (Đỗ Tất Lợi,
Rễ to nhỏ đều dùng được nên khi đào tránh làm sây xát và đứt rễ Đào thăm dò dần từtrên xuống, khi thấy chỗ nào ít rễ có thể đào sâu chỗ đó Nếu trồng trên đất dốc nênđào phía thấp trước
1.2.6.7 Bào Chế:
Trang 25Sau khi thu hoạch chải sạch đất bằng bàn chải, phân loại to, nhỏ, phơi khô Khi khôđược 50%, bó thành bó, sau đó chỉ phơi đầu cắt, không phơi cả rễ, để cho vỏ vẫn giữđược màu nâu đỏ đẹp Có thể dùng dạng sống (Sinh thảo), hoặc dạng tẩm mật (Chíchthảo) hay dạng bột mịn Rửa sạch đất cát, bóc lấy vỏ hoặc thái mỏng nếu lá rễ nhỏ, rồiphơi hoặc sao khô.
Chích Cam thảo: Lấy Cam thảo đã thái phiến, đem tẩm mật (cứ 1 kg Cam thảo, dùng
200 g mật, thêm 200 g nước đun sôi), rồi sao vàng thơm
Trong cam thảo còn có các dẫn chất triterpenoid khác như: acid liquiritic (acid nàykhác acid glycyrrhetic bởi nhóm carboxyl ở C-29), acid 18-alpha-hydroxy-glycyrrhetic, acid 24-hydroxyglycycrrhetic, glabrolid, desoxyglabrolid, isoglabrolid,24-alpha-hydroxyisoglabrolid, acid liquiridiolic, acid 11-desoxoglycyrrhetic, acid 24-hydroxy 11-desoxoglycyrrhetic
Các flavonoid là nhóm hoạt chất quan trọng thứ hai có trong rễ cam thảo với hàmlượng 3 - 4 % Có 27 chất đã được biết, quan trọng nhất là hai chất liquiritin vàisoliquiritin (hay isoliquiritirosid) Những dẫn chất coumarin: umbelliferon, herniarin,liqcoumarin (= 6 - acetyl - 5 hydroxy - 4 - methyl coumarin) Trong rễ cam thảo còn có
20 - 25 % tinh bột, 3 - 10 % glucose và saccharose Toàn bộ các chất chiết được bằngnước có thể đến 40%
1.2.7 Cây Cát Cánh
1.2.7.1 Tên khoa học: Platycodon grandiflorum Jacq.
1.2.7.2 Họ: Hoa chuông Campanulaceae
Trang 26Hình 1.7 Cây Cát Cánh (https://opcphamma.com)
1.2.7.3 Mô tả:
Cát cánh là một loại cây nhỏ, mọc lâu năm Thân cao 60 - 90 cm Lá gần như không
có cuống Lá phía dưới mọc đối hoặc mọc vòng 3 - 4 lá Phiến lá hình trứng, mép córăng cưa to Lá phía trên nhỏ, có khi mọc so le, dài từ 3 - 6cm, rộng 1 - 2.5 cm Hoamọc đơn độc hay mọc thành bông thưa Dài màu xanh, hình chuông rộng, dài 1cm,mép có 5 răng Tràng hình chuông màu xanh tím hay trắng Quả hình trứng ngược Cóhoa từ tháng 5 - 8 Quả tháng 7 - 9 (Đỗ Tất Lợi, 2004)
Rễ Cát cánh khô hình gần như hình thoi, hơi cong, dài khoảng 6 – 19 cm, đầu trên thôkhoảng 12 - 22 mm, bên ngoài gần như màu trắng, hoặc màu vàng nhạt, có vết nhăndọc sâu cong thắt, phần lồi ra hơi bóng mượt, phần trên hơi phình to, đầu trước cuốngnhỏ dài, dài hơn 32 mm, có đốt và vết mầm không hoàn chỉnh, thùy phân nhánh ởđịnh, có vết thân, dễ bẻ gãy, mặt cắt gần màu trắng hoặc màu vàng trắng Từ giữa tâm
có vân phóng xạ tỏa ra (Dược Tài Học)
Trang 27Hiện nay dùng củ đào về cắt bỏ thân mềm rửa sạch ủ một đêm, hôm sau sắt lát mỏngphơi khô dùng sống Khi làm dùng hoàn sắt lát, sao qua rồi tán bột mịn.
Trị ho có đờm hôi tanh: Ngày uống 3 - 9g, dưới dạng thuốc sắt
Chữa ho, tiêu đờm: Cát cánh 4g, cam thảo 8g, nước 600ml Sắc còn 200ml chia 3 lầnuống trong ngày (Đỗ Tất Lợi, 2004)
1.2.8 Cây Cỏ Xạ Hương
1.2.8.1 Tên khoa học: Thymus vulgaris.
1.2.8.2 Họ: Hoa môi (Lamiaceae).
Hình 1.8 Cỏ Xạ Hương (http://www.thuocdantoc.org)
1.2.8.3 Mô tả:
Cỏ xạ hương là cây dưới bụi, cao từ 30 - 70 cm, tạo thành khóm xám hay lục trăng trắng, thân gỗ, mọc đứng hay nằm, phân nhóm, có lông mịn Lá cây nhỏ, hình giáo, dàikhoảng 5 - 9 mm Hoa nhỏ, mọc ở nách lá, màu hồng hoặc trắng, thường nở vào tháng
6 - 10 Quả bế, có bốn hạch nhỏ màu nâu
1.2.8.4 Phân bố:
Dược liệu được tìm thấy nhiều ở các nước thuộc khu vực ôn đới ở châu Âu Tại Việt
Nam, cây được nhập khẩu và trồng ở Sapa để làm thuốc
Trang 281.2.8.5 Bộ phận dùng: Ngọn cây mang hoa lá
Thành phần hóa học quan trọng nhất là thymol và carvacro lvà eugenol
Thymol là một monoterpen phenol có công thức C10H14O, được chiết xuất từ cỏ xạhương, có mùi thơm đặc trưng
Thymolvà Carvacrol có hoạt tính kháng virus vi khuẩn và hoạt tính kháng viêm mạnh
1.2.8.9 Công Dụng
Cỏ xạ hương có tác dụng hành khí giảm đau, khu phong giải biểu Đau đầu, cảm mạo, giúp tiêu hóa dễ dàng Ngăn ngừa các bệnh về đường hô hấp như: Viêm thanh quản, viêm phế quản Giảm các triệu chứng ho ho do cảm cúm hay các bệnh về đường hô hấp
1.2.8.10 Cách dùng - liều dùng
Trà cỏ xạ hương: Dùng 2 muỗng cà phê cỏ xạ hương tươi hoặc 1 muỗng cỏ xạ hương khô đem hãm trong bình chứa 300 ml nước Đổ nước ra cốc, thêm một ít mật ong để tăng hương vị trị ho và viêm phế quản
1.2.9 Cây Ma Hoàng
1.2.9.1 Tên khoa học: Ephedra sinica Stapf.
1.2.9.2 Họ: Ma hoàng (Ephedraceae)
Trang 29Hình 1.9 Ma Hoàng (http://tracuuduoclieu.vn)
1.2.9.3 Mô tả
Ma hoàng mọc thẳng đứng cao chừng 30 - 70 cm thân có nhiều đốt, mỗi đốt dài chừng
3 - 6 cm, trên có rảnh dọc Lá mọc đối hay mọc vòng từng 3 lá một, thoái hóa thành 3
lá nhỏ, phía dưới lá màu hồng nâu, phía trên màu tro trắng, đầu lá nhọn và cong, hoa đực, hoa cái khác cành, cành hoa đực nhiều hoa hơn (4 - 5 đôi ), quả thịt, màu đỏ giống như quả nho (Đỗ Tất Lợi, 2004 )
1.2.9.4 Phân bố
Ma hoàng chưa thấy ở nước ta, số lượng ta dùng hiện nay đều nhập của Trung Quốc Đối với thế giới Ma Hoàng của Trung Quốc là tốt nhất, vì nhiều hoạt chất, Ma Hoàng mọc nhiều ở Hoa Bắc, Tây Bắc, chủ yếu là mọc hoang, loài phổ biến nhất là Thảo Ma Hoàng, rồi đến Mộc Tặc Ma Hoàng thường bán hai thứ lẫn lộn, loài trung Ma Hoàng thường chỉ tiêu thụ trong nước tại nơi có cây, ít khi bán nơi khác (Đỗ Tất Lợi, 2004)
1.2.9.5 Bộ phận dùng: Quả
1.2.9.6 Thu hái
Thu hái Ma Hoàng vào mùa thu, trong khi nghiên cứu định lượng hoạt chất, người ta cũng thấy vào mùa thu hoạt chất đạt 100%, mùa xuân hoạt chất đạt 25 - 30 %, mùa đông hoạt chất 50% Trong bộ sách thuốc cổ nhất của Trung Quốc (thần nông bản thảo), người ta cũng đã quy định Ma Hoàng phải hái vào tiết lập thu, khi thân còn hơi xanh, bỏ các mấu và quả Khoa học hiện nay đã chứng minh kinh nghiệm đó là đúng (Đỗ Tất Lợi, 2004)
1.2.9.7 Bào chế
Võ quả chứa rất ít alkaloid, nếu đợi cây già, ngả màu nâu thì vị thuốc hết hiệu lực, chỉ dùng cho trâu bò ăn mà thôi quả
1.2.9.8 Thành phần hóa học
Ma hoàng có chứa alkaloid, trong đó chủ yếu là ephedrine và một ít tinh dầu Tỉ lệ một
ít tinh dầu trong ma hoàng có từ 1 - 2.5 % Dược điển quy định không dưới 0.8 % (Nguyễn Huy Công, 2005)
1.2.10.1 Tên khoa học: Ophiopogon japonicus
1.2.10.2 Họ: Hoàng tinh (Convallariaceae)
Trang 30Hình 1.10 Mạch Môn ( http://www.thuocdantoc.org)
1.2.10.3 Mô tả
Cây thảo sống dai nhờ thân rễ ngắn Lá mọc chụm ở đất, giẹp, xếp làm 2 dây Hoa mọcthành chùm nằm ở trên một cán hoa trần dài 10- 20 cm Hoa nhỏ, màu lơ sáng, có cuốnngắn, xếp 1 - 3 cái một ở nách các lá bắc màu trắng Bao hoa 6 mảnh, rời hay dính ở gốc Nhị 6, bao phấn mở dọc Bầu 3 ô, một vòi nhụy với 3 đầu nhụy Qủa mọng màu tím, chứa 1 - 2 hạt mạch môn
1.2.10.4 Phân bố
Mạch môn có nguồn gốc từ Nhật Bản Hiện nay, mạch môn được trồng làm cây cảnh
ở nhiều nơi và được trồng để làm dược liệu
Rửa sạch rễ củ cho nhanh, để ráo nước cho se vỏ, dùng nhíp cùn rút bỏ lõi Củ to thì
bổ đôi, phơi khô hoặc sau qua, dùng hoặc tẩm nước cho mềm, rút bỏ lõi Muốn tán
Trang 31thành bột sau khi rút bỏ lõi, sao nóng, để nguội, làm như vậy 3- 4 lần thì khô dòn, tán thành bột
Ngày dùng 6 - 12 g dạng thuốc sắc Dùng riêng hay phối hợp với rẻ quạt, lá hẹ, hoa đu
đủ đực, húng chanh để trị ho (Tuệ Tĩnh Thiền Sư)
1.2.11 Cây Thiên Môn Đông
1.2.11.1 Tên khoa học: Asparagus cochinchinnensis.
1.2.11.4 Phân bố
Trang 32Mọc hoang và được trồng khắp nơi ở nước ta, để lấy rễ Có khi được trồng trong chậu
để làm cảnh Nhiều nhất ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Thanh Hóa…
Các nước khác như: Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản…
có thể thủy phân để cho axit aspartic và ammoniac Ngoài ra còn có chất nhầy Có tài liệu nói còn có tinh bột, sacaroza Các hoạt chất khác chưa rõ (Đỗ Tất Lợi, 2004).Trong củ có tinh bột, đường, chất nhầy và khoáng chất Hoạt chất là Asparagin, một acid amin có tác dụng lọc máu, dẫn lưu gan, thận, ruột phổi, dịu kích thích tim, lợi tiểu, giảm đường huyết, nhuận tràng Thường được sử dụng làm thuốc cường tráng chongười cơ thể suy nhược về thể chất và thần kinh, người thiếu máu, các bệnh về đường
hô hấp (thổ huyết, ho ra máu, ho mãn tính, tiêu đờm, làm phổi bớt nóng), các bệnh về khớp, tiêu khác, tiểu tiện bí, táo bón (Võ Văn Chi, 2000)
1.2.11.9 Công dụng
Có tác dụng dưỡng âm, nhuận táo, thanh nhiệt hóa đờm, dùng chữa thổ huyết ho ra máu, tiêu khát, nhiệt bệnh tân dịch hao tổn, tiện bí Những người tỳ vị hư hàn, tiết tả Không dùng được
1.2.11.10 Cách dùng- liều dùng
Thuốc dùng chữa ho, lợi tiểu tiện và chữa sốt
Liều dùng: 10 g – 15 g một ngày dưới dạng thuốc sắc hoặc nấu thành cao
Ho đờm thổ huyết, hơi thở ngắn: Thiên môn mạch môn ngủ vị tử, sắc thành cao, luyện với mật mà uống
Trang 33Hình 1.12 Núc nác (http://www.thuocdantoc.org)
1.2.12.3 Mô tả
Cây nhỡ, cao 8 - 10 m, thân nhẵn, ít phân cành, vỏ cây màu xám tro, mạt trong màu vàng Lá xẻ 2 - 3 lần, lông chim, dài tới 1.5 cm Hoa màu đỏ sẫm, mọc thành chùm dài
ở ngọn thân Đài hình ống, cứng, dày, có 5 khía nông Tràng hình chuông, phình rộng,
có 5 thùy họp thành hai môi 5 nhị sinh sản bằng nhau Bầu hơi dài, chứa nhiều noãn xếp thành 4 hàng Qủa nang, rất to, dài 50 - 80 cm, chứa nhiều hạt có cánh mỏng
1.2.12.4 Phân bố
Núc nác được tìm thấy ở Xri Lanca, Ấn Độ, miền Nam Trung Quốc, các nước Đông Nam Á, Philippin Mọc hoang ở vùng đồi núi thường xanh, các quần thể thứ sinh, và những nơi ẩm thấp ở độ cao 900 m Những nơi tìm thấy núc nác như Hà Giang, QuảngBình, Yên Bái
1.2.12.8 Thành phần hóa học
Vỏ cây có chứa hỗn hợp flavonoid và các chất baicain và oroxylin
Trang 34Lá dày, chất cúng, giòn, dễ bẻ gãy; không mủi, vị hơi đăng Tỳ bà diệp thái sợi: Các sợi nhỏ có một mặt màu lục sâm, nâu vàng hoặc nâu dỏ, tương đối mịn Mặt còn lại cỏlông mãng và gân lá nhô len Chất dai, giòn, không mùi, vị hơi đắng (Dược Điển Việt Nam V, 2018)
1.2.13.4 Phân bố
Trang 35Cây tỳ bà diệp có nguồn gốc từ Trung Quốc và Nhật Bản Hiện nay, ở nước ta, loại dược liệu này cũng đã được trồng ở một số địa phương như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Nội…
1.2.13.5 Bộ phận dùng
Lá của cây tỳ bà được sử dụng để làm vị thuốc Khi chọn cần chú ý lựa lá dày, không non cũng không già Ưu tiên những lá nguyên, không sâu, không úa, có màu xanh lục hoặc hơi nâu hồng
Lá hàm chứa tinh dầu bay hơi, thành phần chủ yếu là nerolidol và farnesol, còn có α và
β pinene, camphene, laurene, p-Cymene, linalool, α-Ylangene , α và β farnesene, camphor, nerol, geranyl alcohol, α-Cubebin , elemol, cis-β, γ-hexenol và linalool oxide Còn chứa amygdalin, ursolic acid, oleanolic acid, tartaric acid, citric acid, malicacid Tannin, vitamin B và C v.v… và còn chứa sorbitol (Trung dược đại từ điển).Tác dụng dược lý: Chất chiết từ lá khống có tác dụng kháng khuẩn, còn có thể kích thích sinh trưởng khuẩn cầu chùm sắc kim vàng (Trung dược đại từ điển)
Trang 36Hình 1.14 Cây quýt (https://amp.thaythuoccuaban.com)
1.2.14.3 Mô tả
Cây gỗ nhỏ có dáng chắc và đều, thân có cành và gai, lá đơn mọc so le, phiến lá hình ngọn giáo hẹp có khớp, trên cuống lá có viền mép Hoa nhỏ màu trắng, ở nách lá Qủa hình cầu hơi dẹt, màu vàng da cam hay đỏ, vỏ mỏng, nhẵn hay sần sùi, không dính vớimúi nên dễ bóc, cơm quả dịu thơm, hạt xanh
qua Tùy thuộc theo bài thuốc và loại bệnh mà cách chế biến khác nhau
Hái quả chín, bóc lấy vỏ phơi hay sấy nhẹ đến khô Trước khi dùng loại bỏ tạp chất, tẩm nước ủ mềm, thái sợi, phơi âm can đến khô (Dược điển Việt Nam V, 2018)
Trang 371.2.14.8 Thành phần hóa học
Trong trần bì có 2 loại dầu, loại dầu cam 0.50 % và loại dầu cam rụng 0.50 % thành
phàn chính là d và dl - limonen78,5% ,d và dl - limonene 2.5% tương ứng với 2 loại dầu và linalool 15.4 % Còn có một ít citral Dịch của quả còn có đường và acid amin
tự do, acid citric, vitamin C, carotene, lá cũng chứa 0.5% tinh dầu, hạt cũng có tinh dầu, còn có các chất như: a- humulenol acetat và humulene có tác dụng giống như vitamin P, humulene còn có công dụng kháng histamin Còn hoạt chất a- humulenol cótác dụng làm giảm sự điều tiết dịch vị dạ dày, hạn chế tình trạng viêm loét ở dạ dày
1.2.12.9 Công dụng
Lý khí kiện tỳ, hóa đờm ráo thấp Chủ trị: Bụng đau, đầy trướng, kém ăn, nôn mửa, ỉa lỏng, ho đờm nhiều Thành phần hóa học trong trần bì được xem là thuốc kích thích niêm mạc đường hô hấp, giúp làm tăng tiết dịch và loãng đờm Bên cạnh đó, xuyên trần bì có tác dụng làm giãn phế quản và hạ cơn hen Sử dụng dịch cồn chiết xuất từ quất bì có thể ngăn chặn cơn co thắt phế quản ở chuột lang do histamin gây ra Nước sắc của trần bì tươi hoặc dịch chiết của trần bì với cồn ở liều lượng bình thường có tác dụng hưng phấn tim Nếu dùng ở liều lượng lớn có công dụng ức chế
Trần bì có tác dụng ức chế sự sinh trưởng của các chủng vi khuẩn như trực khuẩn dunghuyết hoặc ái huyết tụ cầu khuẩn và có công dụng chống dị ứng, ức chế cơ trơn của tử cung và lợi mật
1.2.14.10 Cách dùng – liều dùng
Chữa ho mất tiếng: Trần bì 12 g, sắc với 200 ml nước, còn 10ml cho thêm đường vào,
uống trong ngày
Trị rối loạn tiêu hóa ăn Không tiêu: Dùng 10 gram trần bì, 10 gram sinh khương, 3 quảđại táo, 10 gram hậu phác, 4 gram cam thảo và 6 gram thảo quả nướng Sắc thuốc và
uống Sử dụng liên tục 5 ngày giúp cải thiện triệu chứng khó chịu ở bụng
1.2.15 Cây Thường Xuân
1.2.15.1 Tên khoa học: Hedera sinensis.
1.2.15.2 Họ: Nhân sâm (Araliaceae).
Trang 38Dây thường xuân có khả năng tái sinh khỏe sau khi bị chặt Trồng được bằng từngđoạn dây Có thể thu hái dây quanh năm.
1.2.15.5 Bộ phận dùng: Rễ, thân, lá và quả, dùng tươi hay phơi khô.
1.2.15.6 Thu hái
Hoa thu hái vào tháng 5 - 8, quả tháng 9 - 11
1.2.15.7 Bào chế
Trang 39Thân, lá, hạt nấu uống với rượu ấm có thể dùng để giải ngộ độc Hạt ngâm rượu để trịbệnh phong huyết, đau lưng Quả dùng ngoài diệt chấy Chất gôm, một dịch rỉ nhựa từthân cây già là thuốc kích thích và điều kinh Trong y học dân gian Ý, lá thường xuânđược dùng dưới dạng thuốc hãm uống để trị sỏi mật và dạng thuốc sắc rửa trị đau dâythần kinh, viêm mô tế bào và đau răng.
1.2.15.8 Thành phần hóa học
Các thành phần chính trong lá thường xuân: saponin 4-5% HederasaponinB,
HederasaponinC, HederasaponinD, là 3 saponin chính và một lượng nhỏ α-hederin,
trong đó đóng vai trò quan trọng trong tác dụng long đờm (tăng tiết dịch ở phế nang, làm loãng đờm), giảm co thắt phế quản nên làm dịu cơn ho Thành phần khác:
Flavonoid, dẫn xuất của acid phenolic
Trang 40Hình 1.16 Cây Kha tử (http://www.thuocdantoc.org)
1.2.16.4 Phân bố
Kha tử mọc ở Miền Nam Campuchia (còn gọi là Sramar), Lào, Ân Độ, Miến Điện và Thái Lan, trước đây cũng nhập từ Ân Độ Hiện nay có thể tự túc trồng ở Vân Nam, Quãng Đông, Quãng Tây