1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu

117 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 4,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái quát về gan mật Gan là một cơ quan của các động vật có xương sống, bao gồm cả con người, nằm trong ổ bụng, dưới lồng ngực, chiếm một phần diện tích khá lớn ở vùng hạ sườn phải trải

Trang 1

1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 TỔNG QUAN VỀ BỆNH GAN MẬT

1.1.1 Khái quát về gan mật

Gan là một cơ quan của các động vật có xương sống, bao gồm cả con người, nằm trong ổ bụng, dưới lồng ngực, chiếm một phần diện tích khá lớn ở vùng hạ sườn phải trải dài qua đến vùng thượng vị và tiếp giáp với nhiều bộ phận khác của cơ thể

Cơ quan này đóng một vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa và một số các chức năng khác trong cơ thể như dự trữ glycogen, tổng hợp protein huyết tương và thải độc Gan cũng sản xuất dịch mật, một dịch thể quan trọng trong quá trình tiêu hóa Gan được xem là nhà máy hóa chất của cơ thể vì nó đảm trách cũng như điều hòa rất nhiều các phản ứng hóa sinh mà các phản ứng này chỉ xảy ra ở một số tổ chức đặc biệt của cơ thể mà thôi

Gan người trưởng thành thường nặng 1,4 - 1,6 kg (Cotran, Ramzi S, 2005), mềm, có màu đỏ sẫm Gan là một cơ quan nội tạng lớn nhất trong cơ thể và đồng thời

là tuyến tiêu hóa lớn nhất trong cơ thể Gan nằm ngay dưới cơ hoành (hoành cách mô)

ở phần trên, bên phải của ổ bụng Gan nằm về phía bên phải của dạ dày (bao tử) và tạo nên giường túi mật (Nguyễn Quang Quyền, 2014)

Gan được cung cấp máu bởi hai mạch chính ở thùy phải: động mạch gan và tĩnh mạch cửa (tĩnh mạch gánh) Động mạch gan thường bắt nguồn từ động mạch chủ Tĩnh mạch cửa dẫn lưu máu từ lách, tụy và ruột non nhờ đó mà gan có thể tiếp cận được nguồn dinh dưỡng cũng như các sản phẩm phụ của quá trình tiêu hóa thức ăn Các tĩnh mạch gan dẫn lưu máu từ gan và đổ trực tiếp vào tĩnh mạch chủ dưới

Mật sản xuất trong gan được tập trung tại các tiểu quản mật Các tiểu quản này

sẽ hội lưu với nhau tạo thành ống mật Các ống mật sẽ đổ về ống gan trái hoặc ống gan phải Hai ống gan này cuối cùng sẽ hợp nhất thành ống gan chung Ống cổ túi mật (nối túi mật) vào ống gan chung và hình thành ống mật chủ Mật có thể đổ trực tiếp từ gan vào tá tràng thông qua ống mật chủ hoặc tạm thời được lưu trữ trong túi mật thông qua con đường ống cổ túi mật Ống mật chủ và ống tụy đổ vào tá tràng ở bóng Vater

Gan là một trong số ít nội tạng của cơ thể có khả năng tái tạo lại một lượng nhu

mô bị mất Nếu khối lượng gan mất dưới 25% thì gan có thể tái tạo hoàn toàn Điều này là do tế bào gan có khả năng đặc biệt như là một tế bào mầm đơn thẩm quyền (nghĩa là tế bào gan có thể phân đôi thành hai tế bào gan) Cũng có một số tế bào mầm song thẩm quyền gọi là các tế bào oval có thể biệt hóa thành tế bào gan và tế bào lót mặt trong ống mật (Nguyễn Quang Quyền, 2014)

1.1.2 Viêm gan cấp

Viêm gan cấp (VGC) là tình trạng viêm cấp tính của gan do nhiều nguyên nhân

Trang 2

2

khác nhau Nhiễm trùng đặc biệt là siêu vi hường gan A, B, C là nguyên nhân gây VGC thường gặp nhất Các nguyên nhân không nhiễm trùng có thể là viêm gan do thuốc, độc tố, thiếu máu đa số Bệnh nhân phục hồi hoàn toàn Một số nhỏ chuyển sang viêm gan mạn, xơ gan và ung thư gan (Trần Thị Khánh Tường, 2014)

Về thuật ngữ, người ta chia thành 2 loại viêm gan cấp:

+ Viêm gan cấp đặc hiệu: tác nhân gây bệnh tấn công chủ yếu vào gan Bệnh cảnh lâm sàng nổi bật ở gan và các biến chứng do gan Các triệu trứng ngoài gan là thứ yếu Ví dụ: viêm gan siêu vi thể, Teo gan cấp

+ Viêm gan cấp phản ứng không đặc hiệu (hepatites reactionnelles aigue non specifiques): Thương tổn ở gan chỉ là một trong số nhiều biểu hiện của bệnh cảnh toàn thân Triệu chứng lâm sàng của gan chỉ là một trong những triệu chứng của bệnh chính Có khi triệu chứng rất kính đáo, chỉ biểu hiện gan to lớn như trong nhiễm trùng huyết, trong thương hàn, trong Leptospira, trong sốt rét (Hoàng Trọng Thảng, 2014)

1.1.3 Viêm gan mạn

Viêm gan mạn là biểu hiện của nhiều loại tổn thương gan do nhiều loại nguyên nhân khác nhau trong đó có viêm và hoại tử tế bào gan kéo dài >6 tháng Thể nhẹ là thể không tiến triển hoặc tiến triển rất chậm và không đưa đến xơ hoặc ung thư gan Thể nặng là thể viêm hoại tử dồn dập hoặc nhiều đợt tiến triển tấn công vào các tế bào gan để rồi cuối cùng đưa đến xơ và ung thư hóa Viêm gan mạn do nhiều loại nguyên nhân thường gặp là viêm gan siêu vi nhất là B, C và phối hợp với D và gần đây là viêm gan mạn G, viêm gan mạn tự miễn, viêm gan mạn do thuốc Ngoài ra một số ít trường hợp còn do rối loạn di truyền, biến dưỡng và ngay cả viêm gan do rượu cũng có thể gây ra viêm gan mạn (Hoàng Trọng Thảng, 2014)

1.1.4 Gan nhiễm mỡ

Được xác định là gan nhiễm mỡ khi lượng mỡ chủ yếu là triglyceride vượt quá 5% có trong lượng của gan Nó được gây ra chủ yếu là do gan bị suy giảm trong việc chuyển hóa mỡ; hoặc do khiếm khuyết trong tế bào gan; hoặc đưa và tế bào gan quá nhiều mỡ, acid béo hoặc tinh bột bượt quá khả năng bài tiết mỡ của tế bào gan Sinh thiết gan hoặc hình ảnh hoạc gan qua siêu âm hoặc CT scanner cho thấy lắng đọng các giọt mỡ trong tế bào gan

Mỡ là một trong ba thành phần chính của thức ăn, đây cũng là một trong ba thành phần chính cấu tạo trong tế bào cơ thể được gọi là lipid, protid và glucid Mỡ hay còn gọi là lipid là chất cung cấp năng lượng cao 01 gam mỡ cho 09 kilo calo năng lượng Mỡ bao gồm nhiều thành phần: Cholesterol, HDL – cholesterol, LDL – cholesterol, Triglycerid, VLDL – cholesterol, nếu đi sâu hơn chúng ta có Apo – lipoprotein và các tiểu nhóm của nó Ngày nay, với sự phát triển trong đời sống kinh tế

Trang 3

3

xã hội, sự dư thừa trong chế độ ăn uống, nhất là ăn uống không hợp lý quá nhiều thịt, mỡ; hoặc còn phối hợp với các yếu tố có hại khác như dùng bia rượu, thuốc lá, stress, tĩnh tại, ít vận động và lao động, cùng với những yếu tố khác như nhiễm virus, độc chất đã gây ra nhiều bệnh lý liên quan đến tiêu hóa đó là gan nhiễm mỡ Gan nhiễm

mỡ là khi lượng mỡ trong gan > 5% trọng lượng của gan, và trong tế bào gan chứa các không bào mỡ (Hoàng Trọng Thảng, 2014)

1.1.5 Xơ gan

Xơ gan tên Hy lạp là “kirrhose” có nghĩa là gan bị xơ, do Laennec đặt ra từ năm

1819 khi mô tả tổn thương gan do nghiện rượu lâu ngày, từ đó bệnh được mang tên ông được gọi là xơ gan Laennec (Đào Văn Long, 2002) Đến năm 1919 Fiesinger và Albot đã phân biệt gan bị xơ hoá với xơ gan và định nghĩa xơ gan như sau: “Xơ gan là hậu quả của rất nhiều tổn thương mạn tính dẫn tới huỷ hoại tế bào gan, tăng sinh tổ chức xơ, tăng sinh tái tạo từ những tế bào gan lành và do đó làm đảo lộn hoàn toàn cấu trúc của gan: các bè tế bào gan không còn mối liên hệ bình thường với mạng lưới mạch máu và đường mật nên gan không bảo đảm được chức năng bình thường của nó” (Đồng Đức Hoàng, 2007)

Xơ gan là hậu quả của bệnh gan mạn tính do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng biểu hiện lâm sàng khá giống nhau và diễn tiến qua 2 giai đoạn xơ gan còn bù

và xơ gan mất bù

Theo WHO định nghĩa, xơ gan là quá trình tổn thương gan lan tỏa với sự thành lập tổ chức sợ và đảo lộn cấu trúc tế bào gan để rồi tái tạo thành từng nốt nhu mô gan mất cấu trúc bình thường

Như vậy xơ gan không phải là một bệnh riêng biệt mà là một hội chứng bệnh lý,

là hậu quả cuối cùng của quá trình tổn thương tế bào gan Người ta thấy trong xơ gan

có sự kết hợp của 3 quá trình tổn thương:

- Tổn thương tế bào gan

- Tăng sinh tổ chức liên kết

- Tái tạo tế bào gan

Ba quá trình này tác động lẫn nhau khiến cho xơ gan ngày một nặng thêm

1.1.6 Viêm gan virus

Viêm gan virus là bệnh viêm gan do virus gây ra Hiện nay, người ta đã biết có

6 loại virus gây viêm gan, gọi tên là virus viêm gan A, B, C, D, E, G

Tất cả 6 loại virus trên đều có thể gây ra viêm gan cấp tính, nhưng chỉ virus viêm gan B, C, D là có thể làm cho bệnh viêm gan kéo dài thành mãn tính, rồi dẫn đến

xơ gan.Ngoài ra, virus viêm gan B và C còn có thể gây ra ung thư gan

Ngoài 6 loại virus kể trên, còn có những loại virus khác đôi khi cũng làm viêm

Trang 4

4

gan, ví dụ như CMV (cytomegalovirus), virus Herpes, virus Epstein Barr,

Trong các bệnh viêm gan do virus thì viêm gan virus A, B, C là phổ biến hơn cả; trong đó hai loại viêm gan virus B và C là được quan tâm nhiều nhất ở nước ta hiện nay (http://hasld.org)

1.1.6.1 Viêm gan virus A

Bệnh viêm gan vi rút A là một bệnh viêm gan cấp tính do virút viêm gan A gây

ra (HAV) Bệnh thường khỏi hoàn toàn và không có tổn thương lâu dài Sau khi nhiễm

vi rút viêm gan A thì thường người đã bị nhiễm có miễn dịch suốt đời

Vi rút viêm gan A thuộc họ Picornaviridae, có kích thước rất nhỏ, hình khối đa diện (hoặc hình cầu), đường kính 28 nm Hệ gen gồm có 1 ARN, xoắn, dài khoảng

7500 base Dây này được bao quanh bởi 1 capsid gồm có 3 protein cấu trúc (VP1, VP2, VP3) HAV không có vỏ bao ngoài

Bệnh thường diễn biến lành tính, khỏi hoàn toàn không để lại di chứng Tuy nhiên cũng có thể gặp suy gan cấp nặng và tử vong với tỷ lệ rất thấp Sau khi bị nhiễm, người bệnh sẽ có miễn dịch bền vững

Hiện nay đã có vắc xin dự phòng nên làm giảm rõ rệt số người nhiễm mới HAV (BYT- QĐ 5447, 2014)

1.1.6.2 Viêm gan virus B

Viêm gan vi rút B là một bệnh phổ biến toàn cầu, do vi rút viêm gan B (HBV) gây ra Bệnh có thể lây truyền qua đường máu, đường tình dục, từ mẹ truyền sang con Nếu mẹ nhiễm HBV và có HBeAg (+) thì khả năng lây cho con là hơn 80% và khoảng 90% trẻ sinh ra sẽ mang HBV mạn tính

Viêm gan vi rút B có thể diễn biến cấp tính, trong đó hơn 90% số trường hợp khỏi hoàn toàn, gần 10% chuyển sang viêm gan mạn tính và hậu quả cuối cùng là xơ gan hoặc ung thư gan

HBV thuộc họ Hepadnaviridae, có cấu trúc DNA Dựa vào trình tự các nucleotide, HBV được chia thành 10 kiểu gen khác nhau ký hiệu từ A đến J

HBV có 3 loại kháng nguyên HBsAg, HBeAg và HBcAg, tương ứng với 3 loại kháng nguyên trên là 3 loại kháng thể anti-HBs, anti-HBc và anti-HBe Sự hiện diện của các kháng nguyên, kháng thể này quan trọng trong việc xác định bệnh, thể bệnh cũng như diễn

biến bệnh

Hiện nay đã có vắc xin dự phòng nên làm giảm rõ rệt số người nhiễm mới HBV (BYT- QĐ 5448, 2014)

1.1.6.3 Viêm gan virus C

Bệnh viêm gan vi rút C là bệnh truyền nhiễm do vi rút viêm gan C (HCV) gây

Trang 5

5

ra HCV có cấu trúc di truyền là sợi đơn RNA, thuộc họ Flaviviridae HCV có 6 kiểu gen: 1, 2, 3, 4, 5, 6 Mỗi kiểu gen lại chia thành nhiều dưới nhóm như a, b, Ở Việt

Nam, các kiểu gen thường gặp là 1, 6, 2 và 3

Tỷ lệ nhiễm HCV trên thế giới khoảng 1-3% dân số HCV có thể gây viêm gan cấp, viêm gan mạn, tiến triển thành xơ gan, ung thư tế bào gan (HCC) HCV là một trong những căn nguyên hàng đầu gây bệnh gan mạn tính Bệnh lây nhiễm qua đường máu, tình dục, mẹ truyền sang con (BYT – QĐ 5012, 2016)

1.1.6.4 Viêm gan virus D

Viêm gan vi rút D (HDV) do vi rút viêm gan D gây ra Vi rút viêm gan D được xem là vi rút “không trọn vẹn”, chúng phải mượn lớp vỏ HBsAg để có thể xâm nhập vào tế bào gan Bệnh có đường lây truyền giống viêm gan B: đường máu, đường tình dục, từ mẹ truyền sang con (hiếm gặp)

HDV là vi rút hướng gan, là loại RNA vi rút Quá trình xâm nhập tế bào gan và nhân lên cần có kháng nguyên vỏ của HBV (HBsAg)

Cấu trúc của HDV: bao gồm 1 sợi đơn ARN, kháng nguyên HDAg (Hepatitis D antigen) và lớp vỏ lipoprotein được lấy từ vi rút viêm gan B Bộ gen của HDV: là một phân tử ARN vòng, sợi đơn với khoảng 1676 – 1683 nucleotid

Kháng nguyên HDAg: là một thành phần trong cấu trúc của vi rút HDV, có khoảng 70 phân tử HDAg kết hợp với bộ gen HDV RNA hình thành nên cấu trúc ribonucleoprotein

HDV có nhiều genotype phân bổ theo địa dư Genotype 1 găp trên toàn thế giới, trong khi đó Genotype 2,4 hay gặp ở phía tây Châu Mỹ; Genotype 3 hay gặp ở Nam Mỹ; Genotype 5,6,7,8 hay gặp ở Nam Phi (BYT – QĐ 5449, 2014)

1.1.6.5 Viêm gan virus E

Viêm gan vi rút E (HEV) là một bệnh lây qua đường tiêu hóa, do vi rút viêm gan vi rút E gây ra Bệnh có thể gây thành dịch do nhiễm bẩn nguồn nước

HEV là một vi rút hướng gan, họ Hepeviridae, là một vòng nhỏ RNA đường kính khoảng 34 nm, dài khoảng 7,5 kilobases HEV có 5 genotype (từ 1 đến 5)

HEV hay gặp ở các nước đang phát triển với tỷ lệ từ 0.2 đến 4%, như ở châu Á, Trung Đông và Châu Phi, hiếm gặp ở các nước phát triển, tuy nhiên HEV IgG có thể gặp ở trên toàn Thế giới

Đây thường là một loại bệnh tự khỏi và hầu hết người nhiễm bệnh tự hồi phục

mà không để lại biến chứng về lâu dài Tuy nhiên bệnh có thể trở nên ác tính và nguy hiểm, nhất là khi bệnh nhân đang mang thai ở 3 tháng cuối thai kỳ, tỷ lệ tử vong có thể lên đến 1- 20% Bệnh có thể diễn biến mạn tính ở những bệnh nhân ghép tạng, nhiễm HIV, dùng thuốc ức chế miễn dịch (BYT – QĐ 5450, 2014)

Trang 6

6

1.1.7 Ung thư gan

Ung thư gan là căn bệnh ung thư phổ biến thứ 6 trên thế giới với với trên 782.000 người được chẩn đoán mỗi năm Theo báo cáo của ghi nhận ung thư toàn cầu (GLOBOCAN) năm 2018 trên thế giới mỗi năm có khoảng 841.000 ca mắc mới ung thư gan và 781.000 người tử vong vì căn bệnh này Ung thư gan cũng là bệnh ung thư

có tỉ lệ mắc mới cao nhất ở nước ta trong năm 2018 với 25.335 trường hợp và đặc biệt

tỷ lệ tử vong do căn bệnh này gần tương đương số người mắc bệnh

Ung thư gan gồm ung thư gan nguyên phát và thứ phát

Ung thư gan thứ phát do các tế bào ung thư ở các bộ phận khác của cơ thể đi vào gan gây ra các khối u di căn

Ung thư gan nguyên phát là bệnh lý ác tính của gan xảy ra khi tế bào bình thường của gan trở nên bất thường về hình thái và chức năng Các tế bào ung thư phát triển gây ảnh hưởng đến mô bình thường liền kề và có thể lây lan sang các vùng khác của gan cũng như các cơ quan bên ngoài gan Ung thư gan nguyên phát gồm 3 loại chính: ung thư biểu mô tế bào gan (phát triển từ tế bào gan), ung thư biểu mô đường mật (phát triển từ đường mật trong gan) và u nguyên bào gan (Hepatoblastoma) Trong

đó ung thư biểu mô tế bào gan là hay gặp nhất

Ung thư gan nguyên phát có mối liên quan chặt chẽ với tình trạng nhiễm virus viêm gan B, virus viêm gan C và bệnh lý sơ gan do rượu Ngoài ra, còn có một số yếu

tố nguy cơ khác hiếm gặp như: nhiễm độc tố aflatoxin, dioxin…

Nên sàng lọc phát hiện sớm ung thư gan nguyên phát bằng cách siêu âm ổ bụng, xét nghiệm định lượng Alpha feto protein (AFP), và thử AFP mỗi 6 tháng một lần cho những người có các yếu tố nói trên (BYT – QĐ 5250, 2012)

1.2 DƢỢC LIỆU CÓ TÁC DỤNG TRÊN GAN MẬT

1.2.1 Cây Nghệ

1.2.1.1 Tên khoa học: Curcuma longa L

1.2.1.2 Họ: Gừng - Zingiberaceae

Hình 1.1 Cây Nghệ (http://tracuuduoclieu.vn/)

Trang 7

7

1.2.1.3 Mô tả

Cây thảo, sống lâu năm, cao 0,5 – 1 m, thân rễ phát triển thành củ hình khối,trên

đó phân nhiều nhánh, màu vàng, mùi hắc Rễ to, mọc từ rễ củ, đoạn cuối luôn phình to

ra thành hình thoi Lá to, hình dải, mọc so le, mép lá nguyên, cuống lá có bẹ Hoa tự bông, mọc ỡ kẽ lá, màu vàng Có lá bắc màu lục hoặc pha hồng ở đầu Quả nang hình cầu có 3 ô mở bằng van (Đỗ Tất Lợi, 2004)

Ngoài các chất trên, nghệ còn cho chứa tinh bột, canxi oxalat, chất béo Theo một số nghiên cứu củ nghệ chứa 8-10% nước, 6-8% chất vô sinh, 40-50% tinh bột nhựa (Đỗ Tất Lợi, 2004)

1.2.1.9 Công dụng:

Nghệ có vị đắng, cay, mùi thơm hắc, tính ấm, có tác dụng hành khí phá ứ,

huyết áp Dùng chữa các bệnh: viêm gan, vàng da, loét dạ dày, phụ nữ sau sinh đẻ đau bụng, bế kinh, kinh không đều, ngoài ra còn dùng làm gia vị, thuốc thử

1.2.1.10 Cách dùng liều dùng:

Dùng nước sắc hoặc dùng dạng bột

Bột Nghệ còn dùng chữa thổ huyết, chảy máu cam, nôn ra máu, đau dạ dày Ngày dùng 2 – 4 g, chia 2 lần Phối hợp với Nghệ đen, có củ, quả Quất non, trộn với mật ong làm viên uống chữa vàng da

Dùng Nghệ làm cao dán nhọt: Nghệ 60 g, củ sạch ráy, đem giã nhuyễn, nấu nhừ với nhựa, dầu, sáp, rồi phết lên giấy bản để dán mụn nhọt (Đỗ Tất Lợi, 2004)

Trang 8

Actisô là cây thảo lớn, cao 1 - 1,2 m, có thể đến 2 m Thân ngắn, thẳng và cứng,

có khía dọc, phủ lông trắng như bông Lá to, dài, mọc so le, phiến lá xẻ thùy sâu và có răng không đều, mặt trên xanh lục mặt dưới có lông trắng, cuống lá to và ngắn Cụm hoa hình đầu, to, mọc ở ngọn, màu đỏ tím hoặc tím lơ nhạt, lá bắc ngoài của cụm hoa rộng, dày và nhọn, đế cụm hoa nạc phủ đầy lông tơ, mang toàn hoa hình ống Quả nhẵn bóng, màu nâu sẫm có mào lông trắng (Đỗ Tất Lợi, 2004)

1.2.2.4 Phân bố: Cây được di thực và trồng ở nước ta, nhiều nhất ở Đà Lạt, Sapa, Tam Đảo Có thể trồng được ở đồng bằng (Đỗ Tất Lợi, 2004)

1.2.2.5 Bộ phận dùng: lá

1.2.2.6 Thu hái: Thu hái vào lúc cây chưa ra hoa

1.2.2.7 Bào chế: Dọc bỏ cuống, phơi hoặc sấy khô Cần ổn định dược liệu trước bằng

hơi nước nóng có áp suất cao trước khi chế biến (Nguyễn Huy Công, 2005)

1.2.2.8 Thành phần hóa học

Lá Actiso có chất đắng là cynarin (diester cafeic của acid quinic), các chất phân hủy của cynarin như acid cafeic, acid clorogenic, neoclorogenic, các flavonoid dẫn chất của luteolin như scolymosid, cyanosid, cynarotriosid; ngoài ra còn có pectin, acid malic, các sterol, alcol triterpenic, sapogenin, các muối hữu cơ của kim loại, nhiều nhất là muối kali (Đỗ Tất Lợi, 2004)

Trang 9

9

1.2.2.9 Công dụng

Cụm hoa được dùng trong chế độ ăn của bệnh nhân tiểu đường vì nó chỉ chứa lượng nhỏ tinh bột, carbonhydrat gồm phần lớn là inulin Lá actisô vị đắng, có tác dụng lợi tiểu và được dùng đề điều trị bệnh phù và thấp khớp Ngoài việc dùng đế cụm hoa và lá để ăn, actisô dùng làm thuốc thông tiểu tiện, thông mật, chữa các bệnh suy gan thận, viêm thận cấp và mạn tính, sưng khớp xương

Thuốc có tác dụng nhuận tràng và lọc máu nhẹ đối với trẻ em (Đỗ Tất Lợi, 2004)

1.2.2.10 Cách dùng liều dùng

Lá tươi hoặc khô, đem sắc hoặc nấu cao lỏng, với liều 2 – 10 g lá khô một ngày,

có khi chế thành cao mềm hay cao khô đề bào chế thuốc viên, thuốc tiêm dưới da hay tĩnh mạch Có thể chế thành dạng cao lỏng đặc biệt dùng dưới hình thức giọt

Ngày uống 1 - 3 lần, mỗi lần 10 - 40 giọt Tại miền Nam ở các chợ, người ta còn bán cả thân và rễ actiso thái mỏng phơi khô với cùng công dụng như lá (Đỗ Tất Lợi, 2004)

Trang 10

10

lại thành một cuống ngắn, dài 2,0 cm, có đốm ở mặt dưới Hoa màu xanh hay tím, xếp thành bông, có khi thành hình cầu, và bao phủ ở gốc bởi những lá bắc hình sợi nom như một bao cung (ở loài Nhân trần Adenosma coeruleum R.Br hoa mọc đơn độc hay thành bông không có lá bắc tạo nên bao chung) Quả nang hình trứng, nhẵn, thót lại thành mỏ ngắn Hạt nhỏ, hình trụ hay hình trứng, có vân nang (Võ Văn Chi, 2000)

1.2.3.4 Phân bố

Cây mọc phổ biến khắp nước ta Ở vùng đồng bằng thường gặp mọc dọc bờ ruộng, bãi trống, có nhiều ở Long An, Tiền Giang Có thể trồng bằng hạt

1.2.3.5 Bộ phận dùng: Toàn cây trừ rễ

1.2.3.6 Thu hái: Thu hái phần cây trên mặt đất vào mùa khô

1.2.3.7 Bào chế: Rửa sạch thái nhỏ, phơi khô để dung (Võ Văn Chi, 2000)

1.2.3.8 Thành phần hóa học:

Trong cây có 1.67% kali nitrat, một số saponinglucozit không tan trong nước 0.71% tinh dầu màu vàng, mùi hăng, gần giống như mùi long não và bạc hà, vị nóng Trong dầu, đã phân tích thấy có 5% monotecpen và 2 sesquitecpen trong đó có 38.5% xincola, ngoài ra còn thấy limonene

Nhân trần Việt Nam có 22,6% limonene và 5,8% xincola

1.2.3.9 Công dụng:

Nhân trần chỉ mới dung theo kinh nghiệm dân gian Y học cổ truyền xem Nhân trần có vị đắng, tính bình, hơi hàn, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp, dùng chữa thân thể nóng, da vàng, người vàng, tiểu tiện không tốt

Dùng cho phụ nữ sau khi sinh nở uống để tiêu hóa, chóng lại sức Còn dùng làm thuốc chữa sốt, ra mồ hôi, thông tiểu tiện, chữa bệnh vàng da, bệnh gan (Võ Văn Chi, 2000)

Điều trị viêm gan siêu vi mãn tính gây khó khăn khi tiểu tiện, vàng da: Quế chi

8 g, Nhân trần 16 g, Trư linh, Phục linh, Bạch truật và Trạch tả mỗi thứ 12 g đem sắc uống, ngày dùng 1 thang Sử dụng liên tục trong vài ngày theo chỉ dẫn của bác sĩ để đạt được hiệu quả tốt

Điều trị chứng vàng da do viêm gan siêu vi, cơ thể mệt mỏi, da vàng, tiểu điện

ít, táo bón: Chi tử 12 g, Đại hoàng 9 g, Nhân trần 24 g, Sắc uống, ngày dùng 1 thang

Trang 11

5 hoa Quả hình cầu, khi chín có màu vàng, bóng, nhán, đường kính 5 – 7 mm Hạt màu vàng, hình thận, có mạng, dài 4 mm, rộng 2 mm (Võ Văn Chi, 2000)

1.2.4.4 Phân bố

Cây cà gai leo mọc hoang dọc các bờ bụi, bờ rào ở khắp nơi tại các tỉnh miền Bắc tới Huế và một số nơi như Hậu Giang, Tiền Giang Ở Lào và Campuchia cũng có

1.2.4.5 Bộ phận dùng: Rễ hoặc cành lá

1.2.4.6 Thu hái: Thu hoạch quanh năm

1.2.4.7 Bào chế: Rửa sạch thái mỏng phơi hay sấy khô làm thuốc Dùng tươi hoặc

khô Không phải chế biến gì khác

1.2.4.8 Thành phần hóa học:

Toàn cây và nhiều nhất ở rễ có ancaloit Trong rể còn có tinh bột, saponozit, flavonozit solasodin, solasodinon

Trang 12

1.2.4.10 Cách dùng liều dùng:

Mỗi ngày uống từ 10-20 g rễ khô, dưới dạng thuốc sắc

Để chữa tê thấp, dùng 10 g rễ hoặc cành lá sắc đặc thêm rượu uống Có thể phối hợp với các vị thuốc khác

Ở Tiền Giang có bài thuốc rượu chữa phong thấp: Lát lốt rễ và than 800 g, Cà gai leo 300 g, Cỏ xước 300 g, Thổ phục linh 300 g, Quế chi 100 g, Thiên niên kiện

300 g, Vòi voi 300 g Chế phẩm rượu ngâm theo: 20 phần thuốc khô tán bột, ngâm với

100 phần rượu 500 trong 10 ngày, lược lọc để dùng

Người lớn 1 lần 30 ml, ngày 2 lần, trước khi ăn cơm

Để trị ho gà, dung 10 g rễ phối hợp với 30 g lá chanh sắc uống

Để chữa say rượu, dung rễ sắc uống xát rễ vào rang, tránh say rượu

Có nơi còn dùng chữa rắn cắn: Nhai rễ nuốt nước, bã đắp lên vết bị rắn cắn (Võ

Trang 13

13

1.2.5.3 Mô tả

Rau má là một loại cây thảo mọc bò, phân nhánh nhiều trên mặt đất, rễ mọc ở các mẫu của thân Lá có cuống dài, phiến hình thận hoặc gần tròn, rộng 2 – 4 cm, mép khía tai bèo Thân gầy, cuống dài 2 - 4 cm trong những nhánh mang hoa và dài 10 - 12

cm trong những nhánh thường Cụm hoa hình tán đơn mọc ở kẽ lá, gồm 1 - 5 hoa nhỏ, không cuống, màu trắng hoặc phớt đỏ Quả dẹt rộng 3 – 5 mm, có sống hơi rõ (Võ văn Chi, 2000)

1.2.5.4 Phân bố

Cây mọc hoang tại khắp nơi chổ ẩm mát ở Việt Nam và các nước vùng nhiệt đới như Lào, Campuchia, Inđônêxya, Ấn Độ v.v

1.2.5.5 Bộ phận dùng: Toàn cây

1.2.5.6 Thu hái: Thu hoạch quanh năm

1.2.5.7 Bào chế: Sau vàng hoặc dùng tươi

1.2.5.8 Thành phần hóa học:

Trong cây có ancaloit là hydrocotylin và các glycozit là asiticozit, centellozit

có tác dụng tới mô liên kết giúp cho các mô tái tạo nhanh cóng, do đó làm lành vết thương mau lành và lên da non Chất asiaticozit có tác dụng kháng khuẩn (do làm tan màng sáp của vi khuẩn) giúp cho các mô tái tạo nhanh chóng, do đó làm cho vết thương mau lành và lên da non (Võ Văn Chi, 2000)

1.2.5.9 Công dụng:

Theo y học cổ truyền, cây có vị ngọt hơi đắng, mùi thơm, tính mát, có tác dụng giải quyết, lợi tiểu, tiêu viêm sát trùng, cầm máu, dùng điều trị cảm mạo, phong nhiệt, thủy đậu, sởi, sốt vàng da mặt, viêm họng, viêm hạch nhân, viêm khí quản, ho, viêm đường dẫn tiểu, đái gắt buốt, mụn nhọt, lỡ ngứa, lợi sữa, chảy máu cam, tả lỵ, khí hư

Tại một số nước, người ta chú ý nghiên cứu Rau má để tìm tác dụng chữa bệnh hủi và bệnh lao.Ngoài ra, chất chế từ asiaticozt có tác dụng chống vi trùng lao

1.2.5.10 Cách dùng liều dùng:

Rau má dùng ăn sống hoặc ép nước pha uống cho mát Có thể giã lấy nước uống hoặc sắc thuốc làm giải thuốc, giải nhiệt, giải độc, lợi tiểu, cầm máu (nôn ra máu, chảy máu cam ) trị lỵ, táo bón Ngày ăn chừng 30 – 40 g tươi

Dùng ngoài đắp chữa các vết thương do ngã gãy xương, bong gân và làm tan mụn nhọt Gần đây người ta còn nghiên cứu tác dụng chữa hủi và lao

Rau má 300 g và phèn chua 3 g giã nhỏ, hòa nước dừa vắt lấy nước uống trị kinh nguyệt không đều, đau lưng, tức ngực, đau bụng máu, khô da, nhức đầu, nóng lạnh, bạch đới

Hằng ngày ăn rau má trộn dầu dấm Hoặc rau má hái về, giã nát, vắt lấy nước,

Trang 14

14

thêm đường vào mà uống hằng ngày, chữa viêm tấy, mẫn ngứa (Võ Văn Chi, 2000)

1.2.6 Cây Đậu xanh

1.2.6.1 Tên khoa học: Vigna radiata L

đặc, xếp thành chùm ở nách, quả nằm ngang hình trụ, có lông rồi nhẵn, có đầu nhọn

ngắn Hạt 10 - 15 phân cách nhau bởi các vách, màu lục, bóng (Đỗ Tất Lợi, 2004)

1.2.6.4 Phân bố

Cây được trồng ở khắp nước ta lấy hạt chủ yếu làm thực phẩm Nhiều nước nhiệt đới châu Phi, châu Mỹ cũng trồng Năm 1964, theo thống kê của tổ chức lương nông thế giới FAO sản lượng đậu xanh hạt toàn Thế giới khoảng 9 triệu tấn

1.2.6.5 Bộ phận dùng: Toàn hạt, vỏ hạt

1.2.6.6 Thu hái: Thu hoạch vào mùa thu (tháng 8 – 9)

1.2.6.7 Bào chế: Vỏ hạt Đậu xanh thu được bằng cách xay đậu, ngâm nước và gạn lấy

vò phơi hay sấy khô

1.2.6.8 Thành phần hóa học:

Hạt đậu xanh có trung bình 13,7% nước, 23% protit, 2,4% lipit và 52% gluxit, 4,6% xenluloza Mỗi 100g dậu xanh cung cấp cho cơ thể 329 calo, 62,7 mg canxi, 369,5 mg p, 4,7 mg % Fe, 0,06 mg % caroten, 0,71 mg % vitamin B1, 0,15 mg % vitamin B2, 2,4 mg % vitamin PP, 4 mg % vitamin C

Trang 15

Chữa đái đường (tiêu khát): nấu cháo đậu xanh ăn hằng ngày

Chữa phát nóng, sưng quai hàm nhức nhối: Đậu xanh tán thật nhỏ trộn với dấm

mà phết lên nơi sưng đâu thật dày khò lại thêm dấm vào, mỗi ngày 1 lần, khỏi thì thôi

Trúng phải thuốc có chất độc, ngất đi nhưng tim còn đập: Bột đậu xanh quấy

với nước mà uống (Đỗ Tất Lợi, 2004)

Chữa tiêu chảy nôn mửa: Đậu xanh rang vàng 100 g, muối rang 10 g, hạt tiêu 50

g Tán bột trộn chung cho đều cất kín vào trong lọ Người lớn mỗi lần uống 7 g, cách nhau 3 giờ

Giải say rượu: Nấu cháo đậu xanh để nguội, cho ăn liền vài bát hoặc nhai một nắm lá sống đã rửa sạch thật kỹ rồi nuốt

Trị trúng nắng: Sắc vỏ đậu xanh thật đặc uống trị trúng nắng rất công hiệu

Ăn thịt chim sẻ với gan heo, bò sinh độc; ăn mực ống với đường đen sinh độc;

ăn măng tre lại ăn kẹo mạch nha sinh độc; ăn thịt heo với ốc bươu sinh chứng rụng lông mày; ăn gỏi cá sống lại uống sữa bò sinh độc; ăn cải ba lăng (thứ rau lá chĩa ba, cọng có khía, màu hơi đỏ tía, luộc ăn với đậu hũ rất ngon) uống sữa bò sinh bệnh Lỵ gặp những trường hợp trên uống nước đậu xanh thì giải được độc

Kiêng kỵ: Ăn thịt chó với đậu xanh bụng sẽ trướng to, gặp trường hợp này mau dùng 2 lạng cam thảo nấu uống thì khỏi(Đỗ Tất Lợi, 2004)

1.2.7 Cây Bạch thƣợc

1.2.7.1 Tên khoa học: Paeonia lactiflora

1.2.7.2 Họ: Hoàng liên – Ranunculaceae

Trang 16

1.2.7.5 Bộ phận dùng: Rễ

1.2.7.6 Thu hái: Thu hoạch sau 4 năm Đào lấy thân rễ, cắt bỏ rễ con

1.2.7.7 Bào chế: Đào rễ vào các tháng 8 - 10, cắt bỏ thân rễ và rễ con, cạo, bỏ vỏ

ngoài, đổ lên cho chín (thời gian đào tùy theo rể to nhỏ mà quyết định), sau khi đồ sửa lại cho thẳng và sấy hay phơi khô

Trang 17

Bạch thược được dùng làm thuốc giảm đau, thông kinh trong những bệnh đau bụng (do ruột co bóp quá mạnh), nhức đầu, chân tay nhức mỏi, còn dùng chữa phụ nữ

bế kinh, xích bạch đới lâu năm không khỏi (Đỗ Tất Lợi, 2004)

1.2.7.10 Cách dùng liều dùng:

Ngày dùng 6 – 12 g dưới dạng thuốc sắc

Bạch thược cam thảo thang: Bạch thược 8 g, Cam thảo 4 g, nước 300 ml, sắc còn 100 ml, chia 2 lần uống trong ngày, chữa 2 chân và đầu gối đau nhức không co duỗi được, đau bụng (bài thuốc của Trương Trọng Cảnh)

Quế chi gia linh truật: Quế chi 6 g, Bạch thược 6 g, Đại táo 6 g, Sinh khương 6

g, Phục linh 6 g, Bạch truật 6 g, Cam thảo 4 g, nước 600 ml, sắc còn 200 ml, chia 3 lần uống trong ngày (bài thuốc của Trương Trọng Cảnh dùng chữa đầu nhức mắt hoa)

Thuốc chữa táo bón lâu năm: Dùng bạch thược tươi 24 – 40g, cam thảo sống 10

-15g sắc cùng nước mỗi ngày 1 thang (Đỗ Tất Lợi, 2004)

1.2.8 Hạ khô thảo

1.2.8.1 Tên khoa học: Brunerifla vulgaris L

1.2.8.2 Họ: Hoa môi – Lamiaceae

Hình 1.8 Cây Hạ khô thảo (https://amp.thaythuoccuaban.com)

Trang 18

18

1.2.8.3 Mô tả

Hạ khô thảo là một cây sống dai có thân vuông màu hơi tím đỏ, lá mọc đới, hình trứng hay hình mác dài, mép nguyên hoặc hơi có răng cưa, có ít lông ở thân và lá Cụm hoa mọc ở đầu cành giống như bông do nhiều hoa có cuống ngắn mọc vòng, mỗi vòng có 5 - 6 hoa Đài hoa có 2 môi, môi trên có 3 răng, mồi dưới có 2 răng, hình 3 cạnh Cánh hoa màu tím nhạt hình môi, môi trên như cái mũ, môi dưới xẻ ba, thùy giữa rộng hơn Nhị 2 dài, 2 ngắn, đều thò ra khỏi tràng Bầu có bốn ngăn Vòi nhỏ dài Quả nhỏ cứng (Đỗ Tất Lợi, 2004)

1.2.8.4 Phân bố

Hạ khô thảo hiện nay mới phát hiện được ở Sapa (Lào Cai), Tầm Đảo (Vĩnh Phúc), Hà Giang vào các tháng 4, 5, 6 rất nhiều, sang đến tháng 8 một số đã chết

1.2.8.5 Bộ phận dùng: Cụm hoa và quả

1.2.8.6 Thu hái: Thu hoạch vào mùa hạ, khi một số quả đã chín thì hái cành mang

hoa và quả phơi hay sấy khô

1.2.8.7 Bào chế: Dùng cả bộ phận trên mặt đất (tháo) hái về phơi hay sấy khô

1.2.8.8 Thành phần hóa học:

Hiện nay hãy còn ít tài liệu nghiên cứu về cây này Mới chỉ biết rằng cành mang hoa và quả chứa chừng 3.5% muối vô cơ tan trong nước Trong số muối vô cơ này, 68% là kali clorua, ngoài ra còn thấy một chất có tính chất ancaloit

Hoạt chất khác chưa rõ, gần đây có tác giả lấy được từ cây Bruneifla vulgaris L var lilacifna Nakai (Nhật Bản dược học tạp chí, 1956, 1976, 1974) hái vào tháng 6 khi

ra hoa, chừng 0,56% chất axit ursolic C.H.O (Đỗ Tất Lợi, 2004)

1.2.8.9 Công dụng:

Tính vị theo đông y: vị đắng, cay, tính hàn, không độc, vào hai kinh can và đởm Có tác dụng thanh can hòa, tán uất kết, tiêu ứ sáng mắt, làm thuốc chữa loa lịch, giải trừ nhiệt độc ở tử cung và âm hộ

Bị đảnh hay bị thương: dùng Hạ khô thảo tươi tán nhỏ đắp vào vết thương

Có thể dùng chữa bệnh cao huyết áp với liều 15 g dưới dạng thuốc sắc

1.2.9 Cây Dành dành

1.2.9.1 Tên khoa học: Gardenia jasminoides

1.2.9.2 Họ: Cà phê - Rubiaceae

Trang 19

19

Hình 1.9 Cây Dành dành (https://thuocdantoc.vn) 1.2.9.3 Mô tả

Dành dành là một loại cây nhỏ, cao chừng 1 - 2 m thường xanh tốt quanh năm, thân thẳng Lá mọc đối hay vòng 3 cái một, hình thuôn trái xoan hay bầu dục dài, nhẵn bóng, có lá kèm mềm, to, mặt trên màu sẫm, bóng, ôm lấy cả cành như bẹ Hoa mọc đơn độc ở đầu cành, cánh hoa màu trắng, có mùi thơm Cuống có 6 cạnh hình cánh Đài 6, ống đài có 6 rãnh dọc, tràng có ống trành nhẵn, phía trên chia 6 thùy Nhị 6 Bầu 2 ô, không hoàn toàn chứa nhiều noẵn Nở vào mùa hè Quả hình thuôn bầu dục,

có đài còn lại ở đỉnh, có 6 – 7 rãnh dọc như cánh Thịt quả màu vàng cam, chứa rất nhiều hạt, mùi thơm vị đắng (Võ Văn Chi, 2000)

1.2.9.4 Phân bố

Dành dành mọc hoang ở những nơi gần nước và được trồng tại nhiều vùng ở miền Bắc nước ta Tại miền núi, Dành dành thường thấy mọc hoang ở ven suối Tại đồng bằng, nhân dân thường trồng làm cảnh và lấy quả làm thuốc hay để nhuộm bánh thành màu vàng (bánh xu xê, thạch)

Trong đông y cho rằng để sống: có tác dụng thanh nhiệt (chữa sốt), sao vàng để

tả hỏa (nóng trong người), sao đen để cầm máu

1.2.9.5 Bộ phận dùng: Quả, lá, vỏ, rễ

1.2.9.6 Thu hái: Thu hái quanh năm

1.2.9.7 Bào chế: Để trong 5 phút rồi phơi hay sấy khô Quả Dành dành rất hút ẩm,

cho nên thường xuyên kiểm tra, thấy ẩm phải phơi hay sấy khô lại tránh ẩm mốc

Khi dùng có thể dùng sống (không chế biến gì thêm cả), có thể sao cho hơi sẫm màu hoặc có thể sao cháy đen nhưng chưa thành tro (tồn tính)

1.2.9.8 Thành phần hóa học:

Trang 20

20

Trong Dành dành có một glucozit màu vàng gọi là gacdenin Khi thủy phân, cho phần không đường gọi là gacdenidin tương tự với chất a- croxetin C20HM04, hoạt chất của vị hồng hoa

Ngoài ra, trong Dành dành còn có tanin, tinh dầu, chất peclin

Cis-croxetin là một sắc tố màu vàng, độ chảy 273UC, không tan trong phần lớn dung môi hữu cơ, tác dụng với natri, canxi và amoniac cho muối có tinh thể Cấu tạo của gacdenidin hay cc- croxetin đã được xác định như sau: trong Dành dành có chứa

10 đến 20% manit (Võ Văn Chi, 2000)

1.2.9.9 Công dụng:

Dành dành là một vị thuốc được dùng từ lâu trong đông y dành dành có vị đắng, tính lạnh, có tác dụng thanh nhiệt, tả hỏa, chỉ huyết , tiêu viêm Thường dùng trị sốt, phiến khát, bệnh vàng da, thổ huyết, đổ máu cam, đại tiện ra máu, hỏa bốc lên nhức đầu, đỏ mắt ù tai, tiểu tiện và khó đi, thận viêm, thủy thũng, tiêu khát, mụn nhọt, lở ngứa, viêm tuyến vú (chĩ sốt), tà hỏa, lợi tiểu, cầm máu, dùng trong bệr sốt, người bồn chồn, khó ngủ, miộng khát, họngj đau, mắt đỏ, đa vàng, tiểu tiện khó khăn, ứ huyết, máu cam, lỵ ra máu tiểu tiện ra máu

Vỏ rễ dùng làm thuốc đòn ngã, lại là thuốc chỉ huyết trị được bệnh thổ huyết,

đổ máu mũi

Gacdenin có tác dụng ức có tác dụng ức chế đối với sắc tố mật trong mật máu, làm cho nó giảm xuống, nên dùng điều trị bệnh hoàng đản Nước sắc Dành dành cũng

có tác dụng kháng sinh đối với một số vi trùng

Đối với lượng sắc tố mật Năm 1951, Lý Hy Thần (Trung Hoa tân y học báo, 2

(9): 660- 669) báo cáo, nếu buộc chặt ống mật của thỏ rồi cho thỏ uống cao nước dành dành, thì lượng sắc tố mật trong máu sẽ giảm xuống Lượng cao dành dành càng tăng thì lượng sắc tố mật trong máu càng giảm nhiều

Nếu cho uống Dành dành liên tục với liều cao vừa đúng rồi mối thắt chặt ống mật thì sẽ thâý kết quả rõ rệt hơn

Cao rượu Dành dành cũng cho kết quả tương tự nhưng so với cao nước thì hơi kém hơn

Đối với lượng phân tiết nước mật của thỏ, cao nước Dành dành cũng có tác dụng như cao rượu

1.2.1.10 Cách dùng liều dùng:

Ngày dùng 6 – 12 g hạt hoặc 20 – 40 g rễ sắc nước uống, cũng có thể dùng quả tán bột, hoặc tẩm rượu đắp cục bộ, trị mụn nhọt dùng quả tốt hơn Lá dùng tươi giã đắp đau mắt đỏ, dùng ngoài không kể liều lượng

Người suy nhược, tỳ vị hư hàn, ăn chậm tiêu, ỉa chảy không nên dùng

Trang 21

21

Siro nhân trần: Nhân trần 24 g, Chi tử 12 nước 600 ml, sắc còn 100 ml, thêm đường cho đủ thành siro Chia 3 lần uống trong ngày chữa vàng da, vàng mắt, viêm gan

Chì tử hoàng nghiệt bì thang (đơn thuốc kiểm nghiệm của Trương Trọng Cảnh):

Chi tử 5 g, hoàng nghiệt (tên khác của hoàng bá) 5 g, cam thảo 2 g, nước 600 ml, đun sôi trong nữa giờ, chia 2-3 lần uống trong ngày chữa người bị vàng da, vàng mắt, sốt,

1.2.10 Cây Cà dái dê tím

1.2.10.1 Tên khoa học: Solanum melongena L

Trang 22

1.2.10.6 Thu hái: Quả làm thức ăn hay làm thuốc thu hái như nhau Rễ đào về rửa

sạch, thái mỏng phơi hay sấy khổ cũng được dùng

1.2.10.7 Bào chế: Quả làm thức ăn hay làm thuốc thu hái như nhau Rễ đào về rửa

sạch, thái mỏng phơi hay sấy khổ cũng được dùng

Trang 23

23

1.2.11.3 Mô tả

Cây cỏ, cao 30 – 50 cm, mọc bò Ngọn non dẹt và có phủ lông tơ, màu trắng Lá mọc so le, gồm một hoặc ba lá chét tròn dài l,8 - 3,4 cm, rộng 2 - 3,5 cm, do đó có tên đồng tiền, mặt dưới có lông trắng bạc, mặt trên có những đường gân rất rõ Hoa màu tía, mọc thành chùm xim ở kẽ lá Quả đậu nhỏ, giữa các hạt thắt lại Mùa hoa quả: Tháng 3-5 (Đỗ Tất Lợi, 2004)

1.2.11.4 Phân bố: Cây mọc hoang dại trên những đồi vùng trung du, một số ít vùng núi

1.2.11.5 Bộ phận dùng: Toàn cây

1.2.11.6 Thu hái: Thu hoạch vào mùa thu và hè (tháng 3-5)

1.2.11.7 bào chế: Người ta dùng toàn cây, thu hái chù yếu vào mùa hè và thu, dùng

tươi hay phơi hoặc sao khô (Đỗ Tất Lợi, 2004)

1.2.11.8 Thành phần hóa học:

Kim tiền thảo có mùi mạnh của coumarin và chứa polysaccharid, saponin triterpenic, các flavonoid như isovitexin, vicenin glycosid, isoorientin, Và các chất khác như desmodimin, desmodilacton, lupenon, lupcol, tritriacontan, acid stearic,

1.2.11.10 Cách dùng liều dùng:

Ngày dùng 10 đến 30 g dưới dạng thuốc sắc Dùng riêng hay phối hợp với nhiều

vị thuốc khác

1.2.12 Rau đắng

1.2.12.1 Tên khoa học: Polygonum aviculare L

1.2.12.2 Họ: Rau răm - Polygonacea

Trang 24

ở cạnh, chứa một hạt đầu đen Mùa hoa từ tháng 5 - 6, kéo dài suốt mùa hè (Đỗ Tất Lợi, 2004)

1.2.12.4 Phân bố

Theo A Pételot (1954) cây không thấy mọc ở Việt Nam mà chỉ thấy bán cây khô tại các hiệu thuốc đông y và nhập của Trung Quốc Nhưng thực tế đã phát hiện thấy mọc ở nhiều tỉnh Việt Nam như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Bắc Giang và ngay cả Hà Nội, tại những nơi ẩm như ruộng bỏ hoang, lòng suối cạn, có người trồng một số ít quanh nhà dùng làm thuốc (Đỗ Tất Lợi, 2004)

Trong Rau đắng có 0,35% chất tanin, ngoài ra có vitamin C (tới 900 mg% đối

với cây khô kiệt), carotin (tới 39%), flavonozit avicularin C2H8On, khi thủy phần avicularin sẽ cho quexetin và arabinoza Có tác giả cho rằng có ít ancaloit, nhưng có tác giả cho rằng không có Trong vỏ có anthraglucozit Ngoài ra còn đường, tinh dầu, nhựa, sáp Độ tro 2,44% (Đỗ Tất Lợi, 2004)

Trang 25

25

1.2.12.9 Công dụng:

Theo A D Turova và một số tác giả Liên Xô cũ nghiên cứu tác dụng dược lý của rau đắng mọc ở miền Nam Liên Xô cũ phát hiện thấy tác dụng hạ huyết áp, tăng cường sự hô hấp Dịch chiết nước của Rau đẳng gây co bóp tử cung cô lập hay không

cô lập của súc vật cái, làm tăng thời gian đông máu, tăng lượng nước tiểu

Cũng ở Liên Xô cũ, từ Rau đắng người ta chế biến thành dạng thuốc mang tên avicularen (hỗn hợp đồng đều của dịch chiết rau đắng bằng cồn 70° và bã của cây sau khi đã chiết) Avicularen làm tăng thời gian đông máu của thỏ, nhưng không ảnh hưởng tới độ nhớt cùa máu thỏ Cho avicularen vào tá tràng thỏ cái không gây mê thì biên độ và tần số sự có bóp tử cung tăng lên Avicularen không độc Tại Liên Xô cũ avicularen được dùng cho phụ nữ sau khi đẻ, kết quả tốt đạt tới 60%

Rau đắng (Biển súc) có vị đắng, tính bình, không độc Vào hai kinh vị và bàng quang có tác dụng: lợi tiểu, thống lâm, sát trùng, dùng trong những trường hợp thấp nhiệt, lầm bệnh, vưu trùng, ác thương Trong dân giang Rau đắng được dùng làm thuốc: lợi tiểu, chữa đái buốt, sỏi thận Ngoài ra còn được dùng làm thuốc giải độc, chữa rắn cắn, mụn nhọt, vàng da (Đỗ Tất Lợi, 2004)

Trang 26

1.2.13.4 Phân bố

Cây Mã thầy được nhân dân những vùng núi cao lạnh gần biên giới Việt Nam – Trung Quốc trồng Và một số tỉnh Miền Nam (Đồng bằng song Cửu Long)

1.2.13.5 Bộ phận dùng: Củ

1.2.13.6 Thu hái: Thu hoạch hàng năm vào tháng 12 - 3 năm sau

1.2.13.7 Bào chế: Củ Mã thầy to bằng củ hành, ngoài có lớp vỏ màu nâu đen Khi

dùng thì cạo bỏ lớp vỏ này rồi ăn sống hay nấu với thịt (Đỗ Tất Lợi, 2004)

1.2.13.8 Thành phần hóa học:

Củ mă thầy chứa tối 77% hydrat cacbon (gồm tính bột và đường với số lượng bằng nhau), 8% protein (theo Hooper), nhưng có tác giả lại phân tích thấy trong mã thấy có 60% tinh bột và 7% protein và một ít đường (theo Hemmi)

Năm 1945, Chen và cộng sự (An antibiotic substance in the Chinese Water Chesnut Heireocharis tuberosa-Nature 156: 234-Anh) đã nghiên cứu thấy dịch ép của

củ mã thầy có tác dụng ức chế đối vi với trùng staphyllococ và vi trùng coli (Đỗ Tất Lợi, 2004)

1.2.13.9 Công dụng:

Trang 27

27

Ngoài công dụng làm thức ăn bổ và mát, mã thầy dược dùng làm thuốc chừa bênh tiêu khát (đường tiện), bệnh về gan (vàng da), trường hợp nhiệt (lỵ ra máu, đại tiện táo bón, mắt sưng đỏ (Đỗ Tất Lợi, 2004)

1.2.13.10 Cách dùng liều dùng: Ngày dùng 10 – 20 g dưới dạng thuốc sắc

Dùng glyxêrin để soi sẽ thấy các khuẩn ty không mầu, thỉnh thoảng có các khuẩn ty màu nâu đường kính 3 - 4 cm, Cuống đám tử có đường kính 9 – 18 cm, trên đầu có nhiều đảm bào tử đường kính 11 - 26 lim Ngoài ra, đôi khi có các đám chất keo (Đỗ Tất Lợi, 2004)

1.2.14.4 Phân bố

Phục linh hiện phải nhập của Trung Quốc Loại tốt nhất mọc ở Vân Nam gọi là

Trang 28

28

Vân Linh Thứ ở Quảng Đông có thể không tốt bằng thứ ở Vân Nam Năm 1977 phát hiện thấy có ở vùng Đà Lạt (Lâm Đồng) ở nước ta (Đỗ Tất Lợi, 2004)

1.2.14.5 Bộ phận dùng: Lá

1.2.14.6 Thu hái: Thu hái vào lúc cây chưa ra hoa

1.2.14.7 Bào chế: Dọc bỏ cuống, phơi hoặc sấy khô Cần ổn định dược liệu trước

bằng hơi nước nóng có áp suất cao trước khi chế biến (Nguyễn Huy Công, 2005)

1.2.14.8 Thành phần hóa học

Chưa rõ hoạt chất là gì Tuy nhiên, trong phục linh người ta đã phân tích có chất đường đặc biệt của phục linh: Pachymoza, glucoza, fructoza và chất khoáng

Mới đây người ta nghiên cứu thấy thành phần phục linh gồm 3 loại:

Các axit có thành phần hợp chất tritecpen: Axit pachimic C33H5205, axit tumolosic C31H5fl04, axit eburicoìc C35H50O3, axit pìnicolic C30H46O3, axit 3p-

hydroxylanosta-7,9 (II), 24 trien, 21- oic (Dược học tạp chí ,1970, 90, 475, tiếng

Nhật)

Đường đặc biệt cửa phục linh: Pachyman có trong phục linh tới 75%

Ngoài ra còn ergosterol, cholin, histidin, và rất ít men proteaza (Đỗ Tất Lợi, 2004)

1.2.14.9 Công dụng

Phục linh: Vị ngọt, nhạt, tính bình, vào 5 kính tâm, phế, thận, tỳ và vị Có tác

dụng lợi thủy, thẩm thấp, bổ tỳ, định tủm, dùng chữa tiếu tiện khó khăn, thủy thũng trướng man, tiết tà, phục thán định tàm, an thần chữa hồi hộp mất ngủ

Ngoài ra, Phục linh được coi là vị thuốc bổ, thuốc lợi tiểu, dùng trong bệnh thủy thủng Còn dùng làm thuốc trấn tĩnh, chữa các trường hợp mất ngú, hay sợ hãi, di tinh (Đỗ Tất Lợi, 2004)

1.2.2.10 Cách dùng liều dùng

Ngày dùng 5 đến l0 g dưới dạng thuốc sắc, thuốc bột, viên

Chữa bệnh thúy thũng: Phục linh l0 g, Mộc thông 5 g, Tang bạch bì l0 g, nước

600 ml Sắc còn 200 ml Chia làm 3 lần uống trong ngày

Đơn thuốc chữa phù thũng, sợ hãi: Phụ linh 8g, Cam thảo 3g, Quế chi 4g, Sinh khương 3g, nước 400ml, sắc còn 200ml.Chia làm 3 lần uống trong ngày

Chữa vết đen trên mặt: Tán bột Phục linh mà bôi (Đỗ Tất Lợi, 2004)

1.2.15 Râu ngô

1.2.15.1 Tên khoa học: Stigmata Maydis

1.2.15.2 Họ: Lúa - Poaceae

Trang 29

1.2.15.4 Phân bố: Được trồng khắp nơi nước ta

1.2.15.5 Bộ phận dùng: Râu ngô

1.2.15.6 Thu hái: Thu hoạch vào lúc thu hoạch Ngô

1.2.15.7 Bào chế: Lấy Râu ngô rữa sạch phơi khô, hoặc dùng tươi

1.2.15.8 Thành phần hóa học:

Trong Râu ngô có các chất xitosterol, stigmas- terol, chất dầu, tinh dầu, saponin, glucozit đắng, vitamin c, vitamin K, chất nhầy và một sô' chất khác lg Râu ngô chứa tới 1600 đơn vị sinh lý vitamin K Tỷ lệ muối kali trong Râu ngô cũng cao: 20 g râu ngô phơi khô chứa 0,028 g canxi và 0,532 g kali (Đỗ Tất Lợi, 2004)

Trang 30

Hoa hiên là một loại cò sống lâu năm, thân rễ rất ngắn, có rễ mẫm nhưng nhỏ

Lá hình sợi, dài 30 – 50 cm, rộng 2,5 cm hay hơn, trên mật có nhiều mạch Trục mang hoa cao bằng lá, phía trên phân nhánh, có 6 - 10 đến 12 hoa Hoa to, màu vàng đỏ, có mùi thơm, tràng hoa hình phễu, phía trên xẻ thành 6 phiến Nhị 6 Bầu có 3 ngăn Quả hình 3 cạnh Hạt bóng, màu đen Ra hoa vào mùa hạ và mùa thu (Đỗ Tất Lợi, 2004)

1.2.16.4 Phân bố

Hoa hiên mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi trong nước ta và mọc ở Trung

Quốc, Nhật Bản, châu Âu

1.2.16.5 Bộ phận dùng: Lá, hoa

1.2.16.6 Thu hái: Thu hoạch vào mùa thu đông, có khi vào các mùa khác

1.2.16.7 Bào chế: dùng tươi hay phơi khô, thường dùng tươi (Đỗ Tất Lợi, 2004) 1.2.16.8 Thành phần hóa học:

Khương Chi Nghĩa (Viện dược học Nam Kinh, Trung Quốc) đã chiết được từ rẽ

hoa hiên của Trấn Giang 3 chất có tinh thế gọi là chất A, B và c có độ chảy 165-167°c,

qua thí nghiệm dược lý thì có (áp dụng ức chế đối với huyết hấp trùng nhưng có độc) Các bộ phận khác, chưa thấy có tài liệu nghiên cứu (Đỗ Tất Lợi, 2004)

Trang 31

1.2.16.10 Cách dùng liều dùng:

Liều dùng hằng ngày là 6 – 12 g dưới dạng thuốc sác,hay ép tươi lấy nước uống, Dùng ngoài, lấy củ tươi giã nát dấp lên nơi sưng đau

Chữa chày máu cam: Lá hoa hiên 15 – 20 g, nấu với 300 ml nước, cô còn 200

ml chia 2 lần uống trong ngày

Chữa kinh nguyệt không đều: Hoa hiên 15 g, Ích mẫu thảo 12 g, Ngải cứu 12 g,

rễ Củ gai 20 g sắc uống ngày một thang chia làm 2 lần uống trong ngày, uống liền 7 ngày

Chữa đái buốt đái rắt: Rễ Hoa hiên 15 g, mã đề 12g, Râu ngô 12 g, sắc uống

ngày một thang, chia làm 2 lần uống trong ngày uống liền 5-10 ngày

Chữa mất ngủ: Hoa hiên 12 g, lá Dâu tằm 20 g, lá Vông nem 10 g Nấu canh ăn hàng ngày Hoặc đem Hoa hiên phơi khô trong râm, sao qua lửa, hằng ngày hãm uống

thay chè

Tắc tia sữa: Hoa hiên 12 g, Bồ công anh 40 g Sắc uống ngày một thang, chia làm

3 lần uống trong ngày, dùng liền 7 thang (Đỗ Tất Lợi, 2004)

1.2.17 Cây Râu mèo

1.2.17.1 Tên khoa học: Orthosiphon aristatus

1.2.17.2 Họ: Hoa môi - Lamiaceae

Trang 32

1.2.17.4 Phân bố

Mọc hoang và được trồng ở nước ta Trồng bằng hạt hay dâm cành Còn mọc ở Inđônêxia, Philipin

1.2.17.5 Bộ phận dùng: Lá và phần cây trên mặt đất

1.2.17.6 Thu hái: Thu hái vào khoảng tháng 9 hằng năm Cần thu hái khi cây đã phát

triển, không quá già hay còn quá non Thời điểm tốt nhất là khi cây chuẩn bị ra hoa

1.2.17.7 Bào chế: Trừ rễ Lá thu hái khi cây chưa có hoa, đem phơi khô

Trang 33

33

Nước sắc hay nước pha lá Râu mèo làm tăng lương nước tiểu, đổng thời tăng cà lượng clorua, lượng urê và lượng axit uric Còn có tác dụng chữa xung huyết gan, đường mật Thuốc thổng tiểu tiện dùng trong bệnh sỏi thận, sỏi túi mật, sốt ban, cúm,

tê thấp, phù (Võ Văn Chị, 2000)

1.2.17.10 Cách dùng liều dùng:

Liều dùng 5 – 6 g pha với nửa lít nước Chia 2 lần uống trong ngày, trước khi ăn cơm 15 - 30 phút Uống nóng Thường uống luôn 8 ngày, lại nghỉ 2 đến 4 ngày Có thể dùng cao lỏng 2 – 5 g

1.2.18.4 Phân bố

Cây ưa ẩm và sáng, thường được trồng trên diện tích lớn ở bãi sông, đất bằng, cao nguyên (Bãi sông Hồng, sông Đáy, sông Thái Bình; Lâm Đồng và rải rác ở Đồng

Trang 34

34

Bằng Sông Cửu Long) Trên thế giới, dâu tằm phân bố ở Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Ấn Độ thuộc vùng ôn đới ấm hoặc cận

1.2.18.5 Bộ phận dùng: Lá non hoặc lá bánh tẻ, vỏ rễ, cành, quả

1.2.18.6 Thu hái: Thu hái lá vào mùa hạ, còn cành thì thu hái quanh năm, Qủa hái khi

chin

1.2.18.7 Bào chế: Cành nhỏ phơi khô, vỏ rễ trước khhi phơi phải cạo sạch lớp vỏ

ngoài (Võ Văn Chi, 2000)

1.2.18.8 Thành phần hóa học

Trong lá Dâu tằm có chất cao su, chất carotene, tannin, ít tinh dầu, Vitamin C, colin, adenine, pentazan, đường, ecdyteron và inckosteron là những chất nội tiết cần thiết cho sự thay đổi lốt của côn trùng

Vỏ rễ Dâu có axit hữu cơ, tannin, pectin và những hợp chất flavon bao gồm mulberrin, mulberrochromene, cyclomulberrin, morin Qủa dâu có đường (glucoza và fructose), axit malic và xucxinic, protit, tannin, vitamin C

Cành dâu có chứa Mulberrin, mulberrochromene, cyclomulberrin, morin, dihydromorin, dihydrokaempferol, maclurin

Tang thầm (Quả dâu): chứa Anthocyan (sắc tố màu đỏ của quả chín), đường (glucose, fructose), vitamin B1, C, tanin, protit và acid hữu cơ (Võ Văn Chi, 2000)

1.2.18.9 Công dụng

Lá Dâu có vị ngọt chất, hơi đắng, tính mát, có tác dụng giải cảm phong nhiệt, lương huyết, sáng mắt Vỏ rễ có vị ngọt nhạt, hơi đắng, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt

1.2.18.10 Cách dùng liều dùng

Chữa ra mồ hôi trộm ở trẻ em, mồ hôi tay ở người lớn: Lá Dâu non nấu canh với tôm, tép hoặc dùng lá dâu bánh tẻ 12 g, Cúc hoa, Liên kiều, Hạnh nhân đều 12 g, Bạc hà, Cam thảo đều 4 g, Cát cánh 8 g, Lô căn 20 g, sắc uống

Cây dâu tằm chữa đau mắt, viêm kết mạc: Lá Dâu nấu nước xông vào mắt; lá Dâu bánh tẻ, rửa sạch, giã nát đắp, có thể làm tan huyết khi đau mắt đỏ sung huyết (Võ Văn Chi, 2000)

1.2.19 Cây Bạch đồng nữ

1.2.19.1 Tên khoa học: Clerodendron suamatum

1.2.19.2 Họ: Cỏ roi ngựa - Verbenaceae

Trang 35

35

Hình 1.19 Cây Bạch đồng nữ (https://amp.thaythuoccuaban.com)

1.2.19.3 Mô tả

Cây nhỏ cao chừng 1 m đến l,5 m Lá rộng hình trứng, dài 10 – 20 cm, rộng 8

-18 cm, đầu nhọn, phía cuống hình tim hay hơi phăng, mép có răng cưa to, thố, mặt trên màu sẫm hơn, có lông ngắn, mặt dưới có màu nhạt hơn, gần như bóng, trên những đường gân hơi có lông mềm, vỏ có mùi hơi hòi đặc biệt của cây mò, cuống lá dài khoảng 8 cm Hoa màu hồng nhạt hay trắng, có mùi thơm, mọc thành hình mâm xôi gồm rất nhiều tán, toàn cụm hoa có đưòng kính khoảng l0 cm Đài hoa hình phểu, phía trên xẻ 5 thùy hình 3 cạnh tròn Tràng hoa đường kính l,5 cm, phía dưới thành hình ống nhò, dài 2,5 cm hay hơn, 4 nhị dính trên miệng ống tràng cùng với nhị thòi ra quá tràng Vòi nhuỵ thường ngắn hơn chỉ nhị Bầu thượng hình trứng Quả hạch gần hình cầu, còn đài tồn tại bao ở ngoài (Đỗ Tất Lợi, 2004)

1.2.19.7 Bào chế: Hái về phơi hay sấy khô, không phải chế biến gì đặc biệt Có thể

dùng rễ: đào rễ vể rửa sạch, phơi hay sấy khô Khi dùng thái mỏng sắc uống

1.2.19.8 Thành phần hóa học

Trang 36

36

Chưa có tài liệu nào nghiên cứu Sơ bộ nghiên cứu, chúng tôi chỉ mới thấy trong

nước sắc lá có rất nhiều muối canxi Trong một loài Clerodendron trichoiomum Thunb, chưa phát hiện thấy ở nước ta, nhưng gần đây rất hay được dùng ờ Trung Quốc với tên xú ngô đồng (hay Hái châu thường sơn) người ta cũng thấy có rất nhiều muối

canxi, ngoài ra còn ancaloit như orixin C18H2306N, orixídin C]5H|304N, iso- orixin, kokusagin CI3H9N40 và tinh dầu (theo Khâu Thẩn Ba-Trung dược chí hoá học dữ dược

lý tr 68)

1.2.19.9 Công dụng

Bạch đồng nữ có vị hơi đắng, mùi thơm, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc khu phong, trừ thấp, tiêu viêm Thường dùng chữa bạch đới, tử cung viêm loét, kinh nguyệt không đều, viêm mật vàng da, gân xương đau nhức, mỏi lung, huyết áp cao (Võ Văn Chi, 2000)

và ôm vào thân, mặt trên và mặt dưới đều có lòng cứng màu tráng nhạt, lá mọc ở thân hẹp, nhỏ, tất cả các lá đều có răng cưa ờ mép Cụm hoa hình đầu gồm 4 hoa màu tím nhạt mọc dạng ra, thành nhánh dài 5 – 10 cm, tận cùng bời một xim dơn Quả hình thoi

Trang 37

1.2.20.5 Bộ phận dùng: Toàn cây

1.2.20.6 Thu hái: Thường người ta hái toàn cây vào lúc đang có hoa

1.2.20.7 Bào chế: Hái về thái nhò, sao vàng cho hơi khô vàng mà dùng Có khi người

ta chỉ hái về phơi khô dùng dần

1.2.20.10 Cách dùng liều dùng

Liều dùng trung bình: Ngày uống 50 g tươi sao vàng sắc với 3 bát (600 ml) nước, cô đặc còn 200 ml, chia làm nhiều lần uống trong ngày

Cây chỉ thiên chữa bệnh vàng da: Dùng Chỉ thiên tươi, sử dụng cả rễ, khoảng

150 g Sau đó nấu cùng với 100 g thịt lợn Nấu ăn liên tục trong vòng 4 – 5 ngày

Cây chỉ thiên chữa ung nhọt độc mọc ở dưới nách: Để chữa ung nhọt độc, nên

sử dụng toàn bộ cây chỉ thiên tươi, rồi cho thêm muối và giấm, sau đó giã nát và đắp vào chỗ bị ung nhọt

Dùng ngoài: giã nát đắp lên mụn nhọt, không kể liều lượng (Đỗ Tất Lợi, 2004)

1.2.21 Cây Diệp hạ châu

1.2.21.1 Tên khoa học: Phyllanthus urinaria L.

1.2.21.2 Họ: Thầu dầu - Euphorbiaceae

Trang 38

mm, rộng 2 – 5 mm, đầu nhọn hay hơi tù, mép nguyên nhưng như hơi có răng cưa rất nhò Hoa mọc ở kẽ lá, nhỏ, màu đỏ nàu, đơn tính, hoa đực, hoa cái đơn độc ở gốc cành, hoa đực ở ngọn cành Hoa không cuống, hoặc có cuống rất ngắn Đường kính quả có thể đạt tới 2 mm, treo lủng lẳng dưới lá, màu hơi đỏ, hình cầu, có gai nhỏ (Võ Văn Chi, 2000)

1.2.21.4 Phân bố

Cây chó đẻ răng cưa mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta cũng như ở khắp các nước vùng nhiệt đới

1.2.21.5 Bộ phận dùng: Toàn cây

1.2.21.6 Thu hái: Thu hái quanh năm nhưng tốt nhất vào mùa hạ

1.2.21.7 Bào chế: Thường dùng tươi có khi phơi khô Bó lại phơi trong râm để dùng

Trang 39

1.2.21.10 Cách dùng liều dùng

Chữa đau yết hầu, viêm cổ họng, đinh râu, mụn nhọt, lỡ ngữa: ngày uống 20 –

40 g cây tươi, sao khô sắc đặc mà uống, bã đắp

Chữa rắn cắn: cành lá tươi nhai nuốt nước, bã đắp vào vết cắn

Chữa chàm má: giã nát đắp

Chữa lưỡi tưa: giã vắt lấy nước cốt bôi

Chữa sản hậu ứ huyết: ngày dùng 8-16g cây khô sắc uống (Võ Văn Chi, 2000)

Trang 40

40

Cụm hoa đầu đơn độc rộng 3 – 8 cm Lá bắc ngoài và giữa có một phần phụ hình tam giác màu lục thu lại thành một gai to, ở gốc có 4 - 6 gai nhỏ ngắn hơn ở mỗi bên Hoa tía hơi giống nhau đều có 5 cánh hoa, 5 nhị và bầu một ô với 2 lá noãn và 2 vòi nhuỵ phình ở gốc Quả bế màu đen bóng có viền vàng nhiều hay ít Cây ra hoa tháng 5 đến tháng 8 của năm thứ hai (Võ Văn Chi, 2000)

1.2.22.4 Phân bố

Cây của vùng Địa trung hải, mọc hoang ở vùng Nam nước Pháp và gần như hoang dại ở phần Nam và Trung châu Âu, Bắc Phi châu, Trung và Đông Á châu đến Bắc và Nam Mỹ Ta có nhập trồng, cây ưa đất tốt và mát

1.2.22.5 Bộ phận dùng: Toàn cây hoặc quả

1.2.22.6 Thu hái: Thu hái cây và các cụm hoa rồi phơi khô, khi cần đập lấy quả 1.2.22.7 Bào chế: Thường dùng tươi có khi phơi khô

1.2.22.8 Thành phần hóa học

Trong vòng hơn 50 năm qua, các nhà khoa học đã thành công trong việc xác định các hoạt chất có trong cây kế sữa Quả chứa glucid mà thành phần là glucose và pentose; có các vết của một tanin catechic, một chất màu, một chất đắng, một chất cay

Có tinh dầu, các chất histamin và tyramin; còn có một phytomelan

Đáng chú ý nhất là nhóm ba chất liên quan có tên chung là silymarin Chất này gồm một nhóm hỗn hợp gọi là flavonolignands (silybinin, silychristin và silydianin)

mà tên gọi thông thường là silymarin Phần lớn những sản phẩm của cây kế sữa được bào chế đúng tiêu chuẩn và tinh chất của nó được trích ra từ hạt và trái chứa vào khoảng 70 đến 80 phần trăm chất flavonolignands

1.2.22.9 Công dụng

Vị đắng, tính hàn; toàn cây có tác dụng hạ nhiệt, cầm máu, trừ lỵ; quả làm tăng

áp huyết, làm giảm các cơn đau suyễn và ho, đau gan

iện nay, các nhà khoa học trên khắp thế giới tiến hành nhiều nghiên cứu về Kế sữa và thu được những kết quả khả quan là bằng chứng cho tác dụng điều trị của các dược phẩm có nguồn gốc từ Kế sữa

Về tác dụng trong điều trị gan nhiễm mỡ: Trong một nghiên cứu gần đây của

Song Z và cộng sự đã cho thấy Carduus marianusext (cao Kế sữa) có tác dụng bảo vệ

tế bào gan khỏi sự thâm nhiễm mỡ, nghiên cứu này đã chỉ ra tác dụng của Carduus marianus ext trong điều trị gan nhiễm mỡ là rất có hiệu quả Về tác dụng của Carduus marianus ext trong cả các trường hợp gan nhiễm mỡ không do rượu (tiểu đường, béo phì), Trappoliere M và cộng sự đã nghiên cứu và thu được kết quả khả quan, nó có tác dụng ngăn chặn sự peroxid hóa lipid và sự hủy hoại các tế bào gan, là một trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng gan nhiễm mỡ

Ngày đăng: 16/10/2021, 18:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y tế, 2014. Quyết định số 5447/QĐ-BYT, ngày 30 tháng 12 năm 2014. Về việc ban hành Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh viêm gan vi rút A Khác
2. Bộ Y tế, 2014. Quyết định số 5448/QĐ-BYT, ngày 30 tháng 12 năm 2014. Về việc ban hành Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh viêm gan vi rút B Khác
3. Bộ Y tế, 2014. Quyết định số 5449/QĐ-BYT, ngày 30 tháng 12 năm 2014. Về việc ban hành Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh viêm gan vi rút D Khác
4. Bộ Y tế, 2014. Quyết định số 5450/QĐ-BYT, ngày 30 tháng 12 năm 2014. Về việc ban hành Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh viêm gan vi rút E Khác
5. Bộ Y tế, 2016. Quyết định số 5012/QĐ-BYT, ngày 20 tháng 9 năm 2016. Về việc ban hành Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh viêm gan vi rút C Khác
6. Bộ Y tế, 2017. Dược điển Việt Nam lần thứ V Khác
7. Đỗ Huy Bích và cs, 2006. Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam. Tập I, Nhà Xuất Bản Khoa Học Kỹ Thuật Hà Nội Khác
8. Đỗ Tất Lợi, 2004. Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. Nhà xuất bản Y học Khác
9. Hà Huy Khôi, 2000. Bảng thành phần dinh dưỡng thực phẩm Việt Nam NXB Y Học- Hà Nội Khác
10. Nguyễn Thị Bích Thu, 2002. Nghiên cứu cây Cà gai leo làm thuốc chống viêm gan và ức chế xơ gan. Luận án Tiến sĩ Dược học, Viện Dược học, Hà Nội Khác
11. Nguyễn Quang Quyền (2014), Bài giảng giải phẫu học, trường Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh, NXB Y học, tr 133 Khác
12. Nguyễn Huy Công (2005), Dược liệu, nhà xuất bản Y học, Hà Nội Khác
13. Trần Thị Khánh Tường (2014), Bài giảng viêm gan cấp – viêm gan siêu vi cấp, bộ môn Nội Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch Khác
14. Hoàng Trọng Thảng (2014), Giáo trình sau đại học bệnh tiêu hóa – gan mật, trường đại học Y dược Huế, NXB đại học Huế Khác
15. Đào Văn Long (2002), Bệnh học tiêu hoá, Nhà xuất bản Y học, 604- 608 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Cây Nghệ (http://tracuuduoclieu.vn/) - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Hình 1.1. Cây Nghệ (http://tracuuduoclieu.vn/) (Trang 6)
Hình 1.2. Cây Actiso (https://thuocdantoc.vn/) - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Hình 1.2. Cây Actiso (https://thuocdantoc.vn/) (Trang 8)
Hình 1.5. Cây Rau má (https://amp.thaythuoccuaban.com) - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Hình 1.5. Cây Rau má (https://amp.thaythuoccuaban.com) (Trang 12)
Hình 1.8. Cây Hạ khô thảo (https://amp.thaythuoccuaban.com) - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Hình 1.8. Cây Hạ khô thảo (https://amp.thaythuoccuaban.com) (Trang 17)
gồm 1-3 hoa. Quả có hình dáng, kích thước và màu sác rất thay đổi. Hạt nhỏ trắng hình đĩa (Võ Văn Chi, 2000) - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
g ồm 1-3 hoa. Quả có hình dáng, kích thước và màu sác rất thay đổi. Hạt nhỏ trắng hình đĩa (Võ Văn Chi, 2000) (Trang 22)
Hình 1.12. Cây Rau đắng (https://thaythuocvietnam.vn) - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Hình 1.12. Cây Rau đắng (https://thaythuocvietnam.vn) (Trang 24)
Hình 1.15. Râu ngô (https://ihs.org.vn) - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Hình 1.15. Râu ngô (https://ihs.org.vn) (Trang 29)
Hình 1.18. Cây Dâu tằm (https://thaythuocvietnam.vn) - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Hình 1.18. Cây Dâu tằm (https://thaythuocvietnam.vn) (Trang 33)
Hình 1.20. Cây Chỉ thiên (https://caythuoc.vn) - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Hình 1.20. Cây Chỉ thiên (https://caythuoc.vn) (Trang 36)
Hình 1.21. Cây Diệp hạ châu (https://www.dongyvietnam.org) - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Hình 1.21. Cây Diệp hạ châu (https://www.dongyvietnam.org) (Trang 38)
Hình 1.22. Cây Kế sữa (https://www.thuocdantoc.org) - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Hình 1.22. Cây Kế sữa (https://www.thuocdantoc.org) (Trang 39)
Hình 3.1. Boganic (http://traphaco.com.vn) - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Hình 3.1. Boganic (http://traphaco.com.vn) (Trang 44)
Hình 3.2. NaturenZ (http://www.dhgpharma.com.v n) - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Hình 3.2. NaturenZ (http://www.dhgpharma.com.v n) (Trang 46)
Hình 3.6. Viên diệp hạ châu Pylantin (https://healthvietnam.vn) - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Hình 3.6. Viên diệp hạ châu Pylantin (https://healthvietnam.vn) (Trang 53)
Hình 3.8. Tonka (https://nhatnhat.com /) - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Hình 3.8. Tonka (https://nhatnhat.com /) (Trang 56)
Hình 3.9. Hamega (http://namduoc.vn) - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Hình 3.9. Hamega (http://namduoc.vn) (Trang 57)
3.1.12.5. Liều dùng và cách dùng - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
3.1.12.5. Liều dùng và cách dùng (Trang 64)
Hình 3.24. Cabovis( https://opcpharma.com/) - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Hình 3.24. Cabovis( https://opcpharma.com/) (Trang 81)
Hình 3.26. Hamoga (http://tamduoc.com.vn) - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Hình 3.26. Hamoga (http://tamduoc.com.vn) (Trang 84)
Hình 3.30. Livbilnic (http://traphaco.com.vn) - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Hình 3.30. Livbilnic (http://traphaco.com.vn) (Trang 90)
Bảng 3.1. Danh mục thành phẩm tác dụng gan mật có nguồn gốc dược liệu trong nghiên cứu  - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Bảng 3.1. Danh mục thành phẩm tác dụng gan mật có nguồn gốc dược liệu trong nghiên cứu (Trang 91)
Bảng 3.3. Danh mục thành phẩm chứa dược liệu có tác dụng gan mật được bán trong nhà thuốc nghiên cứu (16 – 30) - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Bảng 3.3. Danh mục thành phẩm chứa dược liệu có tác dụng gan mật được bán trong nhà thuốc nghiên cứu (16 – 30) (Trang 94)
Bảng 3.3. Tổng hợp tình hình buôn bán thành phẩm có tác dụng gan mật có nguồn gốc thảo dược tại các nhà thuốc  - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Bảng 3.3. Tổng hợp tình hình buôn bán thành phẩm có tác dụng gan mật có nguồn gốc thảo dược tại các nhà thuốc (Trang 96)
HÌNH ẢNH NHÀ THUỐC THAM GIA NGHIÊN CỨU - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
HÌNH ẢNH NHÀ THUỐC THAM GIA NGHIÊN CỨU (Trang 105)
Hình 5. Nhà thuốc Khánh Trung - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Hình 5. Nhà thuốc Khánh Trung (Trang 106)
Hình 7. Nhà thuốc Phúc Lộc - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Hình 7. Nhà thuốc Phúc Lộc (Trang 107)
Hình 19. Nhà thuốc Ngọc Yến - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Hình 19. Nhà thuốc Ngọc Yến (Trang 111)
Hình 20. Nhà thuốc Hoàn Nguyên - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Hình 20. Nhà thuốc Hoàn Nguyên (Trang 111)
Hình 23. Nhà thuốc Ngọc Trân - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Hình 23. Nhà thuốc Ngọc Trân (Trang 112)
Hình 22. Nhà thuốc Khai Minh - Khảo sát Chế phẩm tác dụng trên gan mật có nguồn gốc từ dược liệu tại tỉnh Bạc Liêu
Hình 22. Nhà thuốc Khai Minh (Trang 112)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w