Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và thiện chí hướng đến mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước Pháp và Việt Nam, tôi chọn đề tài: “Quan hệ hợp tác giữa Cộng hoà Pháp - CHXHCN Việt Nam trên lĩnh
Trang 1Bộ Giáo dục và đào tạo
Tr-ờng đại học vinh
Trang 2hướng đi đúng đắn
1.2 Chính sách của Việt Nam luôn h-ớng đến các n-ớc phát triển, đặc biệt các n-ớc thuộc nhóm G7, bởi thiết lập quan hệ với các n-ớc này sẽ giúp Việt Nam không chỉ có vị trí cao trên tr-ờng quốc tế mà còn giúp Việt Nam có thể phát triển mạnh mẽ tiềm lực trên mọi lĩnh vực Cộng hòa Pháp là n-ớc thuộc nhóm G7 và là n-ớc phát triển mạnh về giáo dục, khoa học kỹ thuật và đạt nhiều thành tựu về văn hóa Chính vì vậy, việc thiết lập quan hệ với Cộng hòa Pháp càng có ý nghĩa hơn với Việt Nam đối với sự phát triển mọi mặt của Việt Nam,
đặc biệt trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục Quan hệ hợp tác với Pháp có ý nghĩa lớn đối với Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa văn hóa và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất n-ớc nh- hiện nay
1.3 Pháp và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 12/4/1973 Quan
hệ hai nước trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, có lúc là kẻ thù của nhau nh-ng cả hai n-ớc đã v-ợt qua những rào cản trong quá khứ để đ-a quan hệ này ngày càng nồng ấm lên bằng việc tăng c-ờng hiểu biết lẫn nhau Quan hệ Pháp - Việt
Trang 3Nam không chỉ dừng lại quan hệ song ph-ơng mà diễn ra trong khuôn khổ của các mối quan hệ đa ph-ơng thông qua các tổ chức và diễn đàn khu vực, thế giới nh- EU, ASEAN, ARF, ASEM, WTO với nhiều lĩnh vực hợp tác Trong đó nổi
bật và có ý nghĩa là hợp tác trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục
1.4 Cộng hoà Pháp và CHXHCN Việt Nam tuy cách xa nhau về địa lý, trình độ phát triển kinh tế, bề dày và truyền thống văn hóa nhưng đã có mối liên
hệ cách đây hàng thế kỉ Vượt qua thăng trầm của lịch sử, hai dân tộc Việt Nam
và Pháp đã cùng nhau xây dựng được mối quan hệ mật thiết, hiểu biết và tôn
trọng lẫn nhau Pháp hết sức quan tâm đến Việt Nam trong “Chính sách châu á”
Chính vì vậy, việc lựa chọn quan hệ hợp tác với Việt Nam tạo bàn đạp cho Pháp
có thể nhanh chóng phát triển quan hệ của mình đối với châu á, tr-ớc hết là khu vực Đông Nam á nằm trong “chiến lược châu á” của Pháp
1.5 Việt Nam và Pháp có truyền thống hợp tác văn hóa - giáo dục lâu đời,
đây là cơ sở để hai n-ớc phát triển quan hệ hơn nữa mối quan hệ trong t-ơng lai Chính vì vậy, trong những năm gần đây, CHXHCN Việt Nam và CH Pháp luôn
có mối quan hệ tốt đẹp th-ờng xuyên có các hoạt động viếng thăm lẫn nhau Pháp xem Việt Nam là đối tác tin cậy và hiện nay đã trở thành mối quan hệ hợp tác toàn diện trong thế kỷ XXI và ngày càng phát triển
Với xu thế toàn cầu hóa hiện nay, các nhà lãnh đạo Việt Nam và Pháp đã nhất trí cao, nỗ lực hợp tác, đưa quan hệ hai nước lên tầm cao mới, mang tính chiến lược theo phương châm thống nhất là: “Quan hệ hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, lâu dài và tin cậy cho thế kỉ XXI” Từ đây, quan hệ Pháp và Việt Nam diễn ra ngày càng tốt đẹp, đạt nhiều thành tích, hợp tác trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục
Trang 4Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và thiện chí hướng đến mối quan hệ tốt đẹp
giữa hai nước Pháp và Việt Nam, tôi chọn đề tài: “Quan hệ hợp tác giữa Cộng hoà Pháp - CHXHCN Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục từ năm 1986
đến năm 2008” làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học, chuyên ngành Lịch sử thế
giới
2 Lịch sử vấn đề
Quan hệ hợp tác Cộng hòa (CH) Pháp và (CHXHCN Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục có ý nghĩa khoa học, thực tiễn sâu sắc Do vậy, từ trước đến nay có không ít tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu vấn đề này dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, mảng đề tài của tôi chỉ xoỏy sâu quan hệ hợp tác CH Pháp và CHXHCN Việt Nam trờn lĩnh vực văn húa - giáo dục từ năm
1986 - 2008 Nội dung đề tài khai thác còn mới, đòi hỏi cập nhật thông tin, tính thời sự Tuy nhiên, trong điều kiện cho phép, tôi chỉ mới tiếp cận được các bài viết, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước Nguồn tư liệu mà tôi tiếp cận được: Sách tham khảo, sách chuyên khảo, các khóa luận tốt nghiệp, các bài viết đăng trên tạp chí, báo… như Tạp chí nghiên cứu châu Âu, nghiên cứu
Đông Nam Á, báo Nhân dân, các tư liệu của Thông tấn xã Việt Nam, Đại sứ quán Pháp, Học viện quan hệ quốc tế, Thư viện quốc gia, các tài liệu lưu hành nội bộ (Bộ ngoại giao, Bộ kế hoạch và đầu tư)
Dưới đõy là một số tài liệu nghiên cứu về quan hệ hợp tác CH Pháp và CHXHCN Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục và các lĩnh vực hợp tác khác mà tôi tiếp cận được
Phan Ngọc, “Bản sắc văn hóa Việt Nam”, Nxb Văn hóa - Thông tin,
H.1998 Đề cập đến bản sắc văn hóa phải trải qua quá trình lắp ghép để hoà đúc vào cái mới để trở thành cái rất Việt Nam
Trang 5Nguyễn Quang Chiến, “Cộng hoà Pháp - bức tranh toàn cảnh”, Nxb Chính
trị Quốc gia, HN, 1997, đề cập đến nội dung toàn cảnh nước Pháp từ tình hình kinh tế đến chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, khoa học công nghệ Đặc biệt trọng tâm, cuốn sách đó đề cập đến chính sách đối ngoại Pháp, quan hệ Việt Nam và Pháp, các hoạt động của các tổ chức phi chính phủ, cộng đồng Pháp ngữ
TS Nguyễn Thị Quế, Chính sách đối ngoại của cộng hoà Pháp trong giai
đoạn sau chiến tranh lạnh, Nghiên cứu châu Âu, 4(70) 2006, tr8-18, trình bày
hợp tác văn hóa – giáo dục, khoa học kỹ thuật là lĩnh vực Pháp đầu tư thích đáng
và tương đối ổn định nhất trong chính sách đối ngoại của Pháp đối với Việt Nam
Nguyễn Đình Bin,“Ngoại giao Việt Nam 1945-2000”, Nxb Chính trị Quốc
gia, HN, 2002 Trình bày quan hệ hai nước Việt Nam và Pháp kể từ khi thiết lập quan hệ và có điểm qua các chuyến viếng thăm cấp nhà nước
Thông tấn xã Việt Nam, các Báo Pháp viết về Việt Nam, Tài liệu tham khảo
đặc biệt, (261), 1993, tr 2
Thông tấn xã Việt Nam, quan hệ Pháp - Việt, Tài liệu tham khảo đặc biệt,
(259), 1994, tr.4-7,
Các báo và tạp chí: Tạp chí nghiên cứu lịch sử, Nghiên cứu quốc tế, Nghiên
cứu châu Âu, Báo nhân dân, và các loại báo và tạp chí khác
Những cuốn sách này đều tập hợp những bài nghiên cứu trong và ngoài nước về một lĩnh vực riêng biệt, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này
Qua nh ng nội dung trên, tôi rút ra nhận xét như sau:
Quan hệ hợp tác CH Pháp - CHXHCN Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục từ năm 1986 - 2008, thu hút được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Tuy nhiên, do mục đích và góc độ nghiên cứu, nên mối quan hệ hợp tác
Trang 6Pháp - Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu, hoàn chỉnh và có hệ thống Những công trình nghiên cứu mà tôi đưa
ra ở đây đó ít nhiều đề cập đến mối quan hệ Pháp - Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục Nhưng đa số các công trình cũng chỉ mới phản ánh được một số lĩnh vực hoặc một giai đoạn hẹp Từ những kết quả nghiên cứu nói trên, tôi tham khảo, tiếp thu chọn lọc, thông qua những thông tin cập nhật, mang tính chất thời
sự từ các trang Web, tác giả luận văn tập trung trình bày một cách có hệ thống
mối “Quan hệ hợp tác cộng hoà Pháp - CHXHCN Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục từ năm 1986 đến năm 2008”, thời kỳ đánh dấu bước ngoặt trong
phát triển mạnh mẽ quan hệ hai nước
3 Mục tiêu và nhiệm vụ
3.1 Mục tiêu
Nghiên cứu nội dung đề tài nhằm xác lập luận cứ khoa học vững chắc, khẳng định quan hệ hợp tác giữa Pháp và Việt Nam có tính bền vững, tính chính trị ở cấp độ nhà nước Qua các nội dung và lĩnh vực hợp tác, đặc biệt hai lĩnh vực văn hóa - giáo dục nhằm đi sâu tìm hiểu những kết quả đạt được, hướng đến mối quan hệ hợp tác lâu dài tôn trọng và tương hỗ lẫn nhau
3.2 Nhiệm vụ
Nhiệm vụ của đề tài tập trung giải quyết những vấn đề chủ yếu sau
- Các nhân tố tác động đến quan hệ hợp tác Pháp - Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa và giáo dục
- Hệ thống hóa quá trình hợp tác trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục cộng hoà Pháp và CHXHCN Việt Nam trước năm 1986, từ đó đặt cơ sở để trình bày những nội dung cơ bản về hợp tác giữa Pháp - Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục từ năm 1986 - 2008
Trang 7- Rút ra nhận xét và triển vọng quan hệ hợp tác CH Pháp - CHXHCN Việt Nam từ đó rút ra nhận xét, đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong quá trình
hợp tác lâu dài giữa Pháp - Việt Nam về văn hóa - giáo dục Triển vọng hợp tác
trong tương lai
4 Giới hạn của đề tài
Đề tài: “Quan hệ hợp tác cộng hoà Pháp và CHXHCN Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục từ năm 1986 đến năm 2008” được tôi giới hạn bởi
những mặt sau:
4.1 Về mặt thời gian
Tác giả nghiên cứu đề tài được giới hạn bởi mốc mở đầu là năm 1986 và mốc kết thúc đến 2008 Nhưng là đề tài sử học, luận văn không thể không đề cập đến một số nội dung thời kỳ trước liên quan đến mối quan hệ hợp tác - hữu nghị truyền thống tốt đẹp và sự phát triển của quan hệ Pháp - Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực văn hóa - giáo dục
Tôi lấy năm 1986 làm mốc mở đầu vì lý do sau đây:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) khẳng định tiếp tục đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa Đại hội tiến hành đổi mới toàn diện, đồng
bộ trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế và chính trị đến tổ chức Thực hiện chính sách đối ngoại mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa vì hoà bình, hữu nghị, hợp tác, “Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước”
Tác giả luận văn lấy mốc 2008, vì theo thời gian mối quan hệ Pháp và Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục núi riêng và các lĩnh vực khác nói chung ngày càng tốt đẹp, khởi sắc “Quan hệ hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, lâu dài và tin cậy cho thế kỉ XXI” Mặt khác, quan hệ hợp tác diễn ra những
chuyến thăm giữa các nhà Lãnh đạo cấp cao Pháp và Việt Nam
Trang 84.2 V ề nội dung
T¸c giả luận văn tập trung nghiªn cứu quan hệ hợp t¸c Ph¸p và Việt Nam trong giai đoạn từ 1986 - 2008, cụ thể nghiªn cứu mối quan hệ trªn lĩnh vực văn hãa - gi¸o dục
Trong lĩnh vực này, t¸c giả cố gắng tr×nh bày những nh©n tố ảnh hưởng đến mối quan hệ Ph¸p và Việt Nam từ trước và sau năm 1986, đồng thời rót ra những nhận xÐt về đặc điểm và nªu lªn những thuận lợi và khã khăn, những triển vọng mối quan hệ hai nước trong lĩnh vực này
5 Nguồn tư liệu và phương ph¸p nghiªn cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Khi tiến hành thực hiện luận văn này, t¸c giả khai th¸c và sử dụng nguồn tư liệu chủ yếu sau:
Một số tư liệu về những chuyến thăm của c¸c nhà L·nh đạo hai nước Ph¸p và Việt Nam
Tài liệu lưu trữ ở Bộ Ngoại giao Việt Nam, Học viện quan hệ quốc tế, Trung t©m lưu trữ Khoa học x· hội (Hà Nội), Hội Hữu nghị Việt Nam – cộng hoà Ph¸p, Đại sứ qu¸n Ph¸p tại Hà Nội, Viện Nghiªn cứu Ch©u Âu, một số tài liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Gi¸o dục & Đào tạo, Bộ Thương mại, Thư viện Quốc gia (Hà Nội), Trung t©m khoa học x· hội và nh©n văn, Thư viện Trường Đại học khoa học x· hội và nh©n văn, Thư viện trường đại học Vinh, Thư viện Nghệ An
- C¸c tài liệu về hợp t¸c Ph¸p và Việt Nam, khãa luận tốt nghiệp Đại học
Trang 9- Các bài viết đăng trên các báo và tạp chí: Báo Nhân dân, Nghiên cứu lịch
sử, Nghiên cứu đông Nam Á, Nghiên cứu Quốc tế
5.2 Phương Pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài Quan hệ hợp tác giữa cộng hoà Pháp và cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục từ năm 1986 đến nay tôi đó
sử dụng phương Pháp luận của chủ nghĩa Mỏc – Lênin, phương Pháp nghiên cứu lịch sử và phương Pháp logic Đề tài còn sử dụng một số phương Pháp khác như: phương Pháp thống kê, định lượng, đối chiếu so sánh, phân tích để giải quyết
những vấn đề mà luận văn đưa ra
Từ các nguồn tư liệu tiếp cận được, với những phương Pháp nghiên cứu nêu trên, tác giả luận văn cố gắng khai thác và xử lý các thông tin một cách khách quan và trung thực
6 Đóng góp của luận văn
Luận văn là công trình tổng hợp, hệ thống các nguồn tư liệu và những kết quả nghiên cứu về quan hệ hợp tác Cộng hoà Pháp và CHXHCN Việt Nam từ năm 1986 đến nay, trên các lĩnh vực văn hóa - giáo dục Với nguồn tư liệu này, luận văn góp phần giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan và hiểu biết thêm về quá
trình hợp tác hữu nghị tốt đẹp giữa Pháp và Việt Nam
Trên cơ sở nguồn tư liệu cho phép, tác giả đã xác định được những nhân
tố tác động đến mối quan hệ giữa Pháp - Việt Nam qua từng giai đoạn lịch sử
cụ thể Đồng thời, chúng tôi cũng đưa ra nội dung chính của mối quan hệ Pháp
- Việt Nam từ năm 1986, rút ra đặc điểm và nêu lên một số dự báo về mối quan hệ này trong tương lai
Trang 10Là đề tài nghiên cứu lịch sử theo hướng chuyên đề, luận văn trước hết phục vụ cho giảng dạy, biên soạn bài giảng, sau nữa là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng về đóng góp to lớn trong quan hệ hai nước, nâng lên tầm cao mới
7 Bố cục của luận văn
Nội dung chính của luận văn gồm 3 ch-ơng:
Ch-ơng 1: Các nhân tố tác động đến quan hệ hợp tác giữa CH Pháp và
CHXHCN Việt Nam trên lĩnh vực văn hoá giáo dục từ năm 1986 đến 2008
Ch-ơng 2: Quan hệ hợp tác giữa CH Pháp và CHXHCN Việt Nam trên lĩnh
vực văn hoá - giáo dục từ năm 1986 đến 2008
Ch-ơng 3: Một số nhận xét và triển vọng quan hệ hợp tác giữa CH Pháp và
CHXHCN Việt Nam trên lĩnh vực văn hoá giáo dục từ năm 1986 đến 2008
Trang 11CHƯƠNG 1 CáC nhân tố tác động hợp tác đến quan hệ hợp tác giữa cộng hòa Pháp và cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam từ năm 1986 đến năm 2008
1.1 Nhân tố quốc tế
B-ớc vào thập niên 90 của thế kỷ XX, quan hệ quốc tế có những b-ớc phát triển mới, thay đổi cả về hình thức và tính chất Xu thế toàn cầu húa xuất hiện chi phối quan hệ quốc tế của tất cả cỏc nước trờn phạm vi toàn thế giới Ngày nay, cỏc nước ngày càng gia tăng trao đổi văn húa trờn phạm vi quốc tế, giỳp con người giữa cỏc nền văn húa, văn minh khỏc nhau xớch lại gần nhau hơn Thay cho tỡnh trạng cụ lập trước kia của cỏc địa phương, cỏc dõn tộc thỡ ngày nay trong xu thế phỏt triển chung toàn cầu đó xuất hiện những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa cỏc vựng, địa phương
và cỏc dõn tộc Toàn cầu húa giỳp con người hiểu hơn về thế giới và những thỏch thức ở quy mụ toàn cầu qua sự bựng nổ cỏc nguồn thụng tin, việc phổ thụng hoỏ hoạt động du lịch, việc tiếp cận thụng tin, phong tục, tụn giỏo dễ dàng hơn
Toàn cầu húa văn húa được đặc trưng ở việc khụng cũn một nền văn húa thống trị, mà đũi hỏi phải chấp nhận sự đa dạng văn húa, sự khỏc biệt giữa cỏc nền văn húa, văn minh và sự chung sống giữa cỏc dõn tộc, cần nhiều kiến thức về cỏc bản sắc văn húa và cụng nhận giỏ trị của chỳng Hơn nữa, cựng với việc gia tăng cỏc vấn đề văn húa và truyền thụng trờn bỡnh diện quốc tế, toàn cầu húa văn húa đang đặt ra những yờu cầu mới trong
Trang 12việc tạo ra các qui tắc chính trị mới, các “luật chơi” mới trong “sân chơi” văn hóa toàn cầu ngày nay Mặc dù quá trình toàn cầu này diễn ra không đồng đều trên khắp thế giới và có nhiều tác động xấu đến quá trình tự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc nhưng toàn cầu hoá cũng có khả năng thúc đẩy giao lưu văn hoá trong trường hợp mỗi bên học hỏi được mặt mạnh trong văn hóa của bên kia Chẳng hạn, những năm 70 – 80 thế kỷ XIX, kinh
tế Đông Á phát triển, Nho gia được truyền bá tới nhiều nơi trên thế giới, đến nay, nó đã có những bổ sung tích cực cho các điểm yếu của văn hóa phương Đông [7;5]. Nhìn nhận về hệ thống chính trị thế giới và tiến trình
toàn cầu hóa, Dominique Wolton đã nhận định “Cuộc cách mạng toàn cầu hóa thứ ba của tiến trình toàn cầu hóa không chỉ liên quan đến lĩnh vực chính trị hay kinh tế, mà cả đến lĩnh vực văn hóa Nó liên quan đến sự chung sống gi a các nền văn hóa trên quy mô toàn cầu” [1,9] Toàn cầu hóa văn hóa có thể tạo ra một sự đồng nhất, một nền văn hóa thế giới cho
mọi dân tộc “Toàn cầu hóa không có nghĩa là đồng nhất (đơn nhất) hóa và hiểu theo quan điểm trực tuyến các quá trình phát triển của các nền văn minh khu vực lớn và địa phương Thứ nhất, mỗi xã hội và mỗi nhóm xã hội chỉ tiếp thu trong vốn kinh nghiệm chung của loài người nh ng hình thức sinh hoạt phù hợp với khả năng xã hội, chính trị, kinh tế và văn hóa của mình mà thôi Thứ hai, phản ứng đối với toàn cầu hóa là thể hiển bản năng tự vệ của các cộng đồng nhằm bảo toàn bản sắc riêng của mình, nhất
là trong lĩnh vực văn hóa, tôn giáo, ý thức/tự ý thức dân tộc Thứ ba, hàng loạt nền văn minh và xã hội đang ở giai đoạn phát triển công nghiệp đầu
Trang 13kỳ tạm thời vẫn kém hội nhập vào hệ thống các mạng lưới mối liên hệ qua lại toàn cầu” [6;172,173]
Do sự chênh lệch trên các phương diện tiến bộ xã hội của các nước nên việc các nước phải đối mặt với những yếu tố tiêu cực trong tiến trình
toàn cấu hóa văn hóa là không thể tránh được Toàn cầu hóa thể hiện ở sự kết hợp hai xu thế mâu thuẫn nhau trong thế giới đương đại: “Hội nhập và nguyện vọng hướng về bản sắc văn hóa - xã hội của các dân tộc, tộc người…”.[6;147]
Việc xuất hiện cả mặt tiêu cực lẫn tích cực của toàn cầu hóa văn hóa
là không thể tránh được, nhưng đó chính là tiền đề cần thiết cho sự phát triển và hội nhập của mọi nền văn hóa trên thế giới Nếu chỉ nhìn nhận tính tiêu cực và hạn chế, đóng cửa đất nước trước xu thế lịch sử hiển nhiên này, thì tất yếu sẽ dẫn đến sự mất cân bằng giữa quốc gia và thế giới, mất cân bằng cho sự phát triển con người
Trong thế giới ngày hôm nay, khó có một cá nhân nào, một dân tộc, quốc gia nào có thể tránh được những biến động về mặt văn hóa, xã hội
trong tiến trình toàn cầu hóa văn hóa này “Toàn cầu hóa văn hóa không phải là một sự việc, không phải là một giá trị, cũng không phải là một lý tưởng; toàn cầu hóa là một thách thức đối với suy nghĩ “Hôm qua người
ta có thể nói rằng văn hóa đến sau nh ng thước đo cơ bản của đời sống xã hội như ăn uống, sức khỏe, giáo dục Hôm nay, với việc truyền thông được
mở rộng, mọi người có thể thấy được tất cả, và sau đó dần biết hết”.Do đó, Toàn cầu hóa văn hóa là một xu thế lịch sử hiện thực mà trong đó“không
Trang 14một ngóc ngách nào trên trái đất mà không được phơi bày ra toàn thế giới
Có thể nói, trong tiến trình toàn cầu hóa văn hóa này ,“mọi người đều sống trong thế giới, dù có thể họ không thực sự có mặt” [1;61,62]. Quả thật có tồn tại sự chênh lệch giữa bạo lực, sự bấp bênh của các sự kiện trên thế giới, tốc độ thay đổi diện mạo của thế giới, sự bất ổn định do những thay đổi này, với điều mà chúng ta có thể thực sự hiểu được Vì vậy, hợp tác về văn hóa đã trở thành một thách thức chính trị Tổ chức sự chung sống giữa các nền văn hóa có nghĩa là đảm bảo sự hiểu biết lẫn nhau ở mức độ tối thiểu để làm giảm bớt những hậu quả của toàn cầu hóa
Vị trí ngày càng lớn của văn hóa tất nhiên gắn với sự phát triển của trình độ giáo dục, của mức sống, phương thức giao tiếp, du lịch Không phải chỉ là sự nổi lên của một nền văn hóa đại chúng, mà còn là sự rõ nét của các yếu tố văn hóa rải rác khắp nơi đang lưu hành, sát nhập, biến mất
và thể hiện một sự cảm nhận, một thời đại, hoặc một vùng đất[1;67,69] Xu thế toàn cầu hoá đã lan toả và có ảnh hưởng ngày càng sâu rộng đến mọi quốc gia, vùng lãnh thổ Tuy nhiên toàn cầu hoá diễn ra không đồng đều ở tất cả các nơi và trong tất cả các lĩnh vực Nếu như trong lĩnh vực kinh tế, toàn cầu hoá diễn ra khá suôn sẻ thì trong lĩnh vực văn hoá, toàn cầu hoá luôn vấp phải xu hướng phân ly Do đó mối quan hệ giữa văn hoá và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hoá đang là một chủ đề được quan tâm tìm hiểu
Xu thế toàn cầu hòa ảnh hưởng đến hợp tác giữa các khu vực trên phạm vi toàn thế giới Điển hình là hợp tác giữa châu Âu và châu Á thông
Trang 15qua diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) là diễn đàn đối thoại không chính thức, hoạt động theo nguyên tắc đồng thuận Trong văn kiện “Khuôn khổ hợp tác Á-Âu 2000” (thông qua tại Cấp cao ASEM 2, tháng 4/1998 và Cấp cao ASEM 3, tháng 10/2000), các lãnh đạo ASEM thỏa thuận cùng nỗ lực tạo dựng "một mối quan hệ đối tác mới toàn diện giữa Á-Âu vì sự tăng trưởng mạnh mẽ hơn” và hoạt động theo các nguyên tắc: Bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi; ASEM là một tiến trình mở và tiệm tiến, không chính thức nên không nhất thiết phải thể chế hóa; Tăng cường nhận thức và hiểu biết lẫn nhau thông qua một tiến trình đối thoại và tiến tới hợp tác trong việc xác định các ưu tiên cho các hoạt động phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau; ASEM hoạt động trên 3 lĩnh vực đối thoại chính trị, hợp tác kinh tế-tài chính, và hợp tác trong lĩnh vực khác Đến nay, trải qua 9 năm hoạt động, ASEM đã triển khai hơn 250 hoạt động với nhiều sáng kiến trên cả 3 lĩnh vực
Ngày 8-9 tháng 10 năm 2004, lãnh đạo và chính phủ các nước thuộc Hội nghị cấp cao ASEM thông qua Tuyên bố ASEM về thúc đẩy đối thoại giữa các nền văn hoá và văn minh tại kỳ họp thứ V ASEM tại Hà Nội trước tuyên bố của ASEM về hợp tác văn hóa, Tuyên bố toàn cầu của UNESCO về đa dạng văn hoá thông qua tại kỳ họp của UNESCO tháng 11 năm 2003, Tuyên bố New Dehli thông qua tại kỳ họp các Bộ trưởng về đối thoại giữa các nền văn minh tháng 7/2003, Thông điệp của Diễn đàn khu vực về Đối thoại giữa các nền văn minh tại Ohrid tháng 8 năm 2003, Tuyên
bố của Chủ tịch Hội nghị ASEM về Văn hoá và Văn minh tại Bắc Kinh
Trang 16tháng 12 năm 2003, và Tuyên bố của Hội nghị Hợp tác Nghị Viện Á - Âu tại Huế, Việt Nam tháng 3 năm 2004 đã được thông qua thừa nhận tất cả các nền văn minh đều thống nhất trong sự đa dạng của loài người và được bồi đắp và phát triển thông qua đối thoại giữa các nền văn minh, và giá trị của mỗi nền văn minh đã trải qua là kinh nghiệm vô giá và là một bộ phận hợp nhất trong kinh nghiệm chung phổ biến của loài người
Thực hiện tích cực và có hiệu quả Tiến trình toàn cầu của Liên Hợp quốc về đối thoại giữa các nền văn minh, và tăng cường hợp tác giữa các quốc gia thành viên ASEM trong nỗ lực chung nhằm thúc đẩy Đại hội đồng LHQ thông qua hành động phù hợp để thúc đẩy đối thoại trong và giữa các nền văn hoá và văn minh trong các lĩnh vực quan trọng như văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ, thông tin và viễn thông thông qua các kênh chính phủ và dân sự
Thúc đẩy hợp tác quốc tế để chia sẻ các kinh nghiệm, kiến thức và kỹ năng; bảo vệ bản quyền trí tuệ và bản quyền tác giả; thúc đẩy trao đổi sinh viên; các nghệ sỹ và những người làm việc trong lĩnh vực văn hoá và trao đổi giữa các cá nhân với nhau trong các nước ASEM; khuyến khích tổ chức
và tham gia các festival văn hoá nghệ thuật để thúc đẩy hiểu biết về văn hoá của nhau
Mở rộng và tăng cường hợp tác giữa các nước ASEM để bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá và bảo tồn di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, cũng như tiến hành các chương trình bảo tồn những di sản chung của châu
Á và châu Âu, và tham gia tích cực vào việc soạn thảo Công ước về bảo vệ
Trang 17đa dạng văn hoá và các biểu hiện nghệ thuật của UNESCO sớm được hoàn thành
Khuyến khích ASEM tìm kiếm những tiềm năng hơn nữa trong việc làm phong phú quá trình đối thoại liên văn minh - liên văn hoá giữa châu
Âu và châu Á bằng cách tiến hành các hoạt động trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, văn hoá, trao đổi thông tin, đào tạo thành niên và hợp tác về truyền thông;
Xác lập những chiến lược hướng tới tương lai và vạch ra những cơ chế và thể thức hoạt động nhằm tạo điều kiện cho các quốc gia ASEM tham gia tích cực và đóng góp nhiều hơn cho các hội thoại giữa các nền văn minh và văn hoá thông qua các liên kết tích cực, đổi mới;
Khuyến khích các hoạt động liên ngành và nhiều mục đích trong các quốc gia ASEM gồm kết hợp giáo dục với đối thoại và trao đổi văn hoá và các lĩnh vực khác vì hoà bình và phát triển bền vững;
Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các quốc gia ASEM nhấn mạnh tinh thần và quá trình đối thoại giữa các nền văn hoá và văn minh thông qua việc tiến hành các hoạt động, dưới sự bảo trợ của ASEF, nhằm đáp lại Thập kỷ Giáo dục vì Sự Phát triển Bền vững của LHQ (2005-2014) và Thập kỷ Thế giới vì Văn hoá Hoà bình và Không Bạo lực với trẻ
em trên thế giới (2001-2010) [mofar.gov.vn]ASEM đã có những đóng góp
to lớn vào việc tăng cường sự hợp tác và hiểu biết lẫn hau giữa châu Á và châu Âu thông qua hàng loạt sáng kiến trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế
và văn hoá xã hội óm lại, Toàn cầu hóa nói chung có lợi cho các nước giàu
Trang 18phương Tây và có những tác động nhất định đối với các nước đang phát triển như nước ta
ViÖt Nam đối thoại với văn hóa Pháp không ở thế cân bằng do kinh tế phát triển chậm, không kiểm soát nó những văn hoá phẩm vật thể và phi vật thể từ Pháp tràn vào, không phải dễ dàng bảo vệ bản sắc dân tộc Nhưng qua lịch sử, ta đã có kinh nghiệm tiếp biến văn hoá thành công, giữ được và làm giàu bản sắc dân tộc, qua đấu tranh và đối thoại thời Bắc thuộc, đối thoại với văn hóa với Pháp, ta cần sử dụng những cơ hội do cách mạng thông tin và giao thông tạo ra để đóng góp với thế giới
Quan hệ hợp tác giữa Pháp và Việt Nam trên lĩnh vực văn hóa được đẩy mạnh và hợp tác hiệu quả xuất phát từ xu thế chung của tình hình thế giới và khu vực như trên
1.2 Nhân tố quốc gia
1.2.1 Chính sách đối ngoại của Pháp
Cộng hoà Ph¸p cã vị trÝ địa lý nằm ở T©y Âu, T©y gi¸p Đại T©y Dương, Bắc gi¸p biển Măng-sơ, Đ«ng gi¸p Bỉ, Đức, Thuỵ Sĩ, Italia, Nam gi¸p biển Địa Trung Hải và T©y Ban Nha KhÝ hậu nằm trong vïng khÝ hậu «n đới, thuận lợi cho ph¸t triển n«ng nghiệp Diện tÝch: 551.602 km2 D©n số: 63,4 triệu (2006) LÊy sè liÖu míi Tỷ lệ sinh: 1,8%/năm Tuổi thọ trung b×nh: 79 T«n gi¸o: Thiªn chóa gi¸o Quốc kh¸nh: ngµy 14 th¸ng 7 Thủ đ«: Paris Theo Hiến ph¸p năm
1958, người đứng đầu Nhà nước là Tæng thèng - trụ cột cho c¸c thể chế Pháp có một nền ngoại giao đã được khẳng định dựa trên những nguyên tắc của nền cộng hoà Chính sách đối ngoại của Pháp nhằm hai mục đích: gìn giữ độc
Trang 19lập quốc gia đồng thời phấn đấu vỡ sự phỏt triển của tỡnh đoàn kết khu vực
và quốc tế
Nước Phỏp thực hiện chớnh sỏch ngoại giao vỡ lợi ớch của hũa bỡnh
mà khụng hề từ bỏ cỏc liờn minh và quan hệ hữu nghị của đất nước Xuất hiện yếu tố mới trong quan hệ quốc tế, khủng hoảng sinh ra từ chiến tranh Irak khiến cho tiếng núi này trở nờn cần thiết và cú sức lan tỏa đặc biệt, đồng thời cho thấy Phỏp vẫn tiếp tục cuộc chiến chống khủng bố vỡ một thế giới cõn bằng hơn Cộng đồng Phỏp ngữ, cú hơn 170 triệu người núi tiếng Phỏp trờn thế giới và được phõn bổ trờn cả năm chõu lục Nước Phỏp cú tham vọng mở rộng việc truyền bỏ ngụn ngữ của mỡnh Phỏp cũng nỗ lực biến cộng đồng Phỏp ngữ thành một cơ cấu hợp tỏc ngụn ngữ, văn húa, kinh tế và chớnh trị
Trong chính sách đối ngoại của Pháp với các n-ớc Đông Nam á, Pháp chỉ
rõ những năm tới các n-ớc Đông Nam á và châu Âu phải cùng nhau hành động
để thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa Châu á đóng một vai trò ngày càng mạnh mẽ trong những cân bằng lớn về chính trị trên thế giới, tương xứng với vai trò ngày càng tăng của Pháp trong trao đổi thương mại và nền kinh tế tri thức Mối quan
hệ của Pháp và các n-ớc ASEAN có từ lâu đời, xây dựng trên nền tảng những kinh nghiệm cùng nhau chia sẻ qua nhiều năm tháng: 30 năm sau khi Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác tại Đông Nam á, văn bản sáng lập Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam á (ASEAN) được ký kết tại Bali, Pháp gia nhập Hiệp ước này Thông qua việc gia nhập này, Pháp có chính sách đối ngoại hữu nghị và bác ái đối với các nước thành viên ASEAN Pháp chỉ ra rằng để đảm bảo sự ổn định của châu
Trang 20¸, phải thừa nhận vai trß của toàn thể c¸c t¸c nh©n của ch©u lục: vai trß của Trung Quốc, Ên Độ và Nhật Bản, và cả c¸c tổ chức của khu vực Ph¸p cã mối quan hệ lịch sử hết sức chặt chẽ với Đ«ng Nam ¸, kh«ng thể đứng ngoài b×nh diện địa chÝnh trị mới này
Vào đầu thế kỷ XXI, c¸c nước ASEAN đang đương đầu với những th¸ch thức lớn là nguồn gốc của sự bất ổn toàn cầu: t×nh trạng nghÌo và khoảng c¸ch ph¸t triển, khủng bố, cướp biển, c¸c đại dịch hay c¸c bệnh nhiễm trïng mới xuất hiện Trong một thế giới toàn cầu hãa, những th¸ch thức này cã ảnh hưởng tới hßa b×nh và an ninh: những th¸ch thức này kh«ng biết tới biªn giới hay những khung luật ph¸p
Trong chính sách đối ngoại của Pháp, Việt Nam chiếm vị trí đặc biệt quan trọng, hợp tác toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế Pháp tạo điều kiện giúp đỡ Việt Nam sớm gia nhập Tổ chức thương mại thông qua trao đổi kinh nghiệm chuyên môn và thay đổi luật pháp cần thiết Hiện nay, Pháp là đối tác quan trọng trong các nước châu Âu đầu tư vào Việt Nam với hơn 100 dự án có tổng giá trị khoảng 2 tỷ USD Pháp là đối tác kinh tế, thương mại và cấp viện trợ phát triển chính thức ODA lớn nhất cho Việt Nam trong số các nước Tây Bắc Âu Trong những năm gần đây, Pháp liên tục cam kết tăng ODA cho việt Nam từ 95 triệu Euro năm 2001 lên 334 triệu euro năm 2004 và hiện trở thành nhà tài trợ lớn thứ tư tại Việt Nam Nguồn vốn đầu tư vào Việt Nam thực hiện các chương trình hợp tác trên lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật và văn hóa Pháp nước tăng cường hợp tác và trao đổi giữa hai nước trên các diễn đàn
đa phương được mở rộng trong thời gian thời gian qua các khuôn khổ Tổ
Trang 21chức cỏc nước cú sử dụng tiếng Phỏp và trong ASEM Hợp tỏc trong lĩnh vực văn húa - giỏo dục Phỏp duy trỡ ngõn sỏch hợp tỏc dành cho Việt Nam trị giỏ khoảng 10 triệu euro vào lĩnh vực giảng dạy ngụn ngữ, cải cỏch hành chớnh, xõy dựng dựng luật phỏp , quản lý tài chớnh, ngõn hàng, đào tạo cao học về quản lý kinh tế, luật hàng khụng Chớnh sỏch đối ngoại tăng cường hợp tỏc về văn húa - giỏo dục, Phỏp tạo điều kiện cho sinh viờn Việt Nam
du học tại Phỏp Hàng năm cú 400-600 người nhận học bổng học tập và thực tập tại Phỏp, nhiều nhất trong ngành y Trong vũng 10 năm, đó cú 1.000 bỏc sĩ Việt Nam được đào tạo tại Phỏp Năm 2004, Phỏp đó cấp thị thực cho khoảng 2500 sinh viờn Việt Nam sang Phỏp học tập tại Phỏp Phỏp tớch cực tài trợ và tham gia Liờn hoan văn húa Nghệ thuật Huế [Mofa.gov.vn]
Quan hệ hợp tỏc hai nước trước sau nhất quỏn theo phương chõm
“hữu nghị truyền thống, hợp tỏc toàn diện lõu dài và tin cậy lẫn nhau”
1.2.2 Chớnh sỏch đối ngoại của Việt Nam
Việt Nam là quốc gia thuộc khu vực Đông Nam á nằm trên bán đảo Đông D-ơng Việt Nam tiếp giáp với các n-ớc Cămpuchia, Lào ở phía Tây, giáp với Trung quốc ở phía Bắc, phía Nam và phía Đông tiếp giáp biển Đông Việt Nam có diện tích 330.363 km2, dân số trên 80 triệu ng-ời, là quốc gia đông dân số (xếp thứ
13 trong số 220 quốc gia trên thế giới) Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm 86% dân số, 53 dân tộc còn lạ chiếm 14% dân số Hiện nay, Việt Nam
là thị tr-ờng rộng lớn (80 triệu dân) nh-ng còn ch-a khai thác hết, là thị tr-ờng hấp dẫn các nhà đầu t- Đồng thời, Việt Nam có môi tr-ờng chính trị - xã hội ổn định,
đứng đầu là Đảng và chính phủ có đ-ờng lối lãnh đạo đúng đắn Trong chính sách
Trang 22đối ngoại, Việt Nam tăng c-ờng hợp tác toàn diện với tất cả các n-ớc Đặc biệt, Việt Nam tăng c-ờng quá trình trao đổi văn hóa trong xu thế toàn cầu hóa nh- hiện nay Một số nột mới trong chuẩn mực văn húa của con người Việt Nam từng bước hỡnh thành hội nhập với nền văn hóa tiên tiến và hiện đại của thế giới
Tháng 12/1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI diễn ra ở Hà Nội với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” [20; 14]
Đại hội đã nhìn lại thực trạng của đất n-ớc một cách nghiêm túc, nêu rõ những thành tựu và khuyết điểm, những thiếu sót trong chỉ đạo chiến l-ợc, trong tổ chức thực hiện, từ đó đề ra đ-ờng lối đổi mới toàn diện đất n-ớc Mở ra một giai
đoạn mới với những chuyển biến quan trọng trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của Việt Nam
bình, dân chủ và tiến bộ xã hội” Thực tế đây chính là sự kế tục và phát triển lên một b-ớc t- t-ởng Hồ Chí Minh từ năm 1947, rằng: Việt Nam muốn là bạn với các n-ớc dân chủ, không gây thù oán với một ai Từ cổ chí kim, ông cha
ta đã xác định: “mở rộng bang giao là cái cốt để giữ và phát triển đất nước”
“Trước đây, chuẩn mực cao nhất trong quan hệ quốc tế là cùng ý thức hệ hay khác ý thức hệ Ngày nay, với sự kết thúc của Chiến tranh lạnh, trật tự hai cực I-an-ta đã mất đi trong khi trật tự mới còn đang trong quá trình hình thành, sự tập hợp lực l-ợng trong quan hệ quốc tế diễn ra rất đa dạng và linh hoạt, chủ yếu dựa trên sự trùng hợp với lợi ích dân tộc trên từng vấn đề, từng lúc, từng nơi Các n-ớc ra sức mở rộng quan hệ quốc tế, không
Với nhận thức rõ hơn về tình hình thế giới, tr-ớc Đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ VI, tháng 7/1986 Bộ Chính trị khoá V của Đảng Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết 32 đề ra các chủ tr-ơng và giải pháp ứng phó với những tác động tiêu cực của tình hình thế giới, từ đó mở rộng quan hệ quốc tế Trên tinh thần
đó, tháng 5/1987 Bộ Chính trị đã thông qua Nghị quyết Trung -ơng 13 nêu rõ
Trang 23nhiệm vụ đối ngoại của Việt Nam là “kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi nhất để xây dựng CNXH và bảo
vệ Tổ quốc, chủ động tạo thế ổn định để tập trung xây dựng kinh tế” [2; 20]
Tiếp tục thực hiện đ-ờng lối đối ngoại đổi mới của Đại hội Đảng lần VI,
Đại hội Đảng lần thứ VII (tháng 6/1991) khẳng định lại nhiệm vụ bao trùm của
đ-ờng lối đối ngoại Việt Nam: “giữ vững hoà bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ
Tổ quốc, đồng thời góp phần tích vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” [22; 21] Trước những biến chuyển rất mới của tình hình thế giới, sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc,
Đảng ta kịp thời vạch ra đ-ờng lối đối ngoại mang tính chiến l-ợc Đại hội Đảng lần thứ VII xác định cần phải đa dạng hoá, đa ph-ơng hoá quan hệ đối ngoại của
đất n-ớc theo phương châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, phấn đấu vì độc lập, hoà
Hội nghị Trung -ơng lần thứ 3 (khoá VII) tháng 6/1992, đã đ-a ra t- t-ởng chủ đạo hoạt động đối ngoại của Đảng trong tình hình mới là: giữ vững nguyên tắc độc lập, thống nhất và CNXH, đồng thời cần sáng tạo, năng động, linh hoạt, phù hợp với vị trí, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của n-ớc ta cũng nh- với diễn biến của cục diện thế giới và khu vực với từng đối t-ợng có quan hệ với Việt Nam Tháng 1/1994, Hội nghị giữa nhiệm kì khoá VII đã khẳng định việc
mở rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên tr-ờng quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc đổi mới đất n-ớc Đ-ờng lối đối ngoại, đặc biệt là chính sách ngoại giao đa ph-ơng của Việt Nam mà Đảng và Nhà n-ớc ta đã đề ra tại Đại hội VI (12/1986), tích cực tham gia đối thoại, tìm giải pháp chính trị cho “vấn đề Căm-pu-chia”; đảm bảo và giữ vững đ-ợc thành quả cách mạng của nhân dân Căm-pu-chia; tạo dựng môi tr-ờng hoà bình trên
Trang 24bán đảo Đông D-ơng và khu vực Đông Nam á; kiên trì chủ tr-ơng sẵn sàng
đàm phán với Trung Quốc nhằm bình th-ờng hoá và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của hai nước trên nguyên tắc “láng giềng thân thiện và cùng tồn tại hoà bình”; chủ tr-ơng phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với các n-ớc Đông Nam á, sẵn sàng cùng các n-ớc trong khu vực th-ơng l-ợng để giải quyết các vấn đề ở khu vực, thiết lập quan hệ cùng tồn tại hoà bình, xây dựng Đông Nam
á thành khu vực hoà bình, ổn định và hợp tác Trên tinh thần đó, cùng với giải quyết “vấn đề Cam-pu-chia”, quan hệ đối đầu, căng thẳng giữa một số nước ASEAN với Việt Nam còng chuyển sang trang mới theo tinh thần “Biến Đông D-ơng từ chiến tr-ờng thành thị trường”, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với tất tất cả các n-ớc ASEAN và Đông Nam á Năm 1992, Việt Nam và Lào là quan sát viên của tổ chức ASEAN và là cơ sở cho việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức này vào năm 1995 Bên cạnh việc rộng quan hệ với các n-ớc trong khu vực, tiếp tục duy trì quan hệ với các n-ớc
“truyền thống”, Việt Nam mở rộng quan hệ với các nước t- bản Tây Âu và EU cả trên lĩnh vực ngoại giao và kinh tế Với các tổ chức quốc tế, tiếng nói của Việt Nam ngày càng có trọng l-ợng mà tr-ớc hết là tổ chức Liên Hợp Quốc Chúng ta rất đáng tự hào vì chỉ trong vòng một thời gian ngắn, ngoại giao Việt Nam đã phủ sóng gần nh- trên phạm vi toàn cầu Đ-ờng lối đối ngoại nói trên tiếp tục đ-ợc Đảng ta khẳng định bổ sung và từng b-ớc hoàn thiện tại Đại hội lần thứ VIII (6/1996), lần thứ IX (tháng 4/2001) Đến Đại hội Đảng lần thứ X (4/2006), chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa ph-ơng hóa quan hệ
đ-ợc Đảng ta bổ sung và và nâng lên một b-ớc với tuyên bố mang nội dung mới: “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”
Trang 25Nhiệm vụ của công tác đối ngoại là giữ vững môi tr-ờng hòa bình, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa đất n-ớc, xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc
Thành tựu mà Việt Nam đạt đ-ợc kể từ khi tiến hành đổi mới đất n-ớc,
đặc biệt là sau Chiến tranh lạnh, đ-ờng lối đối ngoại nói chung, lĩnh vực ngoại giao nói riêng tiếp tục đ-ợc Đảng và Nhà n-ớc ta đổi mới và hoàn chỉnh nhằm
đ-a đất n-ớc v-ợt qua những khó khăn, để tạo lập và củng cố môi tr-ờng quốc tế hoà bình, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp phát triển đất n-ớc
Với ph-ơng châm đối ngoại trên, đồng thời gắn với nhu cầu để phát triển kinh tế của đất n-ớc, Việt Nam tích cực chủ động tăng c-ờng quan hệ hữu nghị hợp tác với tất cả các khu vực và châu lục, trong đó Việt Nam luôn coi trọng phát triển quan hệ với EU và tạo đ-ợc lòng tin đối với các n-ớc thành viên, đặc biệt là cộng hòa Pháp Việt Nam hợp tác với Pháp thông qua các cuộc hội thoại cấp cao, tranh thủ đ-ợc vốn, khoa học và công nghệ, kỷ năng quản lý để phục
vụ công cuộc đổi mới, đặc biệt đào tạo cho Việt Nam đội ngũ cán bộ có trình độ cao trên tất cả các lĩnh vực và giao l-u với nền văn hóa tiên tiến hiện đại
phân biệt chế độ chính trị, xã hội khác nhau, không câu nệ đối t-ợng với tất cả những ai có khả năng hợp tác hiệu quả Việc xác định bạn, thù, hình thức,
mức độ quan hệ trở nên rất linh hoạt” [21; 131-132] Những thắng lợi trên mặt
trận đối ngoại của đất nước ta là kết quả của một đường lối đối ngoại đúng đắn, được triển khai dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, của thế và lực đất nước ngày càng được nâng lên sau hơn 20 năm đổi mới, của sự phối hợp chặt chẽ, có hiệu quả giữa các binh chủng đối ngoại, các bộ, ban, ngành, các địa phương
Minh chứng nhất quán chính sách đối ngoại “Việt Nam mong muốn là bạn, là
đối tác tin cậy của các quốc gia, các dân tộc, vì hòa bình, h u nghị, bình đẳng, cùng có lợi, cùng phát triển”
Trang 26Hợp tác mẫu mực CH Pháp - CHXHCN Việt Nam thống nhất nỗ lực đưa quan hệ truyền thống Pháp - Việt Nam lên tầm cao mới, trở thành quan hệ đối tác chiến lược giữa một nước đang phát triển và một nước phát triển Từ hợp tác trên nhiều lĩnh vực, hợp tác trên lĩnh vực văn hoá - giáo dục trở thành cầu nối giữa hai nền văn hoá, của hai châu lục Do vậy, hợp tác trên lĩnh vực văn hoá - giáo dục có vai trò quan trọng, cần thiết thúc đẩy mối quan hệ bền vững lâu đời
1.2.3 Quan hệ chính trị ngoại giao giữa Pháp và Việt Nam
Quan hệ ngoại giao Pháp và Việt Nam chính thức được thiết lập ngày 12-4-1973 Ba mươi lăm năm trôi qua, quan hệ hai nước ngày càng phát triển trên nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế - thương mại, văn hóa -
xã hội, an ninh Có thể nói quan hệ Pháp – Việt Nam là mối quan hệ “đối tác lịch sử và điển hình” Trong những năm 80, quan hệ hai nước bị ngưng đọng Các nước phương Tây thi hành chính sách cô lập với Việt Nam, nhưng thái độ của Pháp có mức độ khác với Mĩ Từ năm 1989, quan hệ Việt-Pháp được cải thiện trở lại Pháp đi đầu các nước Phương Tây trong khai thông quan hệ với Việt Nam: Bộ trưởng Ngoại giao Pháp R Dumas thăm Việt Nam đầu 1990, Pháp nối lại viện trợ phát triển cho Việt Nam, thúc đẩy quan hệ trên mọi lĩnh vực, hỗ trợ Việt Nam giải toả quan hệ với các tổ chức tài chính và tiền tệ quốc tế, ủng hộ Việt Nam thiết lập và tăng cường quan hệ với Liên minh Châu Âu
Việt Nam và Pháp tuy có sự cách biệt về địa lý, chịu tác động không nhỏ từ thăng trầm lịch sử, song hai nước đã cùng nhau xây dựng mối quan
Trang 27hệ mật thiết, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau Đặc biệt, từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX, quan hệ hai nước tiếp tục phát triển thông qua việc trao đổi thường xuyên các đoàn cấp cao của chính phủ hai nước Tháng 2-1993, Tổng thống Pháp P Mít-tơ-răng là vị nguyên thủ Tây Âu đầu tiên sang thăm Việt Nam Nhân dịp này, ông đã đưa ra tuyên bố yêu cầu Mỹ dỡ bỏ cấm vận đối với Việt Nam Tiếp đó, tháng 11-1997, Việt Nam tiếp đón Tổng thống Pháp G.Si-rắc nhân Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ VII các nước sử dụng tiếng Pháp được tổ chức tại Hà Nội Tháng 10-2004, Tổng thống G.Si-rắc thực hiện chuyến công du lần thứ hai sang Việt Nam với thông điệp Pháp khẳng định ủng hộ Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ứng cử vào ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo
an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009 Chủ tịch Thượng viện Pháp C Pông-xơ-lê cũng đã hai lần sang thăm Việt Nam vào tháng 5-2003 và tháng 6-2005 Về phía Việt Nam, nhiều đoàn cấp cao của nước ta đã sang thăm chính thức Cộng hòa Pháp: chuyến thăm của Thủ tướng Võ Văn Kiệt (6-1993), Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh (9-1993), Thủ tướng Phan Văn Khải (4-1998), Chủ tịch nước Lê Đức Anh (5-1995) Năm 2000, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu sang thăm Pháp, đánh dấu chuyến thăm đầu tiên của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam sang Tây
Âu Trong chuyến thăm này, hai nước đã nhất trí tổ chức Diễn đàn kinh tế - tài chính Pháp - Việt nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến cải cách kinh tế ở Việt Nam Tháng 11-2002, Chủ tịch nước Trần Đức Lương sang thăm Pháp Đây cũng là chuyến thăm cấp nguyên thủ quốc gia đầu tiên kể
Trang 28từ khi hai nước tái thiết lập quan hệ ngoại giao Tháng 6-2005, nhân chuyến thăm của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh sang Pháp, một số dự án kinh tế đã được hai bên ký kết như dự án trùng tu cầu Long Biên, dự án xây dựng tuyến xe điện tại Hà Nội , đặc biệt là việc ký kết thành công hợp đồng về nhà máy lọc dầu Dung Quất với tổng số vốn lên đến 1,5 tỉ USD, hợp đồng
về cung cấp trang thiết bị, chuyển giao công nghệ dự án hệ thống giám sát tài nguyên thiên nhiên và môi trường với sự tài trợ ưu đãi của Bộ Kinh tế tài chính và Công nghiệp Pháp
Gần đây, nhằm tăng cường hơn nữa hợp tác chính trị giữa hai nước, theo lời mời của Thủ tướng P Phi-ông, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có chuyến công du sang Pháp (10-2007) Chuyến thăm là dịp lãnh đạo Nhà nước Việt Nam khẳng định chính sách coi trọng vị trí của Pháp trong các mối quan hệ đối ngoại của Việt Nam, đồng thời bày tỏ quan điểm ủng hộ ban lãnh đạo mới của Pháp, đứng đầu là Tổng thống Pháp N Sác-cô-di
Chính phủ Pháp đánh giá cao thành tựu hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới của Việt Nam, ghi nhận vị thế và vai trò của Việt Nam ngày càng được nâng cao trong khu vực cũng như trên thế giới, bày tỏ sự tin tưởng vào triển vọng phát triển của Việt Nam; tái khẳng định sự ủng hộ của Chính phủ Pháp đối với chiến lược phát triển, xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam thông qua các khoản viện trợ ưu đãi Việt Nam hiện là một đối tác quan trọng, là một trong những ưu tiên lớn trong chính sách châu Á của Pháp, nhất là khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO (năm 2006) và
Trang 29là Ủy viờn khụng thường trực của Hội đồng Bảo an Liờn hợp quốc nhiệm
kỳ 2008 - 2009
Trong quan hệ đa phương, Phỏp đúng vai trũ quan trọng hỗ trợ Việt Nam bỡnh thường húa quan hệ với cỏc tổ chức tài chớnh - tiền tệ quốc tế (năm 1993), ký kết Hiệp định khung hợp tỏc với Liờn minh chõu Âu (năm 1995) Ngoài ra, hai nước cũn là thành viờn tớch cực của Cộng đồng cỏc nước sử dụng tiếng Phỏp, Diễn đàn hợp tỏc Á - Âu (ASEM) và nhiều diễn đàn quốc tế khỏc
1.3 Nhõn tố lịch sử
Quan hệ Pháp - Việt diễn ra từ rất sớm Ngay từ thế kỷ XVII, nhà truyền giáo Alexandre de Rhodes, người đã in Từ điển Bồ Đào Nha - Latin - Việt ngữ đầu tiên Cuốn từ điển sau này trở thành cơ sở để các học giả người Việt tạo nên
hệ thống chữ viết mới Tuy nhiên, hiệp -ớc Vecxai năm 1787 đã không làm mối quan hệ Việt Nam - Pháp gần gũi và thân thiện hơn, trái lại nó làm mầm mống cho một ý đồ xâm l-ợc và làm cho nhân dân Việt Nam phải mất gần 100 năm chống ách đô hộ của thực dân Pháp
Năm 1858, Pháp nổ súng xâm l-ợc Việt Nam tại Đà Nẵng, đến năm 1884 cơ bản xâm l-ợc xong Việt Nam về lãnh thổ Pháp biện minh cho sự có mặt ở Việt Nam như là người mang “sứ mệnh khai hóa”, nhưng thực chất Đông Dương chỉ là “một bông hoa đẹp nhất” trong các thuộc địa của Pháp, là nơi cung cấp nhân tài và vật lực cho n-ớc Pháp
Từ giữa thế kỷ XIX đến 1954, xứ Đông D-ơng thuộc Pháp trong đó Việt Nam chỉ là một vùng đất gồm 5 xứ: Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ, và Ai Lao, Cao Miên Mối liên hệ duy nhất giữa hai n-ớc chỉ đơn thuần là mối quan hệ giữa một
kẻ đi xâm l-ợc với nhân dân một dân tộc đang ngày đêm không ngừng đứng lên
Trang 30chống lại kẻ xâm l-ợc Sức mạnh của lòng yêu n-ớc đã đ-a nhân dân Việt Nam hai lần quật khởi giành độc lập, tự do từ tay thực dân Pháp Đó là cách mạng Tháng Tám 1945 và chiến thắng Điện Biên Phủ buộc Pháp phải ký hiệp định Giơnevơ chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông D-ơng năm 1954
Sau Hiệp định Giơnevơ, mặc dù chiến tranh Pháp - Việt Nam đã kết thúc nh-ng Pháp từ bỏ trách nhiệm thi hành hiệp định Giơnevơ, tạo điều kiện cho Mĩ xâm l-ợc Việt Nam Quan hệ giữa hai n-ớc càng căng thẳng, đối đầu do những mối quan hệ đồng minh chồng chéo, phức tạp vào thời kỳ chiến tranh lạnh và cuộc chiến tranh Việt Nam do Mỹ tiến hành
Trong thời kỳ chống Mỹ, Pháp với t- cách là quốc gia có nhiều bài học từ chiến tranh Việt Nam yêu cầu Mĩ chấm dứt chiến tranh Pháp tích cực trong vai trò tổ chức Hội nghị ký kết hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Paris Sau khi giải phúng miền Nam, thống nhất đất nước, ta và Phỏp tăng cường quan hệ nhiều mặt và ký một loạt Nghị định thư tài chớnh với ta Đỉnh cao là chuyến thăm Phỏp của thủ tướng Phạm Văn Đồng thắng 4/1977
Túm lại, bờn cạnh những tội ỏc Phỏp để lại cho dõn tộc Việt Nam trong suốt gần trăm năm nụ dịch, tỏc động khỏch quan đến Việt Nam của Phỏp cũng khụng nhỏ nhất là trờn hai phương diện văn húa - giỏo dục Khi mới chiếm nước ta, đối đầu văn húa là chủ yếu Tri thức Nho học khụng muốn đổi bỳt lụng lấy bỳt chỡ để học Quốc ngữ và tiếng Phỏp Nhưng từ những năm 20, 30 song song với đối đầu là đối thoại văn húa Cỏc nhà Nho hiện đại như Phan Chu Trinh, Phan Bội Chõu, Dương Quảng Hàm, cỏc trớ thức mới như Nguyễn Cụng Tiễu, Hoàng Xuõn Hón Nhất Linh đưa khoa học và dõn chủ phương Tõy vào trong nước Khỏi niệm "cỏi tụi" của
Trang 31phương Tây và chủ nghĩa lãng mạn Pháp đã giúp tạo ra thơ mới và cả một dòng văn học Việt Nam Cuộc gặp gỡ Tây - Đông đã sinh ra hội họa hiện đại Việt Nam Kiến trúc sư He'brard tạo ra phong cách Đông Dương kết hợp Đông Tây Đối thoại với dân chủ và cách mạng phương Tây, kể cả CHXH đã giúp cho các nhà cách mạng Việt Nam vạch ra chiến lược giải phóng dân tộc Điển hình là lãnh tụ Hồ Chí Minh, người được đánh giá là
"Con người hiện đại tiêu biểu nhất cho Việt Nam" (Christiane Pasquel - Rageaud), là "người rất Pháp" (Bộ trưởng Edmond Michelet) Với tinh túy truyền thống Việt Nam và Khổng học, Người đã thành công trong đối thoại với văn minh phương Tây nói chung và văn minh Pháp nói riêng Trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954), cuộc đối thoại văn hóa Việt - Pháp thời kỳ Pháp thuộc đã khai hóa kết quả một cách bất ngờ, do những trí thức và văn nghệ sĩ trưởng thành trước đó đã có hoàn cảnh tự do đem hết tài năng phục vụ đất nước độc lập Trực tiếp phục vụ đấu tranh vũ trang có Võ Nguyên Giáp (người đã từng dạy về Cách mạng Pháp thời Pháp thuộc), Trần Đại Nghĩa (đã học ở Pháp, Đức) chế ra súng Bazoka, Tạ Quang Bửu (đã học ở Pháp) là Thứ trưởng Quốc phòng, sau là Bộ trưởng Đại học Các nhà khoa học như Thạc sĩ toán học (ở Pháp) Hoàng Xuân Hãn
đã đặt ra danh từ khoa học tiếng Việt, do đó có thể dạy Đại học bằng tiếng Việt, không cần qua tiếng Pháp Chữ Quốc ngữ của các Giáo sĩ phương Tây tạo ra đã phổ biến thời Pháp thuộc trong đời sống chính trị, văn hóa, nhưng đến năm 1945, 90% dân vẫn mù chữ Cách mạng đã tích cực vận động xóa nạn mù chữ
Trang 32Các Bác sĩ thời Pháp như Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ mở trường Y và đào tạo các Y, Bác sĩ cho mặt trận và hậu phương
Đa số văn nghệ sĩ thời trước đều phục vụ kháng chiến Một số nhà nghiên cứu có tên tuổi trong thời Pháp thuộc (như Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy, Trần Văn Giáp ) đã đặt nền móng cho khoa học xã hội (Lịch sử, Dân tộc học, Khảo cổ học, Ngôn ngữ học ) Các họa sĩ do Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đào tạo như Nguyễn Pha Chánh… cũng mở trường đào tạo các lớp sau Nghệ thuật và văn học thời chiến (đến 1975) không còn lãng mạn như trước 1945 mà phục vụ cuộc chiến tranh yêu nước, thích hợp với chủ nghĩa hiện thực XHCN Về âm nhạc, bên cạnh nhạc năm cung, thanh niên Hà Nội học ký âm bảy "nốt", hát bài hát Pháp rồi soạn ra bài hát tiếng Việt theo âm giai Tây phương Người soạn nhạc Việt đầu tiên theo nhạc lý phương Tây là người Huế, nhưng trình bày lần đầu là ở Hà Nội năm 1938 là Nguyễn Văn Tuyên Sau đó là Lê Thương, Đặng Thế Phong, Nguyễn Xuân Khoát, Văn Cao
ấp thụ và đi trọn chặng đường hai thế kỷ của thơ Pháp với đủ mọi trường phái: cổ điển, lãng mạn, tượng trưng, trừu tượng, siêu thực làm thành phong trào "Thơ mới", một cuộc cách mạng thi ca lớn từ trước tới bây giờ của nước ta Và cái nôi hình thành phong trào này là những trang báo, trang sách ra đời ở Hà Nội với những vần thơ của Thế Lữ, Phạm Huy Thông, Vũ Đình Liên, Nguyễn Nhược Pháp
Về văn xuôi, các nhà văn khắp cả nước, học tập cú pháp, thi pháp, bố cục tiểu thuyết, xây dựng nhân vật của tiểu thuyết Pháp tạo ra nền văn
Trang 33xuôi hiện đại với Đặng Trần Phất, Hoàng Ngọc Phách, Khái Hưng Cũng
từ đó ra đời các nhóm văn nghệ sĩ mà tên tuổi để đời trong kho tàng văn học dân tộc như nhóm Tư Lực văn đoàn với Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Tú Mỡ nhóm Tiểu thuyết Thứ bảy như Lê Văn Trương, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng [mofa.gov.vn]
Một dấu ấn rõ nhất nữa ở lĩnh vực văn học - và cả nghệ thuật là từ
1921 ra đời thể loại kịch nói ở Việt Nam mà nơi khởi đầu là Hà Nội, do đã học tập ở các vở kịch của Molière Đó là nhà soạn kịch nói đầu tiên: Vũ Đình Long, để tiếp đó là Vi Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ, Võ Trọng Can
Từ thế kỷ 17 đến nửa sau thế kỷ 19, với sự thâm nhập của các lái buôn, giáo sĩ, dân phiêu lưu giúp chúa Trịnh ở phía Bắc, chúa Nguyễn ở phía Nam Có ba sự kiện đánh dấu sù tiÕp xóc v¨n hãa víi Ph¸p lµ Truyền giáo (đạo Thiên chúa), sáng tạo chữ quốc ngữ với vai trò quan trọng của nó Alexandre de Rhodes, sự tham gia của một nhóm quân nhân và nhân viên
kỹ thuật giúp chúa Nguyễn Ánh lập vương triều Nguyễn, họ xây dựng một
số thành cổ theo kiểu Vauban, hiện vẫn còn di tích Thời kỳ Pháp thuộc (1838 - 1945) là thời kỳ hiện đại hoá, tức là Tây phương hoá nước ta, một
cú "sốc" văn hoá tương tự như thời kỳ đế chế Trung Hoa chiếm ta (thế kỷ 2 trước Công nguyên) Quá trình thực dân hoá biến diễn song song với quá trình tiếp biến văn hoá Theo một định nghĩa của UNESCO, "tiếp biến văn hoá là tình trạng tiếp xúc giữa nhiều nền văn hoá với kết quả là những sự đổi thay đối với mỗi nền văn hoá ấy"
Trang 34Trong cuộc tiếp xỳc văn hóa Phỏp - Việt, gạt sang một bờn những tổn thất khủng khiếp do chủ nghĩa thực dõn gõy ra, ta phải ghi nhận khớa cạnh tớch cực của tiếp biến văn hoỏ đối với cả hai phớa Về phớa Phỏp, chất liệu Việt Nam thuộc vựng nhiệt đới chõu Á truyền thống đó mở rộng phạm vi nghiờn cứu khoa học tự nhiờn và nhõn văn, một lĩnh vực xa lạ cho sỏng tạo văn nghệ của họ Xin kể một số thành tựu: Những cụng trỡnh khảo cứu của trường Viễn Đụng bỏc cổ về khảo cổ học, ngụn ngữ học, dõn tộc học, sự phỏt triển của y học nhiệt đới, những thành tớch của Yersin, sự nghiệp của cỏc hoạ sĩ: V.Tardieu và Imguiberty, kiến trỳc sư Hộbrard với "phong cỏch Đụng Dương", sự xuất hiện cả một nền văn học Đụng Dương với những tờn tuổi như A.Malraux, M.Duras, R Dorgelốs, Claude Farrốre A Viollis
Về phớa Việt Nam, tiếp biến văn hoỏ cú phần tiờu cực làm mờ nhạt một
số truyền thống dõn tộc, nhưng lại cú phần tớch cực quan trọng: Kết hợp với những yếu tố Phỏp - tạo ra cỏc giỏ trị mới làm giàu thờm bản sắc dõn tộc
Từ năm 1945 đến năm 1954 là thời kỳ xuất hiện một làn súng bài Phỏp cực đoan xuất hiện Ở nụng thụn, dõn quõn đốt hết sỏch Phỏp, kể cả tự vị Larousse, vật gỡ mang ba màu cờ tam tài Phỏp là bị phỏ huỷ Chủ tịch Hồ Chớ
Minh đó chấn chỉnh tư tưởng quỏ khớch ấy: “Ta đỏnh thực dõn Phỏp nhưng
vẫn là bạn nhõn dõn Phỏp và tụn trọng văn hoỏ Phỏp”
Do đú, chiến tranh giải phúng của ta khụng mang màu sắc hận thự chủng tộc như ở Angiờri Chớnh sỏch khoan hồng với tự binh Phỏp cũng dựa trờn nhận định trờn Trong khỏng chiến, tiếng Phỏp vẫn được dạy trong cỏc trường trung học Rất nhiều nhà trớ thức lỗi lạc sử dụng vốn khoa học - văn hoỏ Phỏp để phục vụ sự nghiệp chiến đấu và xõy dựng đất nước, như Dương
Trang 35Quảng Hàm, Nguyễn Văn Huyờn, Trần Đức Thảo, Trần Đại Nghĩa Khai mạc trường đại học y khoa dạy bằng tiếng Việt, Bỏc sĩ Hồ Đắc Di đọc diễn văn bằng tiếng Phỏp Nhớ Hà Nội bị chiếm đúng, Bỏc sĩ Tụn Thất Tựng làm thơ bằng tiếng Phỏp
Sau Hội nghị Giơnevơ, văn hoỏ - ngụn ngữ Phỏp đó phục hồi mạnh từ khi đặt được quan hệ ngoại giao giữa hai nước, lập Hội Việt - Phỏp hữu nghị, chớnh sỏch mở cửa của đổi mới và nhất là sau sự kiện Việt Nam gia nhập chớnh thức khối Phỏp ngữ
Chớnh sỏch ngoại giao Việt Nam dựa vào ba trụ cột: Gia nhập vựng Đụng Nam Á - Asean, gia nhập toàn cầu và khối Phỏp ngữ Văn hoỏ Phỏp ngữ
cú nhiệm vụ đúng gúp xõy dựng một nền văn hoỏ đậm đà bản sắc dõn tộc, hiện đại và tiờn tiến cho các nước thành viên trong cộng đồng Pháp ngữ Để thực hiện nhiệm vụ này, chỳng ta cần phỏt triển di sản vụ cựng quý giỏ do tiếp xúc và kế thừa văn hoỏ Phỏp để lại "Tiếng Phỏp ở Việt Nam khụng phỏt triển bằng tiếng Anh, nhưng điều này khụng cú nghĩa là văn hoỏ Phỏp sẽ mất
đi Nú sẽ mói mói tồn tại, vỡ nú là phần hữu cơ của văn hoỏ Việt Nam, cũng như văn hoỏ Trung Quốc Tương tự văn hoỏ cổ Hy Lạp - La Mó là bộ phận hữu cơ của văn hoỏ Phỏp, mặc dự ngày nay ớt người Phỏp đọc được chữ Hy-
La cổ"[T/c Sức khỏe đời sống, 2009]
* Tiểu kết ch-ơng 1
Hợp tỏc văn húa - giỏo dục giữa Phỏp và Việt Nam cú quỏ trỡnh tiếp biến lõu dài Qua đú, cỏc tài năng văn húa - nghệ thuật giữa hai nước được khuyến khớch Nhiều di sản văn húa - cả vật thể và phi vật thể được giữ gỡn như chữ quốc ngữ, thơ, văn xuụi, kịch núi…, tụn tạo như cỏc cụng trỡnh kiến
Trang 36trúc Nhà hát lớn, cầu Long Biên, trường Bưởi - Chu Văn An… Hệ thống các sản phẩm văn hoá góp phần trực tiếp vào sự phát triển, tăng trưởng của ngành
du lịch, của nền kinh tế quốc dân Hoạt động giao lưu, hợp tác về văn hoá - giáo dục thực sự khởi sắc, góp phần làm cho vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, văn hoá, con người và cuộc sống Việt Nam được bạn
bè hiểu biết rõ hơn Dân trí được nâng lên, cùng với văn hoá phát triển đã góp phần khơi dậy tính chủ động sáng tạo của nhân dân và nâng cao tính đồng thuận xã hội, tạo ra bầu không khí dân chủ, niềm tin của nhân dân được nâng lên không ngừng Do đó tăng cường quan hệ hợp tác về văn hoá và giáo dục trong bối cảnh toàn cầu hoá là một điều thực sự cần thiết Do khoảng cách tri thức, trình độ công nghệ kỹ thuật, trình độ dân trí trên thế giới ngày càng nhỏ lại, cùng với quá trình toàn cầu hoá trong lĩnh vực kinh tế trở nên phổ biến
và tác động đến mọi mặt đời sống của các quốc gia, dân tộc trên thế giới, thì quá trình toàn cầu hoá văn hoá cũng đang diễn ra với một tốc độc nhanh, mạnh Đó là các quá trình hòa nhập, giao lưu, thể hiện bản sắc văn hoá của mình giữa các nước, các đô thị lớn trên thế giới cũng ngày càng trở nên phổ biến và gây nhiều ảnh hưởng mạnh mẽ
Như vậy, nói về mặt văn hóa, Việt Nam từ xa xưa cho tới tận nay là một quốc gia mở, sẵn sàng đón gió bốn phương, sàng lọc, khơi trong gạn đục, đón nhận những tinh hoa thế giới, trong đó có tinh hoa văn hóa Pháp rồi phát triển, kết hợp hài hòa truyền thống và thời đại, luôn tìm cách canh tân đổi mới Chính trong quá trình đó, thích nghi và đổi mới, đã hình thành bản sắc dân tộc với nội hàm phong phú Đó là sức sống mãnh liệt và ý chí
tự cường, là tinh thần sáng tạo vì cuộc sống tự do và hạnh phúc Đó là sự
Trang 37khát khao của một cuộc sống không chỉ phồn vinh về vật chất mà còn ưu việt về văn hóa cũng như phẩm chất con người, ưu việt về văn hóa cũng như phẩm chất con người qua giáo dục Trong cuộc tiếp xúc văn hóa giữa Pháp và Việt Nam, gạt sang một bên những tổn thất khủng khiếp do chủ nghĩa thực dân gây ra, chúng ta ghi nhận khía cạnh tích cực của tiếp biến văn hoá đối với cả hai phía Về phía Pháp, chất liệu Việt Nam thuộc vùng nhiệt đới châu Á truyền thống đã mở rộng phạm vi nghiên cứu khoa học tự nhiên và nhân văn, một lĩnh vực xa lạ cho sáng tạo văn nghệ của họ Những công trình khảo cứu của trường Viễn Đông bác cổ về khảo cổ học, ngôn ngữ học, dân tộc học, sự phát triển của y học nhiệt đới, những thành tích của Yersin, sự nghiệp của các hoạ sĩ: V.Tardieu và Imguiberty, kiến trúc sư Hébrard với "phong cách Đông Dương", sự xuất hiện cả một nền văn học Đông Dương với những tên tuổi như A.Malraux, M.Duras, R Dorgelès, Claude Farrère A Viollis
Về phía Việt Nam, tiếp xóc văn hoá có phần tiêu cực làm mờ nhạt một
số truyền thống dân tộc, nhưng lại có phần tích cực quan trọng: Kết hợp với những yếu tố phương Pháp - tạo ra các giá trị mới làm giàu thêm bản sắc dân tộc
Việt Nam và Pháp tuy cách xa nhau về địa lý, nhưng đã có mối liên hệ cách đây hàng thế kỷ Vượt qua thăng trầm lịch sử, hai nước và hai dân tộc việt Nam và Pháp đã cùng nhau xây dựng mối quan hệ mật thiết, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau
Tại Việt Nam, Pháp có lợi thế hơn nhiều so với các nước khác do có sự gắn bó về lịch sử và văn hóa Trong thời gian vừa qua, quan hệ hợp tác giữa
Trang 38Phỏp và Việt Nam đó cú những bước phỏt triển rất tớch cực, đỏng hài lũng, tuy nhiờn vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh và mong muốn của nhõn dõn hai nước
Việt Nam là đất nước chịu ảnh hưởng của nền văn hóa, ngôn ngữ, văn minh Pháp rõ nét nhất trong khu vực châu Á Chính những nét tương đồng về văn hóa do lịch sử để lại là nền tảng thúc đẩy quan hệ văn hóa Pháp - Việt Nam phát triển Pháp khẳng định nhân dân Việt Nam quyết tâm cao coi Việt Nam là -u tiên
đối với Pháp, đặc biệt trong lĩnh vực hợp tác Việt Nam và Pháp có mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp nh- hiện nay không chỉ nhờ mối quan hệ trong quá khứ mà còn bởi niềm tin và hy vọng vào t-ơng lai Hai n-ớc học cách tôn trọng lẫn nhau; ngăn chặn một thế giới mà các tiêu chuẩn truyền thống dần mai một, phát huy giá trị nguyên tắc chính trị, dân chủ, một nguyên tắc v-ợt trội trên cả sự tôn trọng những bản sắc văn hoá
Trang 39hệ là chuyến thăm Pháp của Thủ tướng Phạm Văn Đồng tháng 4/1977
Trong những năm 80, quan hệ hai nước bị ngưng đọng Các nước Phương Tây thi hành chính sách cô lập Việt Nam, nhưng thái độ của Pháp có mức độ, khác với Mỹ Từ năm 1989, quan hệ Việt - Pháp được cải thiện trở lại Pháp đi đầu các nước Phương Tây trong khai thông quan hệ với Việt Nam Bộ trưởng Ngoại giao Pháp R Dumas thăm Việt Nam đầu 1990, Pháp nối lại viện trợ phát triển cho Việt Nam, thúc đẩy quan hệ trên mọi lĩnh vực, hỗ trợ Việt Nam giải toả quan hệ với các tổ chức tài chính và tiền tệ quốc tế, ủng hộ Việt Nam thiết lập và tăng cường quan hệ với Liên minh Châu Âu Đỉnh cao quan hệ trong giai đoạn này là việc Tổng thống Francois Mitterrand thăm Việt Nam tháng 2/1993, đây là Tổng thống Pháp và Tổng thống Phương Tây đầu tiên thăm Việt Nam Trong chuyến thăm, Tổng thống F Mitterrand tuyên bố sự hòa giải hoàn toàn giữa hai nước Việt Nam và Pháp và lên tiếng yêu cầu Mỹ bỏ cấm vận chống Việt Nam Năm 1997, Tổng thống Pháp J.Chirac thăm chính thức nước ta trước Hội nghị cấp cao VII các nước sử dụng tiếng Pháp Chuyến thăm đánh dấu một mốc
Trang 40mới trong quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa hai n-ớc Tổng thống J Chirac tuyên
bố “thiết lập quan hệ đối tác đặc biệt giữa hai nước” Tháng 10 năm 2004, Tổng thống Pháp J Chirac và phu nhân thăm chính thức Việt Nam Trong khuôn khổ chuyến thăm, hai bên đã ký 8 văn kiện quan trọng: Hiệp định khung ba bên giữa chính phủ Việt Nam, chính phủ Pháp và chính phủ Buốckina Phaxô về trao đổi công nghệ và năng lực; Hiệp định khung ba bên giữa Việt Nam, Pháp và Buôckina Phaxô về chuyển giao công nghệ thực phẩm nhằm chống suy dinh d-ỡng trẻ em tại Buốckina Phaxô; Nghị định th- giữa chính phủ Việt Nam và chính phủ Pháp về thành lập các trung tâm Đại học Pháp ngữ tại Việt Nam; Hiệp
định hành chính giữa Bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam và Bộ giáo dục quốc gia,
đào tạo đại học và nghiên cứu Pháp về việc công nhận các quá trình đào tạo và văn bằng nhằm tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên học chuyển tiếp ở bậc đại học tại n-ớc đối tác; thỏa thuận cho m-ợn hiện vật để tổ chức triễn lãm kho tàng nghệ thuật Việt Nam: điêu khắc Chămpa thế kỷ VI đến thế kỷ XVI, tại Bảo tàng quốc gia về công nghệ Châu á - Guimet, pari
Về phía ta, trong thời gian qua, nhiều đoàn cấp cao của ta đã thăm Pháp: Thủ tướng Võ Văn Kiệt tháng 6/1993, Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh tháng 9/1993, Chủ tịch Lê Đức Anh tháng 5/1995, Thủ tướng Phan Văn Khải tháng 4/1998, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu (5/2000) Năm 2002, Chủ tịch Trần Đức Lương thăm chính thức n-ớc Pháp Trong chuyến thăm lãnh đạo cấp cao hai n-ớc đã ký 11 văn kiện về: Hỗ trợ hoạt động Trung tâm bồi d-ỡng nghiệp vụ báo chí Việt Nam, Trung tâm bảo d-ỡng công nghiệp thuộc tr-ờng Đại học Bách khoa Hà Nội, Đào tạo thanh tra và quản lý giáo dục, ý định th- về lập tr-ờng đại học Pháp tại thành phố Hồ Chí Minh, ý định th- về hợp tác khoa học xã hội, thỏa thuận khung về sáng kiến đoàn kết điều trị trong hệ thống các bệnh viện; Hợp
đồng quản lý viễn thông với hãng ALCATEL