Tuy ở nước ngoài nhưng nhờ trưởng thành trong các phong trào cách mạng, được giáo dục tinh thần yêu nước, chủ nghĩa Mác - Lênin và được sự đoàn kết đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân nước sở
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA LỊCH SỬ
-
ĐINH THỊ ÁNH TUYẾT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
TÌM HIỂU PHONG TRÕ YÊU NƯỚC CỦA VIỆT KIỀU Ở THÁI LAN ĐẦU THẾ KỶ XX
CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ THẾ GIỚI
VINH, 2010
Trang 2A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử di cư của các cộng đồng người ra ngoài lãnh thổ mà mình sinh sống là một hiện tượng tự nhiên trong lịch sử loài người Họ di cư do những nguyên nhân: Sự biến động về chính trị, sự khó khăn về kinh tế, chiến tranh tôn giáo Lịch sử loài người đã từng chứng kiến nhiều sự di cư của các tộc người Vào thế kỷ XVII, đã diễn ra sự di cư của người Anh đến vùng Bắc Mỹ giàu có, sự ra đi của những người Hoa đến tất cả những nơi trên thế giới, cho đến sự di cư của hàng loạt người Do thái tránh sự diệt chủng
Việc cộng đồng người Việt di cư ra nước ngoài cũng không nằm ngoài quy luật ấy Sự tranh chấp giữa các tập đoàn phong kiến, sự kỳ thị tôn giáo cho đến sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân đã dẫn đến việc rời bỏ Tổ quốc
ra đi của những người Việt Nam đến các quốc gia khác để sinh sống Trải qua những đợt di cư lâu dài, đến nay cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có 2,7 triệu người sinh sống ở gần 90 nước và vùng lãnh thổ Trong đó có hơn 80% sống ở các nước công nghiệp phát triển Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có tiềm lực kinh tế nhất định, nhiều tri thức có trình độ học vấn và chuyên môn cao Mặc dù sống xa Tổ quốc, xa quê hương đồng bào vẫn nuôi dưỡng phát huy tinh thần yêu nước, giữ gìn truyền thống văn hóa và hướng về cội nguồn bằng những đóng góp về tinh thần, vật chất và cả xương máu cho
sự nghiệp giải phóng dân tộc
Trong các cộng đồng người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài, cộng đồng Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan có số lượng khá đông đảo, lịch sử tương đối dài và có nhiều đóng góp cho đất nước nhất là trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
Trong lịch sử, xã hội Việt kiều ở Thái Lan đã trở thành cơ sở tốt cho các hoạt động cách mạng Có thể nói đó là xã hội của quần chúng cách mạng
Trang 3luôn hướng về Tổ quốc đem vận mệnh mình gắn với vận mệnh của Tổ quốc trong tất cả các giai đoạn phát triển của lịch sử cách mạng Việt Nam Tuy ở nước ngoài nhưng nhờ trưởng thành trong các phong trào cách mạng, được giáo dục tinh thần yêu nước, chủ nghĩa Mác - Lênin và được sự đoàn kết đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân nước sở tại phong trào Việt kiều của ta ở Thái Lan luôn đi kịp với các phong trào trong nước cho đến ngày thắng lợi cuối cùng Đặc biệt, trong những năm đầu thế kỷ XX Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan đã
có những đóng góp to lớn trong lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt Nam, luôn
là cơ sở vững chắc là cầu nối cho tình hữu nghị với nhân dân các nước Đông Dương với nhân dân Thái Lan và phong trào yêu nước ở hải ngoại hiếm có trong lịch sử đấu tranh giải phóng của các dân tộc trên thế giới
Vì vậy luận văn lựa chọn việc nghiên cứu “Tìm hiểu phong trào yêu nước của Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan đầu thế kỷ XX” là đề tài có thể đáp
ứng những nhu cầu nghiên cứu của bản thân đồng thời nhằm đạt tới những mục tiêu thiết thực nói trên
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xét trên phạm vi toàn quốc các công trình nghiên cứu tìm hiểu về cộng đồng người Việt sinh sống ở nước ngoài đang còn rất hạn chế Do đó tìm hiểu cộng đồng Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan thực sự là một vấn đề còn hết sức mới mẻ Như vậy cũng có nghĩa là một công trình quy mô toàn diện về mảng
đề tài này theo tác giả là chưa ra đời
Cho đến hiện nay đã có một số tài liệu được viết dưới dạng các hồi ký
tự thuật do những người đã từng hoạt động ở Thái Lan như: Tác phẩm “Cuộc vận động cứu quốc của Việt kiều ở Thái Lan” xuất bản năm 1961 của Lê Mạnh Trinh, Nxb Sự thật, Hà Nội, “Hoạt động cách mạng của Việt kiều ở Thái Lan”, “Việt kiều ở Thái Lan trong sự nghiệp giải phóng dân tộc” của
Đông Tùng Các tài liệu này đều đề cập đến những công lao và đóng góp của Việt kiều ở Thái Lan đối với Tổ quốc
Trang 4Ngoài ra, gần đây có một số bài viết của các tác giả đăng trên các tạp chí nghiên cứu của Việt Nam cũng đề cập đến một số khía cạnh mà luận văn
quan tâm như “Thái Lan - địa bàn liên lạc của cách mạng Việt Nam” (Nguyễn Văn Khoan, Nghiên cứu Đông Nam Á, 1996, số 2 trang 47); Đời sống kinh tế của cộng đồng người Việt ở tỉnh Sacol Nakhon – Thái Lan (Nguyễn Hồng Quang, Nghiên cứu ĐNA, 2004, số 2); Hoạt động yêu nước của người Việt ở Thái Lan trong mối quan hệ với cách mạng Việt Nam đầu thế kỉ XX (Đặng Văn Chương, Trần Quốc Nam, 2007); Hoạt động của các nhà yêu nước Việt Nam ở Xiêm (Thái Lan) đầu thế kỉ XX sau khi Phong trào Đông Du thất bại (Nguyễn Công Khanh, quan hệ Việt – Nhật và 100 năm
Phong trào Đông Du, NXB ĐHQG HN, 2006); Trịnh Diệu Thìn, Thanyathip
Sripana, Việt kiều trong mối quan hệ Thái Lan – Việt Nam, NXB KHXH, HN,
2006 Trần Đình Lưu (Riên), Việt kiều Thái – Lào với quê hương, NXB
CTQG, HN, 2007
Cộng đồng Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan cũng đã thu hút sự quan tâm
của các học giả nước ngoài tiêu biểu có một số tài liệu dịch: Cuốn “Người Việt Nam ở Thái Lan [The Vietnamese in Thailand] của tác giả Peter A
Poole, NXB Conell University Press USA, 1970 (bản dịch của Viện Đông Nam Á) cũng đã làm rõ thái độ và chính sách của chính phủ Thái Lan đối với
cộng đồng Việt kiều.Phó giáo sư Lea Dilokdhyanat có bài “Người Việt sang Thái từ bao giờ” đăng trên tạp chí Văn hóa xã hội, số thứ nhất, 9/2000 (Tạp
chí của người Việt Nam ở Thái Lan xuất bản) cũng đã khái quát lịch sử hình thành cộng đồng người Việt Nam trên đất Thái Lan
Chúng tôi nhận thấy: Thứ nhất, hầu hết các tài liệu này mới chỉ đề cập đến sự hình thành của cộng đồng người Việt trên đất Thái mà chưa làm rõ nguyên nhân dẫn đến quá trình hình thành đó Thứ hai một số tài liệu đề cập đến những đóng góp của Việt kiều trong phong trào giải phóng dân tộc thì
Trang 5chung chung sơ lược, thiếu tính hệ thống và chưa bao quát được toàn bộ giai đoạn mà đề tài quan tâm
Tuy nhiên, đây là những tài liệu hết sức quý giá giúp tác giả trong việc tiếp cận và giải quyết vấn đề nêu ra một cách tốt nhất Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc các nguồn tư liệu như trên để luận văn có tính xác thực và khách quan hơn
3 Đối tƣợng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: Mở đầu: Những năm đầu thế kỷ XX khi phong trào Cần Vương thất bại và những người yêu nước sang Thái lánh nạn Mốc kết thúc là năm 1930 khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời Từ đây phong các trào hoạt động yêu nước được đặt dưới một ngọn cờ chung thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng
Không gian: Là vùng Đông Bắc Thái Lan nơi tập trung đông đảo người Việt Nam sinh sống
4 Đóng góp của khóa luận
Thông qua luận văn, làm sáng tỏ thêm phần lịch sử Việt Nam với những đóng góp to lớn của cộng đồng Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan trong tiến trình lịch sử của dân tộc Đặc biệt là những đóng góp của họ ở những thập niên đầu thế kỷ XX Bổ sung những sự kiện lịch sử quan trọng liên quan đến cách mạng Việt Nam mà phần lịch sử Việt Nam cũng như phần lịch sử thế giới chưa đề cập tới
Trang 6Công trình khoa học này có thể góp thêm nguồn tư liệu tham khảo cho những đề tài nghiên cứu có liên quan
Cuối cùng, đây là công trình nghiên cứu khá chi tiết về phong trào yêu nước của Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan đầu thế kỷ XX giúp chúng ta có cái nhìn khách quan và hiểu biết hơn về cộng đồng kiều bào chúng ta ở nước ngoài nói chung và cả ở Thái Lan nói riêng Từ đó tăng cường sự đoàn kết, tương thân tương ái giữa đồng bào trong nước với Việt kiều ở nước ngoài trong sự nghiệp chung xây dựng đất nước
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
- Các tư liệu sách báo, tranh ảnh, các phóng sự tài liệu bản đồ
- Các tư liệu viết về các nhân vật lịch sử: Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu, Đặng Thúc Hứa của các học giả trong nước
- Các tài liệu của các học giả Thái Lan và nước ngoài nghiên cứu về cộng đồng người Việt Nam ở Đông Bắc Thái Lan
- Tư liệu hồi cố: Lời kể của những Việt kiều ở Thái Lan về nước và những Việt kiều Thái Lan hiện đang công tác học tập tại Việt Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Bên cạnh phương pháp truyền thống là phương pháp lịch sử và lôgic chúng tôi còn sử dụng phương pháp sưu tầm, tích lũy, sao chép tư liệu có liên quan đến đề tài tại thư viện của các trường đại học, các trung tâm lưu trữ quốc gia, các viện nghiên cứu
Trong xử lý tài liệu chúng tôi dùng phương pháp tổng hợp, thống kê, đánh giá sự kiện lịch sử một cách chân thực khách quan, so sánh thẩm định đối chiếu giữa các nguồn tài liệu
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp hồi cố gặp gỡ những nhân chứng là Việt kiều đã hồi hương về nước, những người có trách nhiệm
Trang 7nghiên cứu về Việt kiều trong ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài để đề tài nghiên cứu khách quan và sinh động hơn
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục nội dung chính của khóa luận được trình bày gồm 3 chương
Chương 1: Bối cảnh lịch sử phong trào yêu nước của Việt kiều ở Đông
Bắc Thái Lan đầu thế kỷ XX
Chương 2: Phong trào yêu nước của Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan từ
đầu thế kỷ thế kỷ XX đến năm 1930
Chương 3: Nhận xét về phong trào yêu nước của Việt kiều ở Đông Bắc
Thái Lan đầu thế kỷ XX
Trang 8B NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CỦA VIỆT KIỀU Ở ĐÔNG BẮC THÁI LAN ĐẦU THẾ KỶ XX 1.1 Sơ lược tình hình vùng Đông Bắc Thái Lan
1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Thái Lan là một quốc gia Đông Nam Á nằm trên bán đảo ấn Độ - China Người Thái thường ví nước mình giống như cái rìu cổ, nhưng nhìn trên bản đồ miền Đông Nam Á lục địa Thái Lan có hình dáng đầu một con voi đang cúi xuống nhìn cái vòi dài hút vịnh Thái Lan Diện tích tự nhiên của
97,30 tới 105,30 độ kinh Đông Thái Lan nằm gọn trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có chung biên giới với Lào ở Đông và Đông Bắc với Mianma ở phía Bắc và Tây Bắc, Đông Nam giáp Campuchia, phía Tây Nam giáp biển Andaman, phía Nam giáp Malaixia, có vịnh Thái Lan nằm sâu trong đất liền tạo thành một địa hình lý tưởng rất thuận tiện cho giao thông Địa hình Thái Lan thấp dần từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông Địa hình đất nước Thái Lan được chia thành bốn khu vực khác nhau: Miền Bắc, vùng Đông Bắc, vùng đồng bằng trung tâm và miền Nam
Vùng Đông Bắc Thái Lan hay còn gọi là miền cao nguyên Korạt cách Băng Cốc khoảng 450 km, là cao nguyên dĩa với dòng sông Mê Kông làm ranh giới phía Đông Vùng Đông Bắc có diện tích 170.000 km2
chiếm 1/3 diện tích cả nước Vùng này bao gồm 19 tỉnh, bao gồm các tỉnh: Kalasin, Khon Kaen, Chaiya Phum, Nakhon, Phanom, Nakhon Ratchasima, Nong Khai, Nong Bualamphu, Burivam, Maha Sarakham, Mucdahan, Yasothon, Roi Et, Loei, Sisaket, Sakol Nakhon, Surin, Ucton Thani, Ubon Ratchathani
và Ammat Charoen Trong đó, các tỉnh như Ucton Thani, Mucdahan, Nakhon Phanôm, Sakol và Noỏng Khai là các tỉnh nằm ven sông Mê Kông, nơi được
Trang 9coi là cửa ngõ tiếp nhận sự nhập cư của cộng đồng người Việt tản cư từ Lào sang Đây cũng là địa bàn tập trung Việt Kiều đông đúc nhất hiện nay Không những thế, Udon Thani, Nakhon Phanôm, Sakol và Noỏng Khai là những nơi
có những đóng góp đáng kể vào phong trào cách mạng ở Việt Nam
1.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội
Vùng Đông Bắc Thái Lan là vùng nghèo nhất và lạc hậu nhất của đất nước Thái Lan Nguyên nhân là do vị trí địa lý vùng Đông Bắc Thái Lan quá phức tạp, địa hình tách biệt với các vùng còn lại của Thái Lan Các dãy núi tạo nên ranh giới vùng với dãy Phectachabun ở phía Tây, Phnom Darek ở phía Nam là những ngăn cách chính cản trở sự giao lưu buôn bán của vùng Đông Bắc Thái Lan với các trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế khác của cả nước Sự cách biệt về địa lý được coi là mang tính địa chính trị đã tác động tới tình hình chính trị kinh tế và diện tích của vùng này
Cư dân ở đây phần lớn là người Lào, còn gọi là người Thái Đông Bắc
Đó là bộ phận của người Thái cổ, thực chất họ là những người Lào bởi vì vùng Đông Bắc Thái Lan ngày nay chính là nhờ phần đất của nước Lào mới
bị Thái Lan chiếm vào cuối thế kỷ XIX Cư dân ở đây đa số theo đạo Phật, một số ít theo đạo Thiên chúa giáo
Vùng Đông Bắc được biết đến là nơi có các sản phẩm được làm từ tơ tằm tốt nhất Thái Lan Đây cũng là nơi đến làm ăn sinh sống của những người dân Việt Nam Đồng thời là địa bàn cư trú và là căn cứ cách mạng của những nghĩa quân thất bại trong các phong trào yêu nước Việt Nam hồi cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX: Phong trào Cần Vương, Đông Du, Duy Tân Cho đến nay đã hình thành ở đây một cộng đồng người Việt đông đảo bên cạnh các cộng đồng khác Sự di cư của người Việt đến vùng này do các nguyên nhân: chiến tranh, đói kém, đàn áp họ đến để sinh sống lánh nạn, hoạt động cách mạng
Trang 10Trong suốt quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, cộng đồng Việt kiều ở đây đã đóng một vai trò to lớn, làm cơ sở cho các nhà yêu nước Việt Nam được tiếp tục hoạt động cách mạng, làm cơ sở liên lạc với cách mạng trong nước Đối với nhân dân Việt Nam, vùng Đông Bắc được biết đến như là một địa danh đã gắn liền với tiến trình lịch sử Việt Nam
1.2 Hình thành cộng đồng Việt Kiều ở Đông Bắc Thái Lan
1.2.1 Người Việt Nam nhập cư vào Thái Lan thời kỳ Pháp thuộc
Ở thời kỳ trước, vào cuối thế kỉ XVIII đến thế kỉ XIX đã xuất hiện một làn sóng nhập cư của người Việt Nam vào Thái Lan Nguyên nhân của lần nhập cư này không nằm ngoài tình cảnh chung lúc bấy giờ ở Việt Nam: nạn mất mùa đói kém, chính sách “ sát tả bình Tây” do mấy ông vua mù quáng gây nên Họ sống ở ba vùng chính: ở phía Nam Thái Lan, khu Đông Bắc Thái Lan (Sacol Nakhon, Nakhon Phanôm, Ubôn), và ở vùng Bắc Thái Lan
Người Việt nhập cư vào Thái Lan thời kì Pháp thuộc diễn ra từ cuối thế
kỷ XIX đến những năm 30 của thế kỷ XX Cuối thế kỷ XIX sau khi hoàn tất việc xâm chiếm Việt Nam bằng việc kí kết Hiệp ước Patơnốt (1884), Pháp đã gia tăng sự tàn bạo trong chính sách đô hộ với mọi tầng lớp nhân dân Đầu tiên là những người nông dân nghèo ở vùng quê rơi vào tình cảnh “một cổ hai tròng”, dân nghèo ở thành thị cũng bị bần hàn sưu cao thuế nặng Họ đã rời
bỏ làng quê đi tìm đất mới làm ăn: vượt dãy Trường Sơn đến Lào rồi vượt sông Mê Kông đến miền quê Đông Bắc Thái Lan Chính do những chính sách tàn bạo của thực dân Pháp mà một loạt phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta đã diễn ra trên khắp các tỉnh Bắc - Trung - Nam Đi tiên phong là Phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng, khởi nghĩa Ba Đình, khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám, tiếp đến là phong trào Đông
Du của Phan Bội Châu, phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh lãnh đạo nhưng tất cả đều thất bại Những người Việt yêu nước đã vượt Trường Sơn
Trang 11sang Lào rồi sang Thái Lan Thái Lan trở thành nơi an toàn để họ nương náu tạm thời, chờ thời cơ cứu nước
Hiệp ước Pháp - Xiêm 1893 quy định những người thuộc quyền cai trị của Pháp ở Đông Dương được đi lại tự do vào khoảng 25km tính từ biên giới vào nội địa Xiêm Họ được bán hàng hóa mà không phải nộp thuế cho chính phủ Xiêm Hơn thế luật pháp nước Xiêm đối với ngoại kiều cũng khá rộng rãi: chỉ cần đóng thuế 4 bạt (đồng tiền Xiêm) thì được tự do đi lại làm ăn, mở cửa hiệu Chính những điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam đến Thái Lan làm ăn ngày một đông [24, 45]
Phần đông Việt kiều sang Thái Lan từ cuối thế kỉ XIX về sau đã tập trung ở vùng Đông Bắc Thái Lan trên hữu ngạn sông Mê Kông: Noong-Khai, Uthên, Nakhon, Mucđahan, Thạt Phanôm
Tuy phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930-1931) bị dìm trong bể máu nhưng Việt kiều trên đất Thái Lan lại đón nhận một số đảng viên và quần chúng cách mạng chạy sang nương náu chờ cơ hội cứu nước
Số lượng Việt kiều nhập cư ở Thái Lan từ cuối thế kỉ XIX đến trước năm 1930 lên tới khoảng hai vạn Mang sẵn ách mất nước, sống trong tình cảnh tha phương và do ảnh hưởng của các phong trào cách mạng trong nước truyền sang mạnh mẽ, đặc biệt có những nhà cách mạng ở trong nước chạy qua nhập khối làm nòng cốt Kiều bào nói chung có tinh thần yêu nước cao, là một lực lượng đáng tin cậy của cách mạng
Ngoài ra còn có những người Việt Nam tản cư từ Lào sang Thái Lan sau khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược Đông Dương lần II Con số chính thức về người Việt Nam tản cư từ Lào sang Thái Lan trong khoảng từ 40 đến
50 nghìn người Theo con số của tác giả Kha chặt phay Bu rut phăt trong sách
“Duôn ôp pha dôp” đã nêu là 46700 người Hầu hết trong số họ cư trú trên
đất Đông Bắc Thái Lan ngày nay
Trang 121.2.2 Nguyờn nhõn của việc hỡnh thành cộng đồng Việt kiều ở Đụng Bắc Thỏi Lan
Sự di cư của người Việt đến Đụng Bắc Thỏi Lan bắt nguồn từ những nguyờn nhõn nội tại của Việt Nam: chiến tranh, đúi kộm, đàn ỏp Họ đó đến vựng Đụng Bắc Thỏi Lan để sinh sống, để lỏnh nạn, hoạt động cỏch mạng Việc vựng Đụng Bắc trở thành nơi những người Việt Nam sang cư trỳ tự nú
đó bao hàm cỏc yếu tố thuận lợi đảm bảo cho những mục đớch khỏc nhau của cỏc thành phần người di cư khỏc nhau, đú là:
Sự gần gũi về mặt địa lý: Thỏi Lan là nước lỏng giềng với cỏc nước Đụng Dương, chỉ cần bảy ngày vượt đường rừng đi bộ là cú thể đến được vựng Đụng Bắc Thỏi Lan và nơi đõy cũng gần với Trung Quốc, là con đường những người yờu nước Việt Nam cú thể di cư sang và ngược lại
Vị trớ địa chớnh trị: Vựng Đụng Bắc tiếp giỏp với Lào là nước nằm trong cai trị của thực dõn Phỏp để trốn trỏnh sự đàn ỏp, truy lựng nhiều nhà yờu nước Việt Nam và con chỏu của họ đó di cư sang đõy một cỏch thuận lợi
Cũng cú thể do vựng Đụng Bắc là nơi xa xụi hẻo lỏnh của Thỏi Lan cú thể dễ dàng trỏnh được sự chỳ ý của cỏc nhà cầm quyền Thỏi, và như thế sẽ là địa bàn thuận lợi để hoạt động cỏch mạng được bớ mật an toàn [8]
Như vậy những người Việt cư trỳ trờn đất Xiờm nhưng họ vẫn luụn nhớ
về cội nguồn dõn tộc, luụn hướng về Tổ quốc cú cảm tỡnh với cỏc phong trào giải phúng dõn tộc trong nước Họ mang sẵn trong mỡnh tỡnh yờu nước thương nũi, sống trong hoàn cảnh tha phương Do ảnh hưởng của cỏc phong trào cỏch mạng trong nước, nhờ sự lónh đạo tập hợp của những nhà cỏch mạng ở trong nước đã hỡnh thành cộng đồng Việt kiều ở Đụng Bắc Thỏi Lan cú tớnh cỏch mạng cao luụn phỏt huy truyền thống yờu nước hướng về cội nguồn, cú nhiều đúng gúp cho đất nước nhất là trong sự nghiệp giải phúng dõn tộc
Trang 131.3 Tình hình Việt Nam đầu thế kỉ XX
1.3.1 Tình hình kinh tế
Vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, sau khi đã hoàn thành việc xâm chiếm Việt Nam thực dân Pháp bắt đầu tiến hành khai thác trên đất nước ta Dưới tác động của cuộc khai thác xã hội Việt Nam có những biến động đáng
kể
Ngày 28-9-1987, toàn quyền Đông Dương đã ra nghị định mở rộng diện tích áp dụng quyền sử hữu ruộng đất cá nhân ra toàn lãnh thổ Theo đó, mọi công dân Pháp và người được Nhà nước Pháp bảo hộ có đất do được ban tặng hoặc mua lại của những người có ruộng thuộc toàn quyền sở hữu cá nhân của
họ Điều khoản này đã mở đường cho tư bản Pháp tha hồ chiếm đoạt ruộng đất của nhân dân Việt Nam Tính từ năm 1915 địa chủ người Pháp đã chiếm 47.000 ha đất ở Bắc Kì và Trung Kì Quyền sở hữu tối cao về ruộng đất từ tay nhà vua Việt Nam chuyển sang tay nhà nước bảo hộ Pháp [9, 113]
Hơn thế để phục vụ cho mục đích xuất cảng gạo thương nhân Pháp được chính quyền thực dân giúp đỡ đã sử dụng mọi hình thức ép nhân dân phải bán rẻ cho chúng số lúa gạo ít ỏi của mình Nhân dân do đó bị kiệt sức không còn khả năng cải tiến kĩ thuật canh tác
Tình hình trên đã dẫn đến hậu quả là nông nghiệp Việt Nam vẫn ở nguyên trạng độc canh năng suất thấp lại phải đáp ứng cho nhu cầu xuất khẩu cao cho nên đời sống nhân dân nhất là nông dân vô cùng bi đát
Thời gian này, ở Việt Nam cũng đã xuất hiện một nền công nghiệp mới:
hệ thống hầm mỏ, công trường xí nghiệp của tư bản Pháp, Hoa Kiều và Nhật Bản Tuy nhiên, nền công nghiệp Việt Nam lúc này cơ bản nằm trong tay nhà
nước thực dân “Công nghiệp thuộc địa đẻ ra những cái mà công nghiệp Pháp không thể làm được để cung cấp những sản phẩm đến nơi mà sản phẩm công nghiệp Pháp không tới được” “chỉ giới hạn trong phạm vi sao cho nền công nghiệp đó không làm tổn hại đến công nghiệp chính quốc” [9, 118]
Trang 14Đồng thời thực dân Pháp chú ý đến nhiều ngành khai thác mỏ nhất là các mỏ than Năm 1912 các công ty than của Pháp ở Việt Nam đã khai thác 427.523 tấn Ngoài than, Pháp còn khai thác một số mỏ kim loại khác như: kẽm ở Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn; Tungsten ở Cao Bằng: vàng ở Bồng Miêu
Các nhà máy, xí nghiệp của Pháp được thành lập ở Việt Nam trong thời
kì này chủ yếu kinh doanh các mặt hàng phục vụ đời sống và chế biến Cho đến chiến tranh thế giới thứ nhất ở Việt Nam vẫn chưa có một nhà máy chế tạo công cụ nào Luyện kim là ngành then chốt của công nghiệp cũng không
hề có
Phần lớn hàng hoá tiêu dùng phải nhập từ Pháp rất đắt hiếm chỉ phục vụ cho người Pháp, viên chức người Việt trong chính quyền thực dân và thị dân Những người lao động trực tiếp: nông dân, công nhân xa lạ với văn minh điện, nước máy Nền công nghiệp gọi là “mới” rõ ràng không phục vụ gì cho việc phát triển lực lượng sản xuất của xã hội
Do đó, có thể nói rằng nền kinh tế Việt Nam đầu thế kỉ XX về cơ bản vẫn mang nặng tính tự cấp tự túc Các ngành thủ công do đó còn rất cần thiết
nhưng hàng hoá nhập từ Pháp ngày càng nhiều cùng với chính sách độc
quyền kinh tế của nhà nước thực dân đã làm nhiều ngành thủ công gặp nhiều khó khăn Hàng tiêu dïng cần thiết cho nhân dân lao động hết sức khan hiếm
Trong tình hình đó, một lớp người bản xứ: thợ thủ công khá giỏi, nhà buôn, thầu khoán, một số nhà nho, một số quan lại đã đứng ra kinh doanh hàng công nghiệp Một số xí nghiệp của người bản xứ đã ra đời tuy một số đã đạt tới quy mô khá lớn nhưng nếu so với bộ phận công nghiệp do người Pháp nắm giữ thì nó chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ cả về vốn đầu tư cũng như số lượng
Trang 15Cho đến cuối chiến tranh thế giới thứ nhất ở Việt Nam cũng đã xuất hiện thành phần kinh tế tư sản dân tộc thể hiện sự biến đổi quan trọng của xã hội Việt Nam lúc đó
Pháp độc chiếm thị trường Đông Dương nắm nguồn thuế độc quyền thường mại, thuế quan xuất nhập khẩu Hai thứ thuế trực thu và gián thu tăng mạnh Nhiều thứ thuế mới được đặt ra để nuôi sống một số lượng quan lại công chức đồng thời góp tiền của để hoàn chỉnh cơ sở kinh tế cho cuộc khai thác đại quy mô của Pháp Sau khoảng 20 năm (1897-1914) trong thời kì “đại khai thác” của người Pháp, Việt Nam thực sự đã trở thành mét thị trường tiêu thụ và bổ sung cho công nghiệp chính quốc Bộ phận kinh tế thực dân đã không giúp cho sự phát triển của nền kinh tế nước ta mà còn kìm hãm nó một cách nghiêm trọng Nền kinh tế tư sản dân tộc non trẻ phụ thuộc quá nhiều vào nền kinh tế nước Pháp nên không có sự đột phá mạnh mẽ nào để giải phóng lực lượng sản xuất Kinh tế nông nghiệp tuy có được lôi cuốn vào nền kinh tế hàng hoá nhưng không có tích luỹ nên vẫn ở nguyên trạng lạc hậu Nhân dân đã lâm vào cảnh vô cùng bi đát khổ cực
1.3.2 Tình hình xã hội
Về chính trị: Với chính sách “chia để trị” “dùng người bản xứ trị người bản xứ” tổ chức Liên bang Đông Dương tiếp tục được kiện toàn Đế chia rẽ nhân dân Đông Dương trong một cấu trúc thống nhất giả tạo xoá tên Việt Nam, Lào, Campuchia trên bản đồ thế giới chúng liên kết với lực lượng phong kiến phản động ở Việt Nam để đàn áp chính trị, vơ vét bóc lột kinh tế
Những chính sách kìm kẹp của thực dân Pháp đã tạo điều kiện cho sự ra đời một đội ngũ những kẻ ăn bám sâu mọt ngày càng đông đúc Song song với mục tiêu hướng tới việc thành lập một nền giáo dục Tây Phương nhằm đào tạo mét lớp công chức nhân viên cần thiết cho guồng máy chính trị và kinh tế thực dân: Chủ trương duy trì nền giáo dục Nho học làm cho “gia đình vững mạnh, cha mẹ được kính trọng, chính quyền được tuân thủ” Từ năm
Trang 161905, toàn quyền Pôn Bô tiến hành cải cách giáo dục Các trường tiểu học Pháp - Việt được mở rộng thêm bậc tiểu học bổ túc và sửa đổi lại nền Hán học cũ Một số trường sư phạm, trường chuyên nghiệp, trường y được mở ở
Hà Nội, Nam Định, Huế, Gia Định Cuối năm 1907 mở Đại học Đông Dương, năm 1908 ra lệnh đóng cửa và đến 1917 mới mở lại [9, 110]
Nhiều tờ báo ra đời để tuyên truyền cho chính sách thực dân: Nam Trung nhật báo, Lục tỉnh tân văn, Đại Việt tân báo, Đại Việt công báo, Đăng
cổ tùng báo
Song song với chính sách nô dịch thực dân Pháp còn thi hành mét số chính sách phản động về văn hoá nhằm phá hoại lòng tự hào dân tộc, reo rắc
tư tưởng tự ti trong nhân dân, duy trì nếp sống hủ lậu của xã hội cũ và truyền
bá nếp sống tư sản Phương Tây không kém phần hủ bại
Về giai cấp trong xã hội: Các giai cấp cũ phân hoá, nông dân và thợ thủ công bị bần cùng hoá và phá sản hàng loạt Giai cấp địa chủ được thực dân Pháp nâng đỡ nên thế lực kinh tế và chính trị của giai cấp này đã tăng lên Ngoài điạ chủ Pháp, địa chủ nhà thờ, địa chủ quan lại, địa chủ thường còn xuất hiện thêm các địa chủ kiêm công thương Địa chủ Việt Nam phát triển hơn trước, trở thành chỗ dựa đắc lực cho thực dân Pháp trong công cuộc khai thác thuộc địa và duy trì trật tự xã hội có lợi cho chúng
Một số giai cấp tầng lớp mới ra đời như giai cấp công nhân Những công trường xí nghiệp của thực dân Pháp và tư sản Việt Nam mới mở trong những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX đã thu hút hàng ngàn người lao động làm thuê Năm 1909, tổng số công nhân toàn quốc lên đến 550.000 người Với số lượng tương đối đông đảo, với chất lượng biểu hiện ở tính tập trung cao làm việc trong guồng máy TBCN, kĩ thuật hiện đại có tinh thần đấu tranh chống kẻ thù chung Công nhân Việt Nam đã có đủ các điều kiện cần
và đủ để hình thành một giai cấp Tuy vậy, giai đoạn này công nhân nước ta còn ở giai đoạn tự phát
Trang 17Ngoài giai cấp công nhân đầu thế kỉ XX còn xuất hiện tầng lớp tư sản
và tiểu tư sản thành thị Vì bị thực dân Pháp chèn ép nặng nề, tư sản Việt Nam phát triển chậm chạp về mọi mặt, chưa đủ điều kiện để hình thành giai cấp Tuy vậy, sự phát triển của TBCN nói chung và sự lớn mạnh của tầng lớp
tư sản dân tộc nói riêng đã trở thành cơ sở thuận lợi cho sự tiếp thu các trào lưu từ bên ngoài dội vào
Như vậy, nhìn chung xã hội Việt kiều ở Thái Lan đã được hình thành qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau Mỗi lần bà con Việt kiều phải sang đất Thái Lan là những lúc nước nhà có biến động chính trị hoặc giai đoạn gặp hoàn cảnh khó khăn do đế quốc và phong kiến gây nên Các đợt nhập cư về sau càng gắn liền với một nguyên nhân chủ yếu là sự áp bức bóc lột tàn sát của thực dân Pháp Đó là cơ sở kinh tế chính trị tạo nên ý thức cách mạng sâu sắc và phổ biến trong xã hội Việt kiều ở Thái Lan Vào đầu thế kỉ XX, do những chính sách cai trị của thực dân Pháp đã biến Việt Nam từ xã hội nửa phong kiến chuyển sang thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến Cũng chính
vì vậy mà nhân dân Việt Nam phải đứng dậy tiến hành đấu tranh giải phóng dân tộc mình Các cuộc đấu tranh ở trong nước được truyền sang cộng đồng Việt kiều ở Thái Lan một cách mạnh mẽ Do mặt địa lý, nước Thái Lan là nước láng giềng gần gũi của Việt Nam và Đông Dương cho nên Việt kiều ở Thái Lan khá nhạy cảm với những biến động chính trị ở Việt Nam và Đông Dương Mặt khác, Thái Lan cũng là nước độc lập nhưng từ thế kỉ XVIII và XIX đến nay đã từng bị các đế quốc Anh, Pháp, Nhật, Mĩ đè nén về kinh tế và chính trị mang tính chất mét nước “nửa thuộc địa” vì vậy nhân dân Thái Lan sẵn có cảm tình với nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Nhiều khi vua chúa hoặc chính phủ Thái Lan cũng sẵn sàng ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam Đó là mét nhân tố thuận lợi cho những người yêu nước Việt Nam từ các nghĩa quân trong phong trào Cần Vương đến các nhà hoạt động trong phong trào Đông Du, Việt Nam quốc dân
Trang 18hội, Thanh niên cách mạng đồng chí hội mỗi khi gặp khó khăn tránh sang Thái Lan trở thành Việt kiều tiếp tục hoạt động làm nòng cốt trong cuộc vận động cách mạng của Việt kiều ở Thái Lan
Do những điều kiện khách quan và chủ quan nói trên xã hội Việt kiều ở Thái Lan đã trở thành cơ sở rất tốt cho các hoạt động cách mạng Có thể nói,
đó là xã hội của quần chúng cách mạng luôn hướng về Tố quốc đem vận mệnh của mình gắn liền với vận mệnh của Tổ quốc trong tất cả các giai đoạn phát triển của lịch sử Việt Nam
Trang 19CHƯƠNG 2 : PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CỦA VIỆT KIỀU Ở ĐÔNG BẮC THÁI LAN TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN NĂM 1930 2.1 Phong trào yêu nước của Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan gắn với Phan Bội Châu
2.1.1 Những hoạt động yêu nước của người Việt ở Thái Lan sau sự thất bại của các phong trào yêu nước Việt Nam
Sau thất bại của phong trào Cần Vương, triều đình nhà Nguyễn đã đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp xâm lược Kẻ thù thẳng tay đàn áp các phong trào kháng Pháp của nhân dân ta Những nghĩa quân còn sót lại của phong trào này và các con cháu của họ vượt núi băng rừng lánh nạn sang Xiêm để tiếp tục sự nghiệp cứu nước Vùng Đông Bắc Thái Lan lúc này trở thành nơi nương tựa cho các nghĩa quân cách mạng, đồng thời là cửa ngõ để ra nước ngoài tìm đường cứu nước của các nhà yêu nước Việt Nam
Sau thất bại của phong trào Đông Du và Duy Tân đầu thế kỉ XX, nhiều nhà yêu nước Việt Nam hướng ra nước ngoài hy vọng tìm ra con đường mới giải phóng quê hương Trong số đó có một số chí sĩ chạy sang Trung Quốc, người chạy sang Xiêm, nơi đó đã có hàng vạn người Việt Nam đã bị áp bức bóc lột, đói khổ hoặc do chính họ, hoặc do ông cha họ tham gia các phong trào yêu nước thất bại bị đàn áp đã chạy sang đây nhưng vẫn nung nấu ý chí đền nợ nước, trả thù nhà Những chí sĩ cách mạng Việt Nam đã quyết định lựa chọn Thái Lan là nơi nương tựa để tiếp tục sự nghiệp cứu nước
Sau khi phong trào Đông Du thất bại các nhà cách mạng Việt Nam chạy sang Trung Quốc chia làm hai phái và đều đưa người về Xiêm hoạt động
Phái cụ Phan Bội Châu, thành lập Việt Nam quang phục hội, dùng
chương trình của Hội, truyền bá tư tưởng qua “Lưu cầu huyết tân thư”, “Việt Nam nghĩa liệt sử” trong quần chúng
Trang 20Phái Lương Lập Nham, Trần Hữu Lực chủ trương vũ trang chống Pháp Sau sự kiện cướp đồn Hin bún ở tỉnh Khăm muộn - Lào bị thất bại, tiếp đó là việc chuyển vũ khí về Nam Bộ bị bại lộ, ông Trần Hữu Lực bị bắt phải tự tử
Ở trong nước, các cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên, của người Mèo ở Tây Bắc lần lượt bị thất bại, bị thực dân Pháp thẳng tay đàn áp Các chí sĩ hoạt động ở Xiêm phân hoá một số quay ra làm ăn, một số đi tu lánh nạn chờ thời
cơ, một số tiếp tục duy trì vận động phong trào trong người Việt yêu nước ở Xiêm, tiêu biểu là nhóm cụ Đặng Thừa Húc, thuộc ảnh hưởng của Việt Nam Quang phục Hội
Đông Bắc Thái Lan bấy giờ đã hình thành nên một đội ngũ những nhà yêu nước trong cộng đồng người Việt ở đây Chính họ đã đặt nền móng cho phong trào người Việt yêu nước ở Đông Bắc Thái Lan qua hơn mét thế kỉ qua Vấn đề đầu tiên là phải xây dựng các cơ sở yêu nước, cách mạng
2.1.2 Phan Bội Châu trong phong trào vận động yêu nước của Việt kiều Thái Lan đầu thế kỉ XX
Sau sự thất bại của phong trào Cần Vương năm 1904, Phan Bội Châu thành lập Duy Tân hội- một tổ chức tiến bộ của phong trào Đông Du nhằm xúc tiến hơn n÷a phong trào chống thực dân Pháp xâm lược, giành chính quyền độc lập cho nước nhà theo tư tưởng hướng ngoại
Đầu thế kỉ XX, Phan Bội Châu - người đứng đầu phong trào Đông Du
đã đưa Cường Để qua nước Xiêm Kiều bào cũ ở Xảm – XÓn đã giúp đỡ phương tiện cho cụ Phan và Cường Để đi Nhật Bản cầu viện [20, 9] Sự hỗ trợ về khoa học quân sự đồng thời chuẩn bị cho việc đưa học sinh sang Nhật huấn luyện học tập Nhưng không bao lâu sau đó Pháp dùng chiến thuật ngoại giao kí hiệp ước “Nhật - Pháp thân thiện” chống lại cách mạng Việt Nam Nhật Bản từ chối tiếp tục đào tạo cho học sinh Việt Nam và trục xuất toàn bộ
số học sinh Việt Nam đang học ở trường Đồng Văn, kể cả cụ Phan Bội Châu
Trang 21ra khỏi Nhật Họ phải chạy về Trung Quốc, từ đú một số học sinh theo cụ Phan chạy về đất Xiờm
Theo cuốn “Phan Bội Chõu niờn biểu” thỡ cụ Phan đến Xiờm ba lần
Lần thứ nhất vào năm 1908, đỳng lỳc đú vua Rama V trở về Xiờm sau chuyến cụng du cỏc nước Chõu Âu Phan Bội Chõu rất quan tõm đến cụng cuộc canh tõn đất nước của vua Rama V Ngược lại, đõy cũng là thời kỡ vua Rama V quan tõm đến mối quan hệ bang giao ban đầu tạo thời cơ thuận lợi cho cụng cuộc vận động yờu nước hỡnh thành ở đầu thế kỉ XX của cộng đồng Việt kiều Thỏi Lan trước khi cú Đảng Cộng sản Đụng Dương Cụ Phan được bỏ tước Đại - ụi – một chớnh trị Nhật Bản giới thiệu với viờn cố vấn phỏp luật người Nhật đang giỳp chớnh phủ Xiờm lỳc bấy gỡơ Do đú Phan Bội Chõu đó quan
hệ được với Bộ trưởng Ngoại giao và thõn vương nước Xiờm và được họ giỳp
đỡ khi cần thiết Sau đú Phan Bội Chõu đi sang Trung Quốc [24, 90]
Lần thứ hai là vào thỏng 6 năm 1909 Phan Bội Chõu trở lại Xiờm cựng với Đặng Thỳc Hứa để thương lượng với Hoàng thõn em trai vua Rama V giỳp đỡ trong việc vận chở 500 khẩu sỳng từ Hồng Kụng về Việt Nam Việc khụng thành do Bộ trưởng Ngoại giao Xiờm từ chối vỡ sợ việc lộ ra sẽ trở ngại đến bang giao giữa hai nước Xiờm và Phỏp Phan Bội Chõu đã trở lại Trung Quốc
Thỏng 9 năm 1910 Phan Bội Chõu đến Thỏi Lan lần thứ ba Lần này Phan Bội Chõu đó gặp gỡ và trao đổi với Hoàng thõn - người thõn tớn của Rama V Phan Bội Chõu đó trỡnh bày tỡnh hỡnh và diễn biến của phong trào đấu tranh chống thực dõn Phỏp ở Việt Nam và đề nghị chớnh phủ Thỏi Lan bớ mật giỳp đỡ Chớnh phủ Thỏi Lan đó tỏn thành kế hoạch của Phan Bội Chõu, đồng ý cho lập làng Việt Nam làm nơi tạm trỳ cho số học sinh từ Nhật Bản trở ra, cấp cho học sinh học bổng mỗi thỏng 5 bạt (đồng tiền Xiờm) Chớnh phủ Xiờm cũn giỳp đỡ Phan Bội Chõu và Đặng Thỳc Hứa mở ấp trại gõy cơ
sở cho sự nghiệp lõu dài ở một làng gọi là bản Thặm Bản Thặm thuộc tỉnh
Trang 22Pak - Năm - Phô ở miền trung Thái Lan trên lưu vực sông Mê - nam cách thủ
đô Bangkok bốn ngày đi bộ Các ông Đặng Thúc Hứa, Đặng Tử Kính, Hồ Vĩnh Long, Lê Hồng Chung là những cốt cán của cụ Phan đứng ra tổ chức trại này Cả trại độ năm, sáu chục anh em là những du học sinh Việt Nam bị chính phủ Nhật Bản trục xuất đến đó từ trước và một số lao động ở Thượng Hải cùng đi với cụ Phan về Xiêm Đây là cơ sở đào tạo giáo dục chứ không phải là một trại huấn luyện vũ trang
Trong những năm này, phong trào Việt Kiều yêu nước dưới sự chỉ đạo của cụ Phan Bội Châu đã có những hoạt động hỗ trợ cho phong trào cách mạng ở trong nước Thời gian này, cụ Phan hoạt động như một chính trị viên, thường làm thơ ca động viên tinh thần yêu nước của anh em trong Kiều bào
và truyền về nước Những bài “ái quốc ca” “ái chủng ca” “ái quần ca” là các tác phẩm của cụ Phan trong thời kì nương náu ở Xiêm
Năm 1911, cách mạng dân chủ tư sản ở Trung Quốc do Tôn Trung Sơn lãnh đạo thành công, cụ Phan Bội Châu cho rằng thời cơ đã đến, cụ rời bản Thặm sang Trung Quốc hoạt động
Năm 1912, Phan Bội Châu ở Trung Quốc giải tán Duy Tân Hội là tổ chức yêu nước theo đường lối quân chủ lập hiến để thành lập ra Việt Nam Quang phục hội theo đường lối dân chủ tư sản phỏng theo cương lĩnh của Tôn Trung Sơn Ông Trần Hữu Lực được cụ phái về Xiêm làm chi hội trưởng Việt Nam Quang phục hội để cùng với các nhà lãnh đạo Việt kiều ở Xiêm vận động quần chúng sung vào đội Quang phục Nguyễn Văn Ngôn (biệt hiệu Tùng Nham) đã vượt Trưêng Sơn về Việt Nam giúp Hoàng Hoa Thám đẩy mạnh phong trào chống Pháp ở Yên Thế Đồng thời, hội còn cử một nhà sư yêu nước lánh nạn qua Xiêm từ trước tên là Thái Tăng (Sư Rau) đang ở một ngôi chùa ở Hủa - Hỉn gần Bangkok cïng với một người nữa chia nhau về Campuchia và Nam Kì tổ chức các chi hội Việt Nam Quang phục hội
Trang 23Sau đó Phan Bội Châu lại cử Bùi Chính Lộ từ Trung Quốc qua Xiêm vế Nam Bộ tìm cách gây cơ sở Uđon - Bản Thặm là những địa điểm tiếp nhận anh chị em thanh niên lớp này đến lớp khác từ trong nước sang
Các ông Trần Hữu Lục, Lương Lập Nhan, Hoàng Trọng Mậu quyết địnhvề nươc vận động binh lính cướp lấy một vài đồn lính để từ đó dựng cơ nghịêp như kiểu Hoàng Hoa Thám nhưng không thành Các ông Trần Hữu Lục, Hoàng Trọng Mậu bị chính phủ Xiêm bắt trao cho thực dân Pháp
Sau khi Trần Hữu Lục bị bắt Việt Nam Quang phục hội vẫn còn tồn tại Được sự giúp đỡ của Việt kiều, Quang phục hội đã tổ chức được ba đạo quân
do các ông Âm Trần, Ngô Quang, Đinh Doãn Tế, Nguyễn Quốc Thụy chỉ huy định vượt sông Mê Kông về Lào để đánh Pháp ở Hin - Bun Kế hoạch bại lộ, hai ông đã hi sinh
Năm 1915, Đặng Tử Kính ở Xiêm và ông Mai Sơn ở Trung Quốc sang Xiêm đã gặp công sứ Đức ở Bangkok nhận một vạn đồng mang sang Trung Quốc lo toan về việc tổ chức bạo động ở Hà Khẩu - Lạng Sơn và Móng Cái nhưng không thành công
Sau nhiều lần thất bại liên tiếp của Việt Nam Quang phục hội hoạt động yêu nước của Việt kiều lắng xuống một thời gian
2.2 Phong trào yêu nước của Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan trong những năm 20 của thế kỉ XX
2.2.1 Đặng Thúc Hứa vói chủ trương xây dựng cơ sở lâu dài trong Việt kiều
Cụ Đặng Thúc Hứa là người huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An, cùng anh là Đặng Nguyên Cẩn tham gia phong trào Đông Du và Duy Tân Khi Đặng Nguyên Cẩn bị đưa đi đầy thì Đặng Thúc Hứa bị truy nã Ông đã theo
cụ Phan Bội Châu sang Trung Quốc rồi sang Thái Lan
Đặng Thúc Hứa là một người trong số những người Việt Nam nhập cư vào Thái Lan đầu thế kỉ XX Ông là một vị tiền bối của cộng đồng người Việt
Trang 24kiều yêu nước ở Thái Lan Ông có công rất lớn trong việc tập hợp cộng đồng người Việt Nam sống rải rác trên đất Thái Lan lại thành một cộng đồng nhằm xây dựng cơ sở cho công cuộc vận động yêu nước trong phong trào chống thực dân Pháp ở hải ngoại Ông là người duy trì cách mạng đến cùng và đã tiến lên theo kịp các bước phát triển trong lịch sử cách mạng Việt Nam
Đặng Thúc Hứa đã từ chỗ tham gia phong trào Cần Vương chuyển qua đồng tình với việc phò Cường Để theo chế độ quân chủ lập hiến rồi tán thành việc giải tán Duy Tân Hội lập ra Việt Nam Quang phục hội theo đường lối dân chủ tư sản và cuối cùng chuyển qua cuộc vận động do giai cấp công nhân lãnh đạo theo chủ nghĩa tư sản Sự chuyển biến của Đặng Thúc Hứa không phải là bị động mà là một quá trình có suy nghĩ nhận thức rõ ràng về sự tất yếu của cách mạng
Năm 1908, cụ Đặng Thúc Hứa theo Phan Bội Châu sang Trung Quốc rồi năm 1910 cụ sang hoạt động tại Thái Lan Tuy hoạt động trong phong trào Duy Tân, Quang phục hội cùng các cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh nhưng cụ đã sớm thÊy chủ trương dựa vào sự giúp đỡ của nước ngoài để giành độc lập là không phù hợp mà phải dựa vào quần chúng, phải dựa vào sức mình là chính Cụ cũng là người thấy rõ hơn địa bàn Xiêm tương đối thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở cách mạng Việt Nam Ở đây có cộng đồng người Việt giàu lòng yêu nước vì phần đông họ là những người ra đi do nghèo đói bị áp bức bóc lột căm thù giặc Pháp
Bởi vậy, ngay từ khi đến Xiêm, cụ cùng các chí sĩ yêu nước đã bắt tay ngay vào ba việc sau: Một là tuyên truyền lòng yêu nước trong lòng bà con người Việt, xây dựng cơ sở làm chỗ dựa lâu dài cho phong trào yêu nước người Việt – Thái - Lào và trong nước Đầu tiên là xây dựng cơ sở Pak Nặm Phô để đúc rút kinh nghiệm đồng thời là địa bàn trung tâm phong trào Cụ Đặng Thúc Hứa đã đi khắp nơi trên đất Xiêm, nơi nào có người Việt là có dấu chân Cụ nên người Việt Xiêm đã gọi cụ với lòng trìu mến đồng thời cũng nói
Trang 25lên tinh thần cách mạng cao cả, đức tính cần cù của Cụ là “Cố Đi” Hai là tập trung sản xuất để tự nuôi bản thân và mua sắm vũ khí, tiền lộ phí cho cán bộ qua lại và gửi về trong nước đóng góp quỹ Hội Từ năm 1910 đến 1913, đã xây dựng được hai cơ sở làm ruộng gọi là “Trại cày” và một cơ sở nuôi dạy các cháu ăn học Ba là về đào tạo, giáo dục: Chú ý đào tạo cán bộ tương lai cho cách mạng nước nhà và dạy chữ cho con em Việt kiều Các cụ đã mở các trường học, vận động bà con người Việt - Thái - Lào cho con em đến học và tiếp nhận các em gửi từ nước sang Các cụ làm lụng nuôi các em ăn học, dạy chữ, dạy đạo đức làm người, dạy cho các em tình yêu quê hương Mỗi em ít nhất phải biết thêm một ngoại ngữ, tiếng Hoa, tiếng Nhật, tiếng Anh, tiếng Pháp [13, 15]
Đặng Thúc Hứa chủ trương tuyên truyền vận động khơi dậy lòng yêu nước trong bà con Việt kiều xây dựng cơ sở làm chỗ dựa lâu dài cho phong trào yêu nước Ông là một trong những người đầu tiên xây dựng nên “Trại Cày” ở Bản ThÆm từ năm 1910 khi Phan Bội Châu còn hoạt động ở Xiêm và
là người duy trì cơ sở Bản ThÆm cho đến cùng Đặng Thúc Hứa cũng thấy rõ
sự nghiệp cứu nước là lâu dài gian khổ phải từ thế hệ này sang thể hệ khác nên phải đào tạo một lớp cán bộ tương lai cho cách mạng nước nhà Mặt khác, ông và những chí sĩ yêu nước ở Xiêm cũng lo lắng làm sao để cho con em
Việt kiều không bị “Thái hoá” Các cụ đã mở một cơ sở gọi là “Trại các em”
bắt đầu xây dựng từ năm 1911 đến 1912 để đào tạo con em Việt kiều và một
số con em từ trong nước sang Mục đích của các cụ là dạy cho các em biết tiếng mẹ đẻ, dạy đạo đức làm người, biết lao động, làm ăn, nhất là biết yêu nước để sau này lớn trở thành người cách mạng cứu nước [26, 72]
Cơ sở Pak Nặm Phô tuy được xây dựng xa cách biên giới Thái Lan - Đông Dương để tránh sự tò mò của mật thám Pháp nhưng chúng vẫn tìm mọi cách tiêu diệt mầm mống cách mạng này Thực dân Pháp đã gây sức ép với nhà cầm quyền Xiêm lúc đó ngăn cản không cho người Việt làm ăn sinh sống
Trang 26ở đây Cơ sở Pak Nặm Phô chỉ tồn tại trong khoảng thời gian ba năm thì phải giải tán và chuyển lên phía Bắc xây dựng cơ sở mới
Khi chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, chính phủ Xiêm đứng về Đồng minh của Pháp, các hoạt động yêu nước của Việt kiều gặp khó khăn
lớn Do sự can thiệp của của Pháp “Trại các em” của Đặng Thúc Hứa phải rời
về Bản Đông thuộc tỉnh Phichịt Bản Đông nằm sát con sông Nạn, một nhánh sông của sông Chao Phraya đất đai màu mỡ phì nhiêu như Pak Nặm Phô Sinh sống ở đây có cả người Thái, người Việt, người Hoa, người Lào Người Việt ở đây đông hơn cả ở Pak Nặm Phô Ảnh hưởng của Cố Đi sâu rộng cả ở trong người Việt, người Hoa, người Lào, người Thái Với lối sống khiêm tốn
giản dị chân tình Đặng Thúc Hứa thường dặn các cán bộ “Chúng ta là những người dân mất nước, ăn nhờ, ở đậu trên đất người ta cần phải tôn trọng mọi phong tục tập quán của dân địa phương và những Kiều dân khác như Hoa, Lào Chúng ta phải ăn ở thật tốt với họ và tuân theo luËt lệ của chính quyền địa phương” [15]
Đến bản Đông chỉ trong một thời gian ngắn các Cụ đã ổn định được chỗ
ăn, ở, học hành cho các em Lúa gạo, lợn gà chăn nuôi, thu nhập nhiều gấp mấy lần ở nơi cũ Mùa gạo không có chỗ chứa thóc, không phải lo cái ăn, cái mặc cho các em, lại mang người trong nước sang nhiều hơn Nhưng từ cuối năm 1914 đầu năm 1915 phần nhiều là göi từ Trung Quốc về
Thời gian này, tình hình trong nước có nhiều hoạt động gây chấn động khắp nơi làm quân Pháp lo sợ, tăng cường đàn áp khủng bố Tại Thái Lan thực dân Pháp tiếp tục gây sức ép với chính quyền Xiêm nh»m triệt phá cơ sở yêu nước của ta Chầu Mương Phichịt cho lính xuống bản Đông chỉ thị cho người Việt ở đây phải rời đi nơi khác trong năm năm ngày Nếu ai không đi lính Pháp đến bắt, họ không chịu trách nhiệm
Trang 27Tr-ớc tỡnh hỡnh đú, cụ Đặng Thỳc Hứa đó triệu tập một cuộc họp với anh chị em ở bản Đụng phõn tớch tỡnh hỡnh và kết luận: Nhà chức trỏch Phichịt bị o ộp, song vẫn tốt nờn mới để cho chỳng ta cú thời gian để chuẩn bị
Do vậy cỏc anh em phải tản ra khắp nơi sống cựng bà con khi nào cú chỉ thị của Hội bờn Trung Hoa về sẽ nhúm họp lại cũn ụng sẽ sang Trung Quốc lỏnh nạn một thời gian Thế là bao cụng sức do bàn tay lao động vất vả nào ruộng vườn, nhà cửa, trang trại cỏc cụ đều giao cho bà con người Thỏi, người Hoa Cũn chỳt nào vốn liếng lại phải lo cỏi ăn cỏi mặc tiền đi đường cho cỏc em Cỏc cụ lại phải ra đi với bàn tay trắng
Rời bản Đụng, cỏc cụ lờn Lăm - Pang, một tỉnh phớa bắc Thỏi Lan ở đõy cỏc cụ chủ yếu kiếm sống qua ngày, chờ chỉ thị của Cố Đi từ Trung Quốc về Tại Lăm - Pang, cố Xoan và cố Thụ những người tõm huyết, cú tấm lũng cao cả đối với phong trào người Việt đó lần lượt ra đi để lại lũng tiếc thương vụ hạn và sự thiệt thũi to lớn với người Việt và phong trào yờu nước người Việt Thỏi - Lào
Trong số những người đó khuất, người Việt thường nhắc đến câu chuyện cảm động về “Trạng Bùi” ở Pak Nặm Phô Trạng Bùi, mà tên thật của cố chẳng mấy ai biết, quê ở Diễn Châu - Nghệ An đã từng đỗ tú tài tham gia phong trào chống Pháp với cụ Nghè Ôn (Nguyễn Xuân Ôn) bị thất bại trốn sang Xiêm Cụ hay
kể truyện vui nh-ng đầy ý nghĩa giao dục tinh thần yêu nước nên được bà con gọi là “Cố Trạng” cụ bị bệnh nặng thấy không thể qua khỏi đã trốn khỏi Păk Nặm Phô để lại một bức th- từ biệt và cáo lỗi với anh em để đem nắm x-ơng tàn về quê h-ơng xứ sở Cụ
đã mất trên dãy Tr-ờng Sơn giữa biên giới Lào - Việt cùng với chiếc đàn bầu mà năm tháng buồn vui với cố
Trang 28trên đất khách quê ng-ời Anh em từ Việt Nam sang thấy bên đ-ờng có một bộ x-ơng, mối đã xông, bên cạnh có chiếc đàn bầu mục, biết là ng-ời tâm huyết bèn bới lên và chôn cất cẩn thận d-ới gốc cây thông già trên núi, đầu gối lên đầu đất n-ớc Lào, mặt h-ớng về Tổ quốc thân yêu, nơi mà Cố suốt đời mong ngóng
Mựa xuõn năm 1919, ụng Vừ Tựng, ụng Đào, ụng Kim từ Trung Quốc
về Hạt - ta - ku chắp nối với cơ sở ở đõy, bỏo tin cụ Đặng Thỳc Hứa sắp trở lại Xiờm và sẽ cú phương hướng mới cho hoạt động của Hội Nhúm từ Trung Quốc
về cựng với cỏc cỏn bộ cũ xõy dựng cơ sở để đún tiếp cỏn bộ từ Trung Quốc về
và trong nước sang Họ đi xuống cỏc bản làng tổ chức lại từng cơ sở dưới hỡnh thức “Trại cày” tương trợ cày cấy, làm nhà, ma chay, cưới hỏi [13, 27]
Đặng Thỳc Hứa đó phải cựng với học sinh lờn đường sang Trung Quốc rồi ở Trung Quốc hoạt động cho đến 1919 Lỳc này, chớnh quyền cỏch mạng Trung Quốc ở một số tỉnh đó lọt vào tay bọn quõn phiệt: bọn quõn phiệt Quảng Tõy lựng bắt cỏch mạng Việt Nam, bắt cả Phan Bội Chõu Những cố gắng về quõn sự của Việt Nam quang phục Hội ở Trung Quốc cũng như ở trong nước, ở Xiờm đều thất bại Đặng Thỳc Hứa đó bàn với Phan Bội Chõu trở lại Xiờm tiếp tục gõy dựng lại cơ sở với t- tưởng trường kỳ gian khổ, dựa vào nhõn dõn tiếp tục làm cỏch mạng, làm chỗ dựa cho phong trào vận động yờu nước ở hải ngoại Phan Bội Chõu lỳc đú cho rằng địa bàn Trung Quốc cú lợi thế hơn nờn đó khụng tỏn thành ngay với quan điểm của ụng
Cuối năm 1919, cụ Đặng Thỳc Hứa từ Trung Quốc trở lại bản Đụng Sau cuộc họp quan trọng, theo chủ trương của cụ Đặng Thỳc Hứa: xõy dựng lại cở sở Bản Đụng, lấy Bản Đụng làm trung tõm của những người cỏch mạng Việt Nam trờn đất Thỏi và làm điểm mẫu để xõy dựng cỏc cơ sở khỏc Cơ sở Bản Đụng lỳc này khú cú thể hoạt động ngay được, một mặt Đặng Thỳc Hứa
Trang 29quyết tâm phục hồi cơ sở này, một mặt đặt kế hoạch chuyển hướng hoạt động tới miền Đông Bắc nơi có số đông Việt kiều đang sinh sống Quy mô của bản Đông là xây dựng mô hình kinh tế trang trại có tính chất tËp đoàn: dựng nhà
ở, trồng cây lưu niên, chăn nuôi mở rộng diện tích trồng lúa, màu đủ ăn thừa bán để tích lũy Chỉ trong một thời gian ngắn anh, chị em ở đây đã xây dựng được một cơ ngơi khá lớn, đủ nuôi hàng vài chục người quanh năm, nuôi các em ăn học Có thời gian cán bộ đi công tác qua lại từ trong nước sang, từ Trung Quốc về hàng vài chục người, ăn ở vài tháng cũng không phải
lo lắng gì
Bà Đặng Quỳnh Anh lại tiếp tục được giao nhiệm vụ xây dựng và phụ trách trường học mà lúc đó gọi “Trại các em” để giáo dục, đào tạo con em người Việt và một số con em người trong nước sang Các cụ đến các tỉnh Đông Bắc Thái Lan vận động bà con người Việt cho con em đến trường học Các em nhỏ được học tiếng mẹ đẻ, các em lớn được học cả ngoại ngữ Ngoài
ra các em còn được dạy cho biết yêu, biết ghét Yêu quê hương đất nước mình, yêu nơi đang nuôi mình sống, phải coi đó là quê hương thứ hai Biết ghét bọn thực dân Pháp cướp nước, bà con gửi con em đến “Trại các em” học ngày một đông Chính các em được đào tạo tại lớp học này đã được Hội chọn lọc đưa sang Quảng Châu bồi dưỡng để làm hạt nhân cho phong trào cách mạng trong tương lai, trong đó có anh Trọng (Lý Tự Trọng), cô Đức (Lý Phương Đức), anh Thông (Lý Trí Thông), cô Thuận (Lý Phương Thuận) người Bản Mày, sau này đã trở thành những người trong gia đình họ Lý Để xây dựng một số cơ sở mới có tính chất liên hoàn với Bản Đông, các cụ chọn Nakhon Phanôm làm đầu cầu chắp nối đường dây liên lạc với trong nước Trước tiên việc xây dựng cơ sở mới ở Wặt Pà huyện Noỏng Xẻng lúc này là rất cần thiết vì Wặt Pà gần thị xã Nakhon Phanôm nơi có vị trí đối diện với Thà khẹc của Lào trong tương lai sẽ thuận tiện cho việc liên hệ với phong trào hoạt động cách mạng ở trong nước Sau đó, Đặng Thúc Hứa quyết định thành
Trang 30lập thêm cơ sở ở bản Mày, một bản cách thị xã Nakhon khoảng 5 km Đặng Thúc Hứa nhanh chóng vận động chính quyền địa phương cho phép thành lập làng người Việt tại đây Bản Mày sau trở thành cơ sở chủ chốt của khu Đông Bắc là một trong những điểm dừng chân của Nguyễn Ái Quốc thời kỳ hoạt động ở Xiêm thời kỳ 1928 - 1929
Nakhon Phanôm là một tỉnh biên giới Thái Lan sát bờ sông Mê Kông đối diện là thị xã Thà Khẹc tỉnh Khăm muộn, có hành lang nối liền với Nghệ
An, Hà Tĩnh, Quảng Bình con đường cách mạng mà biết bao người Việt ra đi tìm đường cứu nước đã lại qua
Thị xã Nakhon Phanôm bên bờ sông Mê Kông có nhiều người Việt, người Hoa sống đông đúc, làm các nghề thủ công: thợ may, thợ mộc, thợ nề, buôn bán Phía bắc thị xã có làng Noỏng Xẻng, Noỏng Bức phần đông theo Thiên Chúa Giáo và làm nghề đánh cá Phía tây là Bản Bốc làm ruộng và công chức; phía nam thị xã là làng Wặt Pà Làng Wặt Pà lúc bấy giờ có hai chục gia đình người Việt sinh sống bằng nghề làm vườn, làm ruộng buôn thúng bán mẹt trên phố Vị trí ở đây rất thuận lợi, gần phố nhưng kín đáo, phía tây là đồng ruộng và rừng Các cụ chọn Wặt Pà để xây dựng một cơ sở mới Ông Tú đưa anh Vinh, một người giỏi tiếng Thái, am hiểu phong tục tập quán, có uy tín với nhà chức trách địa phương đến dựng nhà ở đây, vận động
bà con xây dựng thành một cơ sở vững chắc để cán bộ đi về có chỗ ăn, chỗ ở Các cụ lại đến Bản Tộn Phựng một làng quê hẻo lánh, chỉ có vài gia đình người Thái và gần chục gia đình người Việt cách thị xã Nakhon Phanôm gần
5 km Đây là một làng có địa thế rất thuận lợi, sát làng là một cánh đồng cỏ rộng bằng phẳng, tiếp đó là Hồ Noỏng - dạt (tiếng địa phương gọi là Noỏng nhạt), n-ớc mênh mông, tôm các quanh năm Ông Tú bàn bạc với ông Chí, đưa gia đình Cố Khoan (thân sinh anh Lý Tự Trọng), cố Đài đều là hội viên của Việt Nam quang phục hội từ Phichịt về đây xây dựng cơ sở mới Các cụ
đã vận động xin nhà chức trách Thái cho phép xây dựng làng bản và khai
Trang 31hoang cánh đồng phì nhiêu này Ông Chí mua lại nhà của những gia đình người Thái, vận động họ đi nơi khác để thành lập một làng mới thuần Việt gọi
là Bản Mày (tiếng Thái Bản Mày là Làng mới) sát phía Nam Bản Tộn Phựng
Về sau nguời Việt về đây sinh sống ngày mét đông, bà con lại lập thêm một làng phía Bắc Bản Tộn Phựng gọi là Làng Mới Sau này chính quyền Thái mới đặt tên chính thức cho hai làng này: Bản Mày là Bản Na - Chuộc và Làng Mới là Bản Đơn - Mông Cả ba làng là một khối cộng đồng người Việt, đoàn kết thương yêu nhau, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, luôn hướng về cội nguồn, là cơ sở vững chắc ở hải ngoại góp phần cùng với đồng bào cả nước trong sự nghiệp giải phóng dân tộc suốt một thế kỷ qua
Cơ sở thứ ba là cơ sở Noỏng Ổn và Noỏng Bua ở tỉnh Udon Thani Tại Noỏng Bua sau này đã thành lập một trường học cho con em Việt kiều Từ Phichịt đến Nakhon Phanôm là một quãng đường dài hàng trăm cây số, ông
Tú, ông Sáu, ông Châu quyết định xây dựng tại tỉnh Udon Thani một cơ sở là trạm trung chuyển nối liền Bản Đông với Nakhon Phan«m
Udon Thani là một thị xã lớn, lúc bấy giờ là thủ phủ của một khu gồm năm tỉnh thuộc Đông Bắc Thái Lan, đồng thời cũng là một trung tâm kinh tế, nằm trên con đường huyết mạch từ Viêng Chăn đi Bangkok Do sống rải rác trong thị xã (để thuận tiện cho việc làm ăn buôn bán) nên người Việt ở đây tuy đông nhưng có nguy cơ quên dần tiếng mẹ đẻ, nhất là tầng lớp thanh niên sống hoàn toàn như người Thái Trước tình hình đó, các ông khơi lại tinh thần dân tộc trước hết trong các ông bà già, vận động bà con nói tiếng mẹ đẻ trong gia đình và trong bà con người Việt với nhau Vận động các cụ lập gia phả để con cháu biết họ hàng quê quán giống nòi Từ đó, bà con người Việt sống xích lại gần nhau hơn Qua nhiều lần đi lại nghiên cứu các ông quyết định xây dựng Noỏng Bữa ở sát thị xã Udon Thani làm cơ sở nối liền giữa Phichịt với Nakhon Phanôm… Ông Tú xin phép chính quyền cho khai hoang, giao cho anh Châu một học sinh vừa mới trong nước sang được hơn một năm có nhiều
Trang 32hoài bão đầy nhiệt tình cùng với chị Giáo, anh Vượng, ông Chín vận động bà con xây dựng cơ sở mới này Họ xây dựng nhà cửa, vườn tược làm ăn ngày một khấm khá
Những gia đình trong phố làm lụng các nghề lặt vặt, lao động chân tay còn nhiều khó khăn thấy vậy cũng tập trung về đây cày cấy trồng trọt ngày một đông vui Noỏng Bữa trở thành một làng trù phú, một cơ sở cách mạng vững chắc của người Việt Ngoài những cơ sở trên các ông còn đến những địa phương có nhiều bà con người Việt sinh sống xây dựng các cơ sở khác như Thàbo - Noỏng Khai, Uthen, Thạt Phanom, Ubon, Sakol… thành một thế liên hoàn vững chắc cả về vật chất, nhất là về tinh thần yêu nước
Để bảo vệ cơ sở và hoạt động lâu dài Hội bố trí đưa những người từ trong nước mới sang đến ở tại cơ sở Wặt Pµ hoặc Bản Mày, tỉnh Nakhon Phanôm, sắp xếp công ăn việc làm, ăn ở cùng các gia đình người Việt Qua một thời gian xem xét xác định được là những thanh niên yêu nước có hoài bão, thực sự đi tìm đường cứu nước mới đưa vào Noỏng Bữa – Udon Tại đây các cụ bố trí cho học tập ngoại ngữ, tùy theo từng người cho học tiếng Hoa, tiếng Anh hay tiếng Pháp Qua một thời gian thử thách lại chuyển vào cơ sở bản Đông tỉnh Phị chịt để học tập nghiên cứu chính trị về luyện tập võ trang rồi mới chuyển sang Trung Quốc [2, 68]
Qua những chuyến đi dài ngày cụ đã tiếp thu được nhiều vấn đề và nhận biết rõ hơn con đường cách mạng của nước nhà nên đi theo con đường nào và xác định rõ hơn mục tiêu hoạt động của phong trào yêu nước Thái - Lào Ông chủ trương phải nương tựa vào kiều bào giáo dục kiều bào tụ lại
làm cơ sở lâu dài cho cách mạng Theo cụ làm cách mạng phải là: “Thập niên sinh tụ, thập niên giáo hối” nghĩa là “mười năm tập hợp lực lượng, mười năm
giáo dục nhân dân” [16]
Cụ cũng đã vạch rõ học thuyết “Đại Đông Á” của Nhật thực chất là muốn bá chủ Châu Á, hất c¼ng Pháp để thống trị Đông Dương Cụ phê phán
Trang 33sự “giúp đỡ” của chính phủ Nhật Bản đối với cách mạng Việt Nam là chiêu bài “Đồng văn đồng chủng” hàng trăm thanh niên du học tại Nhật chẳng qua chúng chỉ muốn đào tạo một lớp thông ngôn tay sai cho chúng sau này Chúng cấu kết với thực dân Pháp ra lệnh đóng cửa trường học, trục xuất anh
em học sinh ra khỏi Nhật trong 24 tiếng đồng hồ
Đặng Thúc Hứa ví sự nghiệp cứu nước của người Việt Nam lưu vong ở
Xiêm hồi ấy như “con thuyền đi giữa biển chưa tìm ra luồng lạch” Cụ nói:
“Chúng ta không sợ bị đắm thuyền mà chỉ sợ đi lạc hướng ngược dòng” [16]
Ông rất chú trọng việc xây dựng cơ sở lâu dài trong Việt kiều ở Xiêm Cụ
từng nói: “Chúng ta đi xa nhà xa nước cũng chỉ vì nước mất nhà tan Chừng nào chúng ta chưa dành được nước thì còn phải đi, đi trọn đời”[16] và muốn gây cơ sở trong kiều bào thì “ở đâu có kiều bào ở đó phải có mặt chúng ta” Chúng ta phải “làm đầy tớ cho thiên hạ” chứ đừng ngồi làm “ông thánh thế gian” trong kiều bào Cụ luôn nhắc nhở bà con giữ vững lòng yêu nước, dạy
dỗ con em giữ gìn phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc đồng thời tôn trọn phong tục tập quán và pháp luật của người Xiêm Đến đâu cụ cũng lao động
và sinh sống như một người dân thường Vì vậy cụ rất được kiều bào quý mến, ngay cả nhân dân Xiêm cũng thương yêu, thường gọi cụ là “Thầu đăm” (ông già §en) Có lần mật thám Pháp yêu cầu nhà cầm quyền địa phương giao nộp Tú Ngọ cho Pháp Còn địa phương không dám từ chối nhưng bố trí cho
Cố đi ngồi chung với các ông già địa phương để mật thám Pháp nhận diện nếu đúng là Tó Ngọ thì sẵn sàng giao nộp cho nhà cầm quyền Pháp Vì nước da ngăm đen và cái vẻ bề ngoài của Cố đi rất giống người Xiêm nên bọn mật thám Pháp không thể nhËn ra Cố Đi đã thoát nạn nhờ vào sự đùm bọc che chở của chính quyền và nhân dân Thái
Song song với việc gây dựng cơ sở lâu dài trong Việt kiều, từ năm 1919 Đặng Thúc Hứa đã bố trí người làm giao thông liên lạc đi về nước để đưa một
số thanh niên xuất dương sang Xiêm đã được các cơ sở cách mạng của Việt
Trang 34kiều đón tiếp từ Nakhon Udon rồi đưa vào Phi Chịt sinh hoạt một thời gian trong “Trại cày” của Cố Đi sau đó được cấp tiền lộ phí và người đưa đường đi
sang Trung Quốc Trong bản báo cáo của mật thám ngày 12.05.1927 viết: “Tú Hứa tức là Ngọ Sinh - Đặng Thúc Hứa ở Xiêm trong một đồn điền cũ của Đề Đạt cách sông Mekông năm ngày đường hiện đang phụ trách phong trào thanh niên Nghệ Tĩnh ra nước ngoài trên đất Xiêm gần Lào cách sông Mekong 2 km Hứa đã bố trí trong những người đồng đẳng của nó tên là Hữu Vân quê ở Quảng Bình để theo dõi và báo cáo cho sự việc này”[16]
Hai chủ trương lớn của Cố Đi như trên: xây dựng cở sở Việt kiều và vận động thanh niên xuất dương là những đóng góp quan trọng cho sự phát triển Việt Nam cách mạng thanh niên ở Quảng Châu và Xiêm sau này
Những người đã góp phần quan trọng thực hiện các chủ trương đúng đắn của Cố Đi là cán bộ đắc lực quần chúng trung kiên: ông Kim, ông Sáu (tức đồng chí Võ Tùng), bà Nho, ông Châu, ông Thuyên, ông Vinh, cố Khoan, cố Ngoét Đào [24, 109]
Năm 1928 - 1929, khi Nguyễn Ái Quốc về Xiêm hoạt động cách mạng lúc này các tổ chức yêu nước của Kiều bào đã phát triển và được củng cố Cố
Đi vẫn giữ chủ trương xây dựng cơ sở lâu dài Cố đã xin Chủ tịch và ban lãnh đạo cho đi xây dựng cơ sở ở Xiêng Mày, Xiêng Rai và Lăm - Pang Cuộc đời của cụ đã giành trọn cho sự nghiệp cách mạng trong Việt kiều ở Đ«ng B¾c Thái Lan
Như vậy có thể nói rằng trong hoạt động của nhà yêu nước Đặng Thúc Hứa thời kỳ sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã mở ra một thời kỳ mới cho công tác vận động yêu nước, cách mạng của Việt kiều Thái Lan đầu thế
kỷ XX Từ đó phong trào yêu nước và cách mạng của Việt kiều được đặt dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương cùng với sự giúp đỡ của những nhà yêu nước khác Đặng Thúc Hứa đã xây dựng được hai tổ chức quần chúng
Trang 35tiêu biểu trên đất Thái Lan: Tổ hợp tác và hội Việt Nam thân ái để tập hợp Việt kiều vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc
Nguyễn Ái Quốc đến Xiêm đã coi Đặng Thúc Hứa là nhà yêu nước cách mạng chân chính của Việt kiều người có công xây dựng các cơ sở quần chúng cách mạng ở Xiêm có công lớn cho việc dạy dỗ và đào tạo thanh niên trở thành những hạt nhân đầy nhiệt huyết trong phong trào cứu quốc và cách mạng ở hải ngoại với tư cách là một người hiệu triệu quần chúng trên đất Xiêm [24, 210]
2.2.2 Hồ Tùng Mậu thực hiện chỉ thị của Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tại Xiêm
Cho đến năm 1925 Việt kiều ở Thái Lan tuy đã được giác ngộ về tinh thần yêu nước nhưng vẫn còn rời rạc và chưa tự giác, địa phương nào biết địa phương ấy Có những nơi họ sống biệt lập hoàn toàn như những người Thái không biết gì về cách mạng không biết đến nỗi đau của dân tộc nhất là những nơi có ít kiều bào sinh sống Điều này dẫn đến nguy cơ làm cho kiều bào quên dần hết tiếng mẹ đẻ, quên hết phong tục tập quán tốt đẹp của tổ tiên
Từ đầu năm 1925, Nguyễn Ái Quốc đã nhận định rõ tính chất và vị trí quan trọng của Thái Lan và khối cộng đồng người Việt trên đất nước này đối với cách mạng nước nhà Sau khi thành lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tại Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đã cử ông Ích (Hồ Tùng Mậu) sang Xiêm lập ra chi bộ Việt Nam cách mạng thanh niên Từ đây Việt kiều Thái Lan mới thực sự tập hợp thành lực lượng có tổ chức hoạt động có phương hướng kế hoạch
Tại cuộc họp các cán bộ chủ chốt ở Bản Đông có ông Đặng Thúc Hứa, Đặng Canh Tân, Đặng Tử Kính, ông Võ Tùng, Bà Đặng Quỳnh Anh do ông
Võ Tùng chủ trì Ông ích thông báo là Nguyễn Ái Quốc đã về Trung Quốc và phái ông đến liên lạc với các đồng chí ở Bản Đông theo sự giới thiệu của Lê Hồng Phong Ông Nguyễn được giới thiệu là một lãnh tụ Quốc tế, tham gia
Trang 36sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, đảng của những người nghèo khổ, ủng hộ các nước thuộc địa giành độc lập như nước ta Ông Nguyễn cũng đã đi nhiều nước trên thế giới sang cả nước Nga Xô viết, nước duy nhất trên thế giới không có người bóc lột người Ông Nguyễn đang mưu tìm độc lập, tự do cho dân tộc Sau cuộc họp bà Quỳnh Anh đoán rằng có thể Nguyễn Ái Quốc là con trai cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, làng Kim Liên, vì bà có đi lại, gần gũi với các gia đình này, nhất là trong chuyến xuất dương sang Xiêm đáng lẽ có
cả bà Thanh (chị Bác Hồ) cùng đi những do ốm nên phải ở lại [26, 50]
Năm 1926 chi bộ Việt Nam cách mạng thanh niên đầu tiên được thành lập tại Phi chịt Ông Võ Tùng được cử làm bí thư Phong trào cách mạng phát triển nhanh chóng đến năm 1927, 1928 các địa phương: Udon - Thani, Sakol - NaKhon, Nakhon - Phanôm, đều có chi bộ cách mạng thanh niên Ba chi bộ này tổ chức thành tỉnh bộ Uđon, tỉnh ủy gồm các đồng chí Canh Tân (tức Đặng Thái Thuyến), đồng chí Tăng (tức Trần Văn Chấn), đồng chí Đình (tức
Võ Văn Kiều), đồng chí Nghĩa (tức Hoàng Văn Hoan) và đồng chí Hải (tức Dụ) Uđon trở thành trung tâm hoạt động của Việt kiều ở vùng Đông Bắc Từ khi chi bộ Hội Việt Nam cách mạng thanh niên được thành lập ở Đông Bắc Thái Lan đã đưa phong trào yêu nước của Việt kiều vào một tổ chức chặt chẽ, đoàn kết và có hiệu quả hơn
Hồ Tùng Mậu mở lớp học tập chính trị phổ biến và giải thích bài Quốc
tế ca do Nguyễn Ái Quốc dịch cho cán bộ bản Đông làm tài liệu học tập và phổ biến cho cán bộ các cấp
Hồ Tùng Mậu hoạt động ở bản Đông một thời gian rồi cùng với ông
Võ Tùng đi về cơ sở ở Đông Bắc Thái Lan để nghiên cứu tình hình phong trào Việt kiều rồi trở lại Trung Quốc
Về tổ chức: các tổ chức quần chúng của Việt Nam cách mạng thanh niên có hội Hợp tác, hội Việt kiều thân ái
Trang 37Hội hợp tác là một tổ chức trung tâm của đồng bào cũng là một tổ chức
dự bị của Việt Nam cách mạng thanh niên Hội kết nạp những thanh niên Việt kiều ở trong nước mới ra có tinh thần yêu nước có chí hướng cách mạng Sinh hoạt lao động tập thể n¨m, s¸u người làm một tổ sản xuất Thu nhập của tổ dùng vào chi phí sinh hoạt tối thiểu cho hội viên đóng hội phí còn lại nộp vào quỹ tập thể của Hội để chi vào công việc chung
Những người tích cực và có cả nhận thức chính trị khá trong Hội hợp tác được kết nạp vào Hội Việt Nam cách mạng thanh niên Sau khi được thử thách tại đây họ được gửi sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện hoặc phái về nước công tác
Về sau Hội hợp tác kết nạp cả những kiều bào tốt, trung kiên làm kinh
tế độc lập đóng hội phí cho hội Tùy theo khả năng kinh tế họ giúp nuôi cán
bộ, đảm nhiệm việc giao tiếp với công chức và nhân dân địa phương Nhờ có cách tổ chức quản lý dân chủ và phân công hợp lý Lại có ý thức cần kiệm vì cách mạng mà lao động quên mình của các hội viên trong vòng năm, sáu năm (1925 - 1932) Hội hợp tác đã giải quyết được nhiều chi phí lớn cho nhu cầu của công tác cách mạng có tác dụng lớn làm gương mẫu cho kiều bào về sinh hoạt làm ăn, nếp sống mới và tinh thần yêu nước làm cho kiều bào thêm tin tưởng vào cách mạng
Hội Việt kiều thân ái: Là một tổ chức rộng rãi có tính chất mặt trận của Việt kiều Xiêm Hội thân ái được tổ chức trước tiên ở một Phichịt rồi Uđon, Nakhon Sacol cho đến năm 1927 - 1928 thì khắp các địa phương có Việt kiều ở tập trung đều có tổ chức Hội thân ái Hội viên có hai loại: Hội viên chính thức và hội viên dự bị Hội viên chính thức là người Việt kiều ở tập trung đông đảo có kế hoạch định kỳ đóng hội phí Hội viên cảm tình là những người Việt kiều ở rải rác ở các địa phương giác ngộ tinh thần yêu nước Tùy theo khả năng ủng hộ về tinh thần và vật chất cho hội
Trang 38Bên cạnh Hội thân ái mỗi địa phương đều có tổ chức Hội phụ nữ, Hội thiếu niên
Như vậy: Hội hợp tác là một tổ chức trung kiên của Việt Nam cách mạng thanh niên Hội Việt kiều thân ái là một tổ chức quần chúng yêu nước rộng rãi có tính mặt trận Tuy thế, tổ chức tương đối chặt chẽ bí mật, hoạt động rộng khắp trong người Việt nhất là ở các tỉnh Đông Bắc Xiêm
Về tuyên truyền giáo dục: Đi đôi với việc tổ chức công tác trọng tâm vận động cứu quốc trong kiều bào lúc ấy là tuyên truyền giáo dục: trÎ em Việt kiều và người lớn đều biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ không quên tiếng
mẹ đẻ, thanh niên có trình độ văn hóa nhiệt tình yêu nước có khả năng làm hạt nhân trong việc vận động kiều bào đoàn kết, có tinh thần cách mạng
Dựa theo pháp luật của chính phủ Thái, Việt Nam cách mạng thanh niên dùng hình thức hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp
Xuất bản báo: Năm 1927 báo Đồng thanh ra đời do ông Đặng Canh Tân phụ trách và ấn ngay tại bản Đông để tuyên truyền vận động Việt kiều Đến cuối năm 1928, theo ý kiến của Nguyễn Ái Quốc báo Đồng thanh đã đổi tên
là Thân ái Nội dung của báo này là vạch rõ tội ác của đế quốc Pháp và phong kiến Việt Nam, khuyên nhủ kiều bào đoàn kết cứu nước giúp đỡ nhau phản ánh nỗi đau khổ của đồng bào, phản ánh mọi hoạt động cách mạng ở trong nước thông tin về sinh hoạt của kiều bào, ngoài ra có mục về tình hình thế giới
Số một của báo Đồng thanh đã đăng bài:
“Cảnh Nam xào xạc chim kêu tổ Gió bắc đìu hiu ngựa nhớ đàn Muôn dặm một lời non nước gọi Cửu Long lên tiếng với Trường Sơn”
Số một của tờ “Thân ái” có bài:
“Hỡi đồng bào tỉnh chưa chưa tỉnh
Trang 39Thù non sông ta tính sao đây?
Khuyên ai nấy mau mau tỉnh dậy Nhớ lấy câu máu chảy ruột mềm”
Tất cả các bài báo đăng đều với nội dung tuyên truyền giáo dục tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhau để cùng cứu lấy vận mệnh của nước nhà đang trong cảnh máu chảy lầm than
Hội Việt Nam cách mạng thanh niên cũng lập trường học Dựa vào pháp luật nước Xiêm, Việt Nam cách mạng thanh niên chủ trương nơi nào có kiều bào tập trung đông có tổ chức Hội thân ái thì xin phép chính phủ lập trường học của Việt kiều Ngoài giờ học chữ Thái (mỗi ngày chỉ học một buổi) nhà trường được sử dụng làm trụ sở câu lạc bộ làm nơi giảng bài chữ quốc ngữ cho người lớn tuổi Ngoài ra còn có các trường học riêng cho thanh thiếu niên cách mạng 15, 16 tuổi không đăng ký chính phủ : Họ cùng nhau học tập làm kinh tế những lớp này đào tạo được nhiều thanh thiếu niên trở thành cán bộ cách mạng
Ngoài ra hội còn tổ chức kỷ niệm ngày liệt sĩ Từ năm 1926 đến 1929 ngày kỷ niệm liệt sĩ Phạm Hồng Thái (19.6) Việt kiều ở các địa phương cử đại biểu đến Phichịt, U®on hay Sakol dự lễ để cùng nhau tỏ tình liên lạc đoàn kết và coi đó là một dịp giáo dục Việt kiều về lòng căm thù địch và yêu nước một cách rộng rãi
Học tập diễn giảng : Hội hợp tác còn tổ chức các buổi giảng để anh chị
em trong hội học tập chính trị ngoài giờ sản xuất Mỗi tháng tổ chức vài lần tập diễn thuyết Hội có tờ bích báo, tổ chức những lớp huấn luyện chính trị ngắn ngày 12 tuần lễ Đối với những người trình độ văn hóa thấp ban huấn luyện soạn ra những bài chính trị thường thức ngắn gọn dễ hiểu : Thế nào là mất nước ? Giai cấp là gì ?
Diễn kịch : được sử dụng trong công tác vận động quần chúng tuy thô
sơ nhưng ảnh hưởng tư tưởng khá sâu Vở Từ Phan Đình Phùng đến Phạm
Trang 40Hồng Thái ở Phi - chịt, vở Người xuất dương diễn ra ở Uđon, vở Mất nước diễn ở Sakol Những vở kịch này tuy không có kịch bản cố định và diễn viên chuyên nghiệp Anh chị em chỉ dựng những vở kịch cương do người chủ biên nêu ra đề cương về nội dung bố trí các vai rồi thì diễn viên tự mình sáng tạo
ra lời nói và động tác biểu diễn trên sân khấu theo sự gợi ý của người chủ biên rồi giáp lại tập diễn chung là đưa ra công diễn
Dưới sự lãnh đạo của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên nhờ có tổ chức rộng rãi, sự tuyên truyền giáo dục bằng nhiều hình thức phong phú sau một thời gian phong trào Việt kiều yêu nước Thái Lan phát triển rộng khắp cả
về tổ chức trình độ lý luận, tinh thần yêu nước ngày càng được nâng cao Việt Nam cách mạng thanh niên Thái - Lào còn là cơ sở chuyển tiếp đường lối lãnh đạo của cơ quan lãnh đạo cách mạng ở nước ngoài với các tổ chức cách mạng trong nước đồng thời là nơi trú chân của cán bộ trong nước ra nước ngoài học tập công tác và là nguồn cung cấp cán bộ cốt cán tiếp sức cho Đảng trong những cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc nước nhà
2.2.3 Nguyễn Ái Quốc với Việt kiều ở Đông Bắc Thái Lan những năm 1928 - 1929
Phong trào yêu nước cách mạng trong người Việt phát triển nhanh chóng : đến cuối năm 1927 đầu 1928 từ chỗ chỉ có một chi bộ ở Phichịt, đã có bèn chi bộ của tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội (Phi-chịt, U®on, Sakol, Nakhon), với nhiều hoạt động nhằm đưa phong trào yêu nước của người Việt vào một tổ chức ra các hội Việt kiều thân ái, Hội hợp tác, mở trường dạy tiếng Việt, ra báo Đồng thanh, tiếp nhận báo Thanh niên ở Quảng Châu các tài liệu, sách báo Mác - xít từ Thượng Hải về Xiêm rồi lại chuyển về trong nước Thực tế đó, đã cho thấy vị trí quan trọng của vùng Đông Bắc Thái Lan với cách mạng Việt Nam Đó không chỉ là trung tâm liên lạc cho cách mạng mà đó còn là cơ sở bồi dưỡng tinh thần yêu nước cho người Việt, để từ đó người Việt tham gia một cách đông đủ tự giác hơn