TTHTCĐ được xây dựng nhằm mục đích: Cung cấp những cơ hội học tập cho mọi người; Cung cấp thông tin đa dạng cho mọi người; Cung cấp các chương trình giáo dục không chính quy, các chương
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Tr-ờng đại học vinh
địa bàn huyện can lộc - tỉnh hà tĩnh
chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.05
luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Sỹ Tùng
vinh – 2010
Trang 2LờI CảM ƠN
Với tình cảm kính trọng và chân thành, tác giả xin gửi lời cảm
ơn tới:
Các Giáo s-, Tiến sỹ, các Giảng viên của Tr-ờng Đại học Vinh
đã tận tình giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Sở GD - ĐT Hà Tĩnh; Phòng GD&ĐT huyện Can Lộc; Các cơ sở giáo dục trong toàn huyện; Các Phòng, Ban chuyên môn của HU, HĐND, UBND huyện Can Lộc; Đảng uỷ, HĐND, UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện; Các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Đặc biệt tác giả xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Ngô Sỹ Tùng, ng-ời đã tận tình h-ớng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn
Dù đã rất cố gắng, song trong quá trình nghiên cứu và viết luận văn, chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong đ-ợc
sự góp ý chân thành từ phía các chuyên gia, thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp để luận văn đ-ợc hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn ! Vinh, ngày 10 tháng 12 năm 2010
Tác giả
Trang 3Quản lý giáo dục Thể dục - thể thao
Cơ sở vật chất Kinh tế - Xã hội Giáo dục - Đào tạo Huyện uỷ
Hội đồng nhân dân
Uỷ ban nhân dân Khoa học - kỹ thuật Nghị quyết
Mầm non Tiểu học Trung học cơ sở Trung học phổ thông Phổ cập giáo dục tiểu học Trung tâm học tập cộng đồng Giáo dục thường xuyên Trung tâm giáo dục thường xuyên Trung tânm giáo dục Hướng nghiệp - Dạy nghề Phổ cập giáo dục trung học cơ sở
Xã hội hóa giáo dục
Xã hội học tập
Trang 426 XMC
27 BTVH
28 PCGD
Xóa mù chữ Bổ túc văn hóa Phổ cập giáo dục
MỤC LỤC
3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu và phạm vi đề tài 4
Chương 2 Thực trạng hoạt động của các TTHTCĐ trên
địa bàn huyện Can Lộc, Tỉnh Hà Tĩnh
36
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và phát triển
giáo dục huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh
36
2.2 Thực trạng chung về GD&ĐT huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh 43 2.3 Thực trạng hoạt động của các TTHTCĐ huyện Can Lộc, tỉnh 48
Trang 5Hà Tĩnh
2.4 Thực trạng sử dụng các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
của các TTHTCĐ trên địa bàn huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh
74
Chương 3 Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động của các TTHTCĐ trên địa bàn huyện Can Lộc,
3.3 Kết quả thăm dò tính khả thi của các nhóm giải pháp quản lý
đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ
trên địa bàn huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh
Trang 6Hướng tới tương lai, nhìn chung nền giáo dục của các nước đều hướng tới những tư tưởng của giáo dục hiện đại như Uỷ ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO đã kết luận: Giáo dục phải dựa trên bốn trụ cột " Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống với nhau và học để làm người" Bốn trụ cột này phải đặt trên nền tảng học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập
Xây dựng XHHT là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta, phù hợp với đặc điểm thời đại và tình hình của đất nước Xây dựng và phát triển TTHTCĐ chính là xây dựng XHHT từ cơ sở TTHTCĐ là một loại hình giáo dục phù hợp với thực tiễn KT - XH và đặc điểm lao động sản xuất của đại đa số nhân dân
Kết luận của Hội nghị TW 6 (khoá IX) chỉ rõ: "Phát triển giáo dục không chính quy, các hình thức học tập cộng đồng ở các xã, phường gắn với nhu cầu phát triển thực tế của đời sống kinh tế - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người có thể học tập suốt đời" Văn kiện Đại hội X của Đảng cũng đã chỉ rõ: “ Phấn đấu xây dựng nền giáo dục hiện đại, của dân, do dân và vì dân, đảm bảo công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước”; “chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở – mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng phát triển hệ
Trang 7ứng nhu cầu học tập thường xuyên, tạo nhiều khả năng cơ hội khác nhau cho người học, đảm bảo sự công bằng xã hội trong giáo dục” Luật Giáo dục sửa đổi năm
2005 đã xác định: xây dựng XHHT là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân
TTHTCĐ là cơ sở, là nền tảng, là công cụ thiết yếu để xây dựng XHHT từ
cơ sở, là mô hình học tập mới, đáp ứng nhu cầu học tập của cộng đồng, do cộng đồng và vì cộng đồng TTHTCĐ là cơ sở giáo dục theo phương thức giáo dục thường xuyên với phương châm mà trước hết là“ cần gì học nấy, học cái đang cần, học để làm ngay”, sau đó từng bước nâng cao trình độ về mọi mặt cho người dân
Sau gần 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, cùng với những thành tựu phát triển kinh tế, xã hội, giáo dục, đào tạo nước ta đang phát triển mạnh mẽ cả về qui mô, chất lượng và hiệu quả, ngày càng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cùng với giáo dục cả nước, Giáo dục - Đào tạo tỉnh Hà Tĩnh đang có những bước phát triển mới, mạng lưới trường lớp phát triển rộng khắp, là một trong những tỉnh phát triển TTHTCĐ sớm nhất cả nước Tỉnh đã kịp thời ban hành Nghị quyết, quy chế tổ chức hoạt động của TTHTCĐ, cho nên đã tạo thành phong trào phát triển TTHTCĐ ở các địa phương Trước năm 2000, xuất hiện tự phát 3 trung tâm (mang tên Trung tâm học hỏi cộng đồng) thì đến năm 2006 Hà Tĩnh đã cơ bản thành lập xong các TTHTCĐ tại các xã, phường, thị trấn
Nằm trong bối cảnh chung của tỉnh, Can Lộc là một huyện đồng bằng, với dân số 126.202 người Là vùng giàu truyền thống văn hoá và cách mạng, những truyền thống đó đã và đang được tiếp tục được phát huy trong quá trình đổi mới và phát triển toàn diện của huyện nhà
Thấm nhuần sâu sắc quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, Can Lộc đã và đang tập trung mọi nguồn lực cho GD - ĐT, xác định đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển Thực hiện Nghị quyết Đại hội huyện Đảng bộ khóa
33, huyện đã và đang thực hiện Chương trình hành động với nhiều giải pháp phát triển KT - XH, an ninh, quốc phòng Trong đó, trên lĩnh vực giáo dục, đang tập trung phát triển toàn diện, vững chắc các cấp học, bậc học, ngành học về qui mô
Trang 8chất lượng và hiệu quả…Xúc tiến mạnh mẽ công tác xây dựng CSVC, xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia, xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực Đẩy mạnh phong trào XHHGD, khuyến học, xây dựng xã hội học tập từ cơ sở Năm
2001 mới có 1 TTHTCĐ, nhưng đến năm 2003 đã có 23 TTHTCĐ/23 xã, thị trấn Một số trung tâm đi vào hoạt động nền nếp và hiệu quả Đến với trung tâm, người dân "cần gì, học nấy", giải đáp câu hỏi: "Trồng cây gì, nuôi con gì?", "Trồng hay nuôi như thế nào?", "Làm như thế nào để xóa đói giảm nghèo?" Đây là những vấn
đề sát sườn liên quan đến cuộc sống hằng ngày nên người dân tự giác đến học và có nơi còn đóng kinh phí Hình thành một đội ngũ giảng viên là những nông dân sản xuất giỏi, nghệ nhân, chuyên gia ở các ban, ngành, đoàn thể cùng tham gia Theo thống kê, đến năm 2009 đã có hơn 47.000 lượt người tham gia học tập tại các TTHTCĐ Nội dung học tập chủ yếu là thông tin thời sự, chính sách, pháp luật; chuyển giao công nghệ, KH - KT; nâng cao chất lượng cuộc sống Điều đáng nói
là, thông qua học tập tại TTHTCĐ, nhận thức của người dân được nâng cao, việc XHH các khoản đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, chuyển đổi ruộng đất cũng tiến hành dễ dàng và thuận lợi hơn so với trước đây Mặc dầu mới hình thành nhưng các TTHTCĐ ở Hà Tĩnh nói chung, ở Can Lộc nói riêng đã góp phần quan trọng trong việc giúp cộng đồng, đặc biệt là nông dân có cách để xóa đói giảm nghèo và giúp
họ "khôn lên", góp phần thúc đẩy xây dựng nông thôn mới Tuy nhiên bên cạnh đó còn bộc lộ những hạn chế, đó là nhận thức về vai trò, trách nhiệm của lãnh đạo các địa phương trong việc xây dựng TTHTCĐ còn chưa đầy đủ, còn mang tính hình thức Mặt khác, sự đầu tư lại chưa tương xứng, hầu hết các trung tâm hoạt động dựa vào CSVC, trang bị của xã, thị trấn Mặc dù Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính đều đã có các quyết định về quy chế tổ chức, hoạt động và kinh phí hỗ trợ cho các TTHTCĐ, nhưng đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn nên chưa thể triển khai thực hiện Hầu hết lãnh đạo trung tâm đều kiêm nhiệm, không có chế độ phụ cấp và thiếu kinh nghiệm trong tổ chức, quản lý hoạt động Sự phối hợp giữa
Trang 9thường xuyên, hiệu quả chưa rõ nét Phương pháp truyền đạt kiến thức của đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên ở các trung tâm còn nhiều bất cập, phần lớn giáo viên chưa có nghiệp vụ sư phạm, kinh nghiệm dạy học, nhất là đối với các đối tượng người học là nông dân lớn tuổi…Vì thế số trung tâm hoạt động hiệu quả chưa nhiều Theo đánh giá, khoảng 40 - 50% số trung tâm hoạt động có hiệu quả
Xây dựng, nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ luôn được coi là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của ngành giáo dục, của toàn huyện, là công việc khá mới mẻ đối với huyện nhà nói riêng và đối với nhiều địa phương khác trong tỉnh, trong cả nước nói chung
Là một người làm công tác quản lý Phòng Giáo dục - Đào tạo huyện, cơ quan chịu trách nhiệm chỉ đạo chuyên môn đối với các TTHTCĐ, tôi không khỏi băn khoăn, trăn trở làm thế nào để góp phần thúc đẩy các trung tâm học tập cộng
đồng hoạt động thường xuyên và đạt hiệu quả cao Do đó tôi chọn đề tài “Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng trên địa bàn huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh” để nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu:
Đánh giá thực trạng về hoạt động của các TTHTCĐ trên địa bàn huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ xã, thị trấn
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu:
3.1 Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý các TTHTCĐ
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ trên địa bàn huyện Can Lộc, Hà Tĩnh
4 Giả thuyết khoa học:
Có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ trên địa bàn huyện Can Lộc, Hà Tĩnh nếu đề xuất được một số giải pháp quản lý có cơ sở khoa học và
có tính khả thi
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu:
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trang 105.1.1 Nghiên cứu những vấn đề lý luận về TTHTCĐ
5.1.2.Nghiên cứu thực trạng hoạt động của các TTHTCĐ trên địa bàn huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh
5.1.3 Đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ trên địa bàn huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh
5.2 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ trên địa bàn huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh dưới góc độ quản lý giáo dục
6 Phương pháp nghiên cứu:
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích, tổng hợp lý thuyết; khái quát hoá các nhận định độc lập
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra; tổng kết kinh nghiệm giáo dục; lấy ý kiến chuyên gia…
6.3 Phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu
7 Những đóng góp của đề tài:
- Đóng góp về mặt lý luận: Đề tài nghiên cứu, tổng hợp lý thuyết, phân tích, khái quát hóa các nhận định độc lập để từ đó bổ sung về mặt lý luận hoạt động của TTHTCĐ
- Đóng góp về mặt thực tiễn: Thông qua khảo sát thực tiễn hoạt động của các TTHTCĐ phát hiện những khó khăn, tồn tại cần giải quyết trong công tác quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động của TTHTCĐ xã, phường, thị trấn Đề ra được các giải pháp quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động của TTHTCĐ
8 Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, danh mục các kí hiệu viết tắt, tài liệu tham khảo, kết luận
và kiến nghị, luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Thực trạng hoạt động của các TTHTCĐ trên địa bàn huyện Can
Lộc, tỉnh Hà Tĩnh
Chương 3: Một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới về TTHTCĐ
Trên thế giới, xây dựng XHHT đang là một trào lưu lớn, nhiều nước như
Mỹ, Canađa, Nga, Nhật, Hàn quốc, Trung quốc, v,v, đều coi xã hội học tập như
"mô hình của giáo dục trong một xã hội đang thay đổi" Singapore đề ra: "nhà trường tư duy, quốc gia học tập" Thái Lan khẳng định: "giáo dục Thái trong kỷ nguyên toàn cầu hoá, hướng tới một xã hội học tập"… [30, 23]
* Nhật Bản: là một trong những nước có lịch sử lâu đời về giáo dục không
chính quy, để xây dựng XHHT, Chính phủ Nhật Bản đã lập “ Ủy ban Quốc gia về giáo dục suốt đời” Theo luật định, Nhật Bản có hai hệ giáo dục: giáo dục nhà trường cho thanh thiếu niên và giáo dục xã hội gắn với giáo dục người lớn, trong đó giáo dục xã hội, tức là giáo dục tiếp tục được quan tâm bởi đây là hệ giáo dục có tác dụng rất lớn trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trong hệ này có loại hình trường cơ bản là Kominkan, đây là một thiết chế giáo dục giống như các TTHTCĐ ở nước ta Hoạt động của các TTHTCĐ liên quan sâu sắc đến việc xây dựng đất nước sau chiến tranh và trở thành nền móng vững chắc trong việc xây dựng cộng đồng Nhật Bản ngày nay Số TTHTCĐ ở Nhật Bản phát triển qua các năm như sau:
Năm 1947 có 3.543 trung tâm, năm 1950 có 20.268 trung tâm, năm 1963 có 19.410 trung tâm, năm 1993 có 17.562 trung tâm, năm 2002 có 17.947 trung tâm Riêng năm 2006 cả nước Nhật Bản có 18.000 TTHTCĐ hoạt động dưới sự bảo trợ của Nhà nước trung ương và địa phương cùng với 76.883 TTHTCĐ tự quản
Việc hỗ trợ kinh phí cho các TTHTCĐ là kết quả của việc ra đời của đạo luật giáo dục xã hội Nhật Bản năm 1949, coi TTHTCĐ là một bộ phận của hệ thống giáo dục người lớn - GDTX Chính các TTHTCĐ này đã góp phần quan trọng vào việc hiện đại hoá nước Nhật Bản
Trang 12Theo báo cáo của Giám đốc trung tâm nguồn TTHTCĐ của thành phố Matsumoto thì kinh phí hỗ trợ cho một TTHTCĐ nguồn (ở quận, huyện) thuộc thành phố Matsumoto là 71.340.000 Yên/ năm (tương đương với 710.000 USD/năm)
*Thái Lan: Hiện nay Thái Lan đang phải đối mặt với những thay đổi lớn
về mặt xã hội, kinh tế và chính trị Những thay đổi đó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của nhân dân nói riêng và toàn bộ đất nước nói chung Nhân dân được xác định là nhân tố quan trọng nhất cho sự phát triển của đất nước và cần phải được trang bị những kiến thức và khả năng thiết yếu để thích ứng với những thay đổi
đó Vì vậy, các cơ sở giáo dục cộng đồng thực sự cần thiết để cung cấp kiến thức, cung cấp thông tin cho mọi người sống trong cộng đồng
Ở Thái Lan, giáo dục được tổ chức theo 5 khu vực hành chính Để quản lý các hoạt động giáo dục thường xuyên ở mỗi khu vực hành chính có các trung tâm nguồn, ở cấp huyện có TTGDTX và cấp xã có TTHTCĐ Năm 2006 có 7 trung tâm nguồn (riêng thủ đô Băng Kốc có 3 trung tâm), 858 TTGDTX cấp huyện và 7.000 TTHTCĐ cấp xã Tổng biên chế cho các trung tâm này là 10.600 người (riêng số biên chế cho 7 trung tâm nguồn là 400 người)
Ngân sách nhà nước dành cho hoạt động của các TTHTCĐ ở Thái Lan khoảng 4
tỷ Bạt/ năm Ngoài ra, nguồn ngân sách đóng góp từ khu vực tư nhân chiếm khoảng 10% ngân sách nhà nước
Mối quan hệ giữa các loại trung tâm: trung tâm nguồn có nhiệm vụ điều phối các hoạt động về tài chính (phân phối nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước và các nguồn tài trợ nước ngoài), nhân sự (điều phối, cán bộ quản lý, nhân viên) cho các TTGDTX và TTHTCĐ TTGDTX cấp huyện điều phối giáo viên, tập huấn cán
bộ, hỗ trợ về các học liệu cho các TTHTCĐ
Nguyên tắc điều hành và hoạt động của các TTHTCĐ ở Thái Lan:
- TTHTCĐ là của dân, do dân và vì dân Người đứng đầu trung tâm phải có định hướng cụ thể để phát triển trung tâm, đảm bảo để mọi người có cơ hội được học tập
Trang 13- TTHTCĐ hoạt động theo cơ chế mở Mọi người trong cộng đồng có thể đến học bất cứ lúc nào
- TTHTCĐ phải trở thành cầu nối thông tin giữa mọi người, gắn được việc học chữ và việc thực hành trong cuộc sống hàng ngày
- TTHTCĐ phải có mạng lưới liên kết với các cơ sở giáo dục, với các tổ chức xã hội, các cơ sở sản xuất và các chuyên gia trên các lĩnh vực
Về chính sách quản lý các TTHTCĐ:
- Sử dụng TTHTCĐ như một công cụ quan trọng để điều hành và tổ chức hoạt động chung của cộng đồng
- Sử dụng tối đa nguồn lực và kinh nghiệm quản lý cộng đồng
- Kết hợp chặt chẽ với các chương trình giáo dục, với nhu cầu thực tế và truyền thống của địa phương
- Cho phép mọi người trong cộng đồng sở hữu và đánh giá chất lượng, hiệu quả của trung tâm
- Phân công ít nhất một giáo viên tham gia quản lý các chương trình giáo dục của trung tâm
* Ấn Độ:
Từ năm 1988, Chính phủ Ấn Độ quyết định thành lập hàng loạt các Trung tâm học tập trong cả nước nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng cho sau XMC và GDTX Các trung tâm học tập (TTHT) này được coi là nơi triển khai chính thức các chương trình sau XMC và GDTX Cứ 4 - 5 làng ( khoảng 5.000 dân ) có một TTHT Các hoạt động chủ yếu của TTHT này là: Tổ chức các lớp học buổi tối để củng cố kỹ năng biết chữ và tính toán; Tổ chức các buổi thảo luận nhóm; Tiến hành các chương trình huấn luyện đơn giản, ngắn ngày; Phổ biến thông tin; Tổ chức tuyên truyền qua đài, ti vi; Tổ chức các hoạt động giải trí, văn hoá, thể thao, v.v
* Myanmar
Mô hình TTHTCĐ được xây dựng tại Myanmar từ năm 1994 Được sự trợ giúp của UNDP, UNESCO và các tổ chức phi chính phủ khác, đến nay Myanmar
Trang 14đã có 480 TTHTCĐ Ở đây TTHTCĐ được xác định là một cơ sở giáo dục taị một làng xã, nằm ngoài hệ thống giáo dục chính quy, được thành lập và quản lý bởi nhân dân địa phương, cung cấp cho nhân dân những cơ hội học tập đa dạng nhằm phát triển
và cải thiện chất lượng cuộc sống TTHTCĐ là của cộng đồng, cho cộng đồng và vì cộng đồng
TTHTCĐ có thể là một trung tâm thông tin; một trung tâm huấn luyện nghề nghiệp; một câu lạc bộ để trao đổi, thảo luận; một nơi đọc sách báo, một thư viện; một trung tâm văn hoá, vui chơi, giải trí
TTHTCĐ được xây dựng nhằm mục đích: Cung cấp những cơ hội học tập cho mọi người; Cung cấp thông tin đa dạng cho mọi người; Cung cấp các chương trình giáo dục không chính quy, các chương trình đào tạo kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng những nhu cầu của cộng đồng; Phát triển nguồn nhân lực; Phối kết hợp giữa dân làng với các cơ quan phát triển
Nghiên cứu sự phát triển của các TTHTCĐ trên thế giới tôi thấy:
- Các nước đều quan tâm đến giáo dục cộng đồng, lấy cộng đồng làm mục tiêu và động lực cho sự phát triển giáo dục vì cộng đồng Sự cam kết, quan tâm của chính phủ; sự tham gia của các lực lượng xã hội; sự đầu tư thích đáng của các nguồn lực; sự bình đẳng đối với các đối tượng hưởng thụ
- Việt Nam không thể nằm ngoài xu thế chung đó Trước yêu cầu của cuộc sống, của sự nghiệp đổi mới kinh tế, văn hóa nước ta, cần thiết phải quan tâm đến việc xây dựng và phát triển các TTHTCĐ Phải tạo điều kiện để người dân tham gia học tập thường xuyên, học tập suốt đời
1.1.2 Sự phát triển TTHTCĐ của Việt Nam
1.1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển các hình thức học tập cộng đồng
Sau hơn 80 năm sống dưới chế độ thuộc địa nửa phong kiến với chính sách của thực dân Pháp “ngu dân dễ cai trị”, 99% nhân dân ta bị mù chữ, nên ngay từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được thành lập, Hồ Chí Minh đã quan tâm
Trang 15trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ”[20, 8] Người mong “ai cũng được học hành” Người coi nhiệm
vụ chống giặc dốt được xếp thứ hai ngay sau chống giặc ngoại xâm Người đã nhấn mạnh: “ Nay chúng ta đã giành độc lập Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc lúc này là nâng cao dân trí” Để nhanh chóng chống nạn mù chữ cho người dân, ngày 8/9/1945 Chính phủ ký sắc lệnh quan trọng về bình dân học vụ: Sắc lệnh
số 17/SL thành lập Nha bình dân học vụ; Sắc lệnh số 19/SL quy định hạn trong 6 tháng làng nào, thị trấn nào cũng phải có lớp học ít nhất 30 người theo học; Sắc lệnh
số 20, công bố việc học chữ Quốc ngữ là bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người và hạn trong một năm, toàn thể dân chúng Việt Nam trên 8 tuổi phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ
Đến tháng 10/1945, trong “Lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học”, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “ Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh, nước giàu, mọi người Việt Nam cần phải hiểu biết quyền lợi của mình, phải có kiến thức mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ”.[20, 36]
Tư tưởng “Giáo dục cho mọi người” còn được Hồ Chí Minh thể hiện rõ khi Người trả lời báo chí tháng 1/1946: “ Tôi chỉ có một ham muốn, một ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, được học hành”.[20, 161] Chủ tịch Hồ Chí Minh không những chỉ kêu gọi mọi người học tập, mà còn kêu gọi mọi người học tập thường xuyên, học tập suốt đời Đây chính là một tư tưởng tiến bộ đi trước thời đại của Người Trong bức thư gửi Quân nhân học báo(tháng 4/1946), Hồ Chí Minh
đã căn dặn: “ Quân nhân phải biết võ, phải biết văn….Muốn biết thì phải thi đua học Học không bao giờ ngừng Học mãi để tiến bộ mãi Càng tiến bộ càng thấy phải học thêm”[21, 489] Đối với nhân dân, Bác khuyên “Học hành là vô cùng, học càng nhiều, biết càng nhiều càng tốt”.[20, 220]
Trang 16Bản thân Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời về học tập suốt đời Năm 1961, khi nói chuyện với cán bộ, đảng viên hoạt động lâu năm ở Nghệ – Tĩnh, Bác
đã tâm sự “ Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải đi học Công việc cứ tiến mãi, không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau”.[7, 123]
Muốn cho ai cũng được học hành, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc tuyên truyền nâng cao nhận thức của toàn dân, của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp về vị trí, vai trò của bình dân học vụ, từ đó động viên toàn xã hội hăng hái tham gia chống nạn thất học Người kêu gọi: “ Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đọc Vợ chưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, người
ăn người làm chưa biết thì chủ bảo, người giàu thì mở lớp ở tư gia dạy cho người không biết chữ ở làng xóm láng giềng Các chủ ấp, chủ đồn điền, chủ hầm mỏ, nhà máy thì mở lớp cho tá điền, những người làm của mình”.[20, 309]
Trong bức thư gửi cho cán bộ, giáo viên BTVH, Bác Hồ nhấn mạnh:
"Muốn xây dựng CNXH thì phải tăng gia sản xuất Muốn tăng gia sản xuất thì
phải có kỹ thuật cải tiến Muốn sử dụng tốt kỹ thuật thì phải có văn hoá Vì vậy, công việc BTVH là cực kỳ cần thiết".[30, 25]
Xuất phát từ tư tưởng của Người, nhiều khẩu hiệu đã được đưa ra như: “ Dạy bình dân học vụ là yêu nước”, “ Giúp đỡ bình dân học vụ là yêu nước”, “ Chống mù chữ cũng như chống ngoại xâm”, “Mỗi gia đình là một lớp bình dân học vụ”…Các khẩu hiệu này được viết dán ở trong nhà, ở mặt tường, ở thân cây hoặc được hô vang trong các buổi tuyền thanh, trong các buổi cổ động, các buổi rước đuốc…
Nhờ tuyên truyền mạnh mẽ, sâu rộng, mà phong trào chống mù chữ đã được toàn xã hội tham gia Chỉ trong một thời gian ngắn phong trào chống nạn mù chữ
đã lan rộng khắp cả nước tạo nên một chiến dịch với sự tham gia đông đảo của đồng bào Nơi nào có người cần học ở đó có lớp học, những người tham gia chiến dịch, người dạy và người học đủ mọi tầng lớp, lứa tuổi, không phân biệt nam nữ giàu nghèo [23, 28] Nhiều cá nhân, gia đình đã đứng ra mở lớp bình dân học vụ
Trang 17Các tổ chức đoàn thể đã tham gia tích cực góp sức cùng bình dân học vụ, lo việc xóa mù chữ, nâng cao trình độ văn hóa cho đoàn viên, hội viên của mình
Như vậy, có thể nói đây là những cơ sở đầu tiên của hình thức học tập cộng đồng, giáo dục cộng đồng, là những TTHTCĐ đầu tiên ở Việt Nam, với nhiệm vụ nhanh chóng thanh toán nạn mù chữ cho người dân lao động
“Từ chiến dịch chống nạn mù chữ năm 1945 - 1946 sau này đã trở thành những kinh nghiệm quốc tế đến tận cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI (Tuyên ngôn Jomtien - Thái Lan năm 1990 và khuôn khổ hành động Dakar - Sengal năm 2000
về giáo dục cho mọi người), đó là sự cam kết, quan tâm của chính phủ; sự tham gia của các lực lượng xã hội; sự đầu tư thích đáng của các nguồn lực; sự bình đẳng đối với các đối tượng hưởng thụ”.[24, 28]
1.1.2.2.Quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển các hình thức giáo dục cộng đồng
Chủ trương phát triển các hình thức giáo dục cộng đồng, xây dựng một nền giáo dục cho mọi người, xây dựng “xã hội học tập” từ cơ sở của Đảng Cộng sản Việt Nam
và của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có ngay từ sau khi cách mạng tháng Tám thành công,
là những chủ trương mang tính chiến lược mà Đảng ta nêu lên bắt nguồn từ tư tưởng nhân văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”[18, 46] Tư tưởng này phù hợp với xu thế thế giới
Nhiệm vụ chống giặc dốt xếp thứ hai sau nhiệm vụ chống giặc đói Sau khi tuyên bố thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ đã ban hành sắc lệnh thành lập Nha bình dân học vụ lo việc học tập cho toàn dân Nhờ đó phong trào bình dân học vụ phát triển nhanh chóng trên toàn quốc Phong trào học tập của nhân dân ngày càng rầm rộ ngay cả trong những ngày tháng khó khăn, ác liệt của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ
Trong công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương phát triển Giáo dục - Đào tạo, xây dựng xã hội học tập thể hiện qua các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước:
Trang 18- Nghị quyết TW4 khóa VII khẳng định:“ Cần phải thực hiện một nền giáo dục thường xuyên cho mọi người, xác định học tập suốt đời là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân Đổi mới giáo dục bổ túc và đào tạo tại chức, khuyến khích phát triển các loại hình giáo dục - đào tạo không chính qui, khuyến khích tự học”
- Nghị quyết TW2 khóa VIII nêu rõ: “ Giáo dục - Đào tạo là là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân, mọi người đi học, học thường xuyên, học suốt đời”; “ mở rộng các hình thức học tập thường xuyên, đặc biệt là hình thức học từ xa”; “ có hình thức trường lớp thích hợp nhằm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt xuất thân từ công nông và lao động ưu tú, con em các gia đình thuộc diện chính sách”
- Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX chỉ ra: “ Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính qui và không chính qui”; thực hiện “giáo dục cho mọi người” và “cả nước trở thành xã hội học tập”
- Kết luận Hội nghị TW 6 (khóa IX) cũng đã chỉ rõ: “ Thực hiện chương trình giáo dục cho mọi người Tiếp tục đẩy mạnh đa dạng hóa các loại hình trường lớp, hoàn thiện mô hình các loại hình trường học phù hợp với hoàn cảnh nước ta nhằm tạo cơ hội học tập tốt nhất cho mọi tầng lớp nhân dân có nhu cầu…Phát triển giáo dục không chính qui, các hình thức học tập cộng đồng ở các xã, phường gắn với nhu cầu thực tế đời sống kinh tế - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người
có thể học tập suốt đời, hướng tới xã hội học tập”
- Hội nghị TW7 (khóa IX) đã chủ trương tiến hành cuộc vận động: “ Toàn dân xây dựng phong trào cả nước trở thành một xã hội học tập, học tập suốt đời”
- Nghị quyết TW9 (khóa IX) tiếp tục khẳng định: “ Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, xây dựng xã hội học tập”
- Văn kiện Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ: “ Phấn đấu xây dựng nền giáo dục hiện đại, của dân, do dân và vì dân, bảo đảm công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước….Phát triển rộng khắp và nâng cao chất
Trang 19- Chỉ thị 11- CT/TW của Bộ Chính trị khóa X nêu rõ: Quán triệt Nghị quyết Đại hội X của Đảng về “chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở – mô hình xã hội học tập” và tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập suốt đời, nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, đào tạo nhân tài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhất là trong bối cảnh nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủy Đảng tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập trong thời gian tới tập trung thực hiện một số nội dung cơ bản sau đây:
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục trong Đảng và nhân dân với nhiều hình thức phong phú, thiết thực để nhận thức rõ về sự cần thiết, tầm quan trọng của việc xây dựng xã hội học tập ở nước ta hiện nay; xác định xây dựng xã hội học tập
là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, là mục tiêu cơ bản trong chiến lược chấn hưng và phát triển giáo dục của nước ta
Cụ thể hóa các mục tiêu nhiệm vụ, giải pháp xây dựng XHHT trong phạm vi từng địa phương, đơn vị Mở rộng và nâng cao chất lượng các phong trào khuyến học, khuyến tài, góp phần hỗ trợ các cơ sở giáo dục trong giảng dạy và học tập; xây dựng gia đình hiếu học; cộng đồng, dòng họ, cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị khuyến học
Tiếp tục đẩy mạnh và xây dựng các TTHTCĐ ở xã, phường, thị trấn; phát triển nhiều loại hình học tập đa dạng, phù hợp với điều kiện và nhu cầu học tập của cán bộ, nhân dân từng địa phương, đơn vị Chú trọng và kịp thời phát hiện, có chính sách cụ thể để bồi dưỡng nhân tài, nhất là tài năng trẻ trên các lĩnh vực
Vận động nhân dân tích cực học tập nâng cao dân trí, nghề nghiệp, chuyên môn nhằm tăng năng lực sản xuất, chất lượng công việc và chất lượng cuộc sống Gắn việc phát triển phong trào khuyến học, khuyến tài với xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, học đi đôi với hành, với phong trào làm kinh tế giỏi, xóa đói giảm nghèo và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở
Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 được Thủ tướng phê duyệt (tháng
12 - 2001) đã chỉ rõ quan điểm: “Giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của
Trang 20toàn dân; xây dựng xã hội học tập tạo điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên suốt đời”
Quyết định 112/2005/QĐ -TTg ngày 18/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “ Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005 -2010” chỉ rõ: “ Xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập với tiêu chí cơ bản là tạo điều kiện thuận lợi để mọi người ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, học liên tục, học suốt đời ở mọi nơi, mọi lúc, mọi cấp, mọi trình độ; huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia xây dựng và phát triển giáo dục; mọi người, mọi tổ chức đều
có trách nhiệm, nghĩa vụ trong việc học tập và tham gia tích cực xây dựng xã hội học tập”; “ Phát triển bền vững và nhân rộng mô hình TTHTCĐ trên các địa bàn xã, phường, thị trấn trong cả nước nhằm thực hiện các chương trình XMC, giáo dục tiếp tục sau biết chữ và các chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học trong cộng đồng dân cư….”
Luật Giáo dục năm 2005 tại khoản 1 Điều 4 qui định: “ Hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm giáo dục chính qui và giáo dục thường xuyên”; ở Điều 12 qui định: “ Phát triển giáo dục, xây dựng XHHT là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân”; ở Điều 44 qui định: “ Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa làm, vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội”
Thông báo số 268/TB –VPCP ngày 24/12/2007 Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp về mô hình tổ chức, quản lý và cơ chế tài chính của các TTHTCĐ đã chỉ rõ: “Xác định rõ tính chất hoạt động, vai trò, vị trí của các TTHTCĐ trong hệ thống giáo dục quốc dân là trung tâm học tập tự chủ của cộng đồng xã, phường, có sự quản lý, hỗ trợ của Nhà nước; đồng thời phát huy mạnh mẽ
sự tham gia, đóng góp của nhân dân trong cộng đồng dân cư để xây dựng và phát triển các trung tâm theo cơ chế nhà nước và nhân dân cùng làm”; “Các TTHTCĐ
Trang 21giáo dục, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức; phối hợp triển khai các chương trình khuyến công, khuyến nông, khuyến ngư và các dự án, chương trình tại địa phương”; “Nhà nước có hỗ trợ kinh phí cho hoạt động của các TTHTCĐ, đồng thời các TTHTCĐ cần huy động từ các nguồn khác, thông qua hoạt động thiết thực có hiệu quả trên địa bàn”
Chỉ thị 02/2008/CT – TTg ngày 08/01/2008 của Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu: “Thực hiện các giải pháp để phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ
sở GDTX, các TTHTCĐ, cơ sở dạy nghề, trong đó tập trung đổi mới nội dung, chương trình, tài liệu, phương pháp học tập đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của nhân dân” Trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, qua các thời kỳ, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND thường xuyên quan tâm, đầu tư cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo nói riêng và sự nghiệp nâng cao dân trí nói chung Bằng các Chỉ thị, Nghị quyết chuyên đề về giáo dục - đào tạo đã tập trung sự lãnh đạo, chỉ đạo phát triển GD-ĐT toàn diện, vững chắc Quan điểm về xây dựng XHHT được các cấp uỷ đảng, chính quyền quán triệt và sớm có văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện ở địa phương Có thể các cách đặt vấn đề khác nhau, nhưng tất cả đếu nhằm mục tiêu tạo điều kiện cho mọi người được học tập thường xuyên, đẩy mạnh thực hiện chủ trương xây dựng XHHT từ
cơ sở Các quan điểm đó được thể hiện ở các văn bản chủ yếu sau đây:
Nghị quyết 05/NQ-TU (ngày 28/7/1997) của Ban chấp hành Tỉnh uỷ đã cụ thể hoá Nghị quyết TW2 về phát triển sự nghiệp GD-ĐT trong giai đoạn mới vào
điều kiện cụ thể của tỉnh nhà, trong đó nhấn mạnh: „„phấn đấu phát triển giáo
dục, đào tạo vững chắc; cân đối, đồng đều giữa các ngành học, cấp học, giữa các địa bàn dân cư; quan tâm đặc biệt đến vùng sâu, vùng xa, vùng núi, vùng biển, con em nghèo, gia đình chính sách‟‟
Nghị quyết 03/NQ-TU (ngày 13/6/2001) của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về
“Công tác xã hội hoá giáo dục, phổ cập giáo dục THCS và triển khai đề án thành
lập trường Đại học Hà Tĩnh”, khẳng định: “Phát triển giáo dục - đào tạo là quốc sách, là một trong những động lực quan trọng nhất thúc đẩy công nghiệp hoá,
Trang 22hiện đại hoá; điều kiện tiên quyết phát triển nguồn lực con người; yếu tố cơ bản
để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”;
Chỉ thị số 23/CT-TU Ban Thường vụ Tỉnh uỷ (ngày 04/10/2002) về việc
“Phát huy sức mạnh của toàn dân xây dựng xã hội học tập từ cơ sở” đã chỉ rõ:
“Xây dựng một xã hội học tập, trong đó tất cả mọi người đều được học hành, học
thường xuyên, học suốt đời…”
Nghị quyết số 48 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, ngày 24/7/2004 về việc
“Triển khai thực hiện phổ cập bậc trung học giai đoạn 2005 – 2010” trong đó
nhấn mạnh: “Cần nhận thức việc tiến hành phổ cập bậc trung học là tiếp tục
những ưu điểm về giáo dục tỉnh nhà, phát huy truyền thống đất học và cơ hội để thanh niên tỉnh nhà có điều kiện đóng góp cho sự nghiệp CNH, HĐH của quê hương và đất nước”
Ngoài các văn bản chỉ đạo mang tính chuyên sâu về giáo dục - đào tạo nói trên, các văn bản chỉ đạo chung của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND để thực hiện các mục tiêu KT – XH tỉnh nhà đều thể hiện quan điểm coi trọng vai trò, vị trí của giáo dục - đào tạo, đồng thời tạo mọi điều kiện để giáo dục - đào tạo phát triển Trong các chương trình
KT – XH lớn của tỉnh, như “Chương trình xoá đói giảm nghèo”; “Chương trình việc
làm”, các dự án xây dựng các khu công nghiệp và khu kinh tế lớn ở Vũng Áng, Cầu
Treo, Thạch Khê, đều nhấn mạnh ý nghĩa của giáo dục, coi phát triển giáo dục, tạo điều kiện cho mọi người được học tập để nâng cao hiểu biết, có khả năng tiếp thu, áp dụng khoa học kỹ thuật vào thực tiễn là giải pháp chính để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm triển khai thực hiện các chương trình, dự án đạt hiệu quả
Quán triệt các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh Hà Tĩnh, huyện Can Lộc đã có nhiều chủ trương, giải pháp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng
xã hội học tập, xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ
Huyện ủy đã có Thông tri số 17TT/HU ( ngày 8/5/2003) “ Về việc lãnh đạo xây dựng Trung tâm học tập cộng đồng”; Chỉ thị 24 CT/HU (ngày 05/9/2003)của
Trang 23học tập” đã yêu cầu các cấp ủy Đảng, chính quyền, các cơ quan, các đoàn thể quần chúng từ huyện đến xã thực hiện chủ trương: “Làm cho mọi cán bộ, mọi người dân ý thức đầy đủ sự cần thiết phải xây dựng xã hội học tập từ cơ sở để tự nguyện tham gia khuyến học, tự nguyện học tập suốt đời, coi đó là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người Các tổ chức cần đem tiêu chuẩn học tập vào việc đánh giá đảng viên, đoàn viên, hội viên hàng năm Coi việc tổ chức và đưa TTHTCĐ hoạt động có hiệu quả là một trong những tiêu chí xây dựng nông thôn mới và là một tiêu chuẩn để đánh giá cơ sở vững mạnh toàn diện”
HĐND huyện có nhiều Nghị quyết chuyên đề về phát triển giáo dục, xây dựng TTHTCĐ UBND huyện có Đề án “ Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2006
- 2010”; Quyết định thành lập Ban chỉ đạo xây dựng TTHTCĐ; có nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các cấp thực hiện
Tóm lại, trong quá trình lãnh đạo phát triển KT-XH, củng cố an ninh, quốc phòng, cấp uỷ và chính quyền tỉnh, huyện nhà luôn luôn đề cao vai trò của giáo dục, thường xuyên quan tâm đầu tư, chỉ đạo để giáo dục phát triển theo hướng đa dạng hoá, nhằm tạo điều kiện cho mọi người dân đều được học tập, đảm bảo sự công bằng trong giáo dục Biểu hiện rõ nhất là quan điểm xây dựng XHHT từ cơ sở, với nền tảng là xây dựng, nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ
1.1.2.3 Tình hình phát triển TTHTCĐ ở Việt Nam
Để thực hiện cam kết với các nước và cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế tại
“Diễn đàn giáo dục quốc tế” tổ chức tại Dakar, Senegan tháng 4/2000, Thủ tướng
Chính phủ nước ta đã phê duyệt “Kế hoạch hành động quốc gia giáo dục cho mọi
người giai đoạn 2003- 2015” và "Đề án xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2010”, trong đó đã đề ra kế hoạch quốc gia đến năm 2010 có trên 90% số xã có
2005-TTHTCĐ và đến 2015 số đó là 100%
Sau một thời gian thực hiện, đến tháng 6/2006 cả nước đã thành lập được 7.384 TTHTCĐ, đạt tỷ lệ 67% Đến tháng 8/2009 cả nước đã thành lập được 9.551 TTHTCĐ, đạt tỷ lệ 86,41%; 29 tỉnh, thành phố có 100% số xã (phường, thị trấn) có TTHTCĐ Chỉ
Trang 24còn một số tỉnh tỉ lệ số xã (phường, thị trấn) có TTHTCĐ thấp như: Gia Lai 90/209 (43,1%), Đắc Lắc 77/180 (43%), Lâm Đồng 69/145 (48%); Đắc Nông 26/71 (36,6%), Tuyên Quang 43/140 (30,7%), Quảng Ngãi 44/180 (24,4%), TP Hồ Chí Minh 77/322
(23,9%), Hà Giang 1/195 (0,5%)
Nhìn chung TTHTCĐ phát triển sớm và mạnh ở các tỉnh phía Bắc, nhất là đồng bằng sông Hồng Ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, TTHTCĐ phát triển chậm do địa phương không có khả năng về tài chính để duy trì hoạt động của các trung tâm này
Qua thực tiễn, cấp ủy Đảng, chính quyền nhiều tỉnh, thành phố đã xác nhận TTHTCĐ không chỉ là công cụ thiết yếu để xây dựng XHHT từ cơ sở mà còn là công
cụ quan trọng để địa phương thúc đẩy đổi mới phát triển KT – XH Quá trình xây dựng
và phát triển TTHTCĐ đã góp phần tích cực thực hiện ba cuộc vận động lớn mà Đảng
đã phát động theo Nghị quyết TW 7; 9 ( khóa X) Đó là: phong trào toàn dân thi đua làm kinh tế, làm giàu hợp pháp; phong tào toàn dân xây dựng đời sống văn hóa; phong trào cả nước trở thành một xã hội học tập Các TTHTCĐ ở 63 tỉnh, thành phố đã phát huy được tiềm năng của cộng đồng, thu hút được hàng chục nghìn người có tâm huyết
và năng lực tự nguyện tham gia giảng dạy cho hàng triệu lượt người tham gia học tập với hàng nghìn chuyên đề thiết yếu ở khắp nơi, đã tạo cơ hội cho mọi người ở mọi lưa tuổi, mọi trình độ được tiếp tục học tập, được đào tạo lại, được bồi dưỡng cập nhật những kiến thức và kỹ năng mới, thiết thực cho đời sống, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mỗi cá nhân TTHTCĐ đã trở thành khâu đột phá ở cơ sở để hiện thực hóa ý tưởng “ giáo dục cho mọi người và mọi người cho giáo dục” mà quá trình xây dựng XHHT đã hướng tới
TTHTCĐ đã góp phần đẩy mạnh việc củng cố và nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác XMC - PCGDTH, nâng tỷ lệ PCGDTH đúng độ tuổi và tăng tỷ lệ người biết chữ
Trang 25TTHTCĐ đã góp phần ổn định chính trị - xã hội, xây dựng khối đoàn kết nội
bộ trong nhân dân và mối liên kết giữa các đoàn thể, tổ chức xã hội trong cộng đồng xã, phường, thị trấn
Hoạt động của các TTHTCĐ đều bắt đầu bằng các hình thức nghe báo cáo thời sự, chính trị, trao đổi, phổ biến các chế độ chính sách mới của Đảng, Nhà nước, chủ trương của các ban, ngành, đoàn thể và tổ chức, thảo luận những chương trình công tác sắp triển khai của địa phương để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra
Từ đó quyền làm chủ của nhân dân được phát huy, không còn những khiếu kiện tập thể, mối quan hệ giữa chính quyền và quần chúng nhân dân thêm gắn bó
TTHTCĐ đã góp phần nâng cao nhận thức về hiến pháp và pháp luật Hầu hết các TTHTCĐ đều đem đến cho nhân dân sự hiểu biết về hiến pháp, pháp luật và nếp sống văn hoá mới Những nơi này, cộng đồng đều có nhận thức khá sâu sắc về pháp luật, người dân được học tập, được giải thích nên họ tin vào pháp luật và làm việc theo pháp luật; hoạt động của TTHTCĐ đã góp phần là giảm đáng kể việc tranh chấp khiếu kiện về đất đai, giảm các vụ tai nạn giao thông, giảm tỷ lệ phát triển dân số, thanh niên tham gia nghĩa vụ quân sự và vượt chỉ tiêu
Các TTHTCĐ đã góp phần giúp người lao động biết cách xoá đói, giảm nghèo, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống, phấn đấu làm giàu chính đáng thông qua việc truyền nghề và dạy nghề ngắn hạn
Nhiều chuyên đề mới đã được ứng dụng và được thực tiễn đúc rút thành những bài học quý như nuôi ba ba thịt, ba ba giống ở xã Cảnh Thuỵ (Yên Dũng - Bắc Giang), Quận 12 (Tp Hồ Chí Minh), Đức Thuỵ (Quảng Bình); nuôi heo, bò, ong, cá bằng phương pháp áp dụng công nghệ mới ở tỉnh Đồng Nai Rất nhiều TTHTCĐ đã giúp bà con nông dân nuôi tôm, lợn hướng nạc, gà siêu trứng, bò sữa [15, 21]
Những giống lúa, ngô mới và phương pháp phun thuốc trừ sâu cho lúa, ngô, cây ăn quả được đưa và giới thiệu tại TTHTCĐ qua các hình thức tập huấn Mỗi địa phương khác nhau, có cách làm, cách nghĩ khác nhau để nâng cao hiệu quả cây trồng Có những TTHTCĐ tìm tới và cử người đi học nghề để trở thành chuyên gia
Trang 26về sản xuất mây tre đan; sản xuất muối tinh khiết với công nghệ đơn giản nhưng giá trị gấp 3 lần muối thô (Tĩnh Gia - Thanh Hoá); hướng dẫn người khiếm thị dệt vải ( quận 12 - Tp Hồ Chí Minh)
TTHTCĐ góp phần thúc đẩy việc thực hiện của cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” ở cộng đồng dân cư
Có rất nhiều hoạt động phổ biến kiến thức về VH - XH đã được triển khai trong các TTHTCĐ ở các tỉnh, thành phố, nhất là các tỉnh Tây Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long, thông qua các chuyên đề xây dựng nếp sống mới ở nông thôn, miền núi; học và tập thể dục dưỡng sinh, chăm sóc sức khoẻ trẻ em, phụ nữ, người cao tuổi, đọc sách báo, sinh hoạt câu lạc bộ thơ, ca hát, hoạt động TD - TT
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong quá trình xây dựng và phát triển TTHTCĐ còn có nhiều khó khăn, yếu kém và bất cập, cụ thể là:
+ Về chỉ đạo, các TTHTCĐ hoạt động trong điều kiện các văn bản pháp lý
từ các Bộ, Ngành chưa được triển khai thực hiện đồng bộ ở các địa phương
+ Các TTHTCĐ thiếu điều kiện làm việc, đến nay trên toàn quốc mới có khoảng 20 – 23 % số TTHTCĐ có trụ sở riêng, 44,83 % số TTHTCĐ có tủ sách riêng, 19 – 21 % số TTHTCĐ có phòng thiết bị riêng.[15, 15] Nguồn lực để tổ chức và duy trì hoạt động của các TTHTCĐ chủ yếu dựa vào tinh thần trách nhiệm của ngành GD&ĐT, của Hội Khuyến học và chính quyền địa phương; lòng nhiệt tình của người dạy và người học
+ Nội dung, chương trình và hình thức tổ chức dạy học tuy đã được cải thiện song chưa đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của nhân dân Việc tuyên truyền người học XMC còn nhiều hạn chế và hình thức tổ chức cho người lao động học tập còn nghèo nàn Mặt khác, do chưa có cơ chế phối hợp, phân rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành từ trung ương đến các đơn vị cơ cở nên nhiều ngành, tổ chức xã hội chưa
có trách nhiệm hỗ trợ cho các TTHTCĐ hoạt động
1.2 Một số khái niệm cơ bản
Trang 27- TTHTCĐ là cơ sở giáo dục thường xuyên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là trung tâm học tập tự chủ của cộng đồng cấp xã, có sự quản lý, hỗ trợ của Nhà nước; đồng thời phải phát huy mạnh mẽ sự tham gia, đóng góp của nhân dân trong cộng đồng dân cư để xây dựng và phát triển các trung tâm theo cơ chế Nhà nước và nhân dân cùng làm
TTHTCĐ có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng
- Chức năng của TTHTCĐ: Hoạt động của TTHTCĐ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người, ở mọi lứa tuổi được học tập thường xuyên, học tập suốt đời; được phổ biến kiến thức và sáng kiến kinh nghiệm trong sản xuất và cuộc sống, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm; nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người dân và cả cộng đồng; là nơi thực hiện việc phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật đến với mọi người dân
- Nhiệm vụ của TTHTCĐ:
+ Tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác XMC và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ, củng cố chất lượng PCGD; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức nhằm mở rộng hiểu biết, nâng cao nhận thức và cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân trong cộng đồng; phối hợp triển khai các chương trình khuyến công, khuyến nông, khuyến ngư và các dự án, chương trình tại địa phương
+ Tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, TD - TT, đọc sách báo, tư vấn, khuyến học, giáo dục cho con em nhân dân phòng chống tệ nạn xã hội
+ Điều tra nhu cầu học tập của cộng đồng, xây dựng nội dung và hình thức học tập phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nhóm đối tượng
+ Quản lý tài chính, CSVC, trang thiết bị của trung tâm theo qui định của pháp luật
1.2.2 Các hoạt động giáo dục của TTHTCĐ:
- Chương trình giáo dục, kế hoạch học tập:
+ TTHTCĐ thực hiện các chương trình giáo dục qui định tai khoản 1, điều 4 của qui chế;
Trang 28+ Giám đốc TTHTCĐ xây dựng kế hoạch dạy học và thời gian biểu cụ thể phù hợp với từng chương trình giáo dục
- Tài liệu học tập: TTHTCĐ sử dụng tài liệu do các Bộ, Ngành, các cơ quan chức năng có liên quan biên soạn; các tài liệu địa phương do Sở GD&ĐT và các cơ quan chuyên môn có thẩm quyền qui định hoặc tài liệu do các nhà chuyên môn có kinh nghiệm biên soạn
- Tổ chức lớp học:
+ Căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, các lớp XMC, củng cố chất lượng PCGD được tổ chức tại TTHTCĐ hoặc các thôn, xóm có đủ điều kiện để tổ chức lớp học
+ Các lớp học khác tùy theo nội dung chương trình giáo dục được tổ chức tại các địa điểm và thời gian phù hợp
- Công nhận kết quả học tập:
+ Học hết chương trình XMC và giáo dục tiếp tục sau khi bết chữ qui định tại khoản 1 Điều 4 của Qui chế, nếu đủ điều kiện theo qui định của Bộ trưởng Bộ
GD & ĐT thì được TTGDTX cấp huyện cấp chứng chỉ
+ Học hết các chương trình khác qui định tại khoản 1 Điều 4 Qui chế thì tùy theo nội dung, thời gian học, giám đốc TTHTCĐ xác nhận kết quả học tập
1.2.3 Tính chất giáo dục của TTHTCĐ:
- Đây là nền giáo dục của dân, do dân và vì dân đáp ứng nhu cầu “cần gì học nấy”, “học để làm ngay”, “vừa học vừa làm” một cách thường xuyên, liên tục, học suốt đời của cán bộ và các tầng lớp nhân dân
- Đây là nền giáo dục phổ cập
- Đây là nền giáo dục hết sức đa dạng về nội dung, về hình thức tổ chức
- Trong quá trình giáo dục luôn diễn ra sự kết hợp hài hoà giữa giáo dục và
đời sống của người dân
1.2.4 Mục tiêu của TTHTCĐ:
Trang 29TTHTCĐ được thành lập ra nhằm cung cấp cơ hội học tập cho mọi người
trong xã, phường, thị trấn để: Phát triển nguồn nhân lực; cải thiện đời sống và phát
triển cộng đồng; xây dựng XHHT và góp phần thực hiện sự nghiệp phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội ở địa phương
Xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cuối cùng trong hệ thống tổ chức nhà
nước, là cấp trực tiếp nhất, gần dân nhất Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nền
tảng của mọi công tác là cấp xã" [22, 458] và “cấp xã là gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi công việc đều xong xuôi”[21, 371] Xã,
phường, thị trấn là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện mọi đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, nơi cụ thể hoá thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch, nhiệm vụ về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội
Ở đây mọi thành viên gắn bó mật thiết bằng sinh hoạt cộng đồng, dòng họ, luôn luôn phát huy truyền thống cố kết, ý thức tự lực, tự cường, lòng yêu quê hương đất nước, thực sự là nền tảng của xã hội có tính bền vững cao
Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới thu được nhiều kết quả tốt đẹp đã làm cho bộ mặt nông thôn có sự thay đổi đáng kể về mọi mặt theo hướng hiện đại hoá Tuy nhiên, một bộ phận nhân dân trình độ thấp, năng lực còn hạn chế, tư tưởng còn lạc hậu, chưa tiến bộ, đời sống còn thấp kém Việc
bổ sung kiến thức, năng lực là việc làm cần thiết đặc biệt là sự thay đổi trong nhận thức để tìm ra cách đi mới, cách làm mới cho theo kịp thời đại
- Cải thiện đời sống và phát triển cộng đồng:
Chương trình tạo thu nhập (TTN) là một loại chương trình GDTX giúp người học tiếp thu hoặc nâng cao các kỹ năng nghề nghiệp để họ tiến hành những hoạt động tạo nhu nhập Mục đích chính của chương trình TTN là cải thiện chất lượng cuộc sống cho những người tham gia chương trình Trọng tâm của chúng ta là xoá đói, giảm nghèo và phát triển nguồn nhân lực
Các chương trình nâng cao chất lượng cuộc sống có ý nghĩa đặc biệt vì nó liên quan trực tiếp đến việc cải thiện, nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần cho
Trang 30người lao động; xây dựng môi trường trong sạch; tăng cường sức khoẻ cho cá nhân, cộng đồng; tạo sự phát triển kinh tế - xã hội có kế hoạch
- Xây dựngXHHT là một xã hội mọi người đều được học hành bằng hình
thức giáo dục chính quy, không chính quy và tự học ở trong nhà trường và ngoài nhà trường, học thường xuyên, học suốt đời; học chữ, học nghề, học làm người; học để biết, học để làm việc, để chung sống, để phát triển cá nhân và cộng đồng Đồng thời, mỗi người đều có trách nhiệm và nghĩa vụ đóng góp phần xây dựng, phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo
1.2.5 Nội dung và phương pháp học tập ở các TTHTCĐ
Trang 31Ở TTHTCĐ người dân học những nội dung gì? Đây là vấn đề không nhỏ đặt
ra cho mỗi trung tâm Với phương châm “cần gì học nấy”, “ học để làm ngay”, trên
cơ sở thực tiễn của từng địa phương để có những lựa chọn nội dung học tập cho phù hợp Tuy nhiên, ta có thể khái quát vào năm nhóm chức năng sau đây:
- Nhóm thứ nhất là "học văn hóa" bao gồm học chương trình XMC, sau
XMC, BTVH
- Nhóm thứ hai là "chuyển giao" bao gồm bồi dưỡng, cập nhật những kiến
thức về kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, chuyển giao công nghệ, chia sẻ kinh nghiệm sản xuất
- Nhóm thứ ba là "cung cấp thông tin" bao gồm phổ biến thông tin thời sự, các
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phổ biến và giải thích Pháp luật
- Nhóm thứ tư là "nâng cao chất lượng cuộc sống" bao gồm sinh hoạt văn
hoá, văn nghệ, thể thao, tư vấn những vấn đề về sức khoẻ, nghề nghiệp, bảo vệ môi trường, cuộc sống,
- Nhóm thứ năm là "học nghề" chủ yếu nghề thủ công (mây tre đan, thêu
ren, làm chiếu), nghề chăn nuôi (nuôi ong, nuôi hươu, trồng cam, nuôi cá, ) Những nội dung đó phù hợp với nhu cầu học tập của các loại đối tượng trong cộng đồng dân cư, đáp ứng nhu cầu hiểu biết để nâng cao chất lượng cuộc sống Trong chương trình đó, một người có thể học đồng thời nhiều nội dung
Nội dung học tập trên được thể hiện qua một số chương trình học tập sau:
- Chương trình tương đương nhằm nâng cao trình độ văn hoá ứng với các lớp phổ thông, nhằm cung cấp những kiến thức hành dụng để người học vận dụng vào sản xuất, đời sống hàng ngày nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần thực hiện các mục tiêu KT - XH của cộng đồng, đất nước Đó là các chương trình XMC, BTVH tiểu học,THCS, tin học, ngoại ngữ thông dụng
- Chương trình tạo thu nhập nhằm giúp người lao động biết cách xoá đói, giảm nghèo, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống, phấn đấu làm giàu chính đáng thông qua việc tư vấn, chuyển giao khoa học công nghệ, truyền nghề và dạy nghề ngắn hạn
Trang 32- Chương trình học theo sở thích nhằm khuyến khích và tăng cường các hoạt động học tập để làm tăng khả năng của mỗi người trong việc sử dụng thời gian, cải thiện cuộc sống và tự khẳng định mình
- Chương trình định hướng tương lai nhằm cung cấp cho nông dân, công nhân, các nhà chuyên môn, các nhà lãnh đạo, các doanh nhân, những người lập kế hoạch, những kiến thức, kỹ năng, kỹ thuật mới nhằm làm cho họ thích ứng được với những biến đổi nhanh chóng về công nghệ trong thời đại ngày nay
1.2.5.2 Phương pháp học tập:
Giảng dạy ở TTHTCĐ thường tập trung cho đối tượng người lớn Vì vậy cần phải áp dụng các nguyên tắc học tập cho người lớn trong giảng dạy, đó là phát huy tối đa những kinh nghiệm của học viên với sự tham gia tích cực của người học trong quá trình học tập Cũng không nên quá đề cao sự tham gia của học viên mà coi nhẹ vai trò dẫn dắt, gợi ý của giảng viên Điều đó có nghĩa là cần có sự tương tác tích cực giữa người dạy và người có học trong một môi trường học tập năng động
Không có phương pháp nào là tuyệt đối trong giảng dạy học tập cộng đồng
Do vậy, việc giảng dạy tại TTHTCĐ, cần sử dụng nhiều phương pháp khác nhau tuỳ theo mục tiêu học tập Vì vậy trong cùng một thời gian cần phối hợp nhiều phương pháp nhằm phát huy ưu điểm cũng như hạn chế tối đa nhược điểm của từng phương pháp Liên kết và phối hợp là phương thức hoạt động chủ yếu của TTHTCĐ Đối tượng đến học tập tại TTHTCĐ là mọi người dân có thể là cá nhân hay một nhóm đại diện cho một tổ chức, thuộc mọi tầng lớp xã hội, mọi trình độ văn hoá từ mù chữ đến sau đại học Họ tham gia các hình thức học tập tuỳ theo nhu cầu cá nhân, cần gì học nấy
1.2.5.3 Hình thức học tập:
Phương thức hoạt động và đối tượng người học phong phú và đa dạng như vậy, nên các hình thức tổ chức hoạt động của TTHTCĐ rất đa dạng, linh hoạt, mềm dẻo để tạo điều kiện tốt nhất cho người học theo các hình thức sau:
Trang 33- Học tập không theo cấp lớp, trình độ văn hoá, lứa tuổi, giới tính: Các buổi nói chuyện; Các lớp học theo chuyên đề; Các lớp tập huấn chuyển giao ứng dụng khoa học,
kỹ thuật, công nghệ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, hướng nghiệp; Hội thảo đầu bờ (tại chỗ); Các hội thảo, trao đổi kinh nghiệm về các chủ đề khác nhau; Các câu lạc bộ; Tham quan thực tế; Tổ chức hội thi, giao lưu văn hoá; Tổ chức triển lãm,…
- Các lớp học theo cấp, lớp, có qui chế chặt chẽ để lấy văn bằng, chứng chỉ như: Các lớp XMC, bổ túc văn hoá, học nghề, ngoại ngữ, tin học…
- Các buổi tư vấn về giáo dục, khuyến học, tự học, giáo dục từ xa, khuyến nông
- lâm - ngư nghiệp với những cá nhân, gia đình hay nhóm dân cư có nhu cầu
Tóm lại, việc học tập ở các TTHTCĐ với nhiều loại đối tượng, đa dạng về nội dung, phong phú về hình thức học tập với mục tiêu cuối cùng là nhằm trang bị cho học viên những kiến thức, thái độ và kỹ năng cần thiết để họ có khả năng nâng cao chất lượng cuộc sống của mình, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của toàn xã hội
1.2.6 Nguồn lực của TTHTCĐ
TTHTCĐ là cơ sở giáo dục không chính quy, ngoài công lập, do dân lập để phục vụ nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc học tập của nhân dân, coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, nhưng ngân sách nhà nước còn rất nhiều khó khăn nên chỉ hỗ trợ một phần, còn nguồn lực chính phải phát huy sức mạnh của cả cộng đồng Việc huy động các nguồn lực phải theo phương thức “xã hội hóa”, không trông chờ vào cấp trên mà phải tận dụng các nguồn lực ngay tại cộng đồng Nguồn lực gồm nhân lực, vật lực, tài lực và tin lực
- Nhân lực:
+ Bộ máy tổ chức: Mỗi TTHTCĐ có thể có một Ban giám đốc gồm đại diện lãnh đạo Đảng, chính quyền, các ban ngành, đoàn thể của xã, phường, thị trấn; đại diện các trường Tiểu học, THCS do Chủ tịch UBND huyện ra quyết định thành lập
+ Giảng viên, giáo viên, hướng dẫn viên: Gồm những người có trình độ, chuyên môn kỹ thuật của các ban ngành, đoàn thể các cấp; cán bộ, kỹ sư, bộ đội,
Trang 34giáo viên đã nghỉ hưu, các cụ cao tuổi, các cựu chiến binh, lão thành cách mạng, các nghệ nhân, người lao động giỏi ở các cơ sở sản xuất, giáo viên các TTGDTX, các trường tiểu học, THCS, THPT, các trường Đại học, Cao đẳng và những người khác
ở địa phương
- Vật lực: có thể tận dụng ngay những cái sẵn có ở địa phương như hội trường
của UBND xã, trụ sở thôn, nhà văn hoá, Có thể mượn, tận dụng CSVC của các trường học trong những ngày nghỉ, và sẽ mua sắm dần
- Tài lực: Nguồn tài chính để xây dựng CSVC, mua sắm trang thiết bị, tài liệu
học tập, bồi dưỡng giảng viên, báo cáo viên, tổ chức các hoạt động của trung tâm được lấy từ các nguồn: Kinh phí ngân sách xã, thị trấn hằng năm được HĐND xã, thị trấn phân bổ; Sự hỗ trợ ban đầu và hằng năm từ ngân sách nhà nước; Kinh phí các chương trình hoặc dự án; Kinh phí tập huấn của các ban, ngành, đoàn thể góp vào; Kinh phí thu từ các hoạt động của trung tâm; Huy động sự đóng góp, tài trợ, giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân,…
* Tin lực: Một nguồn lực không thể thiếu trong TTHTCĐ là thông tin Các thông
tin này có thể tìm kiếm, khai thác ở Internet để phục vụ cho cộng đồng Ngoài ra, trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng có thể khai thác những gương điển hình tiên tiến, những bài học về nâng cao chất lượng cuộc sống, các tin tức về chính trị, xã hội,
1.2.7 Quản lý các TTHTCĐ
1.2.7.1 Khái niệm về quản lý
Quản lý hình thành cùng với sự xuất hiện của loài người Xã hội phát triển qua những phương thức sản xuất khác nhau thì trình độ tổ chức điều hành cũng khác nhau theo chiều hướng càng được nâng lên Ngày nay quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra ở mọi nơi, ở mọi chỗ, mọi cấp và liên quan đến mọi người
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý:
- “Quản lý: 1.Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định 2 Tổ chức
và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”.[28, 742]
Trang 35- “Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của
từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”.[23, 15]
- “ Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, phối hợp các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”.[23, 15]
- “ Hoạt động quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của người quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.[11, 12]
- “ Quản lý mọi hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phù hợp những nỗ lực
cá nhân với tổ chức nhằm đạt được các mục tiêu xác định”.[32, 16]
- “ Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan”.[32, 12]
Từ những quan điểm trên, ta có thể khái quát hoạt động quản lý theo cách hiểu như sau: Quản lý là hoạt động thiết yếu nảy sinh khi con người hoạt động tập thể, là
sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý vào khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức
Qua những định nghĩa trên, ta thấy rõ quản lý có những nét đặc trưng cơ bản
về bản chất của hoạt động quản lý như sau:
- Quản lý gồm hai thành phần: Chủ thể và khách thể quản lý
"Ai quản lý?" đó là chủ thể quản lý Chủ thể quản lý có thể là một người hoặc một tổ chức
"Quản lý ai?", "quản lý cái gì?", "quản lý sự việc gì?" đó là khách thể quản lý Khách thể quản lý có thể là người, tổ chức hay là sự vật cụ thể, cũng có khi khách thể là người, tổ chức được con người đại diện trở thành chủ thể quản lý cấp dưới thấp hơn
- Giữa chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, tương hỗ nhau,
"Chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì sản sinh các giá trị vật chất
Trang 36và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoã mãn mục đích của chủ thể quản lý"[32, 23] Chủ thể quản lý thực hiện các tác động thông qua việc xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch
- Lao động quản lý là một dạng lao động đặc biệt, gắn với lao động tập thể và là kết quả của sự phân công lao động xã hội, nhưng lao động quản lý lại có thể phân chia thành một hệ thống các dạng hoạt động xác định mà theo đó chủ thể quản lý có thể tác động vào đối tượng quản lý Các dạng hoạt động xác định này được gọi là chức năng quản lý Trong mọi quá trình quản lý, người CBQL phải thực hiện một dãy chức năng quản lý kế tiếp nhau một cách lôgíc, bắt đầu từ lập kế hoạch rồi tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện và cuối cùng là kiểm tra đánh giá Quá trình này được tiếp diễn một cách "tuần hoàn" và được gọi là chu trình quản lý Ta có thể hiểu chu trình quản lý gồm các chức năng sau: Lập kế hoạch; Tổ chức; Chỉ đạo; Kiểm tra
Quản lý cần có thông tin nhiều chiều Thông tin là nền tảng của quản lý Do vậy, có thể coi thông tin là chức năng đặc biệt cùng với 4 chức năng đã nêu trên Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý được thể hiện tại sơ đồ sau đây:
Sơ đồ 1.2 Các chức năng cơ bản của quản lý
1.2.7.2 Khái niệm về quản lý giáo dục
Kế hoạch
Chỉ đạo
Thông tin quản lý
Trang 37nhập vào mọi mặt của đời sống; giáo dục đồng nghĩa với sự phát triển Nó là cái hiện hữu vô hình trong mọi sản phẩm vật chất và tinh thần QLGD là sự điển hình nhất vì đây là quản lý con người, quản lý sự hình thành và phát triển nhân cách Sự hình thành và phát triển nhân cách là cái gốc để có dân trí, nhân lực và nhân tài
Một vài định nghĩa về quản lý giáo dục:
- “ Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên
lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”.[29, 22]
- “ Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất”.[33, 85]
- “ Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt đến mục tiêu của nó”.[11, 15]
- QLGD cũng có những chức năng cơ bản là: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá quá trình giáo dục Các chức năng quản lý tạo thành quá trình quản
lý và chu trình quản lý
- Nội dung QLGD là quản lý các yếu tố cấu thành quá trình giáo dục tổng thể, gồm có: Mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, nhà giáo dục, người được giáo dục, kết quả giáo dục, đồng thời quản lý CSVC, thiết bị dạy học, giáo dục, môi trường giáo dục, các lực lượng giáo dục
Tóm lại, quản lý giáo dục là quản lý quá trình sư phạm, quá trình dạy học giáo dục diễn ra ở tất cả các cấp học, bậc học và cơ sở giáo dục, làm cho quá trình đó vận động đúng hướng, đúng đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng và Nhà nước
1.2.7.3.Giải pháp quản lý giáo dục:
- Nói đến giải pháp là nói đến những cách thức tác động nhằm thay đổi, chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhất định…tiến tới nhằm đạt được
Trang 38mục đích hoạt động Giải pháp càng ưu việt, càng giúp con người nhanh chóng giải quyết được những vấn đề đặt ra Tuy vậy, để có được những giải pháp đó, cần phải dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn khách quan, khoa học và chính xác
- Giải pháp QLGD là những cách thức tác động của chủ thể quản lý hướng vào việc giải quyết những vấn đề đặt ra của hệ thống giáo dục, làm cho cả hệ thống
đó vận hành đạt kết quả cao nhất
1.2.7.4 Quản lý TTHTCĐ
- TTHTCĐ là một hình thức giáo dục không chính quy, của dân, do dân, vì dân, do cấp uỷ Đảng chỉ đạo, UBND địa phương đứng ra thành lập và quản lý Như vậy, quản lý TTHTCĐ do UBND xã, phường, thị trấn thực hiện
“ TTHTCĐ do UBND cấp xã quản lý trực tiếp và chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của phòng giáo dục và đào tạo”.[5, 2.]
- Theo nghĩa là quá trình “tổ chức và điều khiển các hoạt động”, quản lý
+ Cách thức tiến hành: Huy động cộng đồng vào việc tổ chức thực hiện
các chương trình; Khuyến khích học viên tham gia các chương trình được tổ chức tại trung tâm; Giám sát việc thực hiện chương trình theo đúng tiến độ; Tổ chức các hoạt động nhằm thắt chặt mối quan hệ giữa cộng đồng với trung tâm
Như vậy, quản lý các TTHTCĐ là một quá trình quản lý cả về CSVC lẫn con người, quá trình tổ chức và điều khiển các hoạt động của TTHTCĐ
1.3 Hiệu quả hoạt động của TTHTCĐ
1.3.1 Hiệu quả hoạt động của TTHTCĐ
Trang 39Hiệu quả là kết quả đích thực Hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ là làm cho người dân ở mọi lứa tuổi được học tập thường xuyên, học tập suốt đời, áp dụng những kiến thức và sáng kiến kinh nghiệm vào sản xuất và đời sống, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người dân và cả cộng đồng
1.3.2 Giải pháp và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ:
Giải pháp là cách giải quyết một vấn đề khó khăn Nói đến giải pháp là nói đến những cách thức tác động nhằm thay đổi , chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhất định, tiến tới nhằm đạt được mục đích hoạt động Giải pháp càng ưu việt, càng giúp con người nhanh chóng giải quyết được những vấn đề đặt
ra Tuy vậy, để có được những giải pháp đó cần phải dựa trên những cơ sở lý luận
và thực tiễn khách quan, khoa học và chính xác
Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ là cách giải quyết những khó khăn, tồn tại và bất cập trong hoạt động của TTHTCĐ nhằm đưa TTHTCĐ hoạt động có hiệu quả; cho mọi người dân ở mọi lứa tuổi được học tập thường xuyên, học tập suốt đời, áp dụng những kiến thức và sáng kiến kinh nghiệm vào sản xuất và đời sống, góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người dân và cả cộng đồng
1.3.3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động của TTHTCĐ:
Hoạt động của TTHTCĐ bên cạnh những thành công, còn có những hạn chế
và bất cập nhất định không tránh khỏi
Hoạt động của các TTHTCĐ ở huyện Can Lộc còn có những tồn tại và bất cập nhất định do chưa có hệ thống giải pháp phù hợp Các cấp, các ngành và ngay các TTHTCĐ còn chưa chú trọng đúng mức đến việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ, từ xây dựng kế hoạch đến quản lý nội dung các chương trình học tập, quản lý tổ chức các hoạt động học tập còn chưa bài bản, khoa học Cán bộ quản lý của một số trung tâm còn lúng túng, thực hiện các chức năng của quản lý giáo dục chưa hiệu quả Tính khoa học và tính khả thi của kế hoạch còn chưa cao vì chưa phối
Trang 40hợp chặt chẽ với các ban ngành, đoàn thể xã hội và chưa thực sự dựa vào thực tế nhu
cầu học tập của người dân ở địa phương Nhu cầu học tập của nhân dân, đặc biệt là
nông dân là rất lớn và đa dạng, trong khi đó các TTHTCĐ mới chỉ đáp ứng được
phần nào, có những nơi còn bộc lộ tính hình thức trong tổ chức học tập, chất lượng
và hiệu quả còn thấp Việc kiểm tra, đánh giá hoạt động của các TTHTCĐ chưa
thường xuyên, chưa kịp thời Các điều kiện đảm bảo cho cán bộ quản lý làm việc,
cho việc tổ chức các hoạt động của TTHTCĐ chưa đáp ứng yêu cầu Vai trò các
trường học trên địa bàn đối với TTHTCĐ còn “mờ nhạt” Chỉ đạo của Phòng GD &
ĐT chưa thực sự sâu sát, thiếu chuyên viên chuyên trách có kinh nghiệm…
Nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ là một đòi hỏi có tính khách
quan nhằm duy trì sự phát triển bền vững TTHTCĐ, đáp ứng yêu cầu phát triển KT
– XH Chính vì vậy, để các TTHTCĐ phát triển đáp ứng nhu cầu học tập thường
xuyên, học tập suốt đời của nhân dân, góp phần nâng cao dân trí và xóa đói giảm
nghèo, thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn thì việc sử dụng các giải
pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ trên địa bàn huyện Can Lộc là
hết sức cần thiết cả trước mắt và lâu dài