1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xu hướng bạo động trong phong trào giải phóng dân tộc ở một số nước đông nam á (từ thế kỷ xix đến đầu thế kỷ xx)

95 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 558,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong công trình này tác giả đã đề cập khá kĩ về quá trình xâm l-ợc của chủ nghĩa thực dân, quá trình chống xâm l-ợc, giải phóng dân tộc của nhân dân ĐNA và sự biến đổi về tình hình kinh

Trang 1

Lời cảm ơn

Để hoàn thành khóa luận này tôi đã nhận đ-ợc sự giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo của thầy giáo Ths Bùi Văn Hào, là ng-ời đã trực tiếp h-ớng dẫn tôi trong thời gian thực hiện khóa luận này Qua đây tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Đồng thời tôi cũng chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Lịch sử tr-ờng Đại học Vinh và bạn bè, ng-ời thân đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận này

Mặc dù đã hết sức cố gắng, nh-ng đây là công trình đầu tiên của bản thân cho nên không thể không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận

đ-ợc sự góp ý và bổ sung của quý thầy cô giáo và bạn bè, ng-ời thân

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Trịnh Thị Nga

Trang 2

Mục lục

Trang

A Mở đầu 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Lịch sử vấn đề 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu đề tài 3

1.4 Ph-ơng pháp nghiên cứu 3

1.5 Bố cục của đề tài 4

B Nội dung 5

Ch-ơng 1: Khái quát quá trình xâm l-ợc và thống trị của thực dân ph-ơg Tây ở một số n-ớc Đông Nam á (từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XX) 5

1.1 Khái quát quá trình xâm l-ợc của thực dân ph-ơng Tây ở một số n-ớc Đông Nam á 5

1.1.1 Tình tình Đông Nam á tr-ớc khi bị thực dân ph-ơng Tây xâm l-ợc 5

1.1.2 Khái quát quá trình xâm l-ợc của thực dân ph-ơng Tây ở một số n-ớc Đông Nam á 13

1.2 Khái quát quá trình thống thị của thực dân ph-ơng Tây ở một số n-ớc Đông Nam á 28

1.2.1 Chính sách cai trị 28

1.2.2 Chính sách bóc lột 32

Tiểu kết ch-ơng 1 37

Ch-ơng 2: Xu h-ớng bạo động trong phong trào chống xâm l-ợc và giải phóng dân tộc ở một số n-ớc Đông Nam á(từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX) 39

2.1 Nguyên nhân xuất hiện hai xu h-ớng: bạo động và cải l-ơng trong phong trào chống xâm l-ợc và giải phóng dân tộc ở Đông Nam á cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX 39

Trang 3

2.2 Các cuộc bạo động do giai cấp nông dân lãnh đạo 43

2.2.1 ở Đông D-ơng 43

2.2.2 ở Inđônêxia 52

2.2.3 ở Philippin 54

2.3 Các cuộc bạo động do giai cấp địa chủ phong kiến lãnh đạo 56

2.3.1 ở Inđônêxia 56

2.3.2 ở Philippin 58

2.3.3 ở Đông D-ơng 59

2.4 Ba lần kháng chiến chống thực dân Anh xâm l-ợc của triều đình phong kiến Miến Điện 72

2.5 Các cuộc bạo động theo khuynh h-ớng dân chủ t- sản 75

2.5.1 ở Philippin 75

2.5.2 ở Đông D-ơng 79

Tiểu kết ch-ơng 2 86

C Kết luận 87

D Tài liệu tham khảo 89

Trang 4

Danh môc ch÷ viÕt t¾t

Trang 5

Hà Lan, Anh, Pháp, Đức, Mĩ…Nh-ng với tinh thần độc lập, tự c-ờng dân tộc, phong trào đấu tranh chống thực dân xâm l-ợc bùng nổ khắp các n-ớc Sau các phong trào chống xâm l-ợc là phong trào giải phóng dân tộc diễn ra hết sức mạnh mẽ để giành lại độc lập cho dân tộc mình Trong các cuộc đấu tranh

đó có sự tham gia của nhiều giai tầng trong xã hội, nh-: nông dân, địa chủ, sĩ phu phong kiến yêu n-ớc, nhà s-, phong trào đấu tranh theo khuynh h-ớng dân chủ t- sản, t- sản, thậm chí sau này có cả phong trào đấu tranh của công nhân

D-ới tác động của hoàn cảnh khu vực và thế giới, cũng giống nh- các n-ớc ở khu vực á- Phi- Mỹ La tinh, trong phong trào đấu tranh chống xâm l-ợc và giải phóng dân tộc ở ĐNA cũng xuất hiện hai xu h-ớng: bạo động và cải l-ơng

Để hiểu rõ hơn lịch sử ĐNA thời kỳ này, chúng ta đi tìm hiểu xu h-ớng bạo động trong phong trào giải phóng dân tộc Việc tìm hiểu xu h-ớng này có

ý nghĩa nhất định về mặt khoa học và thực tiễn Cụ thể là:

-ý nghĩa khoa học: Thông qua việc tìm hiểu xu h-ớng bạo động trong phong trào giải phóng dân tộc ở ĐNA giúp chúng ta hiểu rõ hơn lịch sử phong trào chống xâm l-ợc ở các n-ớc và cắt nghĩa đ-ợc vì sao chỉ có thể đấu tranh giành độc lập bằng ph-ơng pháp bạo động

Trang 6

2

-ý nghĩa thực tiễn: Trong xu thế đa ph-ơng hoá, đa dạng hóa trong quan

hệ đối ngoại, thông qua xu h-ớng bạo động đó để có những chính sách mềm dẻo, phù hợp để vừa có thể đấu tranh, vừa bảo vệ đ-ợc độc lập dân tộc

Trên cơ sở những lý do và ý nghĩa nêu trên, chúng tôi đã chọn đề tài:

“Xu h-ớng bạo động trong phong trào giải phóng dân tộc ở một số n-ớc Đông Nam á (từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX)” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp

1.2 Lịch sử vấn đề

Liên quan đến nội dung đề tài, từ tr-ớc đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả trong và ngoài n-ớc Nh-ng vì điều kiện thời gian, t- liệu, ngoại ngữ còn hạn chế, chúng tôi mới chỉ có dịp tiếp cận với một số công trình, bài viết của các tác giả ng-ời Việt Nam và một số công trình đã đ-ợc biên dịch

Tr-ớc hết cần nhắc đến công trình: “ Lịch sử ĐNA” [2] của D.G.E.Hall Trong công trình này tác giả đã đề cập khá kĩ về quá trình xâm l-ợc của chủ nghĩa thực dân, quá trình chống xâm l-ợc, giải phóng dân tộc của nhân dân

ĐNA và sự biến đổi về tình hình kinh tế- xã hội của các n-ớc tr-ớc sự tác

động của chủ nghĩa thực dân…

Trong công trình nghiên cứu: “ Lịch sử ĐNA” [12] của L-ơng Ninh- Đỗ Thanh Bình- Trần Thị Vinh, các tác giả đã đề cập đến quá trình xâm chiếm các quốc gia ĐNA của chủ nghĩa thực dân ph-ơng Tây, trong đó đã đề cập

đến cuộc đấu tranh tự vệ và giải phóng dân tộc, giành độc lập của các n-ớc này Nổi bật nhất là xu h-ớng bạo động diễn ra ở Inđônêxia, Mã Lai, Xingapo, Philippin, Việt Nam, Lào, Campuchia…

Còn trong công trình nghiên cứu: “ L-ợc sử ĐNA” [23] do Phan Ngọc Liên chủ biên cũng nói đến xu h-ớng bạo động trong phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân ĐNA

Trang 7

3

Ngoài ra vấn đề này còn đ-ợc đề cập đến trong các chuyên khảo lịch sử

về các n-ớc nh-: “ Lịch sử Lào” [18], “ Lịch sử Campuchia” [20], “ L-ợc sử Inđônêxia” [29], “ Đại c-ơng lịch sử Việt Nam, tập II” [5]…

Hơn thế nữa, vấn đề ấy cũng đ-ợc phản ánh qua các bài viết đăng tải trên các tạp chí nghiên cứu ĐNA nh-: “ Tạp chí nghiên cứu Đông Nam á, số 6/2001” , “ Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 1- 6/1995” …

Qua các công trình nghiên cứu nêu trên, chúng tôi thấy rằng: vấn đề mà

đề tài đặt ra mặc dù ít nhiều đã đ-ợc đề cập nh-ng ch-a có công trình nào đề cập đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về xu h-ớng bạo động trong phong trào giải phóng dân tộc ở ĐNA Vì vậy chúng tôi chọn đề tài này làm khoá luận tốt nghiệp

1.3 Phạm vi nghiên cứu đề tài

-Về nội dung: Đề tài tập trung tìm hiểu xu h-ớng bạo động trong

phong trào giải phóng dân tộc ở một số n-ớc Đông Nam á

-Về thời gian: Đề tài tập trung tìm hiểu xu h-ớng bạo động trong phong

trào giải phóng dân tộc ở một số n-ớc Đông Nam á từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX

-Về không gian: Đề tài tập trung tìm hiểu xu h-ớng bạo động trong

phong trào giải phóng dân tộc ở một số n-ớc Đông Nam á

1.4 Ph-ơng pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi dựa vào quan điểm chủ nghĩa duy vật lịch sử Trong quá trình nghiên cứu, chủ yếu sử dụng hai ph-ơng pháp: Ph-ơng pháp lịch sử và ph-ơng pháp lôgic Ngoài ra còn sử dụng một số ph-ơng pháp khác để hỗ trợ nh-: Ph-ơng pháp so sánh, ph-ơng pháp đối chiếu, ph-ơng pháp thống kê,…

Trang 8

4

1.5 Bố cục của đề tài

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của

khoá luận gồm hai ch-ơng:

Ch-ơng 1: Khái quát quá trình xâm l-ợc và thống trị của thực dân

ph-ơng Tây ở một số n-ớc Đông Nam á (từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XX)

Ch-ơng 2: Xu h-ớng bạo động trong phong trào chống xâm l-ợc và

giải phóng dân tộc ở một số n-ớc Đông Nam á (từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX)

Trang 9

5

B Nội dung CHƯƠNG 1 : Khái quát quá trình xâm l-ợc và thống trị của thực dân ph-ơng Tây ở một số n-ớc Đông Nam á

(từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XX)

1.1 Khái quát quá trình xâm l-ợc của thực dân ph-ơng Tây ở một

số n-ớc Đông Nam á

1.1.1 Tình hình Đông Nam á tr-ớc khi bị thực dân ph-ơng Tây xâm l-ợc:

Cũng giống nh- các quốc gia ph-ơng Đông khác, cho đến tr-ớc khi thực dân ph-ơng Tây xâm l-ợc thì về cơ bản chế độ phong kiến ở hầu hết các n-ớc Đông Nam á đã, đang suy tàn và khủng hoảng nghiêm trọng trên mọi ph-ơng diện, từ kinh tế cho đến chính trị, xã hội

Do sự phát triển không đồng đều, do trình độ của mỗi n-ớc có sự chênh lệch nhau nên quá trình khủng hoảng ấy diễn ra không đồng đều nhau giữa các quốc gia về mặt thời gian Sớm nhất là ở Campuchia, bắt đầu từ thế kỷ XIII, Chămpa từ thế kỷ XV, Đại Việt, Miến Điện bắt đầu từ thế kỷ XVI, trong khi đó v-ơng quốc Xiêm, Lan Xang lại đang ở thời kỳ h-ng thịnh Tuy nhiên, tựu trung lại thì đến giữa thế kỷ XIX hầu hết các quốc gia ĐNA khủng hoảng trên nhiều ph-ơng diện:

Tình hình kinh tế:

Do tài liệu viết về ĐNA nói chung tr-ớc thế kỷ XVI còn quá ít nên chúng ta khó có thể hình dung đ-ợc một bức tranh toàn diện về nền kinh tế cổ của vùng này Tuy nhiên, gần đây ng-ời ta dựa vào nhiều nguồn tài liệu khác nhau nh- các văn kiện Trung Hoa, các tác phẩm của Paul Wheatky, O.W.Woltess, và cả Gordon Luce, Louis Malleret…,đặc biệt là những bằng chứng khảo cổ học đã khẳng định rằng: cho đến tr-ớc khi thực dân ph-ơng

Trang 10

Ph-ơng thức canh tác chủ yếu là định canh và du canh Hình thức du canh đ-ợc đặc tr-ng bởi thuật ngữ “ đốn cây và đốt rẫy” [2, 340] Ph-ơng pháp

đ-ợc sử dụng là phát quang một mảnh rừng bằng cách đốn cây, đốt cây để trồng các cây l-ơng thực nh- khoai, ngô, lúa…Một thời gian sau họ chuyển sang một khu vực khác với ph-ơng thức canh tác t-ơng tự Nh-ng áp dụng ph-ơng pháp này chỉ phù hợp với những nhóm ng-ời có trình độ kinh tế- xã hội còn thấp kém ở vùng rừng núi, cao nguyên, vùng sâu trong nội địa

Còn hình thức định canh đ-ợc áp dụng đối với những dân tộc tiên tiến hơn, sống định c- chủ yếu ở đồng bằng và ven biển Ví nh- c- dân ở khu vực sông Hồng của Việt Nam, sông Iraoađi ở Miama, sông Mê Nam ở Thái Lan…

Mặc dù vậy, so với các trung tâm văn minh khác thì cho đến tr-ớc khi thực dân ph-ơng Tây xâm l-ợc, ĐNA vẫn còn nằm trong tình trạng kinh tế nông nghiệp với cây lúa n-ớc là “ một sản phẩm quan trọng nhất” [12, 341] cùng một ph-ơng thức canh tác thô sơ, lạc hậu

ở các quốc gia ĐNA, cho đến tr-ớc khi thực dân ph-ơng Tây xâm nhập thì chế độ quân chủ chuyên chế phong kiến vẫn còn tồn tại, nên về danh nghĩa thì ruộng đất thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà vua Nh-ng trên thực tế đến thời kỳ này, hầu hết ruộng đất vẫn nằm trong tay công xã nông thôn, tức là toàn bộ đất đai đều thuộc về cộng đồng Ngoài những vùng đất thuộc quyền sở hữu công của làng xã thì còn có một bộ phận ruộng đất đ-ợc phong th-ởng cho các v-ơng hầu, quý tộc, quan lại, địa chủ phong kiến để canh tác với ph-ơng thức bóc lột mang tính cổ điển là phát canh thu tô Còn ruộng của các

Trang 11

ĐNA nói riêng, ph-ơng Đông nói chung không đạt đến mức độ điển hình

Cùng với sự phát triển của lịch sử, giai cấp địa chủ ngày càng giàu,

đồng thời ngày càng xuất hiện nhiều địa chủ lớn chiếm hữu rất nhiều ruộng

đất Điều đó cho thấy xu h-ớng sở hữu t- về ruộng đất ngày càng lấn át sở hữu công làng xã Tất cả những điều đó chứng tỏ rằng chế độ ruộng đất ở ĐNA giai đoạn này vẫn còn duy trì và tồn tại nền kinh tế tiểu nông với hình thức bóc lột siêu kinh tế và chịu sự chi phối sâu sắc của chính quyền phong kiến

Một đặc điểm nổi bật của các quốc gia cổ đại ph-ơng Đông nói chung

và ĐNA nói riêng là sự tồn tại dai dẳng của các công xã nông thôn với nhiều tên gọi khác nhau nh- : làng, buôn, bản, m-ờng…Đây là một đơn vị kinh tế

đóng kín mang tính tự cung, tự cấp Mỗi công xã đ-ợc xem nh- một tiểu quốc

và độc lập với nhau Trong tiểu quốc ấy có sự kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế nông nghiệp và thủ công nghiệp Ngoài những nghề tiểu thủ công gia đình nh-: xe sợi, dệt vải, còn có một số chuyên nghề nhất định nh- nghề gốm, làm

ô, dụng cụ gia đình và nông cụ…Cũng có những làng thợ chuyên nghiệp nh- thợ đào mỏ thiếc và vàng, thợ kim khí Một số n-ớc theo đạo Phật có nghề tạc t-ợng Phật Bên cạnh đó, ở một số nơi phát triển về giao thông đ-ờng thuỷ, gần biển nh- ở miền Trung Miến Điện còn phát triển nghề chuyên đóng tàu thuyền

Trang 12

lý thuận lợi do nằm ở gần hai trung tâm lớn là Trung Quốc và ấn Độ Do đó

ĐNA đã trở thành khu vực trung chuyển về th-ơng mại, là nơi gặp gỡ giữa các nhà buôn từ ph-ơng Đông đến và từ ph-ơng Tây sang Hơn nữa ở đây cũng rất giàu nguồn tài nguyên nh-: gỗ quý, h-ơng liệu, hồ tiêu, hồng ngọc và các loại

đá quý khác nh- vàng, ngà voi và khoáng sản

“Buôn bán đ-ợc thực hiện chủ yếu trên cơ sở hàng đổi hàng, nh-ng ở các trung tâm quan trọng hơn, họ dùng các cục kim loại làm tiền” [12, 345]

Các hải cảng chủ yếu nh- óc Eo của Funan, Malắcca và Tuban của Giava đã phát triển quan hệ th-ơng mại rộng rãi Đặc biệt là ở Mã Lai và Inđônêxia từ xa x-a đã là nơi gặp gỡ Đông- Tây Việc buôn bán h-ơng liệu và

hồ tiêu đã làm cho ĐNA có tầm quan trọng đặc biệt, là cầu nối trao đổi giữa Trung Quốc, ấn Độ và ph-ơng Tây

Mặc dù có nhiều điều kiện thuận lợi cho một nền kinh tế hàng hoá phát triển, nh-ng do sự tồn tại của nhà n-ớc quân chủ chuyên chế phong kiến với việc thực thi những chính sách, biện pháp không phù hợp nh-: “ trọng nông ức th-ơng” , “ bế quan toả cảng” hoặc do thói quen của nền sản xuất manh mún chủ yếu mang tính tự cấp, tự túc…Cho nên ở thời kỳ này mặc dù nền kinh tế công th-ơng ít nhiều đã có sự phát triển, mầm mống kinh tế TBCN đã xuất hiện trên một số khu vực nh- ở Xiêm, Mã Lai mà chúng ta nói ở trên nh-ng

nó không thể đáp ứng đ-ợc yêu cầu của thời đại Hay nói cách khác, đó chính

là mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất phong kiến với lực l-ợng sản xuất mới phát triển Cho nên nó làm cho tình hình kinh tế vốn đã trì trệ d-ới chế độ phong kiến lại càng trở nên khủng hoảng trầm trọng hơn Đây cũng chính là

Trang 13

9

điểm khác biệt nổi bật giữa ph-ơng Đông và ph-ơng Tây vào tr-ớc thế kỷ XVI Cũng là chế độ phong kiến đã b-ớc vào giai đoạn suy tàn, khủng hoảng nh-ng ở ph-ơng Tây thì nó tạo điều kiện cho quan hệ sản xuất t- bản chủ nghĩa phát triển t-ơng đối mạnh mẽ, còn ở ĐNA thì hoàn toàn ng-ợc lại, nền kinh tế càng lạc hậu, què quặt

Trong nhà n-ớc ấy, vua nắm trong tay cả v-ơng quyền và thần quyền

“Nhà vua là trụ cột của tổ chức nhà n-ớc, là cội nguồn của quyền lực và nắm mọi quyền lực” [2, 356] Nhà vua nắm mọi quyền hành quyết định chính sách

đối nội và đối ngoại, bổ nhiệm và cắt chức các quan lại, trừng phạt và ân xá, huỷ bỏ các đạo luật…Bên cạnh đó chế độ chuyên chế còn duy trì hàng mớ pháp luật, quy tắc, tập quán phong kiến tích luỹ hàng thế kỷ hết sức hỗn độn

và phức tạp, chứa đầy mâu thuẫn

Tuy nhiên, về cơ bản chế độ phong kiến đã và đang suy tàn và khủng hoảng nghiêm trọng Mâu thuẫn cơ bản trong xã hội giữa địa chủ phong kiến với nông dân vốn đã tồn tại từ lâu, ngày càng trở nên sâu sắc và không thể

điều hòa đ-ợc nữa Do đó nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân đã nổ ra ở khắp mọi nơi Ngay trong nội bộ giai cấp thống trị cũng diễn ra sự phân biệt, tranh giành quyền lực lẫn nhau khiến cho nền thống trị cũng ngày càng suy giảm

Điều này đ-ợc thể hiện rõ trong lịch sử Campuchia thời kỳ Ăngkor đ-ợc coi

là thời kỳ “ không tiền khoáng hậu” ở Xiêm thì chia làm ba tiểu quốc là Lan

Xa (phía Bắc), Sukhôthay (miền Trung) và Ayuthaya (ven biển phía Nam) Còn ở Lan Xang có thể chế độ phong kiến ấy khủng hoảng vào thời gian 1353 hoặc 1357

Trang 14

Có thể thấy, do điều kiện ở mỗi quốc gia không giống nhau và xu h-ớng phát triển, mở rộng của các quốc gia cũng khác nhau nên sự suy thoái của chế độ phong kiến ở đây cũng không đồng đều nhau và nhanh hơn cả là ở Lan Xang

Hơn nữa, do cả các cuộc tranh chấp, thôn tính lẫn nhau giữa các quốc gia đã khiến cho nền kinh tế, chính trị càng bất ổn, suy thoái trầm trọng Hệ quả của nó là làm cho các quốc gia ĐNA càng suy yếu, tiềm lực của quốc gia không đủ sức để đảm bảo những yêu cầu về kinh tế- xã hội ngày càng gia tăng Đây chính là nguyên nhân quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho các n-ớc ph-ơng Tây xâm l-ợc Hay nói cách khác thì trong hoàn cảnh ấy, sự xâm nhập và xâm l-ợc của thực dân ph-ơng Tây vào ĐNA là một tất yếu

Tình hình xã hội:

Tr-ớc khi thực dân ph-ơng Tây xâm l-ợc, về cơ bản thì ở hầu hết các n-ớc ĐNA đều đang duy trì các hình thức, các tổ chức xã hội mang tính chất phong kiến đơn thuần Đó là sự tồn tại của chế độ công xã nông thôn– cơ sở của chế độ phong kiến Tuy nhiên, tr-ớc sự khủng hoảng của nền kinh tế chủ

đạo là nông nghiệp và sự xuất hiện của mầm mống kinh tế TBCN nh-ng không có điều kiện phát triển thì xã hội phong kiến đơn thuần ấy đang rơi vào tình trạng suy tàn và khủng hoảng

Trong xã hội phong kiến ở ĐNA tồn tại hai giai cấp cơ bản là giai cấp thống trị gồm vua, quý tộc, tăng lữ, địa chủ có mọi đặc quyền, đặc lợi và bóc lột các giai cấp khác trong xã hội D-ới đó là giai cấp nông dân chiếm số l-ợng đông đảo (90% dân số), là lực l-ợng chính làm ra mọi của cải trong xã

Trang 15

11

hội nh-ng đời sống lại vô cùng khổ cực, chịu nhiều áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị Ngoài các loại thuế khóa phải nộp, họ còn phải lao dịch cho nhà n-ớc…Một tầng lớp khác bị bóc lột nặng nề nữa là nô lệ Tầng lớp này chiếm

vị trí t-ơng đối ít, hầu nh- không đóng vai trò quan trọng trong xã hội Nô lệ phần lớn đ-ợc sử dụng vào các công việc phi sản xuất nh- hầu hạ trong các gia đình giàu có, trong cung vua và một bộ phận đ-ợc sử dụng trong các x-ởng thủ công, các công trình kiến trúc Vì vậy có thể gọi chế độ nô lệ ấy là chế độ “ nô lệ gia tr-ởng” , khác với chế độ “ nô lệ phổ biến” ở ph-ơng Tây

Nh-mg tựu trung lại thì trong xã hội ĐNA bấy giờ chủ yếu là tồn tại mối quan hệ giữa địa chủ- nông dân Đây cũng chính là mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Mâu thuẫn giai cấp này xuất hiện và ngày càng trở nên gay gắt Không còn đ-ờng sống, nhân dân, tr-ớc hết là nông dân đã nổi dậy khởi nghĩa Những cuộc khởi nghĩa nông dân vừa là kết quả, vừa là nguyên nhân góp thêm đẩy chế độ phong kiến, nhà n-ớc phong kiến suy yếu nhanh hơn

Đây chính là điều kiện thuận lợi để thực dân ph-ơng Tây tiến hành những cuộc chiến tranh xâm l-ợc biến các n-ớc ĐNA thành thuộc địa

Minh chứng rõ nhất mà ta thấy là ở Philippin Cho đến tr-ớc khi thực dân ph-ơngTây xâm l-ợc, hầu hết các quốc gia ĐNA đang suy tàn, khủng hoảng, một số n-ớc đang trên đà phát triển nh-ng chỉ duy nhất ở Philippin là

đang duy trì những tàn d- của xã hội nguyên thuỷ, tức là tồn tại chế độ thủ lĩnh ở giai đoạn phong kiến sơ kỳ Tình hình đó càng dễ dàng để ph-ơng Tây xâm l-ợc quốc gia này Cho nên có thể nói quá trình hình thành chế độ phong kiến ở Philippin đồng hành với quá trình xâm l-ợc của thực dân ph-ơng Tây (cụ thể là Tây Ban Nha)

Tình hình văn hoá:

Đến giai đoạn này, những giá trị văn hoá truyền thống của ĐNA đang

đứng tr-ớc một thách thức bởi sự tác động của văn hoá ph-ơng Tây Hay nói cách khác, bên cạnh nền văn hoá truyền thống là văn hoá lúa n-ớc, văn hoá

Trang 16

Đối với ảnh h-ởng của ấn Độ ta thấy, thuật ngữ “ Hinđu hoá” nhìn chung đ-ợc các học giả sử dụng để chỉ tác động của nền văn hoá ấn Độ đối với ĐNA” [12, 31] Các quốc gia nh- Miến Điện, Thái Lan, Campuchia và Lào chịu sự chi phối của dòng phật giáo Tiểu thừa (từ thế kỷ XIII) Dòng Phật Tiểu thừa này đơn giản, không đòi hỏi có một tăng đoàn để duy trì các ngôi chùa

đắt tiền và lễ nghi phức tạp Những ng-ời truyền giáo đạo này là các nhà s- chủ tr-ơng khổ hạnh, sống ẩn dật, thiền định và quyết tâm sống một cuộc đời nghèo khổ và tận tuỵ quên mình Khác với hệ thống tôn ti ở thủ đô, các tu sĩ này có quan hệ trực tiếp với nhân dân và họ đã phá bỏ hoàn toàn quốc giáo cũ

và tất cả những gì liên quan đến nó Do vậy chùa Phật mọc lên rất nhiều Ngôi chùa là nơi thờ cúng các vị Phật, đồng thời cũng là trung tâm văn hoá tâm linh, là hình t-ợng chân- thiện- mỹ đối với c- dân ĐNA

Còn riêng ở Việt Nam, vừa chịu ảnh h-ởng của Phật giáo Đại thừa, lại vừa chịu ảnh h-ởng sâu sắc của các tr-ờng phái t- t-ởng Trung Hoa, trong đó tiêu biểu là nho giáo Khổng- Mạnh với hệ t- t-ởng Tam c-ơng- Ngũ th-ờng

Do vậy, không phải ngẫu nhiên ở Việt Nam, Nho giáo đã trở thành hệ t- t-ởng chính thống trong giai đoạn này, là công cụ để bảo vệ chế độ phong kiến và duy trì trật tự xã hội

Từ thế kỷ XIII c- dân Arập, ấn Độ cũng vào khu vực ĐNA để buôn bán nên Đạo Hồi cũng bắt đầu đ-ợc truyền bá vào khu vực này mà tr-ớc hết là ở

Trang 17

13

các n-ớc hải đảo Do đó từ cuối thế kỷ XIV sang thế kỷ XV xuất hiện nhiều tiểu quốc Hồi giáo ở ĐNA nh- Mã Lai và Inđônêxia

Nh- vậy, trên cơ sở tiếp thu ảnh h-ởng của văn hoá bên ngoài, c- dân

ĐNA đã biết lựa chọn những yếu tố phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của khu vực rồi kết hợp với nền văn hoá bản địa tạo ra một nền văn hoá phong phú nh-ng vẫn mang đậm bản sắc riêng của khu vực, đồng thời có những nét độc

đáo mang tính đặc tr-ng của từng quốc gia, dân tộc Do đó về cơ bản ta thấy nền văn hoá ĐNA vẫn mang xu h-ớng đóng kín ch-a v-ợt khỏi khuôn khổ của chế độ phong kiến Vì vậy nó cũng là một trong những nhân tố khiến cho chế độ phong kiến vốn đã, đang khủng hoảng ngày càng suy tàn và khủng hoảng hơn

Nói tóm lại, cho đến tr-ớc khi thực dân ph-ơng Tây xâm l-ợc, cả về kinh tế- chính trị- văn hoá- xã hội của các quốc gia ĐNA đều có sự biến đổi

và biến đổi sâu sắc Cùng với sự tồn tại của nền kinh tế mang tính tự cấp, tự túc là một thể chế chính trị– xã hội đang trong giai đoạn trì trệ và khủng hoảng Trong xã hội, mâu thuẫn giai cấp nổi lên ngày càng sâu sắc Thêm vào

đó là một nền văn hoá phong kiến đã kìm hãm sự giao l-u của nền văn hoá mới với những t- t-ởng tiến bộ Tất cả những điều đó làm cho bức tranh chung của ĐNA hết sức phức tạp Trong khi ở thời điểm này nhiều n-ớc ở Âu-

Mĩ đã hoàn thành những cuộc cách mạng t- sản để b-ớc vào giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Nhu cầu cấp bách là thị tr-ờng đặt ra một cách bức thiết buộc

họ phải đi tìm, mở rộng, chinh phục ra những vùng đất mới ở Châu á, Châu Phi và Mỹ La tinh Những điều kiện thuận lợi ấy khiến cho việc xâm l-ợc của các n-ớc ph-ơng Tây ở ĐNA là điều không thể tránh khỏi

1.1.2 Khái quát quá trình xâm l-ợc của thực dân ph-ơng Tây ở một

số n-ớc Đông Nam á:

Nh- ở phần trên chúng ta vừa tìm hiểu là vào thời kỳ cận đại, ph-ơng

Đông nói chung và các quốc gia ĐNA nói riêng rơi vào tình trạng trì trệ, bảo

Trang 18

14

thủ Do đó đã xuất hiện thuyết “ Châu Âu là trung tâm” cho rằng các n-ớc t- bản ph-ơng Tây đã đóng vai trò là “ ng-ời khai hoá” cho các dân tộc lạc hậu ph-ơng Đông Đó là một quan niệm hoàn toàn sai lầm vì mục đích chỉ để phục vụ cho chính sách thực dân của các n-ớc t- bản ph-ơng Tây

Theo các nguồn tài liệu ghi chép đ-ợc chúng ta có thể nhận định rằng: quá trình xâm nhập, xâm l-ợc của thực dân ph-ơng Tây bắt đầu từ sự giao l-u tiếp xúc rất tự nhiên, đó là truyền đạo và buôn bán Tuy nhiên về sau những việc làm ấy đã vô tình kích thích ham muốn chiếm đoạt của t- bản thực dân ph-ơng Tây ở khu vực này Cũng theo nguồn tài liệu còn l-u giữ đ-ợc thì các nhà nghiên cứu đã xác định: ng-ời Châu Âu đầu tiên có mặt ở ĐNA là Marcô Pôlô Ông đã đến Trung Quốc vào “ năm 1275, đ-ợc Hốt Tất Liệt đón tiếp tại

“Cung Th-ợng” ở X-ơng Đô”[12, 363] Trong suốt 17 năm l-u lại Trung Quốc, ông đã đ-ợc triều đình tuyển dụng làm sĩ quan tình báo và đ-ợc phái đi công cán ở những nơi xa Cụ thể là ông đã từng đặt chân đến Miến Điện, Lào, Inđônêxia, Đại Việt và Chămpa…

Tiếp đó, vào khoảng thời gian tr-ớc khi đoàn của Marco Pôlô bắt đầu cuộc hành trình từ Trung Quốc về n-ớc, một vị linh mục thuộc dòng Francis tên là Jonh Monte Corvino đã bắt đầu đi sang Bắc Kinh với hy vọng cải đạo Hốt Tất Liệt sang đạo Cơđốc Sau đó ông đã đến quần đảo Inđônêxia vào năm

Trang 19

15

Bên cạnh đó, trong thời gian này còn có hai vị linh mục khác là Jordanus và Jonh Marignôlli với tác phẩm: “ Những kỳ quan của ph-ơng

Đông” Qua tác phẩm cho biết hai ông đã từng đặt chân đến ấn Độ vào năm

1330, trong đó có tới một số vùng Châu á khác nh- đảo Giava, Xumatra, Chămpa

ít lâu sau, vào giữa thế kỷ XIV, ng-ời Châu Âu tiếp theo đến ĐNA không phải là một nhà truyền giáo mà là một ng-ời đi thăm dò khả năng buôn bán, một ng-ời thuộc một gia đình quý tộc ở Venetian (ý) tên là Nicolo de Conti Ông đã đi khắp ph-ơng Đông trong thời gian 25 năm và trở về n-ớc năm 1444 Những địa điểm ông đã từng có mặt ở đây là: Xumatra, Giava, Miến Điện…

Sau hoạt động của th-ơng nhân Conti thì một loạt các th-ơng nhân khác cũng lần l-ợt v-ợt biển sang khu vực này vào các thế kỷ XV, XVI là Hieronomo de Santo Stefano (1496) và Luctovico de Varthema (1502)

Nh- vậy, có thể nói từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XV đ-ợc coi là nền tảng cơ sở đặt nền móng cho các n-ớc thực dân ph-ơng Tây tiến hành quá trình xâm nhập mạnh mẽ ở ĐNA Hay nói cách khác là kết thúc thế kỷ XV, lịch sử

đã “ chuyển từ thời đại những ng-ời hoang dã thời trung cổ sang thời đại của những tên c-ớp biển Bồ Đào Nha” [12, 374]

Sự kiện đánh dấu b-ớc chuyển ấy là vào năm 1511, th-ơng nhân Bồ

Đào Nha đã tìm ra con đ-ờng sang ph-ơng Đông qua phát kiến địa lý Họ đã

đến đ-ợc vùng Tây ấn và mở nhiều th-ơng điếm ở đây để buôn bán Từ đó, họ

mở rộng ra một số địa bàn khác ở ĐNA Có thể nói, sự kiện năm 1511- Bồ

Đào Nha chính thức nổ súng tấn công xâm l-ợc Malăcca do nhận thấy tầm quan trọng của khu vực này đã mở đầu cho quá trình xâm l-ợc của thực dân ph-ơng Tây ở ĐNA

Trang 20

16

Đồng thời với ng-ời Bồ Đào Nha là ng-ời Tây Ban Nha cũng đến khu vực này, đầu tiên là Côlômbô Nh-ng thành công nhất là đoàn thám hiểm của Magienlăng Với quyết tâm chia phần trong việc buôn bán h-ơng liệu, nên vào tháng 2- 1524 một đoàn thuỷ thủ của Tây Ban Nha đã từ Mêhicô v-ợt biển trinh sát đến quần đảo này do Ruylopez de Villabos đứng đầu cuộc viễn chinh nh-ng hầu nh- không thu đ-ợc kết quả gì Tuy nhiên ông ta chính là ng-ời lấy tên Philip (con trai hoàng đế Chorles V) để đặt tên cho quần đảo là Philippin

Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ XVI, trung tâm kinh tế Châu Âu đã chuyển dần từ biển Địa Trung Hải lên ven bờ Bắc Hải nên Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha dần suy yếu Trong khi đó ng-ời Hà Lan và ng-ời Anh đã có nhiều tiến

bộ trong việc phát triển kĩ thuật do đã hoàn thành cách mạng t- sản Vì vậy,

để cạnh tranh với Bồ Đào Nha, Anh và Hà Lan đã thành lập ra “ công ty Đông ấn” vào năm 1600 và năm 1602 Mặc dù vậy, hai công ty này cũng luôn luôn cạnh tranh, gây sức ép để loại trừ dần ảnh h-ởng của nhau Cuối cùng, với thế mạnh của mình, ng-ời Hà Lan đã đánh bật Bồ Đào Nha ra khỏi Malăcca và xâm l-ợc Inđônêxia Nh-ng sự cực thịnh của Hà Lan cũng không thể kéo dài lâu đ-ợc cho đến khi Anh v-ơn lên đánh chiếm Malăcca của Hà Lan rồi tiếp tục tiến hành chinh phục các tiểu quốc của bán đảo Mã Lai và Miama Ngay sau đó là thực dân Pháp tiến vào xâm l-ợc ba n-ớc Đông D-ơng và cạnh tranh quyết liệt với Anh Thêm nữa là đế quốc Mĩ cũng nhân cơ hội để nhảy vào khu vực này vào đầu thế kỷ XIX

Nh- vậy, về cơ bản cho đến cuối thế kỷ XIX, thực dân ph-ơng Tây đã hoàn thành quá trình xâm l-ợc của mình ở ĐNA Để đạt đ-ợc mục đích của mình nhằm biến ĐNA thành n-ớc thuộc địa, phụ thuộc hoặc thuộc địa nửa phong kiến, thực dân ph-ơng Tây đã không từ một thủ đoạn hèn hạ nào: từ biện pháp nhẹ nhàng, mềm dẻo ban đầu là truyền giáo cho đến những biện pháp cứng rắn nh- dùng vũ lực, lợi dụng tôn giáo, dân tộc, sắc tộc, thực thi chính sách “ chia để trị” và mua chuộc nhằm biến các n-ớc ĐNA thành nơi

Trang 21

ấn Độ Các công ty này thực hiện chính sách “ vừa buôn bán, vừa ăn c-ớp”

Nó đ-ợc xem nh- là một “ nhà n-ớc con” với bộ máy chính quyền và quân đội

đầy đủ

Nh-ng nhìn chung, thời điểm mà các n-ớc ĐNA trở thành thuộc địa của thực dân ph-ơng Tây khác nhau Quá trình chinh phục của thực dân ph-ơng Tây trải qua một thời gian dài, các n-ớc thực dân không thể đánh nhanh nh- họ mong muốn bởi do cuộc kháng cự của các dân tộc ở đây Có những nơi thực dân phải trải qua một cuộc chinh phục kéo dài trên d-ới ba thế

kỷ mới hoàn thành nh- ở Inđônêxia hay Miến Điện Song có những khu vực chỉ ch-a đầy một nửa thế kỷ, công cuộc chinh phục đã hoàn thành nh- cuộc chinh phục của Pháp ở Đông D-ơng Rõ ràng quá trình xâm l-ợc của thực dân diễn ra không đồng đều, đa dạng và phức tạp Công cuộc xâm l-ợc của các tên thực dân ở ĐNA có những nét chung, đủ ph-ơng thức, thủ đoạn nh- ngoại giao, buôn bán, truyền giáo, khống chế chính trị rồi dùng vũ lực thôn tính Nh-ng mặt khác, mỗi tên thực dân nh- vậy cũng có những nét riêng, mang

đặc tr-ng của từng n-ớc Cụ thể là:

Quá trình xâm l-ợc Philippin của Tây Ban Nha:

Với nguồn lợi khổng lồ thu đ-ợc từ việc buôn bán h-ơng liệu nh- một liều thuốc kích thích lòng ham muốn th-ơng nhân Tây Ban Nha cho thuyền rẽ sóng về ph-ơng Đông Bởi từ lâu cả ng-ời Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đều biết về ph-ơng Đông giàu có qua những câu chuyện đ-ợc ghi chép, truyền tụng, sau này đ-ợc công bố d-ới nhan đề “ Du kí” của Marco Pôlô…Ph-ơng

Trang 22

từ Mêhicô qua Thái Bình D-ơng đến xâm l-ợc quần đảo Tuy nhiên trong lần này do bị c- dân bản địa phản kháng quyết liệt nên âm m-u xâm l-ợc Philippin của Tây Ban Nha không thành công Nh-ng chính trong lần này, con của Villalobos đã lấy tên thái tử Philip đặt tên cho Philippin

Mặc dù bị thất bại trong âm m-u xâm l-ợc Philippin nh-ng Tây Ban Nha vẫn không từ bỏ âm m-u của mình Do đó vào năm 1564 chính phủ Tây Ban Nha lại phái Lơgatspi lãnh đạo đội quân viễn chinh sang Philippin lần hai Cuộc chiến tranh ăn c-ớp tàn ác đã diễn ra Nhân dân Xêbu đã chiến đấu rất anh dũng Nh-ng cuối cùng do -u thế mạnh hơn về vũ khí, lực l-ợng, tổ chức, cuối cùng Tây Ban Nha cũng chiếm đ-ợc đảo Xêbu (1565), rồi sau đó làm chủ cả Manila (1571) Tuy nhiên để có đ-ợc thành công ấy, chính quyền Tây Ban Nha cũng phải mất một thời gian khá lâu Và đến năm 1572, thực dân Tây Ban Nha đã cơ bản làm chủ đ-ợc quần đảo này và nó cũng là mốc đánh dấu sự hoàn thành quá trình xâm l-ợc Philippin của Tây Ban Nha Từ đây chế độ thuộc địa của Tây Ban Nha ở Philippin kéo dài hơn 300 năm

Bên cạnh Tây Ban Nha, trong quá trình xâm l-ợc Philippin còn có một tên thực dân nữa là Mĩ Cuộc chiến tranh Mĩ- Tây Ban Nha (1898) là cuộc

Trang 23

Từ thế kỷ XVI, trên đất n-ớc Inđônêxia, ng-ời Châu Âu đã có mặt ở

đây, mà n-ớc đầu tiên là Bồ Đào Nha Tr-ớc khi Bồ Đào Nha đến Inđônêxia thì trên quần đảo này đã diễn ra cảnh buôn bán tấp nập và êm ả giữa ng-ời bản

địa với ng-ời Trung Quốc, ấn Độ, Ba T- về những sản vật quý nh- trầm h-ơng, hồ tiêu, đinh h-ơng, vàng, bạc…Nh-ng ngay sau khi Bồ Đào Nha đặt chân đến đây thì cảnh buôn bán yên bình ấy đ-ợc thay thế bằng những mâu thuẫn, căng thẳng và đổ máu Sự kiện đánh dấu đầu tiên là Bồ Đào Nha đánh chiếm Malăcca vào năm 1511 Năm sau, họ đã xây dựng th-ơng điếm trên đảo Ambon ở Mêluku- quần đảo h-ơng liệu ở phía đông Inđônêxia Đến năm

1592, bằng thủ đoạn ngoại giao, ng-ời Bồ Đào Nha đã xây dựng pháo đài ở Tecnat và nắm độc quyền mua bán h-ơng liệu ở đây Trên cơ sở đó họ tỏa ra tiến hành chiến tranh, chiếm các bộ lạc, đồng thời buôn bán nô lệ một cách dã man

Nh-ng sự độc quyền của Bồ Đào Nha ở Inđônêxia không kéo dài lâu

đ-ợc khi ng-ời Tây Ban Nha có mặt ở đây vào năm 1521 Năm 1522 ng-ời Tây Ban Nha đến Môlucku, lên đảo Tiđo và lập trạm buôn bán ở đây Ng-ời Tây Ban Nha đã lợi dụng sự mâu thuẫn giữa các bộ lạc địa ph-ơng nh- mâu thuẫn giữa ng-ời của đảo Tecnat với ng-ời của đảo Tiđo để trục lợi, đẩy mâu thuẫn của họ sang phía Bồ Đào Nha Cuộc đấu tranh giành quyền khống chế trên các đảo nh- Técnat, Tiđo, Ambon giữa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha kéo dài hơn nửa thế kỷ Cuối cùng mâu thuẫn đ-ợc giải quyết bằng sự thoả hiệp:

“ng-ời Bồ bồi th-ờng cho ng-ời Tây Ban Nha một số tiền và vàng, còn Tây Ban Nha chuyển sang hoạt động ở Philippin” [31, 387]

Trang 24

20

Kế tiếp Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là thực dân Hà Lan cũng xuất hiện trên quần đảo Inđônêxia Nói đến Hà Lan thì chúng ta biết rằng sau cuộc cách mạng t- sản vào năm 1566, CNTB ở Hà Lan phát triển mạnh mẽ, Hà Lan trở thành một c-ờng quốc th-ơng mại ở Châu Âu Từ đó họ tham gia vào việc tranh giành buôn bán h-ơng liệu từ tay Bồ Đào Nha Cuộc cạnh tranh làm chủ Inđônêxia giữa ng-ời Hà Lan và ng-ời Bồ Đào Nha trở nên quyết liệt và cuối cùng kết thúc bằng sự thất bại lớn của ng-ời Bồ Đào Nha vào năm 1603

Sở dĩ ng-ời Hà Lan thắng thế ở Inđônêxia là do đã có một số lợi thế khiến họ v-ợt xa bất kì một đối thủ nào lúc bấy giờ, kể cả Anh sau này Đó là

do lúc đầu th-ơng nhân Hà Lan với t- cách là những kẻ môi giới, vận chuyển hàng hoá, thổ sản của ph-ơng Đông từ Bồ Đào Nha sang Châu Âu Hoạt động

đó đã giúp họ “ có những kinh nghiệm về nghề làm trung gian mà ít ai có thể bì kịp” Hơn nữa, các ph-ơng pháp tài chính của ng-ời Hà Lan là ph-ơng pháp tiên tiến nhất Châu Âu và họ đã có một l-ợng vốn luân chuyển lớn khiến ngay

từ đầu họ đã có lợi thế rất trội

Lúc đầu, các th-ơng nhân Hà Lan đã tổ chức ra nhiều công ty buôn bán

để đi về ph-ơng Đông, mà sự ra đời ồ ạt của các công ty Hà Lan đ-ợc gọi là

“thời kỳ đi biển một cách bừa bãi” [2, 451] “Hầu nh- không có hải cảng nào

có tầm quan trọng của ĐNA mà các tàu của ng-ời Hà Lan không viếng thăm” [2, 451]

Nh-ng để công cuộc chinh phục và buôn bán có hiệu quả hơn, Hà Lan

đã tổ chức lại các công ty của mình Do đó vào năm 1602, công ty Đông ấn

Độ của Hà Lan đã đ-ợc thành lập (V.O.C) Công ty đ-ợc chính phủ giao cho toàn quyền buôn bán với ph-ơng Đông, ký các hiệp -ớc liên minh với n-ớc ngoài, tổ chức quân đội, tổ chức cai trị…Nói chung công ty có quyền nh- một nhà n-ớc

Thông qua việc buôn bán với các v-ơng quốc địa ph-ơng đã thúc đẩy tham vọng độc quyền con đ-ờng buôn bán h-ơng liệu tới Châu Âu đã buộc

Trang 25

Sau khi Giacacta rơi vào tay Hà Lan, Bantan trở thành mục tiêu tiếp theo của họ bởi đây đ-ợc coi là yết hầu của con đ-ờng thông th-ơng tới Trung Quốc và Đông D-ơng, Giava sẽ thành nơi có nhiều cảng lớn Chiếm đ-ợc vùng này sẽ khống chế đ-ợc con đ-ờng buôn bán với nhiều n-ớc ph-ơng

Đông, thu đ-ợc nhiều lợi nhuận

Tiếp đến là cuộc chinh phục hai v-ơng quốc Mataram và Bantam Đến giữa thế kỷ XVII, Hà Lan đã kiểm soát đ-ợc cả vùng Đông Inđônêxia Cùng thời điểm ấy Mataram bị suy yếu, vua Amangkurat I lên ngôi nổi tiếng bạo ng-ợc Do đó nhân dân đã nổi dậy khởi nghĩa khắp nơi d-ới sự chỉ huy của Tơrunô Giêgiô Lúc đầu V.O.C của Hà Lan định lợi dụng cuộc khởi nghĩa này

để trục lợi, nh-ng đã bị cự tuyệt Về sau Hà Lan tìm cách khoét sâu mâu thuẫn giữa Mataram và Bantam để chinh phục hai v-ơng quốc này Do đó, tr-ớc sức

ép của Hà Lan, vào năm 1743 Hồi v-ơng Mataram phải ký hiệp -ớc công nhận toàn quyền của Hà Lan Và đến giữa thế kỷ XVIII, ng-ời Hà Lan đã thành công trong việc làm suy yếu Mataram rồi tiến tới thu phục hai v-ơng quốc này và chinh phục nhiều đảo khác Về cơ bản, đến cuối thế kỷ XIX Hà Lan đã hoàn thành quá trình xâm l-ợc quần đảo Inđônêxia

Nhìn lại tình hình thế giới trong thời gian này là sự v-ơn lên mạnh mẽ của thực dân Anh Thực ra thực dân Anh cũng đã quan tâm đến buôn bán ở ph-ơng Đông từ lâu, nh-ng lúc đầu do gặp phải một số khó khăn nên thực dân

Trang 26

22

Anh ch-a đến khu vực này, mà mãi đến đầu thế kỷ XVIII, khi t- bản công nghiệp Anh tiến lên v-ợt Hà Lan thì chúng mới nhảy vào thay thế dần ảnh h-ởng của Hà Lan

Sau cuộc chiến tranh Anh – Hà Lan lần thứ t- (1780- 1784), uy lực của V.O.C không còn nữa Ng-ời Anh đã chiếm các cơ sở của Hà Lan ở Tây Xumatra, Anh đ-ợc tự do đi lại buôn bán ở Inđônêxia Vào năm 1800, ng-ời Anh bắt đầu tấn công Hà Lan để chiếm Inđônêxia Đến năm 1811, ng-ời Anh

đã chiếm đ-ợc hầu hết các vị trí của Hà Lan ở Inđônêxia và thiết lập chính quyền cai trị của mình ở đây từ năm 1811- 1815

từ lâu Lúc đầu chỉ là những hoạt động truyền đạo và buôn bán nh-ng những việc làm ấy đã vô tình kích thích ham muốn chiếm đoạt của Pháp

Đối với Việt Nam: Vào giữa thế kỉ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam

d-ới sự trị vì của triều đình nhà Nguyễn lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng, bế tắc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Do đó nó trở thành những bất lợi lớn cho vị thế của Đại Nam trong mối quan hệ với các n-ớc bên

ngoài mà trực tiếp là đối với các n-ớc ph-ơng Tây, trong đó có Pháp

Tr-ớc tình hình ấy, Pháp đã nhảy vào Việt Nam và ngày 31/8/1858 Pháp đã tập trung quân tại bán đảo Sơn Trà- Đà Nẵng Sự khởi đầu công cuộc xâm l-ợc của thực dân Pháp ở bán đảo Sơn Trà đ-ợc xem giống nh- điểm xuất phát mà thực dân Anh đã lấy Malăcca để chinh phục Mã Lai và Inđônêxia và Tây Ban Nha lấy Xêbu để xâm chiếm Philippin Tuy nhiên, âm m-u của Pháp

Trang 27

23

khi đánh Đà Nẵng không thành công buộc chúng phải rút lui, không thực hiện

đ-ợc âm m-u đánh nhanh, thắng nhanh Do đó chúng đã chuyển sang đánh chiếm Gia Định và chiếm đ-ợc thành Mặc dù tinh thần kháng Pháp của nhân dân Nam Kỳ diễn ra mạnh mẽ nh-ng Pháp đã nắm đ-ợc điểm yếu của triều

đình Huế Do vậy Pháp đã mở rộng chiến sự ở đây và xâm chiếm ba tỉnh miền

Đông: Định T-ờng, Biên Hoà và Vĩnh Long (từ giữa năm 1861- 1862) Triều

đình Huế không dám phản công, đã phản bội nhân dân kí với Pháp hiệp -ớc Nhâm Tuất (5/6/1862) Hiệp -ớc có 12 điều khoản, trong đó có những khoản chính nh-: “ Triều đình Nguyễn phải nh-ợng hẳn cho Pháp ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ và đảo Côn Lôn, mở ba cửa biển: Đà Nẵng, Ba Lạt và Quảng Yên, cho th-ơng nhân Pháp- Tây Ban Nha vào tự do buôn bán và phải bồi th-ờng

20 triệu quan” [5, 26]

Sau khi chiếm đ-ợc ba tỉnh miền Đông, thực dân Pháp đã mở rộng phạm vi chiếm đóng, và đến tháng 6/1867 “ Nam Kỳ lục tỉnh” đã rơi vào tay thực dân Pháp Để từ đó chúng có điều kiện củng cố lực l-ợng, lập bộ máy cai trị làm bàn đạp xâm l-ợc toàn bộ lãnh thổ n-ớc ta ở giai đoạn sau

Sau khi mất Nam Kỳ lục tỉnh nh-ng triều đình Huế vẫn không có những chủ tr-ơng, biện pháp nào thích hợp, vẫn không đ-a ra đ-ợc những quyết sách kịp thời để đối phó với tình hình đang ngày một nguy cấp Tình hình ấy đã tạo

điều kiện để thực dân Pháp đem quân đánh chiếm thành Hà Nội và một số tỉnh thành ở Bắc Kỳ lần thứ nhất vào năm 1873

Hành động xâm l-ợc của thực dân Pháp đã khiến nhân dân ta vô cùng căm phẫn Quần chúng nhân dân đã nổi dậy rất dữ dội và đã làm nên chiến thắng có tiếng vang lớn ở trận Cầu Giấy (21/12/1873) Chiến thắng Cầu Giấy lần thứ nhất khiến nhân dân ta vô cùng phấn khởi, ng-ợc lại làm cho thực dân Pháp vô cùng hoang mang, lo sợ và tìm cách th-ơng l-ợng Triều đình nhà Nguyễn tiếp tục lún sâu vào con đ-ờng thoả hiệp và đã kí hiệp -ớc Giáp Tuất (15/3/1874)

Trang 28

24

Với điều -ớc này “ triều đình Huế đã thừa nhận chủ quyền của Pháp ở

Nam Kỳ lục tỉnh, công nhận quyền đi lại, kiểm soát và điều tra tình hình ở

Việt Nam của chúng” [5, 43] Với việc thực hiện điều -ớc Giáp Tuất, Nam Kỳ

đã trở thành đất bảo hộ của thực dân Pháp Nh- vậy việc kí điều -ớc này là

một thắng lợi lớn của Pháp Tự Đức và triều đình Huế lún sâu thêm một b-ớc

nữa trong bản thoả hiệp để tiến tới đầu hàng Pháp

Tuy nhiên, thực dân Pháp không dừng lại ở đó B-ớc sang đầu những

năm 80 của thế kỉ XIX, thực dân Pháp dấn thêm một b-ớc cuối cùng trong

việc thôn tính Việt Nam Tháng 4/1882 Pháp lại đ-a quân đánh chiếm Hà Nội

lần thứ hai, sau đó quyết định đánh thẳng vào Huế Nhân dân Hà Nội anh

dũng đánh trả thực dân Pháp và đã làm nên chiến thắng Cầu Giấy lần thứ hai

(19/5/1883) Mặc dù đây là trận nhỏ ở Bắc Kỳ nh-ng nó lại có ảnh h-ởng rất

lớn, nó trở thành nguồn cổ vũ của cả Bắc Kỳ và đặt Pháp vào tình thế bị động

Tuy nhiên, triều đình Huế vẫn nuôi ảo t-ởng thu hồi Hà Nội bằng con

đ-ờng th-ơng thuyết Kết quả của thái độ rụt rè, bối rối ấy là một bản hiệp

-ớc mới ra đời giữa triều đình Huế và Pháp là “ Hiệp -ớc Hácmăng” (25/8/1883) Theo đó triều đình Huế công nhận chế độ bảo hộ của Pháp và

trao cho Pháp quyền kiểm soát các quan hệ đối ngoại của Việt Nam…Từ đó

thực dân Pháp mở rộng xâm chiếm các tỉnh Bắc Kỳ trong những tháng cuối

năm 1883 đầu năm 1884 Trong khoảng thời gian này một bản hiệp -ớc mới

đ-ợc kí kết thay thế hiệp -ớc Hácmăng Đó là hiệp -ớc Patơnốt đ-ợc kí vào

ngày 6/6/1884 Nội dung của bản hiệp -ớc này cơ bản vẫn dựa trên hiệp -ớc

Hácmăng nh-ng đ-ợc sửa chữa một số khoản nhằm xoa dịu d- luận và mua

chuộc thêm những phần tử phong kiến đầu hàng Có thể nói điều -ớc Patơnốt

là bản khai tử cuối cùng về mọi quyền hành của triều đình Huế đối với n-ớc

ta

Nh- vậy, nếu nói rằng điều -ớc Nhâm Tuất năm 1862 là sự mở đầu,

điều -ớc Giáp Tuất 1874 là sự phát triển tiếp theo thì qua điều -ớc 1883 và

Trang 29

25

điều -ớc Patơnốt 1884 là sự hoàn thiện quá trình thoả hiệp, nhân nh-ợng kẻ thù của triều đình Huế Việt Nam chính thức trở thành thuộc địa của thực dân Pháp Vì vậy có thể nói: “ Sau điều -ớc Patơnốt, Việt Nam nh- một ban công của Pháp trên Thái Bình D-ơng”

Đối với Campuchia: Campuchia giáp với Nam Kỳ, là sứ sở giàu có

nằm trên bán đảo Đông D-ơng, có vị trí quan trọng ở ĐNA Từ lâu Campuchia cũng trở thành đối t-ợng để các tên thực dân ph-ơng Tây dòm ngó Ngay từ đầu thế kỷ XVI, ng-ời Bồ Đào Nha đã từ căn cứ Mã Lai đến thăm dò Campuchia Sau đó ng-ời Tây Ban Nha, rồi ng-ời Hà Lan cũng định

nhảy vào ở giữa thế kỉ XVII nh-ng bị thất bại

Không chỉ thế, đối với thực dân Pháp, công cuộc xâm l-ợc Campuchia cũng đã bắt đầu từ rất sớm Bắt đầu từ thế kỉ XVII, ng-ời Pháp đầu tiên đến Campuchia là vị linh mục tên là Lui Sơvơrơi Nh-ng vì Campuchia là quốc gia chịu ảnh h-ởng sâu sắc của đạo Phật nên việc truyền bá đạo Cơđốc ở đây là rất khó khăn Năm 1845, khi vua Ang D-ơng lên ngôi đã hết sức bất bình tr-ớc sức ép của triều đình phong kiến Xiêm Pháp đã lợi dụng tình hình đó để lôi kéo Ang D-ơng và hai bên đã có ý định đi đến việc kí kết một bản hiệp -ớc nh-ng Xiêm đã phát hiện ra âm m-u đó nên tìm cách chống đối, hiệp -ớc không đ-ợc kí kết

Đến tháng 1/1860, khi Ang D-ơng chết, con là Nôrôđôm lên nối ngôi trong tình hình nội trị và ngoại giao của Campuchia hết sức khó khăn Mặc dù chế độ phong kiến vẫn còn tồn tại nh-ng trên thực tế quyền lực của vua chỉ là trên danh nghĩa, “ địa vị của vua chỉ nh- một quan nhiếp chính, có thể bị phế bỏ” [31, 430] Trong lúc này thực dân Anh đã chiếm ấn Độ, tiếp đó chiếm Rănggun (Miến Điện) vào năm 1824 và đang toan tính chiếm toàn bộ Miến

Điện bành tr-ớng ra phía đông Tr-ớc sự bành tr-ớng của Anh ở ĐNA, thực dân Pháp thấy cần phải nhanh chóng chiếm Đông D-ơng làm bàn đạp tấn công Trung Quốc từ phía Bắc Vì vậy năm 1863, sau khi đã chiếm ba tỉnh

Trang 30

26

miền Đông Nam Bộ (Việt Nam) Đuđa đơ Lagirê đã chỉ huy pháo thuyền sang Campuchia để chuẩn bị hành động quân sự Hành động của Pháp ở Campuchia ch-a bắt đ-ợc Xiêm lùi b-ớc Cuộc tranh chấp giữa Pháp và Xiêm

đã diễn ra và ngày càng trở nên phức tạp Nhanh chân hơn, đại diện của Pháp

là đô đốc Lagrandierè đã đến gặp Nôrôđôm vào tháng 7/1863 và kí một bản hiệp -ớc bảo hộ Campuchia nhằm bảo vệ nền độc lập của n-ớc này chống lại Xiêm Đây đ-ợc coi là hiệp -ớc xâm l-ợc đầu tiên ở Campuchia

Tuy nhiên, vai trò và ảnh h-ởng của Xiêm đã có từ lâu và ảnh h-ởng rất lớn, không dễ gì xoá bỏ ở Campuchia Khi bản hiệp -ớc giữa Pháp- Campuchia ch-a đ-ợc Napônêông III phê chuẩn thì Xiêm đ-ợc Anh ủng hộ đã tìm cách buộc Campuchia phải kí một bản hiệp -ớc khác với mình, tiếp tục chấp nhận sự “ che chở” của Xiêm

Có thể nói, hai bản hiệp -ớc mà Pháp và Xiêm đã kí với Campuchia nh- một đòn ăn miếng trả miếng, là sự giằng xé một miếng mồi giữa hai tên c-ớp Nền độc lập của Campuchia bị đe doạ nghiêm trọng Cuối cùng mâu thuẫn giữa Pháp- Xiêm trong mối quan hệ với Campuchia đã đ-ợc dàn xếp bằng

“Hiệp -ớc Pháp- Xiêm” đ-ợc kí vào 15/7/1867 tại Băng Cốc Nội dung chủ yếu của hiệp -ớc này là “ Xiêm phải thừa nhận sự bảo hộ của Pháp ở Campuchia…” [31, 433] Nh- thế thực dân Pháp đã gạt đ-ợc Xiêm ra khỏi Campuchia để một mình tiến hành độc chiếm Campuchia Campuchia thực sự trở thành thuộc địa của Pháp

Đối với Lào: Vào những năm 90 của thế kỉ XIX, đế quốc Pháp đã

chiếm xong Việt Nam và Campuchia, bắt đầu v-ơn về phía tây nên đặc biệt

Trang 31

27

của thực dân Pháp chỉ đ-ợc đẩy mạnh từ khi Pavie đến Luông Pha Băng làm lãnh sự năm 1885 Nh-ng tr-ớc khi Pháp xâm l-ợc thì ảnh h-ởng của Xiêm ở Lào cũng rất lớn bởi Lào đã trở thành một tỉnh của Xiêm Thực dân Pháp cũng hiểu rằng muốn chiếm Lào thì tr-ớc hết phải gạt bỏ ảnh h-ởng của Xiêm bằng cách lấy cảm tình của vua Lào Khi đã có đ-ợc tình cảm đó, Pháp đã phái quân từ Hà Nội sang Luông Pha Băng để “ bảo vệ vua Lào” vào năm 1886 Nh-ng thực chất là để chiếm vùng này bằng việc xây dựng hàng loạt đồn bốt dọc biên giới Đông Bắc Lào

Sự có mặt của Pháp ở Lào làm quan hệ Pháp- Xiêm trở nên căng thẳng, nhiều cuộc xung đột lẻ tẻ giữa Pháp – Xiêm đã diễn ra trong những năm 1891- 1892 t-ởng chừng nh- cuộc chiến tranh Xiêm- Pháp đã cận kề Nh-ng

về sau do Anh không ủng hộ nên buộc Xiêm phải xuống thang và miễn c-ỡng

kí với Pháp hiệp -ớc ngày 13/10/1893 Theo hiệp -ớc này, hai bên đã lấy sông

Mê Công làm ranh giới, phía Tây thuộc quyền quản lý của Xiêm, phía Đông thuộc Pháp Nh- vậy, với hiệp -ớc 1893, chế độ cai trị của thực dân Pháp đ-ợc chính thức thiết lập trên đất Lào, chấm dứt 115 năm bị Xiêm đô hộ

Có thể thấy, cuộc xâm l-ợc của thực dân Pháp ở Đông D-ơng đ-ợc khởi đầu ở Việt Nam, đ-ợc mở rộng sang Campuchia và kết thúc ở Lào Nh-ng để hoàn thành quá trình ấy, thực dân Pháp phải mất trên d-ới 30 năm,

Đông D-ơng mới trở thành một thuộc địa liền khối của thực dân Pháp Từ đây chúng bắt tay vào đặt nền thống trị và khai thác, bóc lột Đông D-ơng

Tóm lại, sau gần bốn thế kỷ, từ khi đặt những th-ơng điếm đầu tiên vào thế kỷ XVI cho đến cuối thế kỷ XIX, thực dân ph-ơng Tây đã hoàn thành việc xâm l-ợc các n-ớc ĐNA Bằng nhiều thủ đoạn khác nhau, từ những biện pháp mềm dẻo cho đến dùng vũ lực, thực dân ph-ơng Tây đã đặt đ-ợc ách đô hộ lên ĐNA Các quốc gia ĐNA, từ những n-ớc phong kiến độc lập hoặc đang ở thời kì tiền phong kiến, hoặc còn ở trình độ bộ tộc ch-a bao giờ có giao l-u với thế giới bên ngoài đã bị các n-ớc thực dân từng b-ớc biến thành các n-ớc

Trang 32

28

thuộc địa Mâu thuẫn giai cấp vốn đã tồn tại từ lâu trong xã hội ĐNA giờ thêm mâu thuẫn dân tộc, đã đặt các n-ớc trong tình thế đồng thời phải giải quyết cùng một lúc hai mâu thuẫn trên để giành độc lập và phát triển đất n-ớc đi lên

1.2 Khái quát quá trình thống trị của thực dân ph-ơng Tây ở một

số n-ớc Đông Nam á

Thủ t-ớng Pháp G Pheri trong bài diễn văn của mình ngày 28/7/1885

đã nói: “…Trong một Châu Âu, hay đúng hơn trong một thế giới nh- vậy, chính sách ngồi im không xâm l-ợc chính là con đ-ờng suy tàn” Lời phát biểu này phần nào đã cho chúng ta thấy đ-ợc bản chất của CNTB là xâm l-ợc,

là thuộc địa Khi CNTB chuyển từ tự do cạnh tranh sang CNĐQ thì thuộc địa càng có ý nghĩa quan trọng Thuộc địa đ-ợc coi là th-ớc đo giá trị của CNĐQ trong nhiều thế kỷ đô hộ, thuộc địa trở thành tiêu chuẩn đánh giá chủ nghĩa thực dân mạnh hay yếu

Vì vậy mà ngay sau khi xâm chiếm và biến các n-ớc ĐNA thành thuộc

địa, các n-ớc thực dân đã thực thi những chính sách cai trị và bóc lột hết sức dã man Tuỳ theo tình hình và đặc điểm riêng của mình mà mỗi tên thực dân

có những biện pháp và hình thức khác nhau Tuy nhiên xét về bản chất thì chúng cũng có những nét chung Đầu tiên là ở mục đích xâm l-ợc thuộc địa: Các n-ớc thực dân ph-ơng Tây đã biến các n-ớc ĐNA thành nơi cung cấp nguyên liệu, nhân công rẻ mạt cho chính quốc, là thị tr-ờng tiêu thụ sản phẩm công nghiệp cho chính quốc một cách chắc chắn và thu lợi nhuận cao Đồng thời nó còn là căn cứ quân sự làm bàn đạp xâm chiếm các n-ớc khác và là nơi xuất cảng t- bản thu nhiều lợi nhuận nhất

1.2.1 Chính sách cai trị:

Sau khi đặt ách đô hộ ở ĐNA ta thấy trong chính sách cai trị của chúng

có nhiều nét giống nhau Đó là : hầu hết các n-ớc thực dân ph-ơng Tây đều sử dụng hai hình thức cai trị, hoặc là trực tiếp, hoặc là gián tiếp, hoặc là sử dụng

Trang 33

29

đồng thời cả hai Mặc dù sử dụng những hình thức cai trị hoàn toàn không giống nhau nh-ng về bản chất tất cả chỉ là một

Trở lại xem xét quá trình xâm l-ợc và thống trị của chủ nghĩa thực dân

ở ĐNA ta thấy ở thời kì đầu (từ thế kỉ XVI- XVIII) các n-ớc thực dân ph-ơng Tây đều áp dụng hình thức cai trị gián tiếp Đó là các n-ớc đã thông qua các công ty th-ơng mại viễn ph-ơng để cai trị và bóc lột Bên cạnh đó các n-ớc thực dân cũng tận dụng chính quyền bản xứ để tiến hành cai trị áp dụng hình thức này, chính quyền thực dân th-ờng cử một đại diện của mình bên cạnh chính quyền bản xứ với những tên gọi khác nhau nh-: “ công xứ” , “ cố vấn” Minh chứng cho hình thức này là thực dân Anh áp dụng ở một phần bán đảo Mã Lai và Bắc Kalimanta Hay ở “ Liên bang Mã Lai” thì ng-ời Anh quản lý gián tiếp thông qua viên khâm sứ ng-ời Anh Còn các v-ơng quốc không gia nhập liên bang (Tơrenganu, Giôho, Kêđăc), chúng cũng quản lý gián tiếp núp d-ới danh nghĩa “ quan cố vấn” [31, 408]

Bên cạnh đó bọn thực dân cũng áp dụng chế độ cai trị trực tiếp với hệ thống quan chức thực dân đ-ợc sắp đặt từ trung -ơng đến hàng tỉnh Đứng đầu thuộc địa là một viên toàn quyền, sau đó là các viên thống đốc, thống sứ, khâm sứ, tổng đốc và cuối cùng là các quan lại thực dân hàng tỉnh Thêm vào

đó, bọn thực dân còn sử dụng hàng ngũ quan lại phong kiến địa ph-ơng làm chỗ dựa để tiện lợi cho công việc cai trị và bóc lột của chúng Hình thức này

đ-ợc thể hiện rõ ở “ vùng thuộc địa eo biển” của Mã Lai (Pênang, Xingapo, Malăcca) thực dân Anh cai trị trực tiếp, đứng đầu là tổng đốc Hay ở “ Đông D-ơng thuộc Pháp” đứng đầu là một viên toàn quyền, bên cạnh đó có một viên tổng th- ký và một th-ợng hội đồng

Lực l-ợng quân đội và cảnh sát là công cụ đắc lực để bọn thực dân thực thi chính sách cai trị và bóc lột của mình Về mặt sĩ quan, chỉ huy là ng-ời Anh, Pháp, Hà Lan, Tây Ban Nha, tức là bọn thực dân ph-ơng Tây Còn binh lính là ng-ời bản xứ hoặc lính đánh thuê Ví dụ nh- ở Mã Lai, chỉ huy là

Trang 34

30

ng-ời Anh, còn binh lính là ng-ời bản xứ Mã Lai và ấn Độ ở Philippin, chỉ huy là ng-ời Tây Ban Nha ở Inđônêxia là ng-ời Hà Lan và ng-ời Anh Lực l-ợng quân đội này sẵn sàng đàn áp các cuộc khởi nghĩa, đấu tranh của nhân dân nếu nh- nhân dân nổi dậy đấu tranh chống lại chính quyền thực dân

Hình thức “ chia để trị” cũng là chính sách phổ biến mà bọn thực dân ph-ơng Tây triệt để sử dụng trên cơ sở phân chia mỗi n-ớc thành các khu vực khác nhau để thực thi các chính sách cai trị khác nhau Cụ thể nh- ở Mã Lai, thực dân Anh phân chia thành ba khu vực là “ vùng thuộc địa eo biển” , “ Liên bang Mã Lai” và các v-ơng quốc không gia nhập Liên bang ở Philippin, thực dân Tây Ban Nha cũng chia thành 16 tỉnh, đến đầu thế kỉ XIX tăng thành 34 tỉnh Còn ở Miến Điện, thực dân Anh cũng chia ra thành nhiều tiểu quốc để cai trị nh- San, Karen…ở Đông D-ơng, thực dân Pháp chia thành năm xứ với các chế độ cai trị khác nhau là Bắc Kỳ (bảo hộ ), Trung Kỳ (tự trị), Nam Kỳ (thuộc địa), Ai Lao (thuộc địa) và Cao Miên (bảo hộ)

Có thể thấy, với việc sử dụng chính sách “ chia để trị” của thực dân ph-ơng Tây đã khiến mâu thuẫn giữa các vùng miền, các dân tộc, sắc tộc, đặc biệt là tôn giáo ngày càng trở nên sâu sắc và không thể điều hoà đ-ợc Do đó một cuộc chiến tranh tất yếu sẽ nổ ra

Không dừng lại ở đó, các n-ớc ph-ơng Tây đều tìm cách chia rẽ làm suy yếu nhân dân, mua chuộc giai cấp thống trị bản địa Ví nh- ở Lào, chính quyền thực dân đã gây chia rẽ trong từng nội bộ dân tộc, gây hận thù giữa bộ tộc này với bộ tộc khác ở Luông Pha Băng có một “ uỷ viên chính phủ” bên cạnh nhà vua Còn Pavi trở thành tổng ủy viên chính phủ đóng vai trò của kẻ chỉ huy chung mọi việc ở Lào” [31, 447] Nh-ng biểu hiện rõ nhất là ở Miến

Điện Với chính sách chia để trị của ng-ời Anh “ vùng đồng bằng với dân số

đông đảo là ng-ời Miến thì phải chịu chế độ trực trị, nh-ng ở vùng đất cao, các khu vực có ng-ời thiểu số sinh sống…thì ng-ời Anh áp dụng chế độ cai trị

Trang 35

31

gián tiếp” [12, 234] Hình thức cai trị này đã khiến mâu thuẫn giữa ng-ời Miến với các dân tộc thiểu số bùng nổ, giảm mâu thuẫn với ng-ời Anh Điều này vô hình dung khiến cho cuộc đấu tranh chống thực dân Anh của ng-ời Miến lắng xuống để giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ dân tộc

Đồng thời trong lĩnh vực văn hoá- xã hội, chúng còn thực hiện chính sách “ ngu dân” , đầu độc ng-ời bản xứ bằng r-ợu và thuốc phiện Do đó hầu hết ng-ời dân ĐNA đều mù chữ, phần lớn trẻ em không đ-ợc cắp sách tới tr-ờng “ Nạn đói- sự dốt nát- bị đầu độc là ba quốc nạn” mà ng-ời dân d-ới chính quyền thuộc địa phải gánh chịu Trong “ Bản án chế độ thực dân Pháp” , Nguyễn ái Quốc đã miêu tả rất rõ “ chính quyền thực dân bán r-ợu khắp nơi,

đại lý r-ợu và thuốc phiện nhiều hơn tr-ờng học, trong 1000 làng chỉ có 10 tr-ờng học, nh-ng đại lý r-ợu và thuốc phiện lại nhiều gấp 150 lần số tr-ờng học” [12, 254] Hay nh- ở Mã Lai năm 1931 chỉ có 8,5% dân số biết chữ Campuchia còn bi đát hơn, thực tế 99% ng-ời dân mù chữ Còn ở Inđônêxia, khi thực dân Hà Lan thực hiện “ chính sách đạo đức” thì một phần ngân sách

đ-ợc cấp cho giáo dục, song tr-ờng học đ-ợc mở ra chủ yếu nhằm đào tạo đội ngũ công chức phục vụ cho chính quyền thực dân

Song hành với chính sách ấy là chúng duy trì những t- t-ởng lạc hậu, bảo thủ, những tập tục mê tín dị đoan…để ru ngủ nhân dân thuộc địa, tạo điều kiện cho họ dễ bề cai trị

Có thể nói, với việc sử dụng văn hoá làm công cụ cai trị là một biện pháp thâm độc của chủ nghĩa thực dân ph-ơng Tây Vấn đề văn hoá- xã hội ở các n-ớc thuộc địa d-ới thời thực dân là một vấn đề nhức nhối bởi nó đã làm

đảo lộn xã hội, phá vỡ những tập quán, phong tục truyền thống tốt đẹp của c- dân nơi đây Cho nên những lời rêu rao của bọn thực dân là “ khai hoá, văn minh” , là “ chính sách đạo đức” chỉ là giả tạo, là danh nghĩa, vỏ bọc ngoài để chúng dễ bề cai trị mà thôi

Trang 36

32

Bên cạnh đó, cùng với chính sách chia rẽ dân tộc, sắc tộc, bọn thực dân ph-ơng Tây còn sử dụng triệt để tôn giáo nh- một công cụ đắc lực nhằm phục

vụ mục đích thống trị của mình Ví nh- ở Inđônêxia ngay từ thế kỷ XV- XVI,

đạo Ixlam đã tìm đ-ợc “ chỗ đứng vững chắc” trên đất n-ớc này, nên khi thực dân Hà Lan xâm l-ợc, chúng đã sử dụng Hồi giáo nh- một vũ khí t- t-ởng đắc lực để khống chế các lãnh chúa địa ph-ơng nhằm dễ dàng khai thác và bóc lột thuộc địa

Đặc biệt là ở Philippin, các giáo sĩ Tây Ban Nha có vai trò tích cực góp phần vào việc chinh phục và thống trị thuộc địa ở vùng đất này Sở dĩ nói nh- vậy là do lúc đầu trên đất n-ớc này đạo Ixlam có ảnh h-ởng lớn, nh-ng về sau bọn giáo sĩ Tây Ban Nha sang đã chiếm đ-ợc cảm tình và lôi kéo đ-ợc các v-ơng quốc phong kiến và các thủ lĩnh bộ tộc tin và đi theo tôn giáo mới là

đạo Kitô Do đó chúng đã sử dụng Kitô giáo để chống lại Ixlam giáo gây ra xung đột tôn giáo kéo dài hàng nửa thế kỷ, và mãi đến giữa thế kỷ XIX Kitô giáo mới thắng thế trên quần đảo này

Nh- vậy, qua những đặc điểm vừa tìm hiểu ở trên ta thấy rõ bản chất của bọn thực dân ph-ơng Tây đều là ăn c-ớp, là bóc lột Dù mỗi n-ớc đều có những tham vọng và mục đích riêng của mình, nh-ng tựu trung lại là đều muốn biến các n-ớc ĐNA thành thị tr-ờng để khai thác và tiêu thụ hàng hoá

và cao hơn là xuất khẩu t- bản để thu lợi nhuận kếch xù

1.2.2 Chính sách bóc lột:

Sau khi đặt sự thống trị lên các n-ớc ĐNA, thực dân ph-ơng Tây tiến hành bóc lột các n-ớc này, mà biện pháp phổ biến nhất là tăng cao thuế và đặt

ra nhiều loại thuế nhằm vơ vét triệt để các xứ thuộc địa Về hình thức, chúng

sử dụng cả hai loại là thuế trực thu và thuế gián thu bao gồm: thuế thân, thuế

điền, thuế r-ợu, thuế muối…với mức thu ngày một tăng

Tr-ớc hết ở Việt Nam, “ vào năm 1898, thuế thân ở Trung Kỳ mỗi đầu ng-ời từ 30 xu tăng lên 2,3 đồng ở Bắc Kỳ từ 50 xu lên 2,5 đồng Thuế ruộng

Trang 37

và cơ cực hơn Nh-ng bên cạnh thuế khoá nặng nề là chế độ phu phen tạp dịch

hà khắc Sắc luật 30/12/1936 mà tổng thống Pháp kí đã quy định “ lao động s-u dịch là lao động nghĩa vụ” của mỗi ng-ời dân thuộc địa ở Ai Lao sắc luật 27/6/1933 quy định mỗi năm mỗi ng-ời dân Lào phải đi “ lao dịch” 60 ngày,

đi phu 40 ngày Còn ở Philippin, thực dân Tây Ban Nha quy định mỗi ng-ời phải đi lao dịch 52 ngày/ năm nh-ng thực tế nhiều hơn

Mặt khác, trong nông nghiệp ta thấy chính sách c-ớp đoạt ruộng đất để lập đồn điền là nổi bật hơn cả thông qua việc ép triều đình nh-ợng quyền khai khẩn đất hoang cho chúng “ Năm 1890, bọn thực dân Pháp chiếm 10900 ha ruộng đất trong cả n-ớc, năm 1900 con số này lên đến 301.000 ha” [23, 60] Ph-ơng thức kinh doanh ở các đồn điền vẫn là phát canh thu tô theo lối phong kiến ở các đồn điền, ng-ời nông dân các n-ớc thuộc địa phải sản xuất để cung cấp nguyên liệu cho chúng mà chủ yếu là sản xuất cây công nghiệp nh- chè, càphê, cao su…Diện tích cao su từ năm 1897- 1920 là 7210 ha…Hay ở Inđônêxia, thực dân Hà Lan còn bắt nhân dân trồng chàm, hồ tiêu Biện pháp này khiến cho ng-ời nông dân đói khổ vì mất đất, lúa gạo không đủ ăn, hàng vạn ng-ời lao động bị phá sản, sống không ra sống

Trong lâm nghiệp, bọn thực dân c-ớp bóc, vơ vét nhiều nguồn tài nguyên quý hiếm của rừng, đặc biệt là gỗ

Trang 38

34

Còn trong công nghiệp, chúng chỉ tập trung vào khai mỏ (than đá, thiếc, kẽm…) Ví nh- ở Mã Lai, từ năm 1910, thực dân Anh nắm quyền khai mỏ thiếc và luyện thiếc Ngoài ra còn lũng đoạn quyền khai thác các mỏ vàng, vônphram, than đá Hay nh- ở Đông D-ơng, “ từ năm 1895- 1914, mỗi năm thực dân Pháp khai thác khoảng 100 kg vàng Chỉ riêng năm 1911, chúng khai thác đ-ợc hơn 28.000 tấn quặng kẽm, gần 200 tấn quặng thiếc, 100 tấn

đồng…” [23, 61]

Ngoài khai mỏ, chúng chủ yếu chế biến nông sản để sản xuất ra các mặt hàng phục vụ nhu cầu tại chỗ nhằm thu lợi nhuận ngay Tiêu biểu nhất là

từ năm 1907-1917, thực dân Pháp xuất cảng khoảng 60% l-ợng xi măng sản xuất ra các n-ớc ở Viễn Đông, cạnh tranh với hàng xi măng ở Anh

Điểm dễ thấy nhất trong công nghiệp là bọn thực dân không chú trọng phát triển công nghiệp nặng mà chỉ tập trung vào công nghiệp sửa chữa Đó là việc xây dựng các x-ởng máy gia công sửa chữa nhằm phục vụ cho chính sách bóc lột đạt hiệu quả tối đa mà không có một nhà máy lớn nào Hơn nữa chúng không mở mang công nghiệp ở thuộc địa để tránh sự cạnh tranh với công nghiệp chính quốc

Còn trong lĩnh vực giao thông vận tải, chúng chỉ chú trọng đầu t- xây dựng một số trục giao thông, đặc biệt là đ-ờng sắt, nối liền các trung tâm kinh

tế, các khu vực khai thác nguyên liệu nhằm phục vụ đắc lực cho mục đích khai thác và quân sự

Với những chính sách trên ta thấy, về cơ bản nền kinh tế ở các n-ớc

ĐNA là phát triển què quặt, hoàn toàn lệ thuộc vào chủ nghĩa thực dân Đồng thời, với những biện pháp ấy thực dân ph-ơng Tây đã biến ĐNA thành thị tr-ờng khai thác và thị tr-ờng tiêu thụ hàng hoá cho chính quốc

Tuy nhiên, khi tìm hiểu về chính sách cai trị và bóc lột của thực dân ph-ơng Tây ở ĐNA mà chỉ dừng lại ở các đặc điểm trên thì sẽ là một sự thiếu hụt lớn bởi nó không phản ánh đ-ợc “ bộ mặt thật” của từng tên thực dân

Trang 39

35

Những nét “ đặc thù” mà mỗi tên thực dân thể hiện ra trong mỗi thuộc địa của mình là yếu tố quan trọng nhất giúp chúng ta hiểu rõ hơn bản chất của chúng nh- thế nào?

Tr-ớc hết là thực dân Tây Ban Nha ở Philippin: Ta biết rằng Philippin

là một thuộc địa hơn 300 năm của Tây Ban Nha, ách áp bức bóc lột ở đây rất nặng nề Điểm nổi bật trong chính sách cai trị của thực dân Tây Ban Nha ở

đây chính là việc sử dụng Thiên chúa giáo với t- cách là công cụ để cai trị và bóc lột tàn bạo ở Philippin Thực dân Tây Ban Nha bắt các v-ơng quốc phong kiến ở đây đều phải theo đạo Kitô Chính vì lý do này khiến cho Philippin hiện nay có số tín đồ theo Thiên chúa giáo đông nhất

Còn trong chính sách bóc lột thì cho đến cuối thế kỷ XIX chúng vẫn thực thi chính sách bóc lột kiểu trung cổ Viên toàn quyền, do vua Tây Ban Nha cử và uỷ quyền cai trị thuộc địa, nắm toàn bộ quyền hành chính, t- pháp, quân sự…Bộ máy ở trung -ơng và cấp tỉnh đều nằm trong tay ng-ời Tây Ban Nha Đặc biệt bọn phong kiến quý tộc c-ớp đoạt ruộng đất của nông dân một cách trực tiếp hoặc qua con đ-ờng cho vay nặng lãi

Đối với thực dân Anh ở Miến Điện, ta thấy nét nổi bật trong chính sách cai trị là việc thực thi một chính sách rất đặc biệt, đó là Anh biến Miến Điện thành một tỉnh của ấn Độ, lập bộ máy quan liêu thống nhất trong toàn Miến

Điện Quyền lực tối cao trong n-ớc tập trung vào tay viên toàn quyền Anh trực thuộc phó v-ơng ấn Độ D-ới toàn quyền có các tổng đốc ng-ời Anh cai trị các khu

Bên cạnh đó, điểm nổi bật trong chính sách bóc lột của thực dân Anh ở

đây là việc chính phủ Anh tăng c-ờng đầu t- t- bản vào hai n-ớc này Đây chính là điểm khác biệt dễ thấy nhất của thực dân Anh so với các n-ớc ph-ơng Tây khác bởi do Anh là n-ớc t- bản công nghiệp hàng đầu Hình thức

đầu t- này chủ yếu là ở việc xây dựng các nhà máy, xí nghiệp Ví dụ: “ tổng số vốn đầu t- của Anh ở Miến Điện đến năm 1914 lên tới khoảng 15- 17 triệu

Trang 40

36

bảng Anh Năm 1900 ng-ời ta đếm đ-ợc 301 xí nghiệp với 45.000 công nhân Năm 1918 tổng số nhà máy là 500 với 71.000 công nhân” [31, 466]

Đối với thực dân Hà Lan ở Inđônêxia ta thấy: Inđônêxia là một điển

hình của sự khai thác và bóc lột thuộc địa của bọn thực dân ph-ơng Tây ở

ĐNA Trong đó Hà Lan nổi lên ở n-ớc này với chính sách cai trị cũng rất riêng, đó là việc sử dụng cả hai hình thức: cai trị trực tiếp và cai trị gián tiếp Thời kỳ đầu, chúng cai trị gián tiếp thông qua công ty Đông ấn Hà Lan, dựa vào chính quyền phong kiến địa ph-ơng Nh-ng từ năm 1800 trở đi, chúng thực thi chính sách cai trị trực tiếp nghĩa là hầu nh- tất cả mọi quyền hành từ trung -ơng đến địa ph-ơng đều nằm trong tay Hà Lan

Trong chính sách bóc lột, Hà Lan cũng điển hình với chính sách “ c-ỡng bức trồng trọt” Có thể nói đây là biện pháp thâm hiểm nhất do viên toàn quyền Vanđen Bốt đề ra Theo chính sách này, tất cả nông dân Inđônêxia phải dành ra 1/5 diện tích đất đai để trồng các loại cây công nghiệp do chính phủ

Hà Lan quy định Toàn bộ sản phẩm thu đ-ợc trên mảnh đất này đều phải nộp cho chính phủ Hà Lan thay thuế Do đó, với chính sách này đã làm cho ng-ời nông dân Inđônêxia bị thiếu l-ơng thực trồng trọt Nh-ng ng-ợc lại chính phủ

Hà Lan lại thu đ-ợc một khoản lợi nhuận kếch xù Trong 40 năm (1830- 1870) thi hành chính sách này, chính phủ Hà Lan thu đ-ợc món lợi nhuận nhiều bằng số thu nhập của công ty Đông ấn Hà trong 200 năm Chính chế độ

“c-ỡng bức trồng trọt” này đã làm chậm quá trình tan vỡ của quan hệ phong kiến trong nông thôn Inđônêxia Vì vậy chính sách này không những bị nhân dân bản địa mà ngay cả nhân dân Hà Lan cũng phản đối quyết liệt Do đó chính phủ Hà Lan phải bãi bỏ vào năm 1870

Còn đối với thực dân Pháp ở ba n-ớc Đông D-ơng ta thấy nét điển hình

nhất trong chính sách cai trị của chúng là việc chia Đông D-ơng thành nhiều

xứ với chế độ cai trị khác nhau Cụ thể là thực dân Pháp chia Đông D-ơng thành năm xứ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao và Cao Miên) với ba chế

Ngày đăng: 16/10/2021, 18:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w