Sau khi tìm được con đường và xác định mục tiêu đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, Người đã dày công truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, tuyên truyền, giáo dục đào tạo cán bộ chỉ đạo đẩy mạnh p
Trang 1Tr-ờng đại học vinh
Chuyên ngành: lịch sử đảng cộng sản Việt Nam
Lớp 47B3 (2006 - 2010)
Giáo viên h-ớng dẫn: TS Trần văn thức
Vinh - 2010
Trang 2A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ cuối thế kỷ XIX đến những năm 20 của thế kỷ XX, cách mạng Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng về đường lối, về giai cấp lãnh đạo, tình hình đen tối như không có lối ra
Với lòng yêu nước nồng nàn và bằng thiên tài trí tuệ, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã tổng kết những nguyên nhân thất bại của các con đường cứu nước của các bậc tiền bối và Người đã quyết định xuất dương đi tìm đường cứu nước
Qua quá trình bôn ba khắp năm châu, tham gia các hoạt động cách mạng và cuối cùng lịch sử cách mạng Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc đã chứng kiến một cuộc gặp gỡ kì diệu giữa chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin Từ cuộc gặp gỡ này, Người đã tìm ra cho cách mạng Việt Nam con đường duy nhất đúng đắn: đặt sự nghiệp giải phóng dân tộc vào quỹ đạo cách mạng vô sản, đó chính là con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nhằm mục tiêu: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, mang lại tự do, hạnh phúc cho mọi người
Sau khi tìm được con đường và xác định mục tiêu đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, Người đã dày công truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, tuyên truyền, giáo dục đào tạo cán bộ chỉ đạo đẩy mạnh phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam, và cuối cùng đã tạo ra sự chín muồi giữa các nhân tố cấu thành Đảng Cộng sản Việt Nam Sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam Có thể nói Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt của cách mạng Việt Nam
Trang 3Ngay từ khi mới ra đời, Trung ương và các Xứ ủy đã tập trung chỉ đạo, đẩy mạnh phong trào đấu tranh và tạo nên một làn sóng sôi sục khắp cả nước Với phong trào cách mạng 1930 – 1931, mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh Gần 80 năm đã trôi qua, nhưng Xô viết – Nghệ Tĩnh vẫn được xem là trang sử oanh liệt nhất của cách mạng Việt Nam
Trong phong trào 1930 – 1931, cùng với Hà Tĩnh, Nghệ An được đánh giá là nơi có phong trào sôi động nhất cả nước Ngay sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời vào tháng 3 năm 1930, các Đảng bộ Đảng cộng sản Việt Nam ở Nghệ An được thành lập với nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng ở Nghệ An Do bị địch khủng bố gắt gao nên Đảng bộ Nghệ An bị phá vỡ nhiều lần Hoạt động của Đảng bộ không được liên tục nhưng Đảng bộ Nghệ An có vai trò quan trọng trong việc trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng ở Nghệ An trong suốt thời gian dài, làm nên những thắng lợi vẻ vang, góp phần cùng cả nước đánh đuổi đế quốc, phong kiến xây dựng một nước Việt Nam độc lập
Trong nhiều năm qua, có rất nhiều tác giả ở trong và ngoài nước tìm hiểu, và nghiên cứu về phong trào cách mạng 1930 -1931, về Xô viết Nghệ Tĩnh Bởi đó là lần đầu tiên trong một phong trào cách mạng ở một nước thuộc địa, công – nông đã nắm tay nhau vùng dậy lật đổ chính quyền phản động của đế quốc và phong kiến ở nhiều vùng nông thôn, dựng nên chính quyền công – nông Và đó được xem như nguồn đề tài hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu, giới sử học… Thế nhưng lại có không nhiều các công trình nghiên cứu, tìm hiểu về Đảng bộ Nghệ An cũng như vai trò lãnh đạo của Đảng bộ đối với phong trào cách mạng Nghệ An
Học tập ở khoa Lịch Sử trường Đại học Vinh suốt bốn năm nhưng tôi chưa có dịp tìm hiểu về mảnh đất Nghệ An giàu truyền thống Dù không phải
là nơi chôn rau cắt rốn, nhưng bốn năm học tập và rèn luyện ở đây đã giúp tôi
Trang 4hiểu hơn về một phong trào cách mạng đã làm rung chuyển nền thống trị của
đế quốc Pháp và bọn phong kiến phản động ở Đông Dương dưới sự chỉ đạo của Đảng bộ Nghệ An
Với lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Qúa trình vận động thành
lập Đảng bộ Nghệ An”, làm khóa luận tốt nghiệp với mong muốn người đọc
có được những hiểu biết, hệ thống đầy đủ hơn về những chặng đường gian lao chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng bộ Nghệ An, cũng như vai trò của Đảng bộ với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc ở Nghệ An
Nghiên cứu “Qúa trình vận động thành lập Đảng bộ ở Nghệ An” tôi hy vọng nó là một nguồn tài liệu quan trọng cho việc học tập, nghiên cứu môn lịch sử địa phương trong giai đoạn 1930 – 1945, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc và niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Thực tế cho thấy giai đoạn 1930 – 1945 là một giai đoạn đặc biệt trong lịch sử nước ta Trong giai đoạn này có nhiều sự kiện lịch sử có ảnh hưởng đến cách mạng nước ta, do vậy mà nó đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu của nhiều học giả trong và ngoài nước Trên các tạp chí, đề tài khoa học… đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề này Tuy nhiên việc nghiên cứu về sự ra đời của một Đảng bộ như Đảng bộ Nghệ An trong thời gian này là không nhiều hoặc nếu có cũng chỉ đề cập đến một cách tổng quát như:
- “Lịch sử Đảng bộ Nghệ An” – tập 1 (1930 – 1954) của Ban chấp
hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An, trình bày về quá trình ra đời và lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945) của Đảng bộ Nghệ An
Trang 5Trong các tác phẩm nghiên cứu về xô viết Nghệ Tĩnh, tiêu biểu có “Xô
viết Nghệ Tĩnh” của Tiểu ban nghiên cứu lịch sử Đảng Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh
(1980), hay tác phẩm cùng tên của Tiểu ban nghiên cứu lịch sử Đảng ủy tỉnh
Nghệ An (2000), “Xô viết Nghệ Tĩnh 1930 – 2000” của Sở văn hóa thông tin
Nghệ An
Trên Tạp chí lịch sử Đảng cũng có nhiều bài viết của tác giả Bùi Ngọc Tam đề cập đến sự ra đời và lãnh đạo của Đảng bộ Nghệ An
Trên cơ sở tìm hiểu kỹ các tài liệu, các công trình nghiên cứu về Đảng
bộ Nghệ An, về phong trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh, chúng tôi đã hệ thống đi sâu vào nghiên cứu sự ra đời của Đảng bộ Nghệ An và các hoạt động lãnh đạo phong trào cách mạng Nghệ An của Đảng bộ
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu một cách khái quát những nét cơ bản về mảnh đất và con người Nghệ An, những truyền thống yêu nước và cách mạng nơi đây cũng như những ảnh hưởng bên ngoài để thấy rằng đó là tất cả những điều kiện cần thiết cho sự ra đời của Đảng bộ Nghệ
An, cho phong trào cách mạng bùng nổ và lên đến đỉnh cao Qua đó làm rõ sự năng động, sáng tạo, và nhanh nhạy của Đảng bộ Nghệ An trong việc vận dụng chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam vào hoàn cảnh cụ thể ở đây Chính nhờ sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng bộ đã tạo nên những thành quả to lớn của cách mạng Nghệ An
Trang 6Về phạm vi nghiên cứu: Đề tài này khai thác những nội dung liên quan đến Đảng bộ Nghệ An trong giai đoạn 1930 – 1945, đặc biệt là các nhân tố tác động, các điều kiện cần thiết cho sự ra đời của Đảng bộ
Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi cũng đi sâu tìm hiểu về hoạt động của Đảng bộ, đặc biệt là sự chỉ đạo của Đảng bộ với phong trào cách mạng Nghệ An, để thấy được vai trò cũng như ý nghĩa về sự ra đời của Đảng bộ
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi đã sử dụng và tham khảo nguồn tài liệu thành văn như sau:
- Văn kiện Đảng từ 1930 – 1945
- Tài liệu thông sử viết về lịch sử Việt Nam cận hiện đại
- Các tài liệu chuyên khảo về Đảng bộ Nghệ An (Tập 1), Đảng bộ Nghệ Tĩnh (tập 1) và xô viết Nghệ Tĩnh, Lịch sử Nghệ Tĩnh (tập 1)
Trong quá trình thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp lịch sử
- Phương pháp lôgic
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích, khái quát, tổng hợp
5 Đóng góp của khóa luận
Tìm hiểu vấn đề sự ra đời của Đảng bộ Nghệ An, tác giả mong muốn
có sự đóng góp trên một số phương diện sau:
Trang 7- Hệ thống những tư liệu, sự kiện phản ánh quá trình thành lập và hoạt động của Đảng bộ Nghệ An Qua đó thấy được vai trò sự cần thiết của Đảng
bộ trong phong trào cách mạng nhất là thời kỳ đấu tranh giành chính quyền
- Giúp cho chúng ta thấy được những khó khăn, phức tạp mà Đảng bộ
và nhân dân tỉnh nhà phải trải qua từ khi Đảng bộ thành lập đến khi hoàn thành sự nghiệp cách mạng trong 15 năm gian khổ
6 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Nội dung của đề tài gồm 3 chương :
Chương 1: Khái quát về phong trào cách mạng Nghệ An trước năm 1930 Chương 2: Sự thành lập Đảng bộ Nghệ An
Chương 3: Ý nghĩa lịch sử về sự ra đời của Đảng bộ Nghệ An
Trang 8B NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ PHONG TRÀO CÁCH MẠNG NGHỆ AN
TRƯỚC NĂM 1930 1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội và truyền thống 1.1.1 Vị trí địa lý – điều kiện tự nhiên
Nghệ An là tỉnh ở khu vực Bắc Trung Bộ, tỉnh Nghệ An nằm trong tọa độ
từ 18033‟22” đến 19059‟58” vĩ độ Bắc và từ 103052‟15” đến 105048‟17” kinh độ Đông (tư liệu của cục bản đồ Bộ tài nguyên, môi trường, 2004) Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Tây giáp tỉnh Xiêng Khoảng, Pôlikhămxay, Hủa phăn thuộc nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, với đường biên giới dài 419 km, phía Đông trông ra biển Đông bao la
Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên là 16.487,39km2, chiếm khoảng 5% diện tích cả nước, với số dân là 3.014.850 người (31/12/2004) chiếm 3,7 % dân số cả nước Nghệ An là một tỉnh lớn của nước ta
Địa hình Nghệ An tương đối phức tạp và đa dạng lại bị chia cắt mạnh,
ở đây vừa có núi cao, núi trung bình, vừa có đồng bằng, vừa có vùng ven biển Địa hình đồi núi bao trùm trên 83% diện tích tự nhiên của tỉnh Khu vực phía Tây và Tây Nam có dãy Trường sơn trùng điệp chạy dài theo biên giới Việt – Lào, theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với các dãy núi bị chia cắt phức tạp, hiểm trở Ở đây có những đỉnh núi cao như Puxailaileng cao 2.711m (cao nhất Nghệ An), Pù Hoạt (2.452m), Pù Mát (1.841m) Khu vực trung du và cả đồng bằng ít núi cao do địa hình Caxto ở Nghệ An có những đặc điểm riêng, không kéo dài liên tục mà thường nằm rải rác, được nhân dân gọi là “lèn” thường cao từ 200-300m Đồi núi ở Nghệ An có nhiều lèn đá vôi đã tạo nên
Trang 9một số hang động đẹp như Thẩm Ồm, Thẩm Bua (Quỳ Châu), Poòng (Quỳ Hợp) Thẩm Hoi (Con Cuông)
Nghệ An có khá nhiều sông ngòi, lớn nhất là sông Lam (tức sông Cả), với 151 nhánh lớn nhỏ, dòng chính chảy trên đất Nghệ An dài khoảng 390km, phát nguyên từ đất Lào, chảy vào huyện Kì Sơn, dòng chính là Nậm Nơn, nhánh là Nậm Mộ, hợp lưu ở Cửa Rào Ngoài sông tự nhiên, còn có hệ thống kênh đào nối liền các con sông với nhau, gọi là kênh nhà Lê Hệ thống sông ngòi trong tỉnh có giá trị rất lớn đối với việc phát triển kinh tế - xã hội
Xưa kia các nhà phong thổ kí đều cho rằng, xứ Nghệ không được tạo hóa cưu mang Đó là một số mặt về nông nghiệp và đó là cách nhìn của tiền nhân Còn đứng về nhiều mặt mà nói, thiên nhiên không hoàn toàn bạc bẽo với Nghệ An Trong lòng đất nơi này còn chứa nhiều khoáng sản như: vàng, thiếc, chì, kẽm, mangan… Về khoáng sản phi kim loại như các loại đất sét làm gạch ngói, đá hoa Đặc biệt, đá vôi có trữ lượng rất lớn (khoảng 250 triệu
m3) phân bố rải rác ở nhiều nơi trong tỉnh nhất là ở Quỳnh Lưu, Anh Sơn…
Đó là nguồn nguyên liệu dồi dào cho các công trình xây dựng, làm đường xá, cho các nhà máy xi măng và các lò nung vôi Ngoài ra, tại Qùy Châu còn có các mỏ đá quý trong đó hồng ngọc là chủ yếu
Rừng Nghệ An có hầu hết các loại động thực vật của vùng nhiệt đới và cận ôn đới Hệ thực vật rừng phong phú về chủng loại Trong rừng có các loại
gỗ quý như pơ mu, lát hoa, sa mu, lim, táu…có giá trị kinh tế lớn Bên cạnh
đó còn có nhiều dược liệu quý như trầm hương, quế, sa nhân, cánh kiến, nhựa thông, mật ong… Động vật phong phú như voi, gấu hổ, khỉ, lợn rừng…
Bờ biển Nghệ An dài 92km, có nhiều cửa lạch Biển đáy nông và tương đối bằng phẳng, độ mặn trung bình 3,4 – 3.5% Nhờ độ mặn như vậy mà nghề làm muối có sản lượng cao trong mùa nắng hạ Biển có các loại hải sản quý
Trang 10như cá chim, cá thu, tôm, cua, mực…ven các cửa lạch có nhiều bãi lầy, đầm, phá, có thể khai thác làm đầm nuôi tôm, cua nước mặn
Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm chia thành bốn mùa rõ rệt Mùa xuân thường “nghèo màu sắc, hiếm âm thanh”, hè đến là nắng với gió Những đợt “nam Lào làm cho nứt đất, nẻ đồng, cạn cả khe suối, khô róc cả giếng ao, đầm, hồ, bụi mù tỏa đầy đường lùa vào cả nhà
ở, phủ lên đồ đạc Gió vồ vập làng mạc, gió rung chuyển cả núi rừng” [35,75] Tiếp đó là mùa thu với những cơn mưa lũ “trước thu phân lũ ngập tràn, ếch đẻ bếp cá sinh ngòi rãnh, sau sương giáng, mưa rơi tầm tã, vách lên rêu, đường
xá lầy bùn” [40, 18] Rồi đến mùa đông ủ dột, lạnh lẽo, tiêu điều
Giao thông vận tải của tỉnh khá phát triển Nghệ An có đường quốc lộ 1A xuyên Việt ở phía Đông, quốc lộ 15A xuyên Việt ở phía Tây, đi suốt chiều dài Bắc – Nam của tỉnh Quốc lộ 7 xuất phát từ quốc lộ 1A tại ngã ba Diễn Châu, đi theo hướng Tây Bắc, sang tận Xiêng Khoảng (Lào) Ngoài ra, còn có các tuyến đường khác nhau như: Quốc lộ 48, quốc lộ 46, các đường cấp tỉnh: 15B, 34,38,… có nhiều tác dụng trong việc lưu thông nội tỉnh Nghệ An có hai cảng biển Bến Thủy và Cửa Lò Cảng Cửa Lò được xác định là cảng vùng phục vụ cho ba tỉnh là Thanh - Nghệ - Tĩnh và là cảng trung chuyển cho vùng
Hạ Lào Cảng sông Bến Thủy có từ thời Pháp thuộc, được nạo vét và mở rộng vào năm 1929
Về đường hàng không, sân bay Vinh xây dựng từ năm 1929, nay đang được tiến hành nâng cấp để đáp ứng yêu cầu vận tải hàng không dân sự và quân sự
Thành phố Vinh là trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa của tỉnh, nằm cách Hà Nội 291km về phía Bắc và cách Huế 367km về phía Nam
Trang 11Do nằm ở vị trí chiến lược quan trọng trong nhiều thế kỉ trước, người ta luôn xem Nghệ An là vùng đất rộng, địa thế hiểm yếu, thuận lợi cho cả tiến công và phòng thủ Trong các cuộc chiến đấu chống giặc giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc, Nghệ An luôn trở thành vùng chiến lược quan trọng của cả nước, nơi đây đã có lúc là bãi chiến trường, là “chỗ dựa lúc phòng thủ”, là
“nơi đứng chân” để xây dựng lực lượng và cũng là nơi xuất phát của các cuộc tấn công áp đảo quân thù
Nhận xét về vị trí của Nghệ An, Phan Huy Chú trong “Lịch triều hiến chương loại chí” cho rằng:
“Nghệ An… núi cao, sông sâu, phong tục trọng hậu, cảnh tượng tươi sáng, gọi là đất có danh tiếng hơn cả Nam Châu Người thì thuần hòa chăm học, sản vật thì nhiều thứ quý của lạ Những vị thần ở núi, ở biển phần nhiều
có tính linh thiêng Được khí tốt của sông núi, nên sinh ra nhiều bậc danh hiền Lại có khoảng đất liền với đất người Nam, người Lào, làm giới hạn cho hai miền Nam, Bắc thực là nơi hiểm yếu, như thành đồng ao nóng của nước
và là then khóa của các triều đại” [35,62-63]
1.1.2 Kinh tế - xã hội
Sáng ngày 1/9/1858, chiến thuyền của liên quân Pháp – Tây Ban Nha
nổ súng tấn công vào cửa biển Đà Nẵng chính thức mở đầu quá trình xâm lược Việt Nam Vừa đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà, quân Pháp đã vấp phải sự kháng cự của quân đội triều đình do Nguyễn Tri Phương chỉ huy Với tinh thần đấu tranh của nhân dân ta đã làm cho kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp thất bại
Trước sự ồ ạt về quân số và sự hiện đại của vũ khí, của phương tiện chiến tranh đã làm cho triều đình Huế vô cùng hoang mang và lúng túng, kèm
Trang 12theo đó là thái độ không kiên quyết của vua quan nhà Nguyễn “đã đẩy nguy
cơ mất nước từ không tất yếu thành tất yếu”
Với hiệp ước Hácmăng (Harmand) 1883, và Pa-tơ-nốt (Pathenotre)
1884, triều đình nhà Nguyễn đã dâng nước ta cho Pháp và tự biến mình thành
kẻ bù nhìn, làm tay sai cho giặc Pháp, phản bội nhân dân Đến đây, nhà nước phong kiến Việt Nam thực sự chấm dứt vai trò tích cực của mình trong lịch
sử, ngày càng đi ngược lại với lợi ích của dân tộc
Ngày 20/7/1885, tướng Sơ-mông đem hai đại đội lính Pháp gồm 188 tên đổ bộ lên Cửa Hội, tiến vào đánh chiếm thành Nghệ An Thương biện tỉnh
vụ Nghệ An là Vũ Trọng Bình đã hèn nhát dâng thành Nghệ An cho giặc Tòa nhà kiên cố tượng trưng cho vương quyền họ Nguyễn ở lưu vực sông Lam đã hoàn toàn mất hết chức năng là một pháo đài quân sự: “Sĩ quan và lực lượng viễn chinh Pháp đổ bộ lên Cửa Hội, vào thành Nghệ An như đi vào chỗ không người” [32,59] Từ đây số phận của Nghệ An nói riêng và toàn xứ Trung kì nói chung bước vào một giai đoạn đầy khó khăn, thử thách
Để củng cố hơn nữa ách thống trị nước ta, thực dân Pháp đã tiến hành khai thác thuộc địa với quy mô ngày càng lớn Với mưu đồ cai trị của chúng, dưới sự sắp đặt của các quan thầy Pháp, chính cơ mật viện triều đình Huế và vua Thành Thái đã thành lập các đô thị ở Trung kỳ Đến 30/8/1899, Toàn quyền Đông Dương là Pôn Đume (Paul Doumer) đã ký nghị định chuẩn y đạo
dụ của vua Thành Thái về việc thành lập 6 trung tâm đô thị ở Trung kỳ trong
đó có Vinh “Vinh trở thành một mắt xích quan trọng đối với chính quyền thuộc địa cả về kinh tế lẫn chính trị - văn hóa” [32,88]
Năm 1914, Toàn quyền Đông Dương buộc vua Duy Tân ra đạo dụ ngày 11/3/1914 nâng thị trấn Bến Thủy lên thành thị xã Bến Thủy, và ngày 18/21916, Pôn Đume ra nghị định hợp nhất hai thị xã Vinh và Bến Thủy
Trang 13thành thị xã Vinh – Bến thủy Đến 28/7/1917, Khải Định lại ra một đạo dụ thành lập thị xã Trường Thi
Như vậy, đến thời điểm này, ở Nghệ An có ba thị xã, đây là những trung tâm đô thị được hiểu theo nghĩa hiện đại chứ không phải là những đô thị với những chức năng của “đô thị Phương Đông” trong thời kỳ trung đại dưới chế độ quân chủ Ba thị xã này tồn tại vơi ba chức năng khác nhau: Vinh là trung tâm chính trị; Trường Thi là thị xã của công nghiệp sửa chữa máy móc
và Bến Thủy là trung tâm thương nghiệp giao lưu và buôn bán luân chuyển với bên ngoài Cả ba trung tâm này đều đặt dưới sự điều hành của Công sứ Nghệ An (kiêm công sứ Vinh) và một hội đồng đô thị chung “Chính sự ra đời của ba trung tâm Vinh - Bến Thủy – Trường Thi đã khẳng định vị trí chiến lược của vùng đất này trong Liên bang Đông Dương” [32,11]
Đến ngày 10/12/1927, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định bãi bỏ thị
xã Vinh, Bến Thủy, Trường Thi và ra nghị định sáp nhập địa bàn của ba thị xã
đó thành lập Thành phố Vinh – Bến Thủy được đặt dưới sự điều hành của Công sứ Nghệ An kiêm giữ chức Đốc lý thành phố Số dân thành phố năm
1933 có 19.811 người (trong đó có 18.960 người Việt, 340 người Pháp, 942 người Hoa, 21 người Ấn Độ) [1,9]
Về kinh tế: có thể nói từ rất sớm người Pháp đã nhận thấy rõ vai trò quan trọng của Vinh – Bến Thủy cũng như của Nghệ An trong chiến lược khai thác của mình Từ năm 1917, một nhà tư bản Pháp đã dự đoán “Vinh - Bến Thủy là một thành phố có nhiều triển vọng Đây là cái chìa khóa của xứ Lào, vì có hai con đường chính nối liền Lào với cảng Bến Thủy: đường Vinh sang Trấn Ninh qua Cửa Rào, đường Vinh sang Mê-kông qua Khăm Muộn là tỉnh giàu có của xứ Lào Sau này có thêm con đường thứ ba mở đi phía Nam đèo Mụ Dạ qua Lào và lưu vực sông Sêbanphai Lào là một sứ nuôi gia súc đặc biệt …” [2,26]
Trang 14“…Bến Thủy có đầy đủ đường giao thông các mặt và tất cả đều nhóm
về cảng Hai tỉnh quan trọng này có trên một triệu rưỡi dân cũng tập trung ở
xung quanh đây Ngoài ra, hai tỉnh của xứ Lào là Khăm Muộn và Trấn Ninh
cũng dùng cảng Bến Thủy làm nơi giao xuất hàng hóa cuối cùng Trước hết,
chúng ta cần phải xem xét những sản vật sẵn có ở đây để xuất cảng như than
đá, chì, kẽm, gỗ và các thứ lâm sản khác như cà phê, chè, quả cây, gạo, ngô
và da súc vật…‟‟[2, 26-27]
Từ nhận định trên, tư bản Pháp đã đẩy mạnh tốc độ xây dựng cơ sở
công, thương nghiệp ở Vinh - Bến Thủy Tại đây, từ năm 1924 trở đi đã có tới
hàng chục nhà máy với quy mô lớn nhỏ khác nhau cùng hoạt động như diêm,
cưa, sửa chữa xe lửa, điện, cá hộp, rượu… trong đó có những nhà máy lớn tập
trung hàng ngàn công nhân cùng nhiều thợ là nông dân, bao gồm cả phụ nữ và
trẻ em như nhà máy sửa chữa xe lửa Trường Thi, nhà máy Diêm Có rất nhiều
người công nhân Vinh - Bến Thủy xuất thân từ nông dân hoặc có mối quan hệ
mật thiết với nông dân khi đã trở thành công nhân Ban ngày làm ở nhà máy,
ban đêm lại về nhà riêng ở vùng ngoại thành Ngày nghỉ, họ là nông dân thực
thụ Đúng là “công nông chung một mái nhà” Mối quan hệ trực tiếp tự nhiên
đó là một điều kiện vô cùng thuận lợi cho viêc xây dựng khối liên minh giữa
hai giai cấp nông dân và công nhân ở Nghệ - Tĩnh
Công ty tư bản Pháp xây dựng cơ sở khai thác đầu tiên ở Nghệ - Tĩnh là
Hội làm diêm Đông Dương và Hội lâm nghiệp thương mại Trung Kỳ Hai hội
này được thành lập từ năm 1891 đến năm 1922 nhập lại thành Hội lâm nghiệp
làm diêm Đông Dương gọi tắt là SIFA, đặt trụ sở ở Bến Thủy Đây là tập
đoàn tư bản Pháp kinh doanh lớn, có thế lực nhất Trung Kỳ Ngoài sản xuất
diêm, khai thác gỗ và các lâm sản để xuất khẩu chúng còn kinh doanh cả hàng
nhập khẩu và mở đồn điền Cơ sở sản xuất của chúng gồm có nhà máy diêm,
nhà máy điện, nhà máy cưa ở Bến Thủy và một đồn điền lớn ở huyện Nghĩa
Đàn – đồn điền Phủ Qùy với khoảng 1.500 công nhân Số vốn đầu tư và lợi
nhuận của chúng tăng vọt lên hằng năm:
Trang 15năm 1900 Công ty này có xưởng cưa mộc, chuyên làm gỗ xuất khẩu với
khoảng 300 thợ Ngoài ra, nhiều hiệu buôn và công ty khác của Pháp cũng có
trụ sở, chi điếm đại lý ở Vinh - Bến Thủy, như công ty Bắc Kỳ và miền Bắc
Trung Kỳ, liên hiệp thương mại Đông Dương Bên cạnh tư bản Pháp còn có
tư bản Hoa, Ấn cũng đầu tư vào Nghệ An Ngoài việc nắm giữ các ngành
công -thương mại, tư bản Hoa, Pháp còn xúc tiến khai mỏ và lập đồn điền
Đến năm 1923, ở Nghệ An chỉ có 17 đơn xin khai mỏ, đến năm 1926 đã tăng
lên 71 đơn [2, 28] Năm 1929, tư bản Pháp đã lập 40 đồn điền với 19.720 ha
ruộng đất ở hai tỉnh [6, 24]
Qua bảng hàng xuất nhập khẩu của cảng sông Bến Thủy từ năm 1924
đến năm 1930 có thể thấy số hàng xuất nhập khẩu đó ngày càng tăng:
Trang 16Tư bản Pháp còn độc quyền kinh doanh một số mặt hàng đặc biệt Ngày 20/12/1902, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cho công ty Bắc Kỳ
và miền Bắc Trung Kỳ độc quyền kinh doanh rượu, muối, thuốc phiện, thuốc lào Riêng tại Nghệ An chúng đã lập ra 17 đồn thương chính chuyên phụ trách việc kiểm soát những mặt hàng đó Thâm độc và trắng trợn nhất là chúng phân bổ theo đầu người, buộc từng làng phải tiêu thụ hết số rượu Phôngten (Fontaine) của chúng Năm 1912, Nghệ An phải tiêu thụ 13.269 lít, đến năm
1927 lên tới hơn 1 triệu lít Phông ten [38,22]
Về muối, chúng độc quyền quản lý hầu hết các đồng muối ở Nghệ - Tĩnh Gíá muối chúng thu mua là 0,6 đồng 1 tạ, giá bán ra tại chỗ là 3,2 đồng Chúng thiết lập đồn thương chánh khắp các vùng, ngày đêm bủa lính chặn các ngả đường, sục sạo tận hang cùng ngõ hẻm để kiểm soát muối “lậu” và rượu
“lậu” Nhà lao Vinh chật ních tù nhân phạm tội nấu rượu “lậu”, bán muối
“lậu” [2,28-29]
Chế độ sưu thuế cũng hết sức nặng nề Với hàng trăm thứ thuế đã ghì chặt người lao động xuống đất đen Điển hình có thuế điền thổ và thuế đinh Thuế điền thổ được chia làm 4 hạng điền, 6 hạng thổ Năm 1898 thuế mỗi mẫu (Trung Kỳ là 0,5 ha) hạng nhất là 1,5 đồng, hạng nhì là 1,2 đồng Đến năm 1929 hạng nhất nhảy lên 1,95 đồng, hạng nhì 1,56 đồng Thuế mỗi năm một tăng: năm 1904 tăng 8%, năm 1924 tăng 30% Tổng số thuế ở Nghệ An năm 1912 là 360.468 đồng, đến năm 1931 tăng lên 552.000 đồng [32, 23]
Trung Kỳ là xứ “bảo hộ” nên ở Nghệ An, bên cạnh bộ máy cai trị nặng
nề của thực dân Pháp với hàng chục cơ quan chuyên môn giúp việc về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… còn có bộ máy chính quyền tay sai với những thể chế, luật pháp phong kiến khắt khe được bọn thực dân duy trì để phục vụ cho chính sách cai trị của chúng Cả hai bộ máy cai trị đó câu kết với nhau, đàn áp, bóc lột nhân dân đến tận xương tủy Cho nên, ngoài thuế điền thổ,
Trang 17thuế đinh, chúng còn đặt ra thuế thân Thuế thân là một thứ thuế hết sức vô lý, lạc hậu đánh vào đầu người tráng đinh mà không một nước văn minh nào còn
áp dụng nhưng vẫn tồn tại dưới thời nhà Nguyễn Trước năm 1928, chúng chia nhân đinh ra làm bốn hạng để nạp các thứ thuế khác nhau Ngày 30/10/1928, chúng sửa đổi lại: tất cả nhân đinh từ 18-60 tuổi đều phải nạp đồng loạt là 25 đồng mỗi năm Ngoài thuế chính, hằng năm chúng còn “gia bách phân” là 8% Đến 1929, thuế “gia bách phân” nhảy lên 20% (tức mỗi xuất đinh phải nạp tới ba đồng) [2, 29]
Ngoài thuế thực dân Pháp còn bày trò “lạc quyên”, “quốc trái” để vơ vét kiệt quệ của cải trong dân chúng Chỉ tính riêng vài đợt quốc trái trong hai năm 1917, 1918 chúng đã vơ vét của nhân dân tỉnh Nghệ An 505.744 phơrăng [32,24] Thực dân Pháp cũng tìm mọi cách cướp đoạt ruộng đất của nông dân
để lập đồn điền Nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày 15/10/1890 cho phép mỗi nhà tư bản Pháp được chiếm một lúc 500ha đất Theo báo cáo của Sở công chính Trung Kỳ đến năm 1923, riêng ở Nghĩa Đàn có đến 10 đồn điền với diện tích lớn nhỏ khác nhau: Laipicơ có 7.500ha, Oante: 6.000ha, Xanta: 500ha, Yên Thành có đồn điền của Côlanhgơ: 400ha; Quỳnh Lưu có Êmilơ: 182 ha [38, 25] Mở đồn điền đến đâu Pháp tăng cường tuyển mộ Culi đến đó, hàng trăm người dân xứ Nghệ bị bắt làm Culi với đồng lương rẻ mạt, những biện pháp cưỡng bức, đánh đập, đã làm cho mâu thuẫn của nhân dân với thực dân Pháp ngày càng lên cao Bên cạnh đó, chính sách dung dưỡng của thực dân Pháp cũng tạo nên thế và lực của địa chủ, quan lại phong kiến ngày càng tăng lên Chúng ra sức bóc lột địa tô và cướp đoạt ruộng đất của nông dân để làm giàu Nhiều địa chủ có từ 500 đến 1000 mẫu đất như: Đặng Văn Hướng, Đặng Oánh, Hàn Long, Thái Thị Vực… Mục đích khai thác của
tư bản Pháp ở Việt Nam là vơ vét tài nguyên và nhân công rẻ mạt Để đạt mục đích đó chúng thực hiện chính sách độc quyền kinh tế và không đầu tư máy
Trang 18móc vào công nghiệp, hạn chế các chi phí sản xuất và kết hợp phương thức bóc lột tư bản với phương thức bóc lột phong kiến lạc hậu để thu lợi nhuận cao Nhà máy diêm Bến Thủy hàng ngày có hàng nghìn công nhân làm việc nhưng chỉ có vài chục chiếc máy cưa và trên mười chiếc máy sản xuất đồ gỗ Hầu hết các công việc trong nhà máy đều là lao động thủ công
Về giao thông vận tải: Thực dân Pháp đã hoàn thành được những trục đường: Quốc lộ số 1 Bắc Nam qua Nghệ An , quốc lộ số 7 (Vinh - Cửa Rào – Lào), quốc lộ số 8 (Vinh – Napê, Lào) Năm 1927, đường sắt Hà Nội – Vinh được nối liền với Đông Hà - Huế - Đà Nẵng Năm 1929, thực dân Pháp xây dựng xong sân bay Vinh, rải đá đường Napê – Thàkhẹt để chuyên chở quặng thiếc, rải đá đường Vinh – Cửa Rào, mở rộng thu mua lâm, thổ sản ở Trấn Ninh Ngày 8/1/1929, chính phủ Pháp quyết định chi 10 triệu phơrăng cho việc nạo vét lòng sông Lam, mở rộng cảng Bến Thủy
Từ sau điều ước Patơnốt 1884, nhân dân ta một cổ hai tròng, vừa phải chịu ách cai trị của thực dân Pháp vừa bị bọn phong kiến Nam triều đè nén Cũng như các tỉnh ở Trung Kỳ, tại Nghệ An, chính quyền “bảo hộ” của thực dân Pháp nắm hết mọi quyền hành pháp và tư pháp Chính quyền phong kiến chỉ là bù nhìn tay sai Tổng đốc đứng đầu tỉnh, tiếp đến là Bố chánh (trông coi thuế má, ruộng đất, dân số), Án sát (trông coi hình pháp), Đốc học, Lãnh binh (trông coi trị an), cùng với các chức sắc, thông phán, lục sự… Bên cạnh bộ máy quan lại, phong kiến còn có Tòa công sứ do Công sứ đứng đầu, rồi đến phó sứ (chuyên việc văn phòng và chủ kho bạc) Ngoài ra còn có Tham tá, Thông phán là người Việt Riêng sở mật thám và trại giám binh làm chức năng theo dõi và trấn áp quần chúng
* Văn hóa – xã hội:
Ngay từ đầu thực dân Pháp đã nhận thấy rằng: “thật không thể nào để cho người An Nam được học lịch sử và sách của chúng ta mà không gây cho
Trang 19họ lòng yêu nước, yêu tự do Kinh nghiệm của các dân tộc khác, ở Châu Âu
đã chỉ ra rằng việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản xứ là hết sức dại dột [33, 21] Với lối tư duy nham hiểm đó, thực dân Pháp đã áp đặt một nền văn hóa giáo dục lạc hậu đối với nhân dân ta Mảnh đất Lam Hồng vốn là mảnh đất hiếu học, cái nôi của những con người học rộng tài cao Nền khoa cử nho học nước nhà đã dành những trang ưu ái nhất để ghi danh bao con người xứ Nghệ Song thời kỳ này giáo dục nho học đã lỗi thời cùng với
sự tiêu vong của chế độ phong kiến Thế nhưng thực dân Pháp vẫn duy trì nền giáo dục cũ kết hợp với mở nhỏ giọt một số trường mới nhằm đào tạo tay sai Bởi lẽ, chúng hiểu rõ rằng việc thủ tiêu hoàn toàn nền giáo dục cũ “chẳng khác gì phế bỏ sông Hồng vì nó cũng bắt nguồn từ Trung Quốc, mà phải tóm lấy nó, thu thập để nó có lợi cho chúng ta (Đuy-mu-chi-le) [33, 22] Vả lại chúng ta thấy rằng không thể thiết lập một nền giáo dục Pháp ở Việt Nam nói chung và ở Nghệ An nói riêng Do đó việc làm cấp bách mà Pôn-be Tổng sứ Bắc Trung Kỳ là “nhanh chóng thiết lập mối quan hệ trực tiếp càng nhiều càng tốt giữa dân tộc An Nam với chúng ta bằng cách truyền bá sự thông dụng của tiếng Pháp cũng như sự hiểu biết về phong tục và khoa học của chúng ta [33, 23] Đồng thời “cũng phải có một giáo trình về tiếng Nho… nếu trẻ con An Nam ra khỏi trường của chúng ta mà không biết đọc và viết chữ Nho thông dụng… họ sẽ trở thành nhà ngoại quốc trong xứ sở của họ [33,25]
Năm 1912, Pháp mở một trường Cao đẳng tiểu học (quốc học) tại Vinh, nhưng không phải mở riêng cho Nghệ An mà là mở chung cho 4 tỉnh: Thanh - Nghệ - Tĩnh - Bình Những năm đầu thế kỷ XX chỉ có một tờ báo “Thanh – Nghệ - Tĩnh tân văn‟‟ của chính quyền thực dân Năm 1918, cả tỉnh Nghệ An có
8 trường tiểu học với 726 học sinh, 128 trường ấu học với 3.095 học sinh [2, 32]
Sự hỗn độn của hai nền giáo dục mang tính chất nô dịch đã không còn nhiều ý nghĩa thiết thực trong việc mở mang dân trí Ngược lại làm cho nền
Trang 20giáo dục bị thui chột, nghèo nàn Mục đích làm cho nhân dân Nghệ An “cảm cái ơn khai hóa văn minh” của thực dân Pháp cũng như mưu đồ dùng văn minh phương Tây “ve vãn”, lung lạc tinh thần của nhân dân Dân tộc Việt Nam hàng nghìn năm văn hiến, mảnh đất Hồng Lam với bao truyền thống tốt đẹp vẫn được nuôi dưỡng giữ gìn trong tâm thức mỗi người
Bên cạnh đó chính sách bắt buộc phải tiêu thụ rượu cồn (rượu phông ten) của thực dân Pháp đã làm cho số người nghiện rượu tăng lên Ở Vinh có phố “nhà thổ”, tiệm hút, nhà săm, nhà cô đầu, trong khi đó lại vắng bóng các
cơ sở văn hóa Đầu thế kỷ XX, cư dân xứ Nghệ ngoài Phật giáo và Nho giáo thì đạo Thiên chúa cũng xâm nhập và đi sâu vào đời sống dân cư Các hủ tục nặng nề ở nông thôn cũng được thực dân Pháp dung túng, khuyến khích dưới chiêu bài “tôn trọng lễ nghi phong tục cổ truyền” Càng hủ tục, bọn cường hào lý càng dễ nhũng nhiễu nhân dân
Chính sách cai trị và bóc lột của thực dân Pháp là một chính sách độc quyền về kinh tế, chuyên chế về chính trị, nhằm biến Việt Nam thành nơi cung cấp nguyên liệu, bóc lột nhân công và tiêu thụ hàng hóa ế thừa của chính quốc, biến chính quyền phong kiến trở thành chính quyền bù nhìn tay sai Chính sách đó đã làm cho nguồn tài nguyên nước ta nói chung và Nghệ An nói riêng ngày càng kiệt quệ, đời sống nhân dân điêu đứng, xã hội Nghệ An ngày càng phân hóa sâu sắc
Nông dân Nghệ An chiếm 90% dân số toàn tỉnh Họ là đối tượng bóc lột chủ yếu của thực dân Pháp và bọn phong kiến, bị bóc lột bởi hàng trăm thứ thuế nặng nề, bị cướp đoạt ruộng đất lại phải phu phen tạp dịch, bị bọn hào lý
hà hiếp, nhũng nhiễu Cùng với thiên tai, mất mùa đã nhanh chóng đẩy người nông dân vào con đường bấn cùng hóa Nông dân chính là giai cấp chịu hậu quả nặng nề nhất của chính sách kinh tế thực dân nên giai cấp này sớm bị phân hóa mạnh mẽ Một bộ phận trở thành tá điền trên mảnh ruộng của mình,
Trang 21một số không có ruộng đất phải lang thang kiếm sống, số đông nông dân vô sản hóa vào làm trong các đồn điền, xí nghiệp các khu vực Vinh - Bến Thủy hay đồn điền Phủ Qùy Một số khác như ở huyện Thanh Chương, Nam Đàn, Anh Sơn nông dân đã vào “phe hộ” để chống lại “phe hào” đòi chúng phải giải quyết ruộng đất và các quyền lợi chính đáng cho nông dân Nhiều nơi,
“phe hộ” đã khống chế được “phe hào” hoặc trừng trị cả bọn Tây đoan về bắt rượu lậu Sống trên mảnh đất có bề dày truyền thống yêu nước, các tầng lớp nông dân Nghệ An từ cố nông, bần nông, trung nông và ngay cả phú nông đều giàu lòng yêu nước, có tinh thần dân tộc Với đặc điểm như vậy, nông dân luôn là giai cấp đông đảo nhất, lực lượng hăng hái nhất trong các phong trào cách mạng ở Nghệ An
Giai cấp địa chủ ở Nghệ An có nhiều hạng Số địa chủ kiêm quan lại phong kiến, địa chủ lớn, địa chủ Nhà chung hầu hết đều có quyền lợi gắn chặt với đế quốc và câu kết với chúng chống phá các phong trào yêu nước và cách mạng Địa chủ Nghệ An không lớn nhưng rất đông Bộ phận địa chủ vừa và nhỏ không có thế lực lại bị thực dân và quan lại phong kiến chèn ép, ít nhiều cũng có mâu thuẫn với chúng và có tinh thần dân tộc Trong các phong trào yêu nước, số địa chủ tham gia khá đông Không ít con em các nhà giàu đã tích cực tham gia các phong trào yêu nước và cách mạng Một số trở thành cán bộ chủ chốt, hạt nhân nòng cốt của phong trào
Cùng với sự phân hóa các giai cấp cũ, nhiều giai cấp mới đã xuất hiện Qua các cuộc khai thác của thực dân Pháp ở Việt Nam nói chung và ở Nghệ
An nói riêng, một số giai cấp mới đã hình thành và lớn lên nhanh chóng Đó
là giai cấp công nhân Phần lớn giai cấp công nhân ở Nghệ An đều xuất thân
từ nông dân, một số ít từ dân nghèo thành thị Do vậy họ vẫn giữ mối liên hệ mật thiết với nông dân Công nhân chủ yếu tập trung ở khu công nghiệp Vinh
- Bến Thủy và ở các đồn điền Họ làm việc cật lực nhưng đồng lương nhận
Trang 22được thì rẻ mạt Họ phải làm từ 10-14 giờ, lương từ 5 xu đến 3 hào một ngày [2,33-34] Họ vừa chịu sự bóc lột của tư bản, vừa bị phong kiến áp bức, công nhân Nghệ An rất căm thù đế quốc Họ mang trong mình truyền thống yêu nước và cách mạng rất nhiệt thành của mảnh đất Hồng Lam Chính điều đó đã làm cho giai cấp công nhân Nghệ An giác ngộ chính trị từ rất sớm Cùng với tinh thần dân tộc và giai cấp, công nhân hăng hái tham gia các phong trào yêu nước và cách mạng Tuy số lượng ít ỏi (chiếm chỉ khoảng 1% dân số), trình
độ văn hóa kỹ thuật còn thấp, nhưng giai cấp công nhân Nghệ An có đủ tư cách là địa biểu cho lực lượng sản xuất mới, là giai cấp xứng đáng cầm ngọn
cờ cách mạng, đánh đổ đế quốc phong kiến, đưa quần chúng lao khổ lên làm chủ vận mệnh của mình
Giai cấp tư sản Nghệ An hình thành sau giai cấp công nhân, thế lực nhỏ yếu Phần lớn xuất thân từ địa chủ, phú nông Do tư bản Pháp nắm độc quyền
về kinh tế nên tư sản Nghệ An chủ yếu làm đại lý thu mua và bán hàng cho tư sản Pháp Tư sản Nghệ An muốn mở mang và phát triển kinh tế nhưng bị tư sản Pháp và bị tư sản nước ngoài chèn ép nên không thể phát triển được Do
đó, họ có tư tưởng chống đế quốc và phong kiến, vẫn có tinh thần dân tộc Bên cạnh đó, tồn tại một bộ phận tư sản có quyền lợi gắn chặt với đế quốc,
ôm chân đế quốc phản bội quyền lợi dân tộc
Tầng lớp tiểu tư sản Nghệ An ngày càng đông đảo Bao gồm viên chức, trí thức, học sinh, thợ thủ công, tiểu thương, tiểu chủ tập trung chủ yếu ở Vinh -Bến Thủy, thị trấn Đô Lương Đa phần trong số họ lớn lên từ các vùng quê nên
ít nhiều có mối liên hệ mật thiết với nông dân Chính sách cai trị của thực dân phong kiến càng làm cho đời sống của họ trở nên bấp bênh, luôn bị đe dọa bởi nạn thất nghiệp, phá sản Một số trí thức, học sinh Nghệ An vốn là “cừu gia tử đệ” (con em các gia đình có người hoạt động chống Pháp) đã phát huy truyền thống của gia đình, quê hương nhiệt tình tham gia các phong trào yêu nước và
Trang 23là lực lượng tiên phong nhạy bén tiếp thu, giác ngộ, truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào nước ta làm cho phong trào yêu nước và phong trào công nhân Nghệ
An nhanh chóng chuyển biến theo khuynh hướng vô sản
Mảnh đất Hồng Lam với bao khó khăn, khắc nghiệt của thiên nhiên đã
“phả” vào hơi thở, vào giọng nói, và huyết mạch của mỗi người từ khi cất tiếng khóc chào đời tất cả những gì thiêng liêng nhất Thiên nhiên không dễ dãi mà “khó tính” đến khắc nghiệt Đời sống của nhân dân vốn đã khổ cực, lại
bị đế quốc, phong kiến áp bức bóc lột nặng nề nên càng điêu đứng Họ không còn con đường nào khác ngoài con đường đấu tranh để tự giải phóng giành lấy quyền sống cho mình và cho gia đình
1.1.3 Truyền thống yêu nước và cách mạng
Dải đất Lam Hồng là một phần đất của Tổ quốc, là nơi hội tụ khí thiêng sông núi Lịch sử dân tộc có bao nhiêu ngày thịnh suy, hưng vong ra sao thì lịch sử Nghệ An cũng chịu từng đó tác động Do nằm ở vị trí quan trọng về mặt chính trị, xã hội, Nghệ An luôn phải đứng mũi, chịu sào trước các thế lực ngoại bang xâm lược từ hai phía Nam và Bắc suốt chiều dài lịch sử Thời nguyên thủy, Nghệ An đã là một bộ phận của cộng đồng cư dân người Việt
cổ, góp phần xây dựng nền văn hóa vật chất và tính thống nhất của toàn cộng đồng Đây là nơi ở của người vượn cổ sinh sống mà các nhà khảo cổ đã tìm
Trang 24thấy dấu tích ở hang Thẩm Ồm (Qùy Châu) Nền văn hóa Quỳnh Văn phát triển trong thời đại đồ đá mới đã một lần nữa chứng tỏ sức sống, sức sáng tạo của con người nơi đây ngay từ buổi khai thiên lập địa Lịch sử thành văn của dân tộc ta từ khi có nhà nước đến nay qua mỗi chặng đường tiến hóa đều in đậm dấu ấn của người xứ Nghệ Thời cổ đây gọi là Việt Thường, sau này trong cả một quá trình lịch sử lâu dài đã có bao nhiêu lần đổi thay, khi là một huyện, một quận, một châu, một lộ, một thừa tuyên, một xứ,…khi là hai châu, hai lộ, hai phủ, hai trại, hai tỉnh rộng hẹp khác nhau Năm Thiên Thành thứ 3 (1030), đời Lý Thái Tông tên “Nghệ An” mới xuất hiện và trở thành cái tên quen thuộc: cái tên của đau thương, cái tên của tự hào
Sống trên mảnh đất gió Lào, nắng lắm, mưa nhiều Người Nghệ An không chỉ cần cù, chịu khó, ra sức cải tạo thiên nhiên, tích cực lao động sản xuất mà còn dũng cảm chống lại áp bức bất công đầy ngang trái trong xã hội
Ngay từ những năm đầu dựng nước, cha ông ta đã xem Nghệ An như là
“trọng trấn”, “viễn trấn” là then chốt của các triều đại” Với vị trí chiến lược ấy,
từ bao đời nay người Nghệ An không phút nghỉ ngơi, phải gồng mình lên chống lại các lực lượng phương Bắc và các quốc gia phong kiến phương Nam lăm le xâm lược Suốt chặng đường dân tộc đã trải qua, đất Nghệ An, dân Nghệ
An luôn là tâm điểm của các phong trào đấu tranh, phong trào yêu nước chống các thế lực thù địch bảo vệ bầu trời bình yên của quê hương xứ sở
Từ năm 179 TCN, sự thất bại của Âu Lạc trước quân xâm lược Triệu Đà, nhân dân Nghệ An đã cùng nhân dân cả nước nhiều lần vùng dậy chống lại ách
đô hộ của phong kiến phương Bắc, giành lại độc lập tự chủ cho dân tộc
Mở dầu cho phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân Nghệ An
là hành động ủng hộ cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo nổ ra ở Giao Chỉ (mùa xuân năm 40) Cuộc khởi nghĩa thắng lợi đã làm cho Nghệ An trở
Trang 25thành một bộ phận của vương quốc độc lập thời Trưng Vương từ năm 40 đến năm 43
Mùa xuân năm 542, nhân dân Nghệ An đã góp phần xứng đáng vào cuộc khởi nghĩa của Lí Bí Lí Bí trước đó đã từng giữ chức Giám quan ở Đức Châu (Nghệ An) Chính tinh thần bất khuất của nhân dân Nghệ An đã củng cố thêm ý chí quyết tâm từ bỏ chính quyền đô hộ và chuẩn bị khởi nghĩa của Lí
Bí Cuộc khởi nghĩa thắng lợi đã dẫn đến sự ra đời của nhà nước Vạn Xuân độc lập tồn tại tới năm 602
Cuộc khởi nghĩa lớn nhất, tiêu biểu nhất cho tinh thần yêu nước, ý chí giành độc lập của dân Nghệ An là cuộc khởi nghĩa do Mai Thúc Loan lãnh đạo năm 713 Ngay sau khi Mai Thúc Loan phất cờ khởi nghĩa, nhân dân khắp nơi vùng dậy hưởng ứng Căn cứ của cuộc khởi nghĩa được xây dựng ở vùng Sa Nam (Nam Đàn) Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng lan rộng ra Diễn Châu, Ái Châu Nghĩa quân thừa thắng tiến ra Bắc, chiếm cả thành Tống Bình (Hà Nội), giải phóng cả nước Cuộc khởi nghĩa giành thắng lợi khi phong kiến nhà Đường đang cực thịnh dưới thời Đường Huyền Tông Mai Thúc Loan xưng đế, đặt ngang tầm hoàng đế „thiên triều”, đã khẳng định quyền độc lập của dân tộc ta Nhưng đáng tiếc cuộc khởi nghĩa cuối cùng bị thất bại
Trong kỉ nguyên độc lập tự chủ, con người xứ Nghệ tiếp tục đóng góp công sức làm nên nhiều chiến thắng vẻ vang Thời Trần ba lần chiến thắng Mông – Nguyên đều ghi dấu ấn của người Nghệ An
Khi Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa, Nghệ An lại là “đất lập cước”, chỗ đứng chân của nghĩa quân.Từ mảnh đất ấy, bao người con ưu tú của người con xứ Nghệ đã đứng dưới cờ khỏi nghĩa, ra sức chiến đấu lập nên nhiều kỳ tích xứng đáng với câu nhận xét của Lê Lợi “đất xứ Nghệ thắng địa, lính xứ Nghệ thắng binh”
Trang 26Bước sang thế kỷ XVIII, trong cuộc hành quân thần tốc ra Bắc để tiêu diệt 29 vạn quân Thanh, Hoàng đế Quang Trung đã dừng chân tại Nghệ An để tuyển quân Dưới lời hiệu triệu của người anh hùng áo vải này, cuộc xung quân kỷ lục đã diễn ra Chỉ trong vài ngày, hàng ngàn con em xứ Nghệ đã gia nhập nghĩa quân, góp phần làm nên thắng lợi Ngọc Hồi – Đống Đa vào mùa xuân Kỷ Dậu 1789
Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (1858), trước thái độ của triều đình Huế, nhân dân Nghệ An đã tỏ rõ quyết tâm “đánh cả triều lẫn Tây” Năm
1874, hàng vạn nông dân Thanh Chương và Nam Đàn tham gia vào cuộc khởi nghĩa do Đặng Thai Mai và Trần Tấn lãnh đạo đã “ khẳng định lòng yêu nước nồng nàn, chí căm thù của nhân dân xứ Nghệ” [34,11]
Vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ tinh thần đấu tranh đánh giặc cứu nước trong mỗi người dân xứ Nghệ như ngọn lửa vẫn âm ỉ cháy chỉ chờ cơn gió nhẹ thổi qua là bùng lên mạnh mẽ Để rồi tiếng súng của phong trào Cần Vương vừa nổi lên, hàng vạn nông dân Nghệ An đã hưởng ứng sôi nổi và mạnh mẽ: Khởi nghĩa Lê Ninh (1885 – 1887), khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng – Cao Thắng (1885 – 1896), khởi nghĩa Nguyễn Xuân Ôn –
Lê Doãn Nhã (1885 – 1896)…
Sau phong trào Cần Vương thất bại, cũng như phong trào yêu nước của
cả nước những năm đầu thế kỉ XX, phong trào yêu nước ở Nghệ An chuyển sang xu hướng dân chủ tư sản Nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu đã cùng các đồng chí của mình là Đặng Thái Thân, Tiểu La Nguyễn Hàm thành lập hội Duy Tân (1904) và khởi xướng phong trào Đông Du
Cũng trong khoảng thời gian Phan Bội Châu đang chuẩn bị thành lập Việt Nam Quang Phục hội ở Trung Quốc thì Nguyễn Tất Thành đã rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước theo một hướng mới Những thanh niên xứ Nghệ khi xuất dương đã tham gia các lớp huấn luyện cách mạng của
Trang 27Đặng Thúc Hứa ở Xiêm hoặc của Nguyễn Ái Quốc ở Quảng Châu (Trung Quốc) trước khi trở về nước hoạt động
Nghệ An trở thành nơi trưởng thành của lớp cộng sản đầu tiên ở nước
ta như: Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong, Trương Vân Lĩnh…
Họ chính là những người gieo hạt giống cách mạng, truyền bá chủ nghĩa Mác
- Lênin vào phong trào yêu nước đang dâng cao trên cả nước và trên quê hương mình, hình thành con đường cách mạng vô sản - một con đường cách mạng mới mẻ, đầy triển vọng cho cách mạng Việt Nam Sự lựa chọn con đường cứu nước đó của dân tộc và nhân dân ta không thể không kể đến đóng góp to lớn của những người con xứ Nghệ
1.2 Phong trào cách mạng Nghệ An trước khi Đảng thành lập
Năm 1925, Hội Phục Việt do Trần Mộng Bạch, Tôn Quang Phiệt… thành lập nhằm tập hợp lực lượng yêu nước trong nhân dân, đánh đổ thực dân Pháp khôi phục lại nền độc lập cho đất nước Bắt đầu từ giới trí thức, cơ sở của hội phát triển vào công nhân các nhà máy, học sinh trường trung học, nông dân các làng xã ở Nghệ - Tĩnh Vinh - Bến Thủy là trung tâm lãnh đạo
và là đầu mối liên lạc của hội [37, 20] Tuy nhiên tổ chức này còn băn khoăn chưa biết nên đấu tranh theo phương pháp vũ trang hay hòa bình và chưa biết nhiều về tình hình thế giới Tài liệu tuyên truyền có Tân thư, văn thơ Phan Bội Châu, văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục… Sau ngày thành lập Hội đã cử đồng chí Lê Duy Điếm đi liên lạc với các nhà cách mạng Việt Nam đang hoạt động ở Xiêm và Trung Quốc để yêu cầu liên kết hành động Dưới sự chỉ đạo của Tổng bộ Hội Phục Việt, phong trào yêu nước ở Vinh - Bến Thủy ngày càng phát triển mạnh Đến năm 1928, Nghệ An đã có 17 trong số 42 tiểu tổ của Hội hoạt động khắp cả nước Riêng huyện Thanh Chương có 10 tiểu tổ Các tổ chức quần chúng của Hội như: tổ chức sinh đoàn, xưởng dệt vải, hội buôn, phường tương tế, ái hữu…được lập ra để tập hợp lực lượng yêu nước
Trang 28chống Pháp Chịu ảnh hưởng của các phong trào yêu nước trước đây và hoạt động của Hội Phục Việt, công nhân, nông dân và học sinh liên tiếp đấu tranh chống đế quốc và tay sai bóc lột, ức hiếp nhân dân… Các cuộc đấu tranh diễn
ra ngày càng gay gắt, có cuộc kéo dài tới 2 năm Ở nhiều làng xã đã lập ra phe dân để chống lại phe hào lý
Tại Quảng Châu (Trung Quốc) từ năm 1923, những người Việt Nam yêu nước đã lập ra tổ chức Tâm Tâm Xã gồm các đồng chí Phạm Hồng Thái,
Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong… nhằm: “rút kinh nghiệm về những bài học xưa để lo toan tiến hành công cuộc cứu nước cho thiết thực” [6, 35] Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc cải tổ Tâm Tâm Xã, lập ra tổ chức Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, gọi tắt là Thanh niên
Đầu năm 1926, tiểu tổ Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên đầu tiên ở Trung Kỳ thành lập ở thành phố Vinh - Bến Thủy, đặt cơ sở cho sự ra đời của
Kỳ bộ Việt Nam cách mạng Thanh niên ở Trung Kỳ vào năm 1927 Nghệ An lúc này trở thành trung tâm hoạt động và đầu mối liên lạc của hai tổ chức cách mạng ở Trung Kỳ: Kỳ bộ Việt Nam cách mạng Thanh niên và Tổng bộ Đảng Tân Việt
Từ giữa năm 1928 trở đi, Hội Thanh niên và Hội Phục Việt (lúc này đổi tên là Hội Hưng Nam) đã có cơ sở đều khắp, xen kẽ nhau tại các nhà máy, xí nghiệp, trường học, và một số công sở trên địa bàn Vinh - Bến Thủy, ở các thị trấn và nhiều thôn xã trong tỉnh Vinh - Bến Thủy trở thành trung tâm chỉ đạo của Kỳ bộ Hội Thanh niên Trung Kỳ và Hội Hưng Nam Sự phối hợp hành động giữa Tổng bộ Hội Hưng Nam và Kỳ bộ Hội Thanh niên Trung Kỳ khá chặt chẽ Ngày 15/3/1927, kỷ niệm một năm ngày mất của nhà chí sĩ Phan Châu Trinh, đòi xóa án cho cụ Phan Bội Châu, dưới sự chỉ đạo của hai Hội, hàng ngàn quần chúng ở Vinh và các vùng phụ cận đã kéo đến chùa Diệc dự
lễ kỷ niệm [2, 44] Lễ kỷ niệm này đã cổ vũ mạnh mẽ ý thức dân tộc và tinh
Trang 29thần cách mạng của các tầng lớp nhân dân ở Nghệ An Tân Việt và Thanh niên đã đem ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin truyền bá sâu rộng vào các tầng lớp nhân dân, tạo nên bước chuyển biến nhảy vọt trong phong trào yêu nước ở Nghệ An Do ảnh hưởng của Thanh niên, nhiều đảng viên của Tân Việt đã chuyển qua hoạt động trong tổ chức của Thanh niên Trong số này có nhiều người đã trở thành học trò xuất sắc của Nguyễn Ái Quốc như Trần Phú, Nguyễn Sĩ Sách, Phan Đăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai…
Chủ nghĩa Mác – Lênin được gieo mầm trên đất Nghệ An đã khơi dậy
và phát huy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh quật cường, bất khuất chống ách áp bức, bóc lột bao đời của nhân dân Nghệ An Nó giải thoát sự khủng hoảng, bế tắc về đường lối cách mạng và mở ra cho những người yêu nước ở Nghệ An một hướng đi mới, theo con đường cách mạng do Nguyễn Ái Quốc vạch ra.Nó đẩy lùi các khuynh hướng xã hội lỗi thời theo ý thức hệ phong kiến, tư sản ra khỏi phong trào yêu nước ở Nghệ An
Tại Vinh - Bến Thủy, các cuộc đấu tranh của công nhân ngày càng sôi nổi Ở Trường Thi, công nhân đấu tranh chống chủ đánh đập, cúp phạt, đòi cải thiện đời sống (phải có nước uống cho thợ trong khi lao động, phải là cai phụ nữ thì mới được khám xét phụ nữ…)
Phong trào đấu tranh của quần chúng càng lên cao thì yêu cầu thống nhất hội Hưng Nam lúc này đã đổi tên thành Việt Nam Cách Mạng Đảng và Thanh niên càng trở lên cấp bách Giữa hai tổ chức đã có hiện tượng tranh giành nhau về ảnh hưởng đấu tranh và lực lượng quần chúng, tuy những người lãnh đạo của cả hai tổ chức đều có những cố gắng để đi tới hợp nhất
Tháng 7 năm 1927, đồng chí Lê Duy Điếm về nước Một cuộc họp có nhiều đại biểu của hai Hội được tổ chức ở Cửa Hội (Nghi Lộc) Nhưng hội nghị vẫn gặp khó khăn Tại Trung Kỳ, cuộc hợp nhất giữa hai kỳ bộ không thực hiện được Từ đó, ở Nghệ An cả Thanh niên và Tân Việt cách mạng
Trang 30đảng (đã đổi tên thành Tân Việt ngày 14/7/1928) đều ra sức hoạt động Tân Việt đã góp phần cùng Thanh niên truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong công nhân Nghệ An và cùng rèn luyện đội ngũ cách mạng
Những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc được tập hợp thành tác phẩm
“Đường Kách Mệnh” được chuyển về nước làm tài liệu tuyên truyền Ngoài
ra các tổ chức cách mạng ở Nghệ An còn nhận được các tài liệu tuyên truyền
có giá trị như “Thư tin quốc tế”, báo “Nhân đạo” và một số sách báo khác nói
về chủ nghĩa cộng sản
Mùa xuân năm 1928, nhân việc nhà cầm quyền Quốc dân Đảng Trung Hoa khủng bố cán bộ cách mạng Việt Nam tại Quảng Châu, Tỉnh hội Thanh niên Nghệ An đã phát truyền đơn tố cáo và vận động Hoa kiều gửi thư, đánh điện về nước đòi chính phủ Trung Hoa trả tự do cho các cán bộ cách mạng Việt Nam Khá đông Hoa kiều ở Vinh - Bến Thủy đã hưởng ứng lời kêu gọi của Tổng bộ hội Thanh niên [2, 44]
Cũng trong mùa xuân năm 1928, phong trào đấu tranh của công nhân
đã bùng lên mạnh mẽ Ngày 14/4/1928, 500 thợ nhà máy diêm và nhà máy cưa hãng SIFA, biểu tình đấu tranh đòi tăng lương giảm giờ làm và bỏ các thể
lệ cúp phạt, ngược đãi công nhân Trước khí thế đấu tranh của công nhân, chủ các nhà máy phải hứa giải quyết các yêu sách của thợ (tăng lương mỗi ngày 5
xu cho mỗi người) [2, 44-45]
Tại Vinh ngày 2/6/1928, một chủ hiệu buôn người nước ngoài hành hung một phụ nữ Việt Nam Vốn bất bình với thái độ miệt thị dân tộc của bọn chúng từ lâu, hàng nghìn học sinh và nhân dân trong thành phố liền kéo tới phá hiệu buôn đó Công sứ Nghệ An buộc phải huy động 100 lính đến để giải tán Chi bộ Hội Thanh Niên đã giải truyền đơn kêu gọi nhân dân tẩy chay bọn chúng Để xoa dịu tình hình, Tòa án Nam Triều Nghệ An đã xử phạt tên chủ hiệu buôn 15 ngày tù Ngày 11 tháng 7, chính quyền thực dân Pháp trục xuất
Trang 31tên này ra khỏi Đông Dương Ngày 16/5/1929, một kíp công nhân sửa chữa
xe lửa Trường Thi bãi công phản đối sự phạt vạ vô lý của chủ Công sứ Pháp đưa lính đến khủng bố Công nhân đồng loạt bỏ nhà máy ra về Hai hôm sau bọn chúng đành phải nhượng bộ và gọi công nhân trở lại làm việc [6, 41]
Học sinh trường Quốc học Vinh rải truyền đơn phản đối các thầy giáo người Pháp khinh miệt các thầy giáo, học sinh người Việt Nam và phản đối nhà trường ngăn cấm học sinh tham gia phong trào yêu nước: đòi hủy bỏ các chính sách bóp nghẹt quyền tự do dân chủ của học sinh
Cùng với phong trào đấu tranh của công nhân, học sinh, tiểu thương…
ở thành phố Vinh, phong trào đấu tranh của nông dân ở nông thôn cũng lên mạnh Cuộc đấu tranh giữa “phe hộ” (tức phe dân) và “phe hào” (tức phe hào lý) về vấn đề ruộng đất và tiền lúa công vốn gay gắt càng gay gắt thêm và diễn ra liên tiếp Các vụ đánh bọn “Tây đoan” (tức là lính thương chính) đi lùng bắt “muối lậu” và “rượu lậu” cũng xảy ra ở nhiều vùng
Khi phong trào đấu tranh của quần chúng càng lên cao thì công tác vận động chính trị cũng ngày một tăng cường Tổ chức Thanh niên rất coi trọng công tác “vô sản hóa”, những trí thức tham gia trong các ban chấp hành của Tỉnh bộ và Kỳ bộ đều được cử đến các nhà máy để thâm nhập vào đời sống công nhân, tuyên truyền, vận động quần chúng đấu tranh Đi đầu là đồng chí Nguyễn Phong Sắc, Nguyễn Đức Cảnh từ ngoài Bắc vào lao động “vô sản hóa” ở Vinh Trước ảnh hưởng ngày càng rộng của Thanh niên, nội bộ Tân Việt phân hóa ngày càng sâu sắc Đại hội của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên triệu tập vào tháng 5/1929 cũng là Đại hội cuối của tổ chức này Đến đây, cả Tân Việt và Thanh niên đều là những tổ chức không còn phù hợp với sự đòi hỏi của phong trào cách mạng đang phát triển
Tháng 6 năm 1929, Đông Dương Cộng sản Đảng thành lập ở Bắc Kỳ
Tổ chức này đã đề cử các đồng chí Nguyễn Phong Sắc và Trần Văn Cung vào
Trang 32gây dựng cơ sở Đảng ở Nghệ An và Hà Tĩnh Dựa vào số hội viên của Thanh niên tán thành việc thành lập Đảng Cộng sản, các đồng chí này đã thành lập ra
Kỳ bộ Trung Kỳ của Đông Dương Cộng sản Đảng vào cuối tháng 6/1929 Tiếp đó, Kỳ bộ xuất bản tờ báo “Bôn-sơ-vích” để chỉ đạo việc xây dựng Đảng trong cả xứ [37,24] Từ thành phố Vinh - Bến Thủy - trung tâm chỉ đạo của
Kỳ bộ, cuộc vận động thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng mở rộng ở Trung Kỳ Sau khi có tuyên ngôn của Đông Dương Cộng sản Đảng, nhiều chi
bộ của Thanh niên ở Nghệ An đã trở thành chi bộ của Đông Dương Cộng sản Đảng và làm nòng cốt cho việc vận động thành lập Đảng bộ Nghệ An
Xu hướng thành lập Đảng Cộng sản nhanh chóng lan sang cả Đảng Tân Việt Tháng 9/1929, số đảng viên tiên tiến của Đảng này ra thông đạt kêu gọi thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn để hợp nhất với Đông Dương Cộng sản Đảng Sau thông đạt, nhiều nhóm cộng sản trong các cơ sở Đảng Tân Việt, trong các nhà máy Vinh - Bến Thủy và các huyện Thanh Chương, Can Lộc… lần lượt hình thành
Có thể thấy, Nghệ An là mảnh đất nghèo, người dân bao đời khổ cực và
bị ách áp bức đè nặng Nhưng nhân dân Nghệ An luôn kiên cường đấu tranh Truyền thống yêu nước và cách mạng không ngừng được kế thừa và phát huy Nhiều phong trào yêu nước và cách mạng đã nổ ra Nhiều tổ chức yêu nước cách mạng được thành lập Tính đến trước ngày Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ở Nghệ An đã có cơ sở của ba tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn và các chi bộ Cộng sản của Thanh niên Trong ba tổ chức đó, Đông Dương Cộng sản Đảng là tổ chức mạnh nhất, đóng vai trò nòng cốt và có cơ sở rộng Trước ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Đông Dương Cộng sản Đảng đã có hàng chục chi bộ và các tổ chức quần chúng ở nhà máy Trường Thi, trường Quốc học Vinh, các làng Đức Thịnh, Yên Dũng (Hưng Nguyên)… [37, 26]
Trang 33Chương 2
SỰ THÀNH LẬP ĐẢNG BỘ NGHỆ AN 2.1 Các tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Nghệ An
đi xuất dương mưu toan việc lớn” [42, 157] Tháng 6/1925, hội nhóm họp giao nhiệm vụ cho mỗi người về địa phương mình thành lập chi nhánh
Tôn Quang Phiệt được cử về Vinh (Nghệ An) bàn với Trần Mộng Bạch, Phan Kiêm Huy, Ngô Đức Diệm (em cụ Nghè Ngô Đức Kế) thành lập chi nhánh Việt Nam Nghĩa Đoàn khoảng 10 người trong đó có Nguyễn Sĩ Sách, Đặng Thái Thuyến, Đặng Thái Phụ (con cụ Đặng Thúc Hứa) Hoàng Xuân Vinh (con của án sát Hoàng Xuân Sanh)
Ngày 14/7/1925, chi nhánh của Hội Việt Nam Nghĩa Đoàn nhóm họp tại núi Con Mèo (sát dãy núi Quyết) gồm các đồng chí Tôn Quang Phiệt, Trần Phú, Lê Văn Huân, và giao cho Trần Mộng Bạch làm Hội trưởng quyết định đổi tên của Hội thành Hội Phục Việt để tập hợp lực lượng yêu nước trong nhân dân, truyền bá tư tưởng yêu nước đánh đổ thực dân Pháp khôi phục lại nền độc lập cho dân tộc
Trang 34Tôn chỉ của Hội lúc đầu là: “đánh đổ cường quyền” làm cho “cách mạng thành công” và xây dựng “thế giới đại đồng” Về phương pháp đấu tranh cũng chưa rõ ràng, giữa đấu tranh vũ trang và đấu tranh hòa bình Ngay sau khi thành lập, Hội đã cử Lê Duy Điếm sang Trung Hoa liên lạc với những người yêu nước Việt Nam đang hoạt động ở hải ngoại và cử các đồng chí khác về các huyện để xây dựng các tổ chức cơ sở Năm 1928, Nghệ An đã có
17 tiểu tổ của Hội đang hoạt động Hội đã thành lập ra các tổ chức của quần chúng để tập hơp nhân dân chống Pháp như: tổ chức Sinh Đoàn, xưởng dệt vân hội buôn… Hoạt động phổ biến của Hội Phục Việt là gây phong trào học chữ quốc ngữ thông qua các lớp học, các nhóm học sinh để truyền bá thơ ca của Phan Bội Châu, của Đông Kinh Nghĩa Thục… hay nội dung các sách báo tiến bộ như Tân Thư… để nhằm khơi dậy lòng yêu nước, chí căm thù đế quốc trong các tầng lớp nhân dân… Ngay từ cuối năm 1925, Vương Thúc Oánh đã
từ Quảng Châu về (gặp Tôn Quang Phiệt) và cho biết tình hình “bên ấy cụ Nguyễn Ái Quốc về tổ chức “Hội các dân tộc bị áp bức” và huấn luyện một số thanh niên yêu nước lập ra Việt Nam Thanh niên Cách Mạng Đồng Chí hội”
Ngày 15/3/1927, Hội Phục Việt đã phát triển sâu rộng trong quần chúng ở các nhà máy, công xưởng, trường học… hội đã cùng với Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh niên ở Trung Kỳ phối hợp với nhau kỷ niệm một năm ngày mất cụ Phan Châu Trinh ở Chùa Diệc (Vinh) với sự tham gia của hàng ngàn của quần chúng ở Vinh và nhân dân các huyện xung quanh
Sau cuộc đấu tranh đó, sợ bị lộ nên Hội Phục Việt đổi thành Hội Hưng Nam Bằng nhiều hình thức tổ chức và phương pháp để hoạt động linh hoạt, các hội viên của Hội Hưng Nam đã nhanh chóng tập hợp được đông đảo quần chúng nhất là công nhân, học sinh Qua đó giáo dục cho họ về tinh thần “hợp quần, ái quốc” Văn thơ yêu nước của Phan Bội Châu và các sĩ phu yêu nước lớp trước được các hội viên dùng để tuyên truyền và giáo dục lòng yêu nước
Trang 35cho quần chúng, tạo điều kiện thuận lợi cho quần chúng tiếp cận với trào lưu
tư tưởng mới
Đứng trước tình hình Quảng Châu đã có tổ chức bề thế, các nhà lãnh đạo Hưng Nam hội như Trần Mộng Bạch, cụ Giải Huân, Trần Đình Thanh, Phan Kiêm Huy, Tôn Quang Phiệt, Trần Phú… đã chủ trương đưa người sang Quảng Châu bàn việc thống nhất chương trình, kế hoạch hành động với Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên
Mùa hè năm 1926, đoàn cán bộ đầu tiên của Hội Hưng Nam lên đường
đi Quảng Châu Cụ Giải Huân và Trần Mộng Bạch ủy thác Tôn Quang Phiệt làm “Ngoại giao xứ ủy viên” để giao thiệp thống nhất chương trình hành động Trần Phú thì mang theo chương trình điều lệ Hội Hưng Nam để trình bày
Tháng 2/1926, đoàn cán bộ đã học tập xong, trở về nước theo hướng phân công của Tổng bộ Thanh niên ở Quảng Châu Trần Phú về Nghệ An và một thời gian ngắn sau lại sang Quảng Châu, và được Nguyễn Ái Quốc gửi ngay đi Liên Xô học tập lý luận cách mạng
Lúc này, ở Nghệ An do ảnh hưởng của Kỳ bộ Việt Nam Cách Mạng Thanh niên, nhiều đảng viên của Tân Việt đã chuyển qua hoạt động trong tổ chức của Thanh niên Khi phong trào đấu tranh của quần chúng lên cao thì yêu cầu thống nhất giữa hai tổ chức Hội Hưng Nam lúc này đã đổi tên thành Việt Nam cách mạng Đảng và Thanh niên ngày càng trở nên cấp bách
Tháng 7/1927, một cuộc họp bàn thống nhất được triệu tập tại Cửa Hội (Nghi Lộc) Bên Thanh niên có Dương Hạc Đính, Nguyễn Danh Đới, Nguyễn Công Thu Bên Tân Việt có Tôn Quang Phiệt, Hồ Khắc Quảng Nhưng cuối cùng việc hợp nhất vẫn không được thực hiện Tuy ở ngoài Bắc và trong Nam
đã có sự thống nhất giữa hai tổ chức, nhưng ở Nghệ An và mấy tỉnh Bắc Trung Kỳ, quan hệ giữa hai tổ chức vẫn căng thẳng Theo Tôn Quang Phiệt
Trang 36phân tích “sự khác biệt giữa Hưng Nam với Thanh Niên không phải do chương trình hành động khác nhau, vì cả hai đều nhằm mục đích độc lập dân tộc, đều nói trước cách mạng quốc gia, sau cách mạng thế gới, đều nhắc đến công, nông, binh Nhưng có hai điều làm cho những người lãnh đạo Hưng Nam bất bình Một là, mỗi lần gặp nhau thương lượng phía Thanh Niên đều yêu cầu Hưng Nam giải tán để được kết nạp từng người một vào Thanh Niên Hai là, khi bàn đến vấn đề trung tâm lãnh đạo nên đặt ở đâu thì Hưng Nam muốn đặt ở trong nước, Thanh Niên nhất quyết đặt ở Quảng Châu Hồi ấy các nhà Thanh Niên thường nhắc đến câu nói của nhà cách mạng Triều Tiên rằng: “khi cách mạng mới nhen, lãnh đạo cần ở ngoài nước; khi cách mạng cao trào, lãnh đạo cần ở trong nước” [41, 162-163]
Để giữ được quần chúng và để thuyết phục tổ chức Thanh Niên, những người tiên tiến trong ban lãnh đạo Việt Nam cách mạng Đảng quyết định đổi tên Đảng mình thành Việt Nam Cách mạng đồng chí hội Cũng từ đó trong tổ chức này có sự phân biệt rõ rệt:
- Số đông hoạt động theo chủ trương đường lối của Thanh Niên, trong
số đó có nhiều người sau này đã ra nhập Thanh Niên
- Một số vẫn giữ nguyên lề lối hoạt động của tổ chức cũ
Ngày 14/7/1928, Việt Nam cách mạng đồng chí hội họp Đại hội Đại biểu toàn quốc ở Huế, quyết định đổi tên là Tân Việt cách mạng Đảng [41,163], gọi tắt là Tân Việt Đây là lần đổi tên cuối cùng của hội Phục Việt
Từ đó, cả Tân Việt và Thanh Niên đều ra sức hoạt động để tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin vào trong đội ngũ công nhân và phong trào cách mạng đang lên cao ở Nghệ An Tuy nhiên, trước ảnh hưởng của Thanh Niên, nội bộ Tân Việt ngày càng phân hóa sâu sắc Một số người bảo thủ trong Đảng Tân Việt tỏ ra lo sợ, nên đã hoạt động chống lại Thanh niên Tháng 2/1929, họ
Trang 37thảo luận ra một Thông tri như một giác thư và một kế hoạch chung, tuyên bố không thành lập Đảng Cộng sản vì lý do xã hội Việt Nam không có giai cấp
tư sản và công nhân đối kháng Thông tri cũng là tuyên ngôn của phái hữu thuộc Đảng Tân Việt nhằm củng cố duy trì xu hướng quốc gia, chống lại đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, nên được gọi là dự án thành lập “khối quốc gia”
Dự án “khối quốc gia được dự thảo là dấu hiệu bộc lộ sâu sắc sự phân hóa trong nội bộ Tân Việt‟‟ Những phần tử phái hữu trong Tổng bộ Tân Việt
đã không thể triệu tập cuộc họp để thông qua dự án đó vào tháng 7/1929 Vai trò lịch sử của Đảng Tân Việt kết thúc
Như trên đã thấy, chưa có một Đảng cách mạng nào ở Việt Nam lại thay tên nhiều lần và biến thiên liên tiếp như Đảng Tân Việt cũng do đó mà tổ chức không được ổn định Quá trình hoạt động của Đảng Tân Việt, ngoài việc phái người xuất dương và giao thiệp với Đảng Thanh niên ra, không còn hoạt động gì cụ thể Tuy nhiên, sự ra đời và hoạt động của Đảng Tân Việt đã góp phần tích cực vào việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào công nhân, khuấy động tinh thần yêu nước của nhân dân Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung, tạo điều kiện thuận lợi cho tư tưởng mới thâm nhập vào phong trào yêu nước nơi đây
2.1.2 Hội Việt Nam cách mạng thanh niên
Với khao khát cháy bỏng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nuớc Trên con đường đi tìm chân lý ấy, Người đã bắt gặp “Sơ thảo Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc thuộc địa” Người đã khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người bị bóc lột trên thế giới khỏi ách nô lệ
Đó chính là con đường duy nhất đảm bảo sự sống còn cho dân tộc Việt Nam”
Trang 38Vì vậy Người đã từng bước truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, đồng thời chuẩn bị về tư tưởng, tổ chức cho sự ra đời của một chính đảng ở Việt Nam
Năm 1924, khi đã trở thành chiến sĩ cộng sản nổi tiếng với những hoạt động xuất sắc trong phong trào cộng sản Quốc tế, Nguyễn Ái Quốc đã về Quảng Châu (Trung Quốc) theo sự phân công của Quốc tế cộng sản Tại đây, Nguyễn Ái Quốc đã gặp gỡ những người yêu nuớc Việt Nam như Phan Bội Châu và các hội viên Tâm Tâm xã
Nguyễn Ái Quốc lấy bí danh là Lý Thụy đưa 9 thanh niên ưu tú vào tổ chức Thanh Niên cộng sản đoàn (khóa đầu tiên):
1 Lê Hồng Sơn (Tức Lê Văn Phan) quê ở Nam Đàn, Nghệ An
2 Lê Hồng Phong (Tức Lê Huy Doãn) quê ở Hưng Nguyên, Nghệ An
3 Lê Quảng Đạt (Tức Lê Doạt)) quê Nam Đàn, Nghệ An
4 Hồ Tùng Mậu (Hồ Bá Cự) quê ở Quỳnh Lưu, Nghệ An
5 Vương Thúc Oánh quê ở Nam Đàn, Nghệ An
6 Trương Vân Lĩnh (tức Lệnh) quê Nghi Lộc, Nghệ An
7 Lê Quý (Trần Phú) Đức Thọ, Hà Tĩnh
8 Lâm Đức Thụ ( Nguyễn Chí Viễn ) quê Kiến Xương, Thái Bình
9 Lưu Quốc Long ( Quý ) quê Thanh Chương, Nghệ An
Trong số này, người đã kết nạp 5 đảng viên cộng sản dự bị, trong đó có
Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong Trong số đó phần đông là người quê Nghệ An Điều đó chứng tỏ phong trào yêu nước và cách mạng ở Nghệ An phát triển rất mạnh, số thanh niên xuất dương đông nhất với nhiều người có tài, có đức, giàu nghị lực
Trang 39Trên cơ sở những hạt nhân nòng cốt ban đầu ấy, tháng 6/1925, tổ chức Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên( gọi tắt là hội Thanh niên) được thành lập Hội có tôn chỉ, mục đích rõ ràng, điều lệ chặt chẽ và phương thức hoạt động gần như một chính Đảng
Tôn chỉ, mục đích của Hội là trước làm cách mạng giải phóng dân tộc, sau làm cách mạng xã hội chủ nghĩa Nguyên tắc tổ chức của Hội là tập trung dân chủ Hệ thống tổ chức gồm 5 cấp: tổng bộ, kì bộ, tỉnh bộ, huyện (hay phủ) bộ, chi bộ Cơ quan ngôn luận của hội là tờ báo Thanh niên
Thành lập tổ chức này là một sự sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc nhằm mục đích truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị các điều kiện để thành lập Đảng Cộng sản Nhờ đó mà chủ nghĩa Mác-Lênin và các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc đã sớm được truyền bá vào Nghệ An
Các khoá huấn luyện của Nguyễn Ái Quốc ngày càng thu hút nhiều thanh niên Việt Nam yêu nước tham gia học tập Hàng trăm lượt thanh niên Nghệ An nối tiếp nhau đi dự các lớp huấn luyện của Người Những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc đã được tập hợp lại thành cuốn “Đường Kách Mệnh” Tác phẩm này đã được chuyển về nước làm tài liệu tuyên truyền thông qua con đường bí mật Những hội viên của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên sau khi hoàn thành các khoá huấn luyện đã lần lượt được phân công về nước hoạt động, xây dựng tổ chức và truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, trong đó có những người con của quê hương Nghệ An như: Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn,
Lê Hồng Phong…
Để phát triển tổ chức của mình, Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên chủ trương nhanh chóng xây dựng cơ sở ở các thành thị và nông thôn Ở thành thị, họ chủ trương thành lập các Trại cày và các hiệu buôn để qua đó tập hợp lực lượng, và tự túc một phần tài chính để hoạt động
Trang 40Đầu năm 1926, tiểu tổ Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội đầu tiên ở Trung Kỳ được thành lập ở thành phố Vinh - Bến Thủy Từ năm
1928 trở đi, Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên đã có cơ sở đều khắp, xen
kẽ nhau tại các nhà máy, xí nghiệp, trường học, và một số cơ sở trên địa bàn Vinh - Bến Thủy, và các thị trấn, các thôn trong tỉnh Vinh - Bến Thủy trở thành trung tâm chỉ đạo của hội Thanh niên ở Trung Kỳ Uy tín và ảnh hưởng của Hội ngày một cao, làm cho các đoàn thể yêu nước chuyển dần sang hàng ngũ cách mạng Ở Nghệ An, những hội viên của Tân Việt nhạy cảm với cái mới đã chuyển sang hoạt động theo khuynh hướng của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên như làng Lộc Đa – Đức Thịnh thuộc huyện Hưng Nguyên, huyện Thanh Chương, Nam Đàn… Hoàng Trọng Trì (Lộc Đa) là một trong những hội viên của Tân Việt sớm ngả theo khuynh hướng của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên và hăng hái vận động các hội viên khác cùng tham gia
tổ chức này
Có thể nói, từ khi có hoạt động của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, phong trào yêu nước ở Nghệ An có bước phát triển mới Bằng những hình thức tổ chức và hoạt động hợp pháp như mở cửa các cửa hàng đại lý cho
“Hưng nghiệp hội xã”, các phường hội tương tế, ái hữu, các hội đọc sách, Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên đã thu hút đông đảo quần chúng tập hợp xung quanh mình làm cách mạng Thông qua hoạt động của Hội Thanh niên, chủ nghĩa Mác – Lênin và các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu đến với Đảng Tân Việt và thúc đẩy họ sửa đổi chương trình, điều lệ để hợp nhất với Thanh niên
Tháng 5/1929, Đại hội toàn quốc của Việt Nam cách mạng Thanh niên khai mạc tại Hồng Kông Đoàn đại biểu Bắc Kỳ nêu ra đề nghị giải tán Hội Thanh niên, và thành lập Đảng Cộng sản Đề nghị này không được chấp nhận, đoàn đại biểu Bắc Kỳ bỏ ra về và thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng vào