1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sự hài hòa giữa tôn giáo bản địa và các tôn giáo ngoại nhập trong đời sống văn hóa nhật bản

102 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những thập niên gần đây, sự phát triển thần kì kinh tế cùng với những thành tựu to lớn trong các lĩnh vực văn hóa xã hội của Nhật Bản hiện đại đã thu hút sự chú ý quan tâm của nhiều nhà

Trang 1

Lời cảm ơn

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo GVC-Th.S Phan Hoàng Minh đã tận tình h-ớng dẫn, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình lựa

chọn và thực hiện đề tài này

Trong quá trình tiến hành đề tài, tôi còn đ-ợc sự giúp đỡ của quý thầy cô giáo trong khoa cùng sự góp ý nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên: Hà Hạnh Mỹ K47 A - Lịch sử

Trang 2

3 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu

1.1.2 C- dân Nhật Bản và nền văn hoá truyền thống 11 1.2 Các giai đoạn phát triển của lịch sử cổ trung đại Nhật Bản 16

Trang 3

2.1.2 Cơ sở hình thành đạo Shinto 31

2.2 Quá trình du nhập của các tôn giáo ngoại lai 42

Ch-ơng 3:

Biểu hiện của sự hài hòa giữa tôn giáo bản địa

với các tôn giáo ngoại nhập ở Nhật Bản

67

e Phụ lục

Trang 4

a mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Nhật Bản là một c-ờng quốc công nghiệp hiện đại đồng thời cũng là một quốc gia giàu truyền thống văn hóa Với một nền văn hóa phong phú, đa dạng, mang bản sắc độc đáo dựa trên cơ sở tiếp thu ảnh h-ởng của văn hóa ngoại lai kết hợp với những nét riêng biệt, đặc sắc không thể nhầm lẫn với bất kì một nền văn hóa nào khác trên thế giới Những thập niên gần đây, sự phát triển thần kì kinh tế cùng với những thành tựu to lớn trong các lĩnh vực văn hóa xã hội của Nhật Bản hiện đại đã thu hút sự chú ý quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới Ngày nay n-ớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

và Nhật Bản đang xây dựng mối quan hệ hợp tác trên nhiều lĩnh vực, nhất là trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học – kĩ thuật Do đó, việc tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử Nhật Bản nói chung và văn hóa Nhật Bản nói riêng đối với chúng ta càng có ý nghĩa to lớn về mặt khoa học và thực tiễn Về văn hóa và tôn giáo Nhật Bản đã có nhiều học giả trên thế giới và Việt Nam quan tâm nghiên cứu, từ đó đã có hàng loạt công trình có giá trị Tuy nhiên để tìm hiểu một cách sâu sắc và hệ thống về vấn đề sự hài hòa giữa tôn giáo bản địa và các tôn giáo ngoại nhập trong đời sống văn hóa Nhật Bản thì ch-a có một công trình nào đi sâu nghiên cứu Vì thế, để góp phần vào việc nghiên cứu văn hóa Nhật Bản nói chung và tôn giáo Nhật Bản nói riêng, đồng thời để có thêm t- liệu cho những ng-ội quan tâm đến văn hõa Nhật B°n, tôi xin chón đề t¯i: “Sữ hài hòa giữa tôn giáo bản địa và các tôn giáo ngoại nhập trong đời sống văn hõa Nhật B°n”

Thực hiện đề tài này tôi không tham vọng phát hiện mới mà xác định nhằm mục đích b-ớc đầu tập d-ợt làm quen với nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao hơn tri thức, nắm chắc hơn khoa học cơ bản, đồng thời nhấn mạnh

Trang 5

hơn một trong những nét đặc tr-ng của văn hoá Nhật Bản trong phông nền văn hoá chung của ph-ơng Đông và nhân loại

Do năng lực có hạn, lại là b-ớc đầu tập d-ợt nghiên cứu khoa học nên

đề tài của tôi hẳn có nhiều thiếu sót, mong đ-ợc quý thầy cô cùng các bạn

đồng nghiệp chỉ bảo và trao đổi

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Để phục vụ cho việc thực hiện đề tài này, tôi đã tham khảo một số tài liệu, trong đó phải kể đến các tác phẩm tiêu biểu sau:

Cuốn “Bách khoa to¯n thư Nhật B°n“ do Richard Bowring và Peter

Kornicki chủ biên, do Trung tâm KHXH và Nhân văn quốc gia, Trung tâm nghiên cứu Nhật Bản biên dịch, nhà xuất bản KHXH, Hà Nội, năm 1995 là một công trình khoa học có giá trị lớn trong đó trình bày một cách chi tiết, đầy

đủ về văn hóa và tôn giáo Nhật Bản từ cổ đại đến hiện đại

Cuốn “Lược sử văn hoá Nhật B°n“, tập 1,2 của tác giả G B Samson,

nhà xuất bản KHXH, Hà Nội, năm 1990 đã trình bày khá chi tiết về các vấn đề quan trọng trong lịch sử cổ trung đại Nhật Bản từ nguồn gốc đến thời kì tan rã của chế độ phong kiến Trong đó mỗi thời đại đều đề cập đến vấn đề văn hoá nói chung và tôn giáo nói riêng một cách cụ thể

Cuốn “Nghiên cứu tôn giáo Nhật B°n” cùa t²c gi° Joseph M.Kitagawa

(bản dịch của Hoàng Thị Thơ), nhà xuất bản KHXH, Hà Nội, năm 2002 đã cung cấp cho chúng ta những thông tin về quá trình phát triển của các tôn giáo lớn ở Nhật Bản nh- Thần đạo, Phật giáo, Nho giáo, Kitô giáo và những đặc

điểm của các tôn giáo đó

Cuốn “Văn hoá Nhật những chặng đường phát triển“ do TS Hồ Hoàng

Hoa chủ biên, nhà xuất bản KHXH, Hà Nội, năm 2001 trình bày một cách hệ thống sự phát triển văn hoá Nhật Bản qua các thời kỳ, từ cổ đại đến hiện đại, trong đó có đề cập đến tình hình tôn giáo tín ng-ỡng trong từng thời kỳ lịch sử của Nhật Bản

Trang 6

Cuốn “Tôn giáo Nhật B°n“ của tác giả Murakami Shigeyoshi, nhà

xuất bản tôn giáo, Hà Nội, năm 2005 đã trình bày lịch sử hình thành và phát triển tôn giáo Nhật Bản từ thời cổ đại đến hiện đại Cuốn sách này còn cung cấp cho chúng ta những t- liệu có giá trị về đời sống tâm linh của ng-ời Nhật qua các giai đoạn trong tiến trình phát triển của lịch sử Nhật Bản nh- tôn giáo nguyên thuỷ, tôn giáo cổ đại, tôn giáo thời trung cổ, tôn giáo thời cận đại, tôn giáo thời hiện đại…

Một số tài liệu khác nh-: “Tạp chí nghiên cứu Nhật B°n“ do trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia biên soạn; “Một số vấn đề lịch sử“ (kỉ yếu hội thảo khoa học), nhà xuất bản Nghệ An; “Tạp chí khoa học“ (tr-ờng

ĐH Vinh); Các đề tài nghiên cứu khoa học cấp tr-ờng của Th.S Phan Hoàng

Minh… đã phát hiện và giải quyết nhiều vấn đề liên quan đến văn hoá nói chung và tôn giáo Nhật Bản nói riêng

Trên cơ sở tìm hiểu và nghiên cứu các tài liệu trên đã hỗ trợ to lớn cho tôi hoàn thành đề tài này

3 Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu

ở đề tài này tôi chỉ xin đề cập đến một số vấn đề nh-:

- Cơ sở của sự hài hòa giữa tôn giáo bản địa (Thần đạo-Shinto) và các tôn giáo ngoại nhập (Phật giáo, Nho giáo, Cơ Đốc giáo…)

- Quá trình phát triển và thâm nhập lẫn nhau của các tôn giáo

- Những biểu hiện cụ thể của sự hài hòa tôn giáo trong đời sống văn hóa Nhật Bản hiện nay

4 Ph-ơng pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này tôi đã vận dụng một số ph-ơng pháp nghiên cứu nh-: ph-ơng pháp logic, ph-ơng pháp lịch sử, kết hợp với ph-ơng pháp phân tích, tổng hợp để xử lý tài liệu, hệ thống hoá các vấn đề liên quan đến tôn giáo

và văn hoá Nhật Bản, từ đó rút ra những nét hài hòa giữa tôn giáo bản địa và các tôn giáo ngoại nhập trong đời sống văn hóa Nhật Bản

Trang 7

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận chung, nội dung chính của đề tài gồm có

Trang 8

b Nội dung ch-ơng 1: tổng quan về nhật bản cổ trung đại

1.1 Điều kiện tự nhiên và c- dân

1.1.1 Điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên là một nhân tố quan trọng ảnh h-ởng nhất định đến

sự phát triển xã hội của mỗi quốc gia Những yếu tố tự nhiên có thể chi phối

đến việc hình thành phong tục, tập quán, tín ng-ỡng, lễ hội, cá tính con ng-ời Vì thế, khi tìm hiểu về lịch sử, con ng-ời, nền văn hoá Nhật Bản nói chung và tôn giáo Nhật Bản nói riêng, chúng ta cần tìm hiểu thiên nhiên Nhật Bản để có đ-ợc nhận thức sâu sắc hơn về tác động của nó đối với vấn đề đang nghiên cứu

Nhật Bản là một quốc đảo nằm ở phía cực Đông lục địa châu á và phía

Đông Bắc bờ Thái Bình D-ơng, gồm 4 đảo lớn: Hokkaido, Honshu, Kyushu, Shikoku và gần 4000 đảo nhỏ rải ra theo hình cánh cung dài 3.800km trên vùng vĩ độ 20025’B đến 45053’B Tồng diện tích nưỡc Nhật l¯ 378.815km2 , lớn hơn diện tích n-ớc Anh một chút song chỉ bằng 1/9 diện tích ấn độ và bằng 1/25 diện tích n-ớc Mĩ

Quần đảo Nhật Bản x-a kia (quần đảo Nippon) nối liền với lục địa châu

á và giữ mối liên lạc với lục địa châu á qua 3 con đ-ờng; Đ-ờng Phía Bắc từ

Đông Xibia qua Xakhalin đến Hokkaido, đ-ờng phía Đông từ bán đảo Triều Tiên đến Honshu và đ-ờng phía Nam từ Trung Hoa đến đảo Kyushu, qua Đài Loan và quần đảo Ryukyu Từ 3 con đ-ờng này Nhật Bản có mối giao l-u kinh

tế, văn ho² tú lâu vỡi thế giỡi Tính chất “đ°o” n¯y đ± l¯m cho việc giao lưu kinh tế, văn hoá trở nên khó khăn, song lại thuận lợi cho việc giữ gìn nền độc lập và đặc biệt thuận lợi cho việc giữ gìn tính thống nhất và thuần nhất của nền văn minh dân tộc Đó cũng là một trong những lý do khiến Nhật Bản xây dựng

và giữ gìn đ-ợc một nền văn hoá bản địa đậm nét, có sức sống bền lâu

Trang 9

Thiên nhiên Nhật Bản vừa có cái đẹp thanh bình, nên thơ, vừa có cái vẻ hùng vĩ và không kém phầm khắc nghiệt, dữ dội Nhật Bản thuộc xứ ôn đới, có

4 mùa rõ rệt: mùa Đông tuyết rơi dày đặc, phủ trắng các đỉnh núi và cả vùng

đồng bằng ven biển, có nơi dày tới vài mét (bờ biển Hoburibu và Tây Tohoku) Vùng núi Nhật Bản là một trong những vùng có nhiều tuyết nhất thế giới; Mùa Hạ đem đến m-a rào và nhiều khi là bão, lụt, sụt lở đất đai Trung bình mỗi năm có 3-4 cơn bão lớn đổ bộ vào đất n-ớc này, đặc biệt vào cuối tháng 8 và tháng 9 M-a ở đây th-ờng rất lớn, từ 1.000 - 3.500mm hàng năm (trừ Hokkaido - đảo này hầu nh- không có m-a); Màu lá anh đào mùa Thu và màu hoa anh đào mùa Xuân tạo nên cảnh thanh bình, thịnh v-ợng và ấm cúng, khác hẳn với những mùa Đông lạnh lẽo kéo dài Vì thế hoa anh đào đ-ợc xem là

“quỗc hoa” cùa Nhật B°n Đất n-ớc này nắng nhiều, m-a nhiều nên có thảm thực vật phong phú, hoa trái bốn mùa t-ơi tốt, khắp nơi có phong cảnh thiên nhiên t-ơi đẹp

Tuy nhiên, ngắm một sắc hoa anh đào, một đỉnh núi Phú Sĩ phủ tuyết trắng xoá soi bóng xuống mặt hồ trong veo thì khó mà hình dung đ-ợc cái khắc nghiệt, dữ dằn của thiên nhiên nơi đây Theo nhiều tài liệu khoa học xác nhận, các quần đảo Nhật Bản hình thành do những đợt vận động tạo núi cách

đây lâu nhất là 2,4 triệu năm – xét về mặt địa chất học nh- vậy là rất trẻ – vì vậy Nhật Bản có hai đặc tr-ng nổi tiếng thế giới đó là nhiều núi lửa, lắm động

đất Bên cạnh đó ng-ời Nhật luôn phải đối phó với bão lụt, hạn hán, sóng thần ở Nhật Bản hiện nay có hơn 30 ngọn núi lửa vẫn đang hoạt động trong tổng số 196 núi lửa, trong đó có núi Phú Sĩ Mỗi năm có tới hàng nghìn những rung chuyển địa chấn và thỉnh thoảng lại có một trận động đất lớn, có khi thiêu huỷ cả một thành phố (trận động đất ở vùng Kantô năm 1923 làm 15 vạn ng-ời bị chết cháy; trận động đất lớn (7độ richter) ở Kôbê đầu năm 1995 làm hơn 5 ngàn ng-ời chết, thiệt hại khoảng hơn 200tỉ USD)

Trang 10

Thiên nhiên cũng có nhiều -u đãi Địa hình phức tạp một mặt đã tạo ra những khó khăn trở ngại cho việc phát triển đất n-ớc Mặt khác nó làm cho Nhật Bản có nhiều nét độc đáo mà chúng ta không thể tìm thấy ở một nơi nào khác trên thế giới Do đ-ợc kiến tạo bởi những hòn đảo lớn nhỏ nên đ-ờng bờ biển của Nhật Bản kéo dài và khúc khuỷu, gồm nhiều vùng vịnh và eo biển, là

điều khiện thuận lợi cho thuyền bè neo đậu Đồng thời Nhật Bản cũng nổi tiếng với núi non hùng vĩ, cheo leo, những sông và hồ n-ớc quanh năm Ngọn nủi Phủ Sĩ (cao 3776m, l¯ ngón nủi cao nhất nưỡc Nhật) còn đước gói l¯ “nủi rướu trưộng sinh”, l¯ hình °nh tướng trưng cho nưỡc Nhật Ngón nủi n¯y quanh năm có tuyết phủ trắng xoá, lại mang vẻ đẹp hùng vĩ, đầy tính tự nhiên,

đó là niềm tự hào của ng-ời Nhật và là đề tài hấp dẫn của thi ca, hội hoạ

Tuy nhiên do địa hình có 3/4 diện tích là đồi núi không thích hợp cho việc trồng trọt nên kinh tế nông nghiệp của Nhật Bản gặp nhiều khó khăn Đất canh tác đ-ợc chỉ chiếm khoảng 1/6 diện tích toàn quốc, tập trung ở một số vùng đồng bằng nhỏ hẹp ở mạn phía Đông bờ Thái Bình D-ơng (đồng bằng Kantô ở phía Bắc vịnh Tôkyô, vùng đồng bằng mạn trên vịnh Isê và đồng bằng Kinai ở phía trên vịnh ôsaka), đó là những nơi tập trung dân c- đông đúc nhất

và có vai trò đặc biệt trong lịch sử phát triển của dân tộc này Nhật Bản lại khan hiếm các nguồn tài nguyên thiên nhiên cho công nghiệp, cho nên mặc dù

đất đai trồng trọt ít, lại nghèo chất hữu cơ nh-ng kinh tế nông nghiệp vẫn đóng vai trò đặc biệt trong đời sống c- dân Nhật cho đến những năm đầu thế kỉ XX, trong đó cây lúa vẫn là chủ đạo Vì thế ng-ời Nhật phải dồn công sức lao động vào việc cải tạo đất đai thật lớn, đây cũng là một trong những yếu tố tạo nên tính cần cù của ng-ời nông dân Nhật Bản

Lịch sử của một dân tộc bao giờ cũng gắn liền với môi tr-ờng sống của dân tộc đó, Nhật Bản cũng không nằm ngoài quy luật này Thiên nhiên Nhật Bản đẹp nh-ng quả thật dữ dội và đầy biến động Trải qua một quá trình đấu tranh, vật lộn với cái khắc nghiệt của tự nhiên, Nhật Bản đã từ một quốc đảo

Trang 11

nghèo nàn v-ơn lên thành một c-ờng quốc đứng hàng đầu thế giới về sự phát triển kinh tế, khoa học kĩ thuật Đặc biệt trên mảnh đất này đã hình thành nên một nền văn hoá rực rỡ mà trong đó ng-ời Nhật vừa gắn bó hoà hợp với thiên nhiên vừa tôn sùng tự nhiên nh- những vị thần

1.1.2 C- dân Nhật Bản và nền văn hoá truyền thống

Nguồn gốc dân tộc Nhật Bản vẫn còn là một vấn đề tranh luận, nh-ng

có nhiều tài liệu xác nhận rằng tổ tiên xa x-a của họ đã di c- từ phía Bắc lục

địa châu á xuống và có một bộ phận từ các miền duyên hải Nam á lên

Ng-ời Nhật Bản, về cơ bản thuộc chủng tộc Môngôlôit, có quan hệ gần gũi với nhiều dân tộc khác ở Triều Tiên và Trung Quốc; Nh-ng cũng giống nh- mọi dân tộc hiện đại khác, họ là sản phẩm của sự pha trộn giữa các chủng tộc Nhiều dân tộc đã di c- đến Nhật Bản từ thời kỳ đồ đá cũ Trong kỉ băng hà cuối cùng, kéo dài đến tận cách đây khoảng 1000 năm, Nhật Bản vẫn dính liền với lục địa châu á, nên các dân tộc khi đi tới đây không thể đi tiếp đ-ợc nữa

và phải ở lại rồi pha trộn với các dân tộc tới sau [18;16]

Theo giới Nhật học Xô Viết, sắc dân Ainu là nền tảng cổ x-a nhất của toàn bộ c- dân Nhật đ-ơng đại Ng-ời Ainu trên đảo Hokkaido về sau đã hỗn huyết cùng các sắc dân từ duyên hải Đông á di c- sang Còn tại Kyushu, Shikoku và Nam phần Honshu thì họ hỗn huyết và bị đồng hoá bởi các bộ tộc Nam Đảo (Austronésie) tràn lên Quá trình phát triển và ảnh h-ởng qua lại giữa hai nền văn hoá bản xứ (Ainu, Austronésie) và văn hoá của các bộ tộc di trú Triều Tiên tiếp diễn từ thiên niên kỉ I tr-ớc công nguyên mãi đến thế kỉ V, lúc đó nghề trồng lúa n-ớc đã trở thành ph-ơng thức sống chính của c- dân Nhật Bản Sang các thế kỉ VI–VII c- dân Nhật Bản tiếp thu cả văn hoá Triều Tiên lẫn Trung Hoa Ng-ời Ainu một phần bị đồng hoá bởi các bộ tộc di trú, một phần bị đuổi ng-ợc lên mạn Bắc do quá trình di dân lên Bắc phần bán đảo Honshu trong thế kỉ VIII

Trang 12

Nhật Bản hiện nay là quốc gia thuần nhất cao độ về sắc dân và văn hoá Với dân số 126,5 triệu ng-ời (số liệu năm 2002, Bộ nội vụ Nhật Bản), Nhật là n-ớc có số dân đông thứ 7 trên thế giới, sau CHND Trung Hoa, ấn Độ, Mĩ, Inđônêsia, Brazil và Nga Trong đó ng-ời Nhật chiếm 99% tổng số c- dân Sắc dân Ainu hiện giờ chỉ còn ch-a đến 20.000 ng-ời, sinh sống chủ yếu trên đảo Hokkaido Còn ng-ời dân n-ớc ngoài đông nhất tại Nhật Bản là ng-ời Triều Tiên, cũng chỉ có khoảng gần 600.000 ng-ời, và trên d-ới 40.000 ng-ời Nhật gốc Hoa, song đa phần họ sinh tr-ởng tại Nhật Bản nên không tạo ra những nét riêng biệt khác với văn hoá Nhật Số nhân khẩu Âu-Mĩ th-ờng trú tại Nhật Bản chiếm tỉ lệ rất ít ỏi Nhật Bản cũng là một trong những n-ớc có tỉ lệ dân thành thị cao nhất thế giới với 79% tập trung ở thành thị, thành phố đông nhất

là Tôkyô với mật độ trung bình 13.000ng-ời/km2.

Nh- thế, dân tộc Nhật Bản là một tạp chủng đã hình thành trong thời kì tiền sử, bởi nhiều thành phần, từ nhiều địa ph-ơng châu á du nhập vào và ở những thời điểm khác nhau Trải qua một quá trình sinh sống lâu dài đã có sự hoà đồng giữa những cộng đồng dân c- đến sau với những thổ dân định c- từ tr-ớc Ngày nay trên các quần đảo Nhật Bản, 126,5 triệu ng-ời Nhật là một dân tộc thống nhất với những truyền thống văn hoá, phong tục tập quán, tôn giáo, tâm lý xã hội riêng biệt và độc đáo

Nh- đã nói ở trên, do điều kiện địa lý t-ơng đối biệt lập với các quốc gia châu á khác trong nhiều thế kỉ nên cho tới thời kỳ mở cửa vào năm 1868 Nhật Bản đã xây dựng đ-ợc một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc, độc đáo

và t-ơng đối độc lập Tính độc đáo Nhật Bản có thể là kết quả của sự tác động tổng hoà nhiều nhân tố: kinh tế, xã hội, địa lý, lịch sử, chủng tộc, văn hoá trong đó thật khó mà xác định đ-ợc nhân tố nào là quyết định Song văn hoá truyền thống ng-ời Nhật nổi lên một số nét cơ bản sau:

Ngay từ thời xa x-a, Nhật Bản vẫn đ-ợc coi là một dân tộc sống có tổ chức và kỉ c-ơng chặt chẽ Trong xã hội Nhật, tôn ti trật tự đ-ợc coi trọng, nó

Trang 13

thể hiện ngay trong ngôn ngữ x-ng hô và hình thức chào hỏi đối với từng đối t-ợng xã hội cụ thể, phân biệt rõ ràng ng-ời trên - kẻ d-ới, nam – nữ, tuổi tác Tính cộng đồng trong quan hệ xã hội của ng-ời Nhật cũng rất cao, đồng thời tính kỉ luật rất chặt chẽ và hình phạt cũng rất nặng nề Một trong những biểu hiện cực đoan của nó là hành động mổ bụng tữ s²t theo tinh thần “vỏ sĩ

đ³o” – nó đề cao dũng khí nam nhi, nghị lực con ng-ời, coi trọng danh dự cá nhân và ý thức cộng đồng, mặt khác nó phần nào cũng thể hiện sự mù quáng trong lý t-ởng và đang ngày càng phai nhạt dần

Ng-ời Nhật cũng quen sống trầm t-, thanh bạch và giản dị Trong điều kiện sống nh- vậy, tình yêu thiên nhiên đã trở thành truyền thống mĩ học bắt

rễ sâu trong di sản văn hoá Nhật Bản Thần đạo (Shintô) chính là tôn giáo bản

địa bắt nguồn từ những tín ng-ỡng nguyên thuỷ tôn thờ các hiện t-ợng tự nhiên của ng-ời Nhật Tình yêu thiên nhiên cũng thể hiện qua việc bảo l-u các phong tục tín ng-ỡng cổ x-a nh- lễ hội ngắm hoa anh đào (Hanimi), lễ hội nông nghiệp theo mùa ( lễ hội cấy lúa tháng 1, lễ hội cơm mới tháng 10, lễ tiễn thần điền thổ tháng 11 ), lễ hội Tanabata, Nó còn thể hiện qua nghệ thuật điêu khắc, hội hoạ khéo léo Thiền (Zen) và nghệ thuật th-ởng thức trà

đạo mang trong mình nó tinh thần thanh khiết, tinh tế và trầm lắng Thực là một nghịch lý nếu ta so sánh tính cách trầm t-, thanh bạch và giản dị của ng-ời Nhật đ-ợc thể hiện qua phong cách nghệ thuật, phong cách sống đó với một cuộc sống sôi động, hối hả của n-ớc Nhật hiện đại Không phải ngẫu nhiên m¯ nh¯ nghiên cửu Hừu Ngóc trong cuỗn “chân dung văn ho²” đ± rủt ra kết luận rằng trong tính cách ng-ời Nhật, những yếu tố t-ơng phản, đối lập hiện ra một cách rỏ rệt, sắc nét, quyết liệt: “Ng-ời Nhật có thể th-ởng thức cái

đẹp mong manh của hoa anh đào và cái ánh thép lạnh ngời của một thanh bảo kiếm”

Ng-ời Nhật cũng thích những cái gì đơn giản, nhỏ nhắn, tinh tế và khéo léo hơn là những thứ to lớn, lộng lẫy và hiển nhiên Nếu nh- ng-ời Mĩ thích

Trang 14

ng-ời Nhật hết sức đề cao tính tự nhiên Họ thích sử dụng các nguyên liệu từ thiên nhiên ( tre, gỗ, cỏ tranh ) Trà đạo Nhật Bản có truyền thống hàng thế

kỉ, là một nghệ thuật, đồng thời là một thú tiêu khiển có tính thẩm mĩ cao Tinh thần cơ bản của việc th-ởng thức trà là hài hoà, tôn kính, tinh khiết và trong trẻo Bonsai là nghệ thuật trồng cây trong chậu nhỏ, tạo ra những cây cảnh đẹp của tự nhiên và cho ta sự th-ởng thức thiên nhiên trong hình ảnh thu nhỏ lại…

Ng-ời Nhật không hoang phí xa hoa, họ tiết kiệm trong chi tiêu và chăm chỉ trong lao động Đồng thời họ có ý chí quyết tâm mạnh mẽ và tính kiên trì, nhẫn nại Đứng tr-ớc bất kì việc gì họ cũng không vội vã, không nhiều lời, không bàn đến những cái quá xa và viển vông Họ bình tĩnh xem xét từng điều kiện cụ thể, chia việc lớn ra thành những việc nhỏ, giải quyết xong cái tr-ớc sẽ đến cái sau, cứ thế mà đi đến đích Họ suy nghĩ đ-ợc nh- thế, nh-ng vấn đề là họ làm đ-ợc nh- thế và làm một cách mỹ mãn, không một chút ngại khó

Ng-ời Nhật đặc biệt rất trung thành Khi lý giải về những thành tựu to lớn trong lĩnh vực kinh tế và ổn định xã hội, nhiều ng-ời đã nghiên cứu về lòng trung thành của ng-ời Nhật và coi đó là một nhân tố đóng góp cho sự phát triển này Nho giáo đã có nhiều ảnh h-ởng về mặt đạo đức, đó là t- t-ởng trung quân, trung thành với chủ ở Nhật, bổn phận con cái cũng đồng nhất với lòng trung thành Xã hội Nhật là một xã hội cạnh tranh quyết liệt nh-ng không tạo ra sự cạnh tranh ích kỉ giữa các cá nhân, mà cá nhân phải làm việc quên mình cho cuộc cạnh tranh của tập thể

“Sữ c²ch biệt về địa lý, bản sắc văn hoá và ngôn ngữ khiến cho ng-ời Nhật ý thức khá rõ về sự khác biệt giữa hó vỡi bên ngo¯i” [18;16] Nhờ đó khi

đất n-ớc b-ớc sang thời kỳ hiện đại họ không gặp trở ngại gì về tính thống nhất dân tộc Thực tế Nhật Bản là một quốc gia hoàn hảo nhất thế giới: địa lý

có ranh giới rõ ràng với đại bộ phận dân c- dùng chung một thứ ngôn ngữ, có

Trang 15

chung một nền văn hoá đầy bản sắc và gần nh- không có một dân tộc nào

khác nữa Tuy nhiên đây lại là một bất lợi cho ng-ời Nhật khiến họ khó khăn

hơn trong việc tiếp xúc với ng-ời n-ớc ngoài

Điều này không đồng nghĩa với việc ng-ời Nhật khó khăn trong việc

tiếp thu văn hoá n-ớc ngoài.Trái lại, họ có tinh thần học hỏi và biết tiếp thu

tinh hoa văn hoá n-ớc ngoài một cách sáng tạo Sự dễ dàng tiếp thu văn hoá

n-ớc ngoài là một truyền thống của Nhật Bản đã có từ lâu đời Đó là truyền

thống không đóng cửa, không bảo thủ, không cực đoan nh-ng cũng không

đánh mất cốt cách của dân tộc mình Đã 3 lần trong lịch sử, Nhật Bản phải trải

qua những b-ớc chuyển lớn: học tập Trung Quốc mạnh mẽ ở thế kỉ thứ VII,

cuộc hiện đại hoá đáng ghi nhớ từ năm 1868 và sự phát triển kinh tế thần kỳ

sau năm 1945 Mỗi lần chuyển biến tăng tốc là kết quả của sự chuyển đổi từ

nền văn minh này sang nền văn minh khác: từ văn minh bản xứ tới văn minh

Trung Quốc, từ văn minh Trung Quốc tới văn minh ph-ơng Tây, và từ văn

minh dân tộc phát triển trong giai đoạn những năm 30, 40 đến văn minh

Âu-Mĩ ngày nay Điều đáng nói là mỗi b-ớc ngoặt lớn đều đạt đ-ợc kết quả nhanh

chóng và êm dịu mà không phá hỏng tập quán và truyền thống cũ

Trong đời sống văn hoá của ng-ời Nhật Bản có sự kết hợp hài hoà giữa

các tôn giáo ngoại nhập (Phật giáo, Khổng giáo, Cơ đốc giáo) với tôn giáo bản

địa ( Thần đạo) Đây là một nét văn hoá độc đáo đ-ợc hình thành trải qua một

quá trình lâu dài các tôn giáo đ-ợc du nhập, cải biến cho phù hợp và thích nghi

hài hoà với nhau trong đời sống ng-ời Nhật Sự kết hợp đó đã đạt đến mức

ng-ời ta khó mà nhận ra đâu là yếu tố bản địa, đâu là yếu tố ngoại nhập Cũng

giống nh- Việt Nam coi Nho giáo, Lão giáo và Phật giáo là ba thành phần hợp

th¯nh “tam gi²o đọng nguyên” thì Nhật Bản cũng coi Thần đạo, Khổng giáo

và Phật giáo là ba thành phần cơ bản không tách rời nhau trong quá trình phát

triển của tín ng-ỡng và tôn giáo Nhật

Trang 16

1.2 Các giai đoạn phát triển của lịch sử cổ trung đại Nhật Bản

1.2.1 Các nền văn hoá cổ x-a

Theo truyền thuyết, n-ớc Nhật Bản đ-ợc thành lập từ năm 660 tr-ớc Công nguyên khi thiên hoàng Jimmu (Thần Vũ), dòng dõi của nữ thần mặt trời Amatêrax- lên ngôi Jimmu là ng-ời đầu tiên dựng lên n-ớc Nhật và là vị Thiên hoàng thứ nhất của Nhật Bản Chính dòng dõi hoàng tộc này đã truyền nối nhau cho đến thời đại ngày nay của Nhật hoàng Akihito – vị vua thứ 126, lên ngôi từ năm 1990

Căn cứ vào các tài liệu khảo cổ học, mặc dầu ng-ời ta ch-a tìm thấy dấu tích gì của thời đại đồ đá cũ ở Nhật Bản song cũng có thể phỏng đoán rằng những nhóm c- dân đầu tiên có thể đã sinh sống trên miền đất này vào khoảng 500.000 năm tr-ớc đây

Dấu vết của các nền văn hoá đồ đá giữa và đồ đá mới bắt đầu từ khoảng 8.000 đến 7.500 năm trứơc Công nguyên (tức là t-ơng đ-ơng với khoảng thời gian của văn hoá Hoà Bình – Bắc Sơn ở Việt Nam) đã đ-ợc tìm thấy ở nhiều nơi trên quần đảo này

Trong thời kì đồ đá mới tồn tại hai nền văn hoá là : Văn hoá Jômôn và văn hoá Yayoi

Nền văn hoá Jômôn: tồn tại từ thiên niên kỉ thứ V đến thiên niên kỉ I

tr-ớc Công nguyên C- dân trong thời đại Jômôn sống bằng nghề chài l-ới, săn bắt, hái l-ợm Họ sống trong những túp lều mà nền đ-ợc đào sâu xuống một ít, rồi cắm cọc chung quanh, che cỏ bên ngoài Sở dĩ có tên gọi Jômôn (xoắn thừng) bởi vì trong hầu khắp các di chỉ của nền văn hoá này đều tìm thấy đồ gốm làm bằng đất nung, không có men, hình dáng thô sơ và đ-ợc trang trí bởi những mô típ hoa văn nh- dây thừng xoắn Ng-ời Jômôn có mặt trên khắp quần đảo Nippon, những di chỉ khảo cổ mà họ để lại cho thấy đây là nền văn minh thực sự Nhật Bản

Trang 17

Mặc dù văn hoá Jômôn vẫn còn sót lại cho đến khá gần đây ở vùng cực Bắc, song nó đã bị thay thế và bị hấp thụ bởi một xã hội nông nghiệp tiến bộ hơn – đó là nền văn hoá Yayoi.[18;19]

Nền văn hoá Yayoi: tồn tại từ thế kỉ III tr-ớc Công nguyên đến thế kỉ III

sau Công nguyên Đây là thời kì mà nghề trồng lúa khá phổ biến làm cơ sở cho việc xây dựng xã hội Ng-ời Yayoi có trình độ trồng lúa khá cao, họ sống trong các làng mạc, xung quanh có hào sâu bao bọc Ngoài việc ở trong hang

đào vào lòng đất, họ đã bắt đầu có nhà sàn lợp rạ Gỗ đ-ợc sử dụng rộng rãi trong đời sống (làm công cụ lao động, sinh hoạt) Công cụ bằng đồng khá phổ biến và đã bắt đầu có công cụ bằng sắt Nền văn hoá này nổi tiếng với đồ gốm màu nâu t-ơi, không có hoa văn, nh-ng đ-ợc làm bằng bàn xoay nên có hình dáng mỏng và cân đỗi, tinh tế m¯ gi°n dị, đước gói chung l¯ “đọ đất kiểu Yayoi”

Văn hoá Yayoi gắn liền với những cuộc di c- từ lục địa châu á, kĩ thuật trồng lúa n-ớc đ-ợc du nhập vào Nhật Bản từ Triều Tiên Đồng thời, d-ới ảnh h-ởng của văn hoá đồ đồng Trung Quốc nên từ thế kỉ I tr-ớc Công nguyên trỏ

đi đồ đồng ở Nhật Bản xuất hiện ngày càng nhiều Ng-ời ta đã tìm thấy nhiều kiếm, mác, g-ơng bằng đồng Ng-ợc lại ảnh h-ởng của văn hoá Yayoi cũng lan đến lục địa châu á, ng-ời ta đã tìm thấy các kiểu kiếm bằng đá mài, các lọ gốm phổ biến ở đảo Kyushu có khá nhiều ở Trều Tiên và Đông Bắc Trung Quốc

Cùng với sự phát triển của công cụ sản xuất và sự phân công lao động thì khoảng cách giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị ngày càng mở rộng,

đồng thời diễn ra quá trình phân chia thành nhiều bộ lạc nhỏ Những cuộc đáu tranh giữa các bộ lạc xuất hiện, thúc đẩy khuynh h-ớng tập hợp thành những liên minh bộ lạc Điều đó chứng tỏ rằng vào cuối thời kỳ Yayoi, chế độ công xã nguyên thuỷ ở Nhật Bản đã đi vào thời kỳ tan rã Một cấu trúc xã hội mới

đ-ợc hình thành trên nền tảng nông nghiệp, mang trên mình nó những lễ hội

Trang 18

nông nghiệp, những tín ng-ỡng phồn thực, sùng bái tự nhiên và còn ảnh h-ởng dến ngày nay

1.2.2 Sự ra đời của Nhà n-ớc đầu tiên

Trên cơ sở sự phát triển của đồ đồng, trong những thế kỉ đầu Công nguyên, ở Nhật Bản đã diễn ra quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ, quá trình phân hoá tài sản và xuất hiện giai cấp Những hình thức phôi thai của Nhà n-ớc đã bắt đầu ra đời ở miền Tây Nhật Bản

Vào khoảng giữa thiên niên kỉ I, một tiểu quốc đã đ-ợc hình thành ở miền Bắc đảo Kyushu Trong các th- tịch cổ Trung Quốc đã ghi nhận sự tồn t³i n¯y “Địa lý chí” trong s²ch “H²n thư” cõ chép: “Trong biển L³ng L±ng cõ ngưội Nuynô, chia l¯m hơn trăm nưỡc” (ngưội Trung Quỗc xưa gói Nhật B°n l¯ nưỡc Nô) Tuy nhiên chừ “nưỡc” đước chép ở đây có thể mới chỉ là các bộ lạc hoặc liên minh bộ lạc

Từ thế kỉ II trở đi, những cuộc xung đột giữa các bộ lạc đã xẩy ra th-ờng xuyên hơn, làm cho các bộ lạc này hoặc là hoà nhập lại hoặc là phụ thuộc lẫn nhau

Vì thế đến đầu thế kỉ III đã xuất hiện những n-ớc t-ơng đối lớn, có từ hàng nghìn đến hàng vạn hộ, trong đó mạnh nhất là n-ớc Yamatai do nữ v-ơng Hinicô cai trị Th- tịch cổ trung quốc chép lại: năm 239 Hinicô sai sứ giả sang triều cống Trung Quốc và đ-ợc vua Nguỵ (thời Tam quốc) phong danh hiệu “Thân Nguỵ Nuỵ Vương” Lần cuỗi cợng thư tịch cồ Trung Quỗc nói đến Yamatai là vào năm 266 khi sứ giả n-ớc này sang triều cống nhà Tần, sau đó không thấy nhắc đến nữa, có lẽ Yamatai đã bị một tiểu quốc hùng mạnh hơn là Yamatô chinh phục

Từ cuối thế kỉ III đến thế kỉ VI là thời kỳ Kofun ( “kofun” trong tiếng

Nhật cõ nghĩa l¯ “gò mố cồ”) ờ thội kứ n¯y tìm thấy rất nhiều mố cồ, trong đõ lớn nhất là mộ cổ ở Sakai thuộc Ôsaka Ng-ời ta cho rằng đó là lăng của Thiên hoàng Nintoku (Nhân Đức) vào khoảng thế kỉ II sau Công nguyên Mộ có kiến

Trang 19

trúc rất độc đáo và xung quanh có nhiều đồ gốm hình nhà, hình thuyền, hình

động vật, hình ng-ời đó chính là đồ gốm Haniwa

Sự xuất hiện của các mộ cổ này liên quan đến sự phân chia giai cấp và hình thành Nhà n-ớc Những mộ lớn thuộc về những ng-ời đứng đầu các bộ lạc Còn những mộ nhỏ và ít đồ tuỳ táng hơn là của dân nghèo Tuy nhiên cùng với sự thay đổi trong xã hội thì các mộ cổ cũng dần dần nh-ờng chỗ cho việc xây dựng những kiểu mộ phần khác

Đây cũng là thời kỳ mà văn hoá n-ớc ngoài bắt đầu có sự du nhập mạnh

mẽ vào Nhật Bản Việc buôn bán với Trung Quốc và Triều Tiên đ-ợc đẩy mạnh Sự di dân của Trung Quốc và Triều Tiên sang Nhật Bản ngày càng nhiều, đồng thời họ mang theo kĩ thuật sản xuất tiên tiến: kĩ thuật trồng lúa, nuôi tằm, dệt tơ, làm đồ mộc Theo đó Nho giáo, Phật giáo và các thành tựu văn hoá khác của lục địa cùng đ-ợc thâm nhập vào Nhật Bản Điều đó khiến giai cấp thống trị nghĩ đến việc nhanh chóng tạo nên một chính quyền nhà n-ớc vững mạnh để thay đổi ph-ơng thức bóc lột Đại diện cho giai cấp thống trị là dòng họ Xôga và Thái tử Xiôtôc- đã bằng nhiều biện pháp để thực hiện yêu cầu bức thiết đó

V-ơng quốc Yamatô xuất hiện vào cuối thế kỉ thứ IV ở miền Tây Nam

đảo Honshu Sự hình thành Nhà n-ớc Yamatô là kết quả của quá trình chinh phục, chiếm đoạt đất đai của nhiều tiểu quốc và cử sứ thần sang Trung Quốc cầu phong Quá trình chinh phục đó đ-ợc ghi lại trong bức th- gửi vua Tống vào cuối thế kỉ V, đồng thời một phần còn đ-ợc thể hiện qua truyền thuyết về ng-ời anh hùng xứ Yamatô (con trai hoàng đế Yamatô) đã đi dẹp giặc thành công và hoá thành con chim trắng bay lên trời

Ng-ời đứng đầu nhà n-ớc Yamatô ngày càng phát triển thế lực ra xung quanh và trở thành Thiên hoàng, đó đ-ợc xem là nguồn gốc của các vua Nhật Bản sau này Thiên hoàng đã tập hợp chung quanh mình các tộc họ (gọi là

“thị”) cõ thế lữc v¯ biến thù lĩnh cùa c²c bố l³c th¯nh c²c quan l³i thay mặt

Trang 20

cho chính quyền Trung -ơng ở các địa ph-ơng Đến thế kỉ thứ V n-ớc Yamatô

mà còn đ-ợc sử dụng vào việc khai khẩn ruộng đất, đào kênh để phục vụ sản xuất nông nghiệp Còn bộ dân có nguồn gốc từ c- dân những thị tộc bị Yamatô chinh phục hoặc dân bản địa bị bần cùng hoá Họ có địa vị gần giống với ng-ời lệ nông trong xã hội Rôma cổ đại, họ bị trói chặt vào ruộng đất của Thiên hoàng và quý tộc, song họ có một ít tài sản riêng và chủ cũng không có quyền bán và giết họ Lao động của các tầng lớp bộ dân đã có vai trò quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển của các lực l-ợng sản xuất trong giai

đoạn hình thành quốc gia Nhật Bản

Đến thời kỳ này, thế lực của giai cấp quý tộc cũng phát triển hơn tr-ớc Nhất là từ thế kỉ V, khi mà tầng lớp quý tộc ngày càng chiếm nhiều ruộng đất công làm của riêng và biến các thành viên trong công xã thành bộ dân hoặc nô

lệ

Thời kỳ Asuka là một phân kỳ của thời kỳ v-ơng quốc Yamato, tồn tại

từ cuối thế kỷ VI đến dầu thế kỷ VIII Thời kỳ này tên đất n-ớc đ-ợc đổi từ Oa Quốc thành Nhật Bản Sau khi đánh thắng dòng họ Mônônôbe, Xiôtôc- đã ra sức củng cố chế độ quân chủ chuyên chế trung -ơng tập quyền bằng cách đề x-ớng Phật giáo, tiếp thu t- t-ởng chính trị Nho gia, đ-a t- t-ởng trung quân

đặt lên hàng đầu nhằm h-ớng tới một chính thể phong kiến theo kiểu Trung Quốc Từ cuối thế kỉ VI đến đầu thế kỉ VII, với cuộc cải cách Taika, Nhật Bản

đã chuyển mình sang xã hội phong kiến

Trang 21

1.2.3 Thời kỳ phong kiến

Thời kỳ Nara (710 “ 794): thời kỳ này kinh đô của Nhật Bản đóng ở

Nara Bộ luật Ritsuryo (Luật lệnh Thiên hoàng) đ-ợc hoàn thành Nhật hoàng

có uy quyền lớn Nhà n-ớc tiếp tục ban hành một số luật lệnh và chiếu dụ để

bổ sung và phát triển những sắc lệnh cải cách Đây cũng là thời kỳ mà văn hoá Trung Quốc có ảnh h-ởng tới nhiều mặt chính trị, xã hội Nhật Bản Tuy nhiên trong quá trình tiếp thu văn hoá Trung Quốc ng-ời Nhật đã biết chọn lọc và sửa đổi cho phù hợp với hoàn cảnh đất n-ớc mình Chế độ khoa cử và tuyển chọn quan lại của Nhật Bản vẫn mạng nặng tính thế tộc và mối liên hệ gia tộc Kinh đô Nara mô phỏng kinh đô Tr-ờng An của nhà Đ-ờng song nó cũng mang dáng kiến trúc dân tộc, đó là một công trình công phu và đồ sộ

Trong thời Nara, Khổng giáo và Phật giáo bắt đầu đ-ợc truyền bá rộng rãi ở Nhật Bản Đồng thời cũng là thời kỳ mà văn hoá truyền thống của Nhật Bản đ-ợc hình thành từ tr-ớc nay bắt đầu định hình và phát triển Hai cuốn sử dân tốc đầu tiên do chính ngưội Nhật biên so³n đ± ra đội, đõ l¯ “Cồ sữ kí” (Kojiki) viết năm 712 v¯ “Nhật B°n thư kỉ” (Nihon Shoki) viết năm 720 Nhiều địa phương cõ “Phong thồ kí” (Fudoki) ghi chép s°n vật, phong tũc địa phương Tập thơ “V³n diệp tập” nồi tiếng cðng đước biên so³n Nền văn ho²

đã phát triển tới mức cao nhờ sự kết hợp các yếu tố Trung Hoa và Nhật Bản, trong đó các yếu tố Trung Hoa đ-ợc du nhập ồ ạt đã trở thành động lực phát triển mạnh mẽ của văn hoá bản địa

Mặc dù xã hội thời Nara có b-ớc phát triển nhất định nh-ng cuộc đấu tranh giữa các tầng lớp quý tộc cũ và quý tộc quan lại vẫn tiếp diễn Tiêu biểu

là cuộc đấu tranh giữa dòng họ Xôga và Fujioara, cuối cùng họ Fujioara giành phần thắng và lợi dụng sự -u ái của Thiên hoàng mà lộng quyền Điều đó dẫn

đến sự bất bình và đấu tranh của dòng họ Ôttômô Cuối cùng sự thất bại và suy tàn của dòng họ Ôtômô đánh dấu sự kết thúc của thời kì Nara

Trang 22

Thời kỳ Hâyan (Heian): Năm 794 Nhật Bản dời đô đến Hâyan ( Kyôtô

ngày nay) Từ đó đến năm 1192, suốt 4 thế kỉ, Nhật Bản đã có những biến đổi sâu sắc về kinh tế, chính trị, xã hội

Từ sau cải cách Taika, lực l-ợng sản xuất đã có b-ớc phát triển mới Công cụ lao động bằng sắt đ-ợc sử dụng rộng rãi, thuỷ lợi đ-ợc chú trọng, diện tích đất trồng đ-ợc mở rộng Nhà n-ớc thi hành chính sách khai khẩn đất hoang, nh-ng lại bị bọn quý tộc lợi dụng để trốn thuế và chuyển ruộng đất Nhà n-ớc thành sở hữu riêng Sự phát triển của chế độ t- hữu ruộng đất làm xuất hiện các trang viên phong kiến rộng lớn Ruộng đất của nông dân tự canh

và các chủ trang viên nhỏ cũng dần dần sáp nhập vào trang viên của các lãnh chúa làm cho ruộng đất ngày càng tập trung vào tay các lãnh chúa lớn, đồng thội sỗ lướng “trang dân” c¯ng tăng.Trong trang viên, ngo¯i nông dân l¯ lữc l-ợng lao động chủ yếu còn có hàng chục thợ thủ công, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tại chỗ Tầng lớp quý tộc mới vừa đ-ợc miễn thuế vừa bòn rút trang dân kiệt quệ nên cuộc sống của họ càng xa hoa, cách biệt hẳn với cuộc sống cơ cực của nhân dân lao động Chính quyền địa ph-ơng không đ-ợc phép xâm nhập trang viên Các trang viên cũng có lực l-ợng vũ trang của riêng mình, điều này trở nên hợp pháp từ cải cách Taika, phát triển lực l-ợng quân đội bằng cách bãi bỏ chế độ binh dịch và thay thế bằng chế độ lính mộ ở các quận ti Hạt nhân cơ bản của lực l-ợng vũ trang này là tầng lớp võ sĩ đạo- Xamurai- tầng lớp này có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống chính trị xã hội Nhật Bản lúc bấy giờ Nh- vậy, trang viên phong kiến Nhật Bản không chỉ là những đơn

vị kinh tế khép kín, tự cấp, tự túc mà còn là những khu vực hành chính mà Nhà n-ớc không thể kiểm soát đ-ợc

Đây cũng là thời kỳ khởi nghĩa nông dân nổ ra khá mạnh mẽ (đặc biệt ở thế kỷ X, XI) Triều đình không đàn áp nổi đã nhờ đến lực l-ợng vũ trang của lãnh chúa và nhà chùa Chính trong hoàn cảnh đó thế lực của Xamurai càng lớn mạnh

Trang 23

Thế kỉ X – XII văn hoá Nhật Bản có những b-ớc phát triển đáng kể Tiếp tục kế thừa nền văn hoá truyền thống của dân tộc, Nhật Bản cũng hấp thụ nền văn hoá Trung Quốc Hình thành và phát triển nền văn hoá của giai cấp thỗng trị, đước gói l¯ “văn ho² cung đình” song l³i mang tính chất văn hoá bản

địa Trong nền văn hoá này có một điểm đáng l-u ý là vai trò của phụ nữ, xuất hiện nhiều phụ nữ tài năng Sự ra đời của hệ thống chữ viết Katakana có nguồn gốc từ chữ Hán đã thúc đẩy nền văn học viết phát triển mạnh mẽ Kinh đô Hâyan là một thành tựu kiến trúc tiêu biểu của thời kỳ này Đời sống quý tộc sang trọng hơn, xa hoa hơn Đồng thời, đời sống văn hoá của nhân dân cũng khá phong phú, đ-ợc thể hiện trong các lễ hội dân gian Phật giáo đã có ảnh h-ởng lớn trong đời sống xã hội

Từ những c- dân đầu tiên đến cuối thế kỉ XII, lịch sử Nhật Bản trải qua nhiều giai đoạn phat triển và nhiều nền văn hoá khác nhau: văn hoá thời đại đồ

đá, tiêu biểu là văn hoá Jômôn và Yayoi; Văn hoá của các quốc gia cổ đại, nổi bật là các v-ơng quốc Yamato, các triều đại Nara, Hâyan Tuy chịu sự ảnh h-ởng của văn hoá bên ngoài, chủ yếu là Trung Quốc, song Nhật Bản đã xây dựng một nền văn hoá truyền thống độc lập và độc đáo

Thời kỳ Mạc phủ:

Đây là thời kỳ tồn tại khá dài trong lịch sử Nhật Bản với những biến

động to lớn và cũng đ-ợc xem là giai đoạn phát triển cao nhất cuối cùng của chế độ phong kiến Nhật Bản

- Giai đoạn Mạc phủ Kamak-ra (1192 – 1333):

Sau khi thắng lợi trong cuộc nội chiến, dòng họ Minamôtô đã lợi dụng phong trào nông dân để chống lại chính quyền Thiên hoàng Cuối cùng thực quyền chính trị của Thiên hoàng và tầng lớp quý tộc phong kiến ở Hâyan bị t-ớc đoạt

Năm 1192 Minamôtô Yôritômô đ-ợc phong làm t-ỡng quân (Shogun),

mở đầu cho việc thiết lập chính quyền quân sự của tầng lớp Xamurai ở Nhật

Trang 24

Bản – hệ thống chính quyền th-ờng gọi là Bakufu (Mạc phủ) có nghĩa là đại bản doanh của chính quyền quân sự Chế độ chính trị mà vũ s- làm trụ cột tồn tại song song với chính quyền Thiên hoàng cho mãi đến năm 1868 khi Mạc phủ Tôk-gaoa bị lật đổ Cồn Mạc phủ Kamak-ra tồn tại khoảng 140 năm, gọi

là thời đại Kamak-ra Tuy tồn tại song song nh-ng trong thực tế quyền điều hành đều tập trung trong tay chính quyền quân sự của t-ớng quân, Thiên hoàng chỉ là bù nhìn mà thôi Sự tồn tại song song của hai chính quyền mà quyền lực chủ yếu thuộc t-ớng quân trong suốt thời gian gần 700 năm là một

điểm đặc biệt đáng l-u ý trong lịch sử Nhật Bản

Sau khi ổn định tình hình trong n-ớc, Yôrimôtô đã thi hành hàng loạt biện pháp nhằm củng cố và mở rộng quyền hành của Mạc phủ Cơ sở giai cấp của chính quyền Kamak-ra là tầng lớp địa chủ võ sĩ ở địa ph-ơng lệ thuộc vào

hó Minamôtô gói l¯ “ngữ gia nhân” – tức kẻ thân tín trong nhà D-ới sự bảo

hộ của Mạc phủ, tầng lớp võ sĩ lấn dần ruộng đất của bọn quý tộc tạo thành một tầng lớp phong kiến mới có thế lực ngày càng mạnh Trái lại thế lực của tầng lớp quan lại phonng kiến triều đình ngày một suy yếu

Trong thế kỷ XIII quan hệ trong bậc thang đẳng cấp phong kiến ở Nhật Bản đã hình thành rõ rệt Những lãnh chúa phong kiến lớn (đaimiô) là những ng-ời có quyền sở hữu ruộng đất lớn, trở thành những phong quân; còn những lãnh chúa phong kiến nhỏ hơn là những bồi thần của đaimiô, có nhiệm vụ phục vụ phong quân về mặt quân sự Shogun (t-ớng quân) đứng đầu Nhà n-ớc, thực chất là phong quân cao nhất Shogun dựa vào tầng lớp quý tộc phong kiến

để cai trị đất n-ớc

Năm 1190 Yôrimôtô chết, sau đó chính quyền thực sự rơi vào tay dòng

họ Hôđiô Chế độ phong kiến quân sự cùng với bộ luật Jôây – bảo vệ quyền lợi của Mạc phủ và quan lại phong kiến quân sự, hạn chế quyền của lãnh chúa

và áp chế nông dân cùng các tầng lớp nhân dân lao động khác - đã đè nặng lên vai những ng-ời dân th-ờng, trong đó có cả th-ơng nhân và thợ thủ công

Trang 25

Trong thế kỉ XIII, Nhật Bản phải 2 lần đ-ơng đầu với cuộc tấn công xâm l-ợc Mông – Nguyên Mặc dù cuộc kháng chiến giành thắng lợi nh-ng

địa vị kinh tế cùa tầng lỡp vỏ sĩ “ngữ gia nhân” ng¯y c¯ng sa sủt không thể cứu vãn đ-ợc Chính tình hình đó đã làm lao đao chính quyền phong kiến quân

sự và tăng c-ờng thế lực của tầng lớp phong kiến đaimiô Các lực l-ợng phản

động nhân tình hình đó nổi dậy chống Mạc phủ Cuối cùng, đến năm 1333 dòng họ Hôđiô thất thủ, đánh dấu chấm dứt thời kỳ Mạc phủ Kamak-ra

- Giai đoạn Mạc phủ Murômachi (1338 – 1573):

Giai đoạn này thực tế quyền lực nằm trong tay Shogun, Thiên hoàng vẫn chỉ là h- vị Tuy chiến tranh vẫn th-ờng xẩy ra nh-ng đất n-ớc vẫn tiếp tục phát triển Lịch sử Nhật Bản giai đoạn này trải qua hai chặng phát triển:

+ Thời Nam Bắc triều (1333 – 1392):

Sau khi tiêu diệt họ Hôđiô, Thiên hoàng Gôđaigô trở về kinh đô nh-ng chỉ lo khôi phục uy quyền của mình Chức t-ớng quân do Hoàng tử đảm nhiệm và các chức quan khác đều có ng-ời trong hoàng tộc nắm giữ Điều đó khiến tầng lớp võ sĩ hết sức bất bình

Nhân thời cơ đó, năm 1336 Ashikaga Takaudi tự x-ng là t-ớng quân và

đem quân đi chiếm Kyôtô Thiên hoàng phải chạy về phía Nam và lập triều

đình mới, Còn ở Kyôtô họ Ashikaga đ-a Thiên hoàng Mixuaki lên làm bù nhìn Lịch sử gọi đây là thời kỳ Nam Bắc triều

Đây là thời kỳ loạn lạc, hỗn chiến liên miên, nạn c-ớp biển cũng gia tăng Hai bên Nam-Bắc triều đánh nhau suốt 40 năm không phân thắng bại, mặc dù thế lực của Bắc triều ngày càng có -u thế hơn Cuối cùng, năm 1392 hai bên kí hoà -ớc, các thế lực phong kiến miền Bắc và miền Nam đều chịu thần phục dòng họ Ashikaga

+ Thời Chiến quốc(1467-1573):

Mặc dù quyền hành đều nằm trong tay dòng họ Ashikaga nh-ng điều đó không có nghĩa là đất n-ớc thực sự đựơc thống nhất Tình trạng cát cứ vẫn tiếp

Trang 26

tục tồn tại, các đaimiô x-ng hùng x-ng bá ở địa ph-ơng và đánh nhau để tranh giành bá quyền Năm 1447 xẩy ra “lo³n Ônin”, kéo d¯i suỗt 10 năm Đến năm

1457 thì hai bên bãi binh Tuy nhiên điều đó chỉ kết thúc cuộc xung đột ở kinh

đô còn nội chiến thì vẫn âm ỉ, nó trở thành cuộc chiến tranh giữa các chúa phong kiến và lan rộng ra khắp các địa ph-ơng, lôi kéo cả lực l-ợng tăng lữ Tình hình hỗn loạn này kéo dài mãi đến năm 1573 khi Ôđa Nôbunaga tiến hành thống nhất Nhật Bản mới chấm dứt

Mặc dù chiến tranh liên miên, song kinh tế và văn hoá d-ới thời Mạc phủ Murômachi vẫn có nhiều khởi sắc Nông nghiệp h-ng thịnh đã góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển Xuất hiện các nghiệp đoàn thủ công nghiệp và th-ơng nghiệp Ngoại th-ơng phát triển mạnh hơn tr-ớc rất nhiều với sự mở rộng buôn bán sang Triều Tiên, Mã Lai, Philippin, Việt Nam, Campuchia và đặc biệt là Trung Quốc Phố chợ mọc lên khắp nơi trong cả n-ớc

Thời kỳ Murômachi văn hoá Nhật Bản khá phát triển, chùa chiền đ-ợc xây dững nhiều v¯ nguy nga, như chợa Kaku v¯ Giukaku Cợng vỡi c²c “v-ờn chợa” cõ nghệ thuật đốc đ²o lủc bấy giộ thể hiện tinh thần trầm tĩnh cùa đ³o Phật Về hội hoạ có những tranh sơn thuỷ (sansuiga) khá nổi tiếng Về nghệ thuật sân khấu có lo³i diễn kịch dân gian gói l¯ “No” – khi diễn, các nghệ sĩ mang mặt nạ dân tộc, mặc ²o kimônô rất đẹp, mủa theo điệu nh³c “liên khủc” (yookyoku) Về văn học có loại tiểu thuyết ngắn rất hấp dẫn [8;72]

Tuy nhiên d-ới thời Mạc phủ Murômachi đời sống nhân dân vốn đã khốn quẫn lại càng cực khổ hơn do chiến tranh loạn lạc Những cuộc hỗn chiến liên miên đã gây cho nông dân nhiều tai hoạ và làn cho sự bóc lột phong kiến đối với nông dân hết sức nặng nề Do đó nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân

đã nổ ra, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa năm 1428 ở các tỉnh xung quanh Kyôtô

và năm 1485 ở Yamashirô

Trang 27

Các cuộc khởi nghĩa nông dân ở thế kỷ XV ch-a giành đ-ợc thắng lợi trọn vẹn nh-ng nó làm cho chính quyền Mạc phủ đã suy yếu lại càng suy yếu hơn Suốt gần 1000 năm thời Chiến quốc, t-ớng quân họ Ashikaga vẫn tồn tại nh-ng không có thực quyền nữa Đến năm 1573 Ôđa Nôbunaga đã thống nhất Nhật Bản, lật đổ vị t-ớng quân cuối cùng của dòng họ này Mạc phủ Murômachi đến đây bị diệt vong

- Giai đoạn Mạc phủ Tôk-gaoa (1603 – 1868):

Mạc phủ Tôk-gaoa là giai đoạn phát triển cao nhất và cuối cùng của chế

độ phong kiến Nhật Bản Đây cũng là thời kỳ có nhiều diễn biến phức tạp về các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội

Từ giữa thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVII các nhà lãnh đạo quân sự Ôđa Nôbunaga, Toytomi Hiđêyôsi và Tôk-gaoa Iêasu đã kế tục nhau hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất n-ớc Năm 1603 Tôk-gaoa Iêasu đ-ợc Thiên hoàng phong “ Chinh di đ³i tưỡng quân” (Shogun), Từ đó nội chiến hoàn toàn chấm dứt, đất n-ớc b-ớc vào một thời kỳ hoà bình và phát triển kéo dài hơn 250 năm

Sau khi lên làm t-ớng quân, Tôk-gaoa đã thi hành nhiều biện pháp nhằm củng cố Mạc phủ và chế độ phong kiến Nhật Bản Một mặt ông cho các

đaimiô có quyền rất lớn ở lãnh địa để dựa vào họ mà xây dựng chính quyền, mặt khác lại ra sức khống chế các lãnh chúa, bắt họ phải phục tùng Mạc phủ

Dựa trên tiêu chuẩn “ai đửng về phía mình trưỡc khi trận Sêkigahara kết thủc” Tôkưgaoa đ± chia c²c đaimiô ra l¯m 3 lo³i: Shimpan (thân phiên), Fuđai

đaimiô ( phổ đại) và Tozanma đaimiô (ngoại phiên) Với từng loại đaimiô Mạc phủ có cách đối xử khác nhau trong mọi lĩnh vực Năm 1615 Tôk-gaoa cho ban hành bộ luật “Buke Shohatto” (Bố luật vð gia) để kiểm soát đaimiô

Đối với Thiên hoàng, một mặt Mạc phủ nâng cao uy tín Thiên hoàng, mặt khác tìm cách tách rời đaimiô với Thiên hoàng để tránh việc đaimiô dựa vào thế lực Thiên hoàng để chống lại mình

Trang 28

Xã hội chia làm 4 đẳng cấp: võ sĩ, nông dân, thợ thủ công và th-ơng nhân Nông dân tuy đ-ợc coi trọng hơn tầng lớp thợ thủ công và th-ơng gia nh-ng thực tế họ là những ng-ời bị bóc lột nặng nề nhất, cực khổ nhất Do đó,

để ngăn ngúa sữ nồi dậy cùa nông dân, M³c phù tồ chửc “ngð liên gia” để hó quản lý, giám sát và chịu trách nhiệm lẫn nhau

Thiết chế chính trị kết hợp chặt chẽ với quân sự và hành chính, Tôk-gaoa vừa là lãnh chúa lớn nhất vừa là ng-ời cai trị thực tế đất n-ớc làm cho Thiên hoàng chỉ còn là t-ợng tr-ng cho uy quyền cao nhất mà chẳng có quyền gì Đây là nguồn gốc sâu xa của mâu thuẫn giữa Shogun và Thiên hoàng Chính sách cai trị của Tôk-gaoa cũng là nguyên nhân của những cuộc khởi nghĩa nông dân, mà càng đ-a ra biện pháp kìm hãm nó thì chính quyền Mạc phủ càng khủng hoảng trầm trọng

Trong tình hình đó Mạc phủ Tôk-gaoa lại phải đ-ơng đầu với một sự kiện quan trọng khác - đó là sự xâm nhập của chủ nghĩa t- bản ph-ơng Tây Lúc đầu, do mong muốn mua đ-ợc nhiều vũ khí để tăng c-ờng lực l-ợng quân

sự nên các đaimiô đã hoan nghênh ng-ời châu Âu đến lãnh địa của mình Nh-ng đến thời kỳ Hiđêyôsi, giáo sĩ ph-ơng Tây dần dần để lộ âm m-u dọn

đ-ờng cho sự xâm l-ợc của chủ nghĩa t- bản n-ớc họ, nên vào năm 1587 Hiđêyôsi đ± ra lệnh cấm đ³o, sau đõ thi h¯nh chính s²ch “bế quan to° c°ng”,

điều đó khiến các tầng lớp nhân dân trong n-ớc cũng rất bất bình

Tuy nhiên d-ới thời Mạc phủ Tôk-gaoa kinh tế có b-ớc phát triển nhất

định Sản xuất hàng hoá và quan hệ sản xuất hàng hoá tiền tệ phát triển đã tác

động to lớn đến xã hội thời Tôk-gaoa Nó củng cố thêm chế độ phong kiến và mối liên hệ chặt chẽ, phụ thuộc lẫn nhau giữa những nhà sản xuất, th-ơng nhân và ng-ời cho vay lãi Quan hệ sản xuất t- bản chủ nghĩa thâm nhập vào xã hội phong kiến song không phá vỡ xã hội này – đặc điểm này sẽ chi phối

đến việc lật đổ Mạc phủ Tôk-gaoa, phục hồi quyền lực Thiên hoàng và đ-a Nhật Bản tiến theo con đ-ờng t- bản chủ nghĩa trong khuôn khổ chế độ phong kiến

Trang 29

Điều kiện kinh tế xã hội nh- vậy đã đ-ợc phản ánh trong nền văn hoá phong phú, da dạng ở thời Tôk-gawa Xóm làng, nhà cửa ở nông thôn quy hoạch khá ngăn nắp, có đ-ờng đi rộng, thẳng, có những dòng n-ớc t-ới cho

đồng ruộng ở thành thị đ-ợc xây dựng to lớn, đẹp đẽ, dân c- đông đúc Thành thị còn là chiến luỹ Văn học nghệ thuật phát triển, đặc biệt là nghệ thuật sân khấu Kĩ thuật sắp chữ in đ-ợc truyền bá rộng rãi

Thời kỳ Tôk-gawa Nhật Bản trải qua một thời gian khá dài hoà bình, ổn

định, có điều kiện thuận lợi để phát triển Dĩ nhiên yêu cầu phát triển xã hội dần dần làm bộc lộ những mâu thuẫn của thời kỳ này và chuẩn bị cho một sự kiện lớn trong lịch sử Nhật Bản - đó là việc lật đổ nền thống trị của Tôk-gawa, trả lại quyền lực cho Thiên hoàng, mà thực chất là đ-a Nhật Bản phát triển theo con đ-ờng t- bản chủ nghĩa

Trang 30

Ch-ơng 2:

Những nét cơ bản về tôn giáo ở Nhật Bản

2.1 Những nét cơ bản về Thần đạo (Shinto)

2.1.1 Khái niệm về Thần đạo (Shinto)

Shinto th-ờng đ-ợc dịch là Thần đạo Đó là một tôn giáo bản địa có nguồn gốc từ những tín ng-ỡng cổ x-a của ng-ời Nhật Bản Thuật ngữ Shintô

- chỉ những nghi lễ tế thần và đền thờ - đ-ợc thấy xuất hiện từ thế kỉ VI để phân biệt truyền thống tôn giáo bản địa có tổ chức lỏng lẻo với Phật giáo đang

đ-ợc truyền bá vào Nhật Bản lúc đó Shinto đ-ợc tạo thành bằng cách ghép hai chữ Hán: Shén nghĩa là quyền năng huyền bí, siêu nhân, và dò hay tò có nghĩa

là con đ-ờng, giáo lý Thần đạo có những đặc tr-ng đơn giản nh- đa thần, tín ng-ỡng sùng bái Thiên hoàng, tín ng-ỡng phồn thực, hoặc thờ cúng thiên nhiên Tuy trên thực tế Thần đạo không phải là một tôn giáo theo đúng nghĩa của nó vì không có ng-ời sáng lập, không có hệ thống tín điều hay giáo lý, và một thời gian lâu dài Thần đạo chịu ảnh h-ởng của nền văn minh Trung Quốc,

đặc biệt là Khổng giáo và Phật giáo, nh-ng nó vẫn giữ đ-ợc các đặc tr-ng riêng, dù là đặc tr-ng mơ hồ ch-a rõ nét qua suốt các thời đại Do vậy theo

đúng nghĩa, Thần đạo có thể đ-ợc coi là một tập hợp các kiểu tín ng-ỡng, quan điểm, cách tiếp cận tôn giáo không nhất quán và đ-ợc đặc thù hoá các

định h-ớng, quy định bởi kinh nghiệm lịch sử của ng-ời Nhật từ tiền sử tới nay [19;353-354]

2.1.2 Cơ sở hình thành Thần đạo

Từ xa x-a ng-ời Nhật Bản chủ yếu sống bằng nghề nông và nghề biển,

đặc biệt là nghề đánh cá So với nghề biển, nghề trồng lúa n-ớc ở Nhật Bản xuất hiện muộn hơn nh-ng cũng khá phát triển Nhất là từ khi có sự ảnh h-ởng của kĩ thuật canh tác lúa n-ớc từ lục địa do những ng-ời dân di c- rải rác

mang vào

Trang 31

Tuy nhiên, nghề nông và nghề biển đều là những nghề phụ thuộc rất nhiều ở thiên nhiên Nắng, m-a, gió, bão, thuỷ triều đều có tác động rất lớn

đối với cuộc sống của những c- dân làm nghề này Thiên nhiên có thể đem lại mùa màng bội thu, cuộc sống no ấm, nh-ng cũng có thể là lực l-ợng tàn phá tạo nên sự thất bát, đói nghèo, thậm chí đe doạ đến sinh mệnh của họ

ở Nhật Bản, ảnh h-ởng của thiên nhiên đối với cuộc sống con ng-ời lại càng to lớn bởi thiên nhiên ở đây quả thật là dữ dội Mỗi năm Nhật Bản phải hứng chịu hàng chục trận bão, có những cơn bão lớn chỉ trong thoáng chốc đã quét sạch cả một vùng rộng lớn, và phải có tới hàng ngàn trận động đất lớn nhỏ, nhiều trận động đất kèm theo sự phun trào của núi lửa tạo nên sức mạnh tàn phá thật khủng khiếp, kinh hoàng Có những trận động đất có thể san phẳng cả một thành phố Cho nên, từ xa x-a, khi ch-a đủ tri thức khoa học để

lý giải các hiện t-ợng này thì thiên nhiên quả là một lực l-ợng đáng kính sợ

đối với ng-ời dân nơi đây Chính vì vậy họ tin rằng ngoài cuộc sống của họ, ngoài những tồn tại mà họ có thể cảm nhận trực tiếp bằng giác quan, còn có cuộc sống của vô số các vị thần Các hiện t-ợng tự nhiên nh- mặt trời, mặt trăng, bão, dông, sông, núi, động đất đều đ-ợc tôn kính và đ-ợc coi nh- những vị thần

Tuy những tín ng-ỡng cổ x-a đó có thể chỉ đ-ợc coi là một thứ phiếm thần vô tri, song nó không hề thiếu những yếu tố tốt đẹp Những tín ng-ỡng đó dựa trên một quan niệm mơ hồ và ch-a định hình về vũ trụ, coi vũ trụ nh- gồm vô số những bộ phận có tri giác Tuy nhiên, điều đáng l-u ý là một đất n-ớc th-ờng xuyên có động đất, bão tố và lụt lội đã không có chuyện thần thoại phổ biến nào về một vị thần động đất đáng kinh khủng, còn thần bão táp thì chỉ xuất hiện ở những khía cạnh hiền lành Cho nên, theo G.B Samson, sự thờ củng tữ nhiên cõ đống lữc l¯ “sữ t²n thưởng chử không ph°i l¯ sữ sớ sệt” v¯ nhừng tình c°m đõ khiến “hó coi thần th²nh chàng nhừng l¯ nhừng thử m³nh

mẽ, đáng kính sợ nh- mặt trời, mặt trăng, dông bão hay là những thứ có lợi ích

Trang 32

nh- cái giếng, cái nồi, mà còn là những thứ dịu dàng, dễ mến nh- tảng đá, dòng suối, cây cỏ, hoa l²” [19;55] Chắc chắn rằng thế giới của họ là một thế giới của tình yêu và sự biết ơn chứ không phải là của sự sợ sệt và mục đích của các nghi lễ tôn giáo của họ là ca ngợi và cảm ơn, cũng nh- là an ủi và dỗ dành các thần thánh của họ

Quan niệm về thần của đạo Shintô có nguồn gốc từ những tín ng-ỡng cổ xưa Hệ thỗng c²c thần cùa ngưội Nhật đước gói chung l¯ “kami” Quan niệm

về thần có từ thời cổ x-a nh-ng rất mơ hồ và lỏng lẻo, không có ý nghĩa dứt khoát thế nào là linh hồn, không phân biệt rõ ràng giữa sống và chết, càng không có ý nghĩ về hồn bất tử Chính cái từ dùng để chỉ thần-kami- là bằng chửng về điều n¯y Kami chỉ cõ nghĩa l¯ “trên” v¯ trong nhừng chuyện cồ tích x-a nhất từ này dùng để chỉ cả những vật hữu sinh và vô sinh mà ng-ời ta nghĩ rằng có phẩm chất cao, ở trên Cho nên theo nhà cổ học Motoori Norinaga, kami “l¯ tất c° nhừng đỗi tướng vô hình cõ uy lữc vỡi dân gian”

Theo thống kê của các nhà nghiên cứu, có tới 8 triệu ngôi thần trong các tín ng-ỡng truyền thống ở Nhật Bản Thần có thể đ-ợc chia làm hai loại chủ yếu: Tự nhiên Thần và Nhân thần

Tự nhiên Thần bao gồm:

Thần Mặt trời (Amaterasu Omi Kami)

Thần Mặt trăng (Tsuki – Yomi)

Thần Núi (Yama – Tsumi)

Thần Biển (Wada – Tsumi)

Thần Cây cối (Kukunochi)

Thần Sấm sét (Nuzuchi)

Thần Sóng (Shihozuchi)

Thần Lửa (Kagu – Tsuchi)

Tóm lại đó là những hiện t-ợng, sự vật hùng vĩ, có uy lực của tự nhiên

đ-ợc tôn lên thành Thần Tuy nhiên, Tự nhiên Thần không chỉ có nh- vậy, sức

Trang 33

sinh sản của trời đất và những bệnh tật, những hiện t-ợng kỳ ảo của tạo hoá cũng làm cho con ng-ời cổ x-a trên quần đảo này kinh ngạc và tôn lên làm thần, chẳng hạn:

Nhân thần có vị trí rất quan trọng Trong nhân thần tr-ớc hết phải kể

đến các vị thần đ-ợc coi là tổ tiên của các thị tộc (hay dòng họ), còn gọi là Ujigami Mỗi Ujigami đ-ợc toàn thể các thành viên của thị tộc đó tôn thờ Đó

là các vị thần nh-: Thần Amaterasu Omi Kami – thần khởi tổ của dòng họ Thiên hoàng; Thần Futodama No Mikoto – thần khởi tổ của dòng họ Ki Bộ; Thần Ame No Oshi Hi No Mokoto – thần khởi tổ của dòng họ Đại Bạn; Càng ở những giai đoạn lịch sử về sau, do ảnh h-ởng của tôn giáo ngoại lai,

đặc biệt là của Phật giáo, Đạo giáo nên quan niệm về Nhân thần đ-ợc mở rộng Nhân thần không chỉ là thần khởi tổ của các thị tộc, dòng họ mà còn là linh hồn của những nhân vật lỗi lạc, những anh hùng liệt sĩ, thậm chí sau này với ảnh h-ởng của quan niệm Phật giáo Tịnh thổ tông ng-ời ta còn cho rằng tất cả mọi ng-ời sau khi chết đều có thể trở thành thần hay phật nếu khi sống biết tuân thủ những nghi thức tín ng-ỡng nhất định

Mỗi thị tộc đều có Ujigami của mình Cơ sở của sự đoàn kết ngày đó là cùng thờ chung một vị thần của thị tộc chứ không nhất thiết phải là quan hệ huyết thống Về sau do quá trình xung đột giữa các thị tộc, nếu một thị tộc

Trang 34

mạnh chinh phục đ-ợc một thị tộc yếu hơn thì các thành viên của thị tộc bị chinh phục nhập thành một bộ phận của thị tộc chiến thắng bằng cách chấp nhận thờ vị thần của thị tộc mới, và vị thần của thị tộc bị chinh phục phải chịu xếp ở bậc d-ới vị thần thị tộc chiến thắng Việc tôn vinh thờ cúng phổ biến Nữ thần Mặt trời chính là do thị tộc Thiên Hoàng đã trở thành thị tộc mạnh nhất trên quần đảo, chinh phục tất cả các thị tộc khác từ thời cổ x-a ở chỗ này ta thấy ngay từ thời cổ x-a tín ng-ỡng của các dân tộc trên quần đảo Nhật Bản đã thể hiện tính dung hoà, chấp nhận những yếu tố tín ng-ỡng từ bên ngoài chứ không triệt thoái, bài trừ nhau

Tuy nhiên ranh giới trong quan niệm về Tự nhiên Thần và Nhân Thần không phải là tuyệt đối Chẳng hạn, thần Amatêrax- – Nữ thần Mặt trời – vốn là biểu tr-ng cho sức mạnh huyền bí, siêu việt của một thực thể tự nhiên vốn là trung tâm của vũ trụ, nh-ng đồng thời cũng là vị thần tổ của hoàng tộc

Mặc dù trong số các vị thần đ-ợc tôn thờ cũng có trật tự trên d-ới nhất

định song trật tự đó cũng không nhất nhất giống nhau, ngay cả trong cùng một

xu hưỡng tín ngưởng Thần đ³o Chàng h³n trong “Nhật Bản thần thoại sao lũc” thì Nừ thần Mặt trội đước tôn vinh vị trí tỗi cao trong thế giỡi thần, nhưng

về sau những ng-ời đứng đầu trong phái Thiên chủ giáo lại phủ nhận vai trò đó của bà và cho rằng hai vị thần Izanagi và Izanami mới thực sự là có vị trí tối cao – rằng những vị thần của Thần đạo đều sinh ra từ quần áo của Izanagi, trong đó Nữ thần Mặt trời Amatêrax- có vị trí đặc biệt, đứng đầu 800 vị thần trong vũ trụ và trị vì cả thiên hạ Một khi vị trí của vị thần tối cao bị thay đổi thì việc tôn thờ các vị thần khác cũng bị xáo trộn theo Nh-ng dù thế nào đi nữa thì những quan niệm về thần vẫn là nền tảng quan trọng chi phối đời sống tín ng-ỡng của ng-ời Nhật Do đó các tôn giáo, tín ng-ỡng ngoại lai nào muốn tồn tại trên quần đảo này đều phải biến dạng và ít nhiều đều phải mang dáng

vẻ của các vị thần bản địa

Thần đạo không có ng-ời sáng lập, không có giáo lý nh-ng lại có một quan niệm về thế giới sau khi chết đầy tính hiện thế và lạc quan Nói cách

Trang 35

khác, đó là tín ng-ỡng nhằm có đ-ợc lợi lộc ở ngay thế giới này chứ không đi tìm hạnh phúc ở thế giới sau khi chết nh- Phật giáo và Thiên chúa giáo Về cơ bản quan niệm của Thần đạo bằng lòng với cuộc sống hiện tại, còn thế giới bên kia không phải là mối bận tâm sâu sắc của họ Nó đơn giản và mờ nhạt, chỉ là thế giới mà những linh hồn chết đi tới rồi sẽ có một ngày quay trở lại thế giới hiện thế Nh-ng điểm này cũng không giống với quan niệm luân hồi của Phật giáo, nó chỉ là vòng sinh tử theo lẽ tự nhiên Thế giới bên kia không hẳn

là Thiên đàng, không hẳn là Niết b¯n, cðng không hàn l¯ địa ngũc Nõ l¯ “Tha giỡi” Ngưội Nhật cồ quan niệm Tha giỡi chỉ mộ °o l¯ ờ đ´ng xa, ờ trên đỉnh núi hay ở phía tr-ớc biển Tha giới nh- một tấm g-ơng phản ánh thực tại và không khác lắm so với thế giới này Sau khi chết mọi linh hồn con ng-ời hầu nh- đều đi tới Tha giới và gặp lại tổ tiên, Cả linh hồn của các con vật cũng thế,

và rồi sẽ tái sinh Sinh đẻ chỉ đơn giản là sự tái sinh của một linh hồn từ Tha giới

Đền thờ Thần đạo có đặc điểm riêng là đ-ợc xây dựng và trang hoàng

đơn giản, khác hẳn với các ngôi chùa lớn của Phật giáo Các đền ở Ise cứ 20 năm lại đ-ợc xây dựng lại một lần, nh-ng vẫn theo mẫu cũ, ng-ời ta cho đó là kiến trúc thuần tuý nhất và cổ nhất của kiến trúc Nhật Bản, chủ yếu là những lều gỗ lợp tranh Các đền ở Idzumo tuy lớn hơn và tinh vi hơn đôi chút song thiết kế vẫn t-ơng đối đơn giản, ng-ời đi lễ không vào trong đền mà đứng ở ngoài cầu xin

Đặc điểm nổi bật của Thần đạo là chú ý đến sự trong sạch trong nghi lễ

và điều chủ yếu trong tín ng-ỡng của Thần đạo là ý niệm về phong sản đ-ợc mùa [19;63] Ng-ời ta thờ cúng các vị thần để cầu mong những điều tốt đẹp cho nhà nông và ng-ời đánh cá Cho nên những ngày hội chính trong năm đều liên quan đến thức ăn, nh- Hội nếm quả đầu mùa (Nii-name), Hội thần nếm (Kan-name), Hội cùng nếm (Ai-name) và ngày hội linh đình nhất là Hội dâng cúng thức ăn (Onie, về sau gọi là Daijoe) Những ngày hội này th-ờng đ-ợc tổ

Trang 36

Nghi lễ Thần đạo đặc biệt chú trọng đến tính thanh sạch Việc thờ cúng bao gồm việc lễ lạy, dâng đồ cúng và cầu nguyện Đồ cúng chủ yếu là đồ ăn thức uống Ng-ời ta còn gắn những băng giấy và vải lên để thờ cúng, đó là đồ cúng t-ợng tr-ng (gohei) Về sau, những gohei này lại đ-ợc coi nh- đại diện của thần thánh, trở thành đối t-ợng để ng-ời ta thờ cúng Ng-ời ta xin các gohei này từ đền về cắm ở bàn thờ nhà mình nh- một sự hiện diện của thần thánh trong nhà

Việc tẩy lễ là việc căn bản tr-ớc khi làm lễ và đ-ợc thực hiện bằng các ph-ơng pháp khác nhau: trừ tà (harai), tẩy uế (misogi) và trai giới (imi)

Trừ tà là do thầy cúng làm lễ và d-ợc tiến hành để tẩy trừ sự ô uế do tội lỗi gây ra

Tẩy uế là tẩy trừ sự ô nhiễm ngẫu nhiên do sự đụng chạm tới những vật bẩn thỉu Cho nên ngày nay đồ cúng ở đền Shintô bao giờ cũng có mấy đĩa muối nhỏ

Trai giới là ph-ơng pháp tích cực để có đ-ợc sự sạch sẽ, không phải là làm sạch bằng cách loại bỏ sự bẩn thỉu mà là bằng cách tránh những nguồn gây ô uế điều này chủ yếu đ-ợc thực hiện bởi các thầy cúng: họ tránh đụng chạm tới bệnh tật, cái chết, đám tang, chỉ ăn nhừng thửc ăn nấu b´ng “lụa s³ch”, chỉ mặc quần ²o đ± tẩy uế cẩn thận v¯ tr²nh xa nhừng chổ ọn

Chính v¯o thội kứ “sơ khai tôn gi²o” ngưội Nhật đ± lấy chừ “Kyo” (cõ nhĩa là thanh sạch) làm việc trng yếu trong quan hệ đạo đức của mình Trong sạch về thể xác, có nghĩa là họ không để thân thể mình vấy bẩn, không lui tới những nơi có uế khí của tử thi và không đi lễ thần với tấm thân ch-a đ-ợc tắm rửa Làm nh- vậy là để trừ uế cho tâm và thân mình đ-ợc trong sạch tr-ớc khi b-ớc vào một việc trọng đại liên quan đến nhân phẩm, thanh danh Đàn ông Nhật tr-ớc khi bắt tay vào một việc gì thuộc về bổn phận nam nhi họ đều tẩy trừ uế khí rồi mới đến tr-ớc thần cầu cúng, mang tấm lòng trong sạch của mình dâng lên đức chí tôn để thần chứng giám cho sự quyết tâm khắc phục

Trang 37

mọi khó khăn gian khổ của mình để đi đến thành công Chính điểm này đã rèn dũa cho ng-ời Nhật có một ý chí, quyết tâm rất mạnh mẽ tr-ớc bất cứ khó khăn thử thách nào D-ới thời cổ đại, ng-ời Nhật còn ghét uế khí, sợ tà ma, họ cho ng-ời chết là uế vật bậc nhất, nên họ th-ờng mang ng-ời chết vứt đi thật

xa, nơi không có ng-ời qua lại, th-ờng th-ờng họ vứt ra biển hoặc vào rừng sâu Nh-ng vứt xa nh- thế rồi họ vẫn sợ hồn ma về quấy rối, gây trở ngại cho ng-ời sống, nên mới có những nghi lễ tiễn hồn ng-ời chết về với Tha giới Trong sạch cả về tâm hồn có nghĩa là không nghĩ, không bàn tính, không nói, không làm những điều xấu xa Họ cố giữ cõi lòng sao cho không có chút gì phải ăn năn, hối hận, họ giữ cho tâm hồn họ đ-ợc thật Thanh Tâm (Kyo-kikoro) Quan niệm này đã trở thành quy tắc chính trực trong nền tảng đạo đức của Thần đạo

Trên thực tế những tín ng-ỡng cổ x-a này không phải là chỉ riêng có ở Nhật Bản, bởi vì cũng giống nh- ng-ời Trung Quốc và Việt Nam đều thờ cúng trời đất, vua chúa, tổ tiên, thần thánh của mình Những tín ng-ỡng na ná nh- vậy có thể thấy xuất hiện ở hầu hết các n-ớc có nguồn gốc nông nghiệp Nh-ng Thần đạo Nhật Bản lại mang màu sắc riêng bởi những t- t-ởng tôn giáo trong đạo đức đã đồng nhất với tín ng-ỡng ngay từ thế hệ tiền khởi của nền tôn giáo sơ khai Ng-ời Nhật Bản luôn giữ lòng thành kính đối với tổ tiên của mình và họ đã sẵn có lòng tự tôn dân tộc ngay từ buổi đầu sơ khai của lịch

sử, và rồi cứ thế t- t-ởng tôn giáo sơ khai này luôn luôn cặp với nhau nh- hình với bóng trong đời sống tâm linh của ngừơi Nhật cho đến mãi về sau Thần

đạo đã đóng vai trò lớn nhất trong đời sống tâm linh của ng-ời Nhật với 9 vạn

đền thờ và 10 vạn tu sĩ

2.1.3 Quá trình phát triển của Thần đạo

Thần đạo xuất hiện từ tr-ớc Công nguyên, nh-ng hệ thống tín ng-ỡng tôn giáo phát triển khá chậm, các nghi lễ đ-ợc thực hiện trong hang đá hoặc những địa điểm linh thiêng, và hầu nh- không có tên gọi Những truyền thuyết

Trang 38

bắt đầu đước ghi chép l³i trong cuỗn “Cồ sữ ký” v¯ sau đõ l¯ “Nhật B°n thư kự”

Đầu thế kỷ thứ VI, Phật giáo và Nho giáo xâm nhập vào Nhật Bản, tên gọi Thần đạo đ-ợc đặt ra để phân biệt với các tôn giáo lớn này

Trong thời kỳ Asuka (538-710) những thần xã đầu tiên đ-ợc xây dựng, nh-ng Thần đạo nhanh chóng bị áp đảo bởi Phật giáo

Đầu thế kỷ thứ IX, đại s- Kôbô hợp nhất những t- t-ởng Phật giáo và

tín ng-ỡng x-a để tạo ra Chân ngôn tông Tuy cùng tồn tại với Phật giáo

nh-ng Thần đạo gần nh- bị hấp thụ vào Phật giáo, trở thành cái gọi là “Ryôbu Shinto.”

Thời Murômachi (thế kỷ XIV-XVI) đã có những mối quan tâm mới đến Shintô, đạo Shintô cùng tồn tại một cách lặng lẽ bên cạnh Phật giáo Sau cuộc xâm lăng của quân Mông Cổ thế kỷ XIII, nhằm nhấn mạnh dòng dõi thần thánh của hoàng tộc và nhấn mạnh bản chất thần thánh của ng-ời Nhật đối với Trung Quốc và ấn Độ nên từ thế kỷ XIV Shintô lại hồi sinh

Đến tận thế kỷ XVIII, thời Edo (1803-1868) Thần đạo đ-ợc tách khỏi Phật giáo nhờ một số ng-ời có t- t-ởng đề cao tín ng-ỡng dân tộc và rất ghét những phong tục du nhập từ n-ớc ngoài vào (Mootori Norigana, hay Hirata Atsutane), Tuy nhiên do ảnh h-ởng của Phật giáo rất lớn nên những nỗ lực để

đ-a Thần đạo trở thành quốc giáo không thành công và phải chờ đến cả thế kỷ sau

B-ớc sang thế kỷ XIX, d-ới sự cai trị của Thiên hoàng Minh trị, Thần

đ³o cõ nhiều chuyển biến Năm 1868 chính phù Nhật B°n công bỗ “Thần Phật phân ly lệnh”, t²ch Thần đ³o ra khài Phật gi²o đọng thội khôi phũc l³i Thần

kỳ quan (Jinggi-kan), một cơ quan lo việc tôn giáo, khuyến khích Thần đạo phát triển Năm 1869, dựa vào Đại Bảo luật lệnh, Thần kỳ quan đ-ợc đặt cao hơn Thái chính quan (Daijô-kan), hay cơ quan đứng đầu chính phủ Năm

1870, công bố chiếu Đại giáo, thực thi chính sách coi Thần đạo là quốc giáo

Trang 39

Để tăng c-ờng quyền lực của mình, năm 1890 Nhật hoàng Minh Trị tuyên bố Thần đạo là Quốc giáo và thống nhất tổ chức Thông qua Thần đạo, Nhật hoàng đã nêu ra c-ơng lĩnh đề cao chừ “Trung”, nghi± là trung với Thiên ho¯ng, hi sinh c° cuốc đội vì Thiên ho¯ng, v¯ đề cao chừ “Hiếu”, đề cao việc thờ cúng linh hồn ng-ời chết, đặc biệt là chết vì đạo nghĩa,

Vào những năm 30 của thế kỷ XX, chủ nghĩa quân phiệt Nhật đã sử dụng Thần đạo nh- quốc giáo để động viên tinh thần quần chúng

Hệ thống các đền Thần đạo đa phần đ-ợc Nhà n-ớc thiết lập Nh- Thần xã Yasukuni đ-ợc dành riêng để thờ linh hồn những ng-ời hi sinh cho tổ quốc, trong đó có cả những sĩ quan bị coi là tội phạm chiến tranh Việc các thủ t-ớng Nhật nh- Koizumi Junichiro th-ờng xuyên đến thăm đền này đã gây ra nhiều phản đối từ các n-ớc nh- Hàn Quốc, vì Nhật từng chiếm đóng Hàn Quốc hơn 50 năm

Sau đại bại ở chiến tranh thế giới thứ hai đã có những thay đổi căn bản

về mặt tâm lý cũng nh- định h-ớng về mặt t- t-ởng của đông đảo dân chúng Nhật Uy tín của đạo Shintô ngày càng sa sút Vào cuối những năm 50 đầu những năm 60 nhiều ng-ời cho rằng tính tôn giáo truyền thống, sự gắn bó với các nghi lễ cũ trong các lễ hội ngày càng bị lãng quên cùng với những năm tháng khó khăn của thời kỳ hậu chiến Song từ cuối những năm 70 đến những năm 80 của thế kỷ XX tình hình đã thay đổi Cùng vỡi sữ “tăng trường thần kứ” cùa kinh tế, đội sỗng ngưội dân Nhật B°n tú chổ thiếu thỗn chuyển sang

no đủ, d- dật, nh-ng niềm tin cào tôn giáo thì vẫn nh- x-a (không nhiều) Kinh tế phát triển, nh-ng bên cạnh đó cũng có mặt trái của nó nh- là làm việc căng thẳng quá mức, huỷ hoại môi tr-ờng, vấn đề chuẩn mực giá trị, đạo đức trong cơ chế thị tr-ờng đã làm cho ng-ời dân Nhật Bản, đặc biệt là những ng-ời có tên tuổi tìm đến nguồn vui của thời quá khứ làm cho xu h-ớng quay lại gắn bó với Thần đạo nói riêng và các tôn giáo nói chung có xu h-ớng gia tăng Nếu nh- những năm 50-60 những đồ dùng hành lễ trong các lễ hội

Trang 40

cuối những năm 60 ng-ời dân, đặc biệt là c- dân nông thôn lại giành khoản tiền không nhỏ để mua sắm đồ dùng hành lễ, tu sửa, xây dựng mới các chùa chiền Tình trạng trên cũng t-ơng tự nh- ở Việt Nam suốt những năm tháng chiến tranh và những năm tháng sau này của thời bao cấp Những năm gần

đây, với những thành tựu b-ớc đầu của công cuộc đổi mới, mức sống của các tầng lớp xã hội đ-ợc cải thiện, và từ đó họ có điều kiện vật chất thuận lợi để tổ chức các lễ hội dân gian truyền thống Những chùa chiền, nhà thờ họ x-a kia

có thời ng-ời ta dỡ bỏ nh-ờng chỗ cho tr-ờng học, nhà trẻ thì nay lại đ-ợc phục hồi

2.2 Quá trình du nhập của các tôn giáo ngoại lai

2.2.1 Phật giáo

Đạo Phật hình thành ở ấn Độ vào khoảng thế kỷ V tr-ớc Công nguyên,

đã du nhập vào Trung Quốc vào khoảng thế kỷ I tr-ớc Công nguyên qua các vùng Trung á Đạo Phật đã lan rộng khắp Trung Quốc và đến nửa cuối thế kỷ thứ IV thì du nhập vào Cao Ly (Hàn Quốc) và Bách Tế (Triều Tiên) Đến đầu thế kỷ VI đạo Phật đ-ợc truyền bá sang Nhật Bản

ở Nhật Bản, từ khoảng thế kỷ thứ V, trong số những ng-ời từ lục địa

đến có lẽ đã có nhiều ng-ời theo đạo Phật và trong các ngôi mộ cổ ng-ời ta đã tìm thấy nhiều g-ơng tứ Phật, tứ thú có hình Phật và Bồ Tát Đến thế kỷ VI, cùng với việc xác lập quốc gia cổ đại, việc tiếp nhận đạo Phật đã thực sự bắt

sự du nhập chính thức của đạo Phật vào Nhật Bản

Ngày đăng: 16/10/2021, 18:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1) Stephen Addiss, Nghệ thuật Zen, Nxb Văn hóa-Thông tin, H.2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật Zen
Nhà XB: Nxb Văn hóa-Thông tin
2) John Bowker (chủ biên), Các tôn giáo trên thế giới, Nxb Văn hoá-Thông tin, H.2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ác tôn giáo trên thế giới
Nhà XB: Nxb Văn hoá-Thông tin
3) Richard Bowring & Peter Kornicki, Bách khoa toàn th- Nhật Bản, Nxb KHXH và NV Quốc gia, H.1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bách khoa toàn th- Nhật Bản
Nhà XB: Nxb KHXH và NV Quốc gia
4) Thích Giác Dũng, Lịch sử Phật giáo Nhật Bản, Nxb Tôn giáo, H.2002 5) Đỗ Công Định, Đạo Phật ở Nhật Bản, Tạp chí Nghên cứu Nhật Bản, sè 3(27) 6-2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Phật giáo Nhật Bản", Nxb Tôn giáo, H.2002 5) Đỗ Công Định, "Đạo Phật ở Nhật Bản, "Tạp chí "Nghên cứu Nhật Bản
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
6) Hồ Hoàng Hoa (chủ biên), Văn hoá Nhật những chặng đ-ờng phát triển, Nxb KHXH, H.2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Nhật những chặng đ-ờng phát triển
Nhà XB: Nxb KHXH
7) Joseph M.Kitagawa, Nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản, Nxb KHXH, H.2002 8) Phan Ngọc Liên (chủ biên), Lịch sử Nhật Bản, Nxb Văn hoá-Thông tin, H.1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản", Nxb KHXH, H.2002 8) Phan Ngọc Liên (chủ biên), "Lịch sử Nhật Bản
Nhà XB: Nxb KHXH
9) Phan Hoàng Minh, Nét đẹp trong văn hóa truyền thống Nhật Bản, Tạp chí Khoa học, Tập XXVI – số 1B – 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nét đẹp trong văn hóa truyền thống Nhật Bản", Tạp chí "Khoa học
10) Phan Hoàng Minh, Tìm hiểu đời sống tâm linh của ng-ời Nhật Bản, Một số vấn đề lịch sử, Tập 1, Kỉ yếu hội thảo khoa học, Nxb Nghệ An, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu đời sống tâm linh của ng-ời Nhật Bản
Nhà XB: Nxb Nghệ An
11) Phan Hoàng Minh, Tìm hiểu đặc điểm chế độ phong kiến Nhật Bản, Đề tài khoa học cấp tr-ờng, T.2004-07-06 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu đặc điểm chế độ phong kiến Nhật Bản
12) Phan Hoàng Minh, Những nét đặc tr-ng cơ bản của văn hoá Nhật Bản thời cổ trung đại, Đề tài khoa học cấp tr-ờng, T.2005-07-03 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nét đặc tr-ng cơ bản của văn hoá Nhật Bản thời cổ trung đại
13) Phan Hoàng Minh, Tìm hiểu nét độc đáo trong văn hóa truyền thống Nhật Bản, Đề tài khoa học cấp tr-ờng, T.2006-07-02 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu nét độc đáo trong văn hóa truyền thống Nhật Bản
14) Phan Hoàng Minh, Tìm hiểu bản sắc văn hoá truyền thống Nhật Bản, Đề tài khoa học cấp tr-ờng, T.2007-07-02 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu bản sắc văn hoá truyền thống Nhật Bản
15) Phan Hoàng Minh, Tìm hiểu đặc điểm các tôn giáo lớn ở Tây á thời cổ trung đại, Đề tài khoa học cấp tr-ờng, T2009-07-03 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu đặc điểm các tôn giáo lớn ở Tây á thời cổ trung đại
16) Nguyễn Gia Phu, Lịch sử thế giới trung đại, Nxb Giáo dục, H.1998 17) V.Pronnikov, Ng-ời Nhật, Nxb Tổng hợp, TP HCM, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới trung đại, "Nxb Giáo dục, H.1998 17) V.Pronnikov, "Ng-ời Nhật
Nhà XB: Nxb Giáo dục
18) Edwin O.Reischauer, Nhật Bản câu chuyện về một quốc gia, Nxb Thống kê, H.1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật Bản câu chuyện về một quốc gia
Nhà XB: Nxb Thống kê
19) G.B. Samson, L-ợc sử văn hoá Nhật Bản, Tập 1, Nxb KHXH, H.1990 20) G.B. Samson, L-ợc sử văn hoá Nhật Bản, Tập 2, Nxb KHXH, H.1990 21) Murakami Shigeyoshi, Tôn giáo Nhật Bản, Nxb Tôn giáo, H.2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: L-ợc sử văn hoá Nhật Bản, Tập 1", Nxb KHXH, H.1990 20) G.B. Samson, "L-ợc sử văn hoá Nhật Bản, Tập 2", Nxb KHXH, H.1990 21) Murakami Shigeyoshi", Tôn giáo Nhật Bản
Nhà XB: Nxb KHXH
22) Sakaiya Taichi, M-ời hai ng-ời lập ra n-ớc Nhật, Nxb Chính trị quốc gia, H.2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: M-ời hai ng-ời lập ra n-ớc Nhật
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
23) Chiêm Tế, Lịch sử thế giới cổ đại, Tập 1,2, Nxb Giáo dục, H.1970 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cổ đại
Nhà XB: Nxb Giáo dục
24) Phạm Hồng Thái (chủ biên), Đời sống tôn giáo Nhật Bản hiện nay, Nxb KHXH, H.2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đời sống tôn giáo Nhật Bản hiện nay
Nhà XB: Nxb KHXH
25) L-ơng Duy Thứ (chủ biên), Đại c-ơng văn hoá ph-ơng Đông, Nxb Giáo dôc, H.1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại c-ơng văn hoá ph-ơng Đông
Nhà XB: Nxb Giáo dôc

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

T-ợng thần Jizo-thần có hình dạng bồ tát - Sự hài hòa giữa tôn giáo bản địa và các tôn giáo ngoại nhập trong đời sống văn hóa nhật bản
ng thần Jizo-thần có hình dạng bồ tát (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w