1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Từ chỉ tâm trạng trong thơ xuân quỳnh

75 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 811,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đoàn Thị Đặng Hương trong bài viết Người đàn bà yêu và làm thơ đã khẳng định thành công của thơ Xuân Quỳnh: “Tất nhiên thơ ca hiện đại Việt Nam đã từng biết, đã từng yêu, đã từng quen v

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Từ ngữ luôn là yếu tố thứ nhất của thơ ca Mỗi nhà thơ đều có cách sử dụng

riêng để tạo nên dấu ấn phong cách riêng Nói đến thơ là nói đến cảm xúc Thơ

là tình cảm là tâm trạng của người viết do đó trong thơ không thể thiếu một phương diện hữu hiệu thể hiện đó là từ chỉ tâm trạng Đặc biệt là đối với các nhà thơ nữ

1.2 Xuân Quỳnh là một trong những gương mặt nhà thơ nữ tiêu biểu nhất của

nền thơ Việt Nam hiện đại xuất hiện và trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Chị là nhà thơ có bản sắc rõ nét Bản sắc ấy ngày càng được khẳng định và biểu hiện qua nhiều sắc thái trên các chặng đường thơ Thơ chị cũng như cuộc đời của chị luôn thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu và

bạn đọc Đề tài tìm hiểu “Từ chỉ tâm trạng trong thơ Xuân Quỳnh” của chúng

tôi sẽ góp thêm tiếng nói vào việc khẳng định tài năng, phong cách thơ Xuân Quỳnh

1.3 Hiện nay thơ Xuân Quỳnh được đưa vào giảng dạy ở các Trường THCS và THPT Vì vậy đề tài nghiên cứu của chúng tôi cũng góp phần vào việc giảng dạy thơ Xuân Quỳnh có hiệu quả

2 Lịch sử vấn đề

Thơ Xuân Quỳnh, từ khi xuất hiện đến nay đã thu hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu Thơ Xuân Quỳnh được phân tích đánh giá trên nhiều mặt, thư mục các bài viết, các luận văn, các công trình nghiên cứu về thơ Xuân Quỳnh ngày càng nhiều Theo thống kê chưa đầy đủ của chúng tôi, hiện nay có khoảng trên 70 bài viết lớn nhỏ về tác giả này Điều này chứng tỏ vị trí đặc biệt của Xuân Quỳnh trên thi đàn thơ hiện đại Việt Nam Hầu hết các bài nghiên cứu – phê bình đều đánh giá cao sự thành công của chị trong mảng thơ viết về tình yêu

Trang 2

như: Lại Nguyên Ân, Đoàn Thị Đặng Hương, Lưu Khánh Thơ, Đoàn Thị Đặng

Hương trong bài viết Người đàn bà yêu và làm thơ đã khẳng định thành công của thơ Xuân Quỳnh: “Tất nhiên thơ ca hiện đại Việt Nam đã từng biết, đã từng yêu,

đã từng quen với nhiều sắc thái tình yêu của nhiều nhà thơ nữ trước và đồng thời với Xuân Quỳnh; thơ tình của chị bao dung và chở che, mãnh liệt và nhân hậu,

đó là một giọng điệu riêng độc đáo, đằm thắm và táo bạo.” [21, 73 – 74] Lưu Khánh Thơ trong bài viết Cảm nhận thơ Xuân Quỳnh cũng đã chỉ ra những nét đặc sắc trong mảng thơ viết về tình yêu của chị: “Chưa có một phụ nữ làm thơ nào đã nói về tình yêu bằng những lời cháy bỏng, tha thiết và nồng nàn đến thế”, “Thơ Xuân Quỳnh có những cung bậc tình cảm khác nhau khi đắm say hạnh phúc, lúc day dứt suy tư nhưng xuyên suốt các bài thơ của chị là một tình yêu sâu nặng không nhạt phai” [21, 13]

Nhiều bài viết còn đi vào phân tích khía cạnh nội dung tư tưởng và những

độc đáo về nghệ thuật trong thơ chị như: Nguyễn Quân với bài Phong cảnh mười bảy đã đánh giá cao nghệ thuật trong thơ chị từ cách sử dụng hình ảnh, các mô típ, các thể thơ và đặc biệt tác giả nhấn mạnh tới kết cấu kể chuyện “Ở thơ Xuân Quỳnh cái cổ điển, cái lãng mạn và biểu hiện hòa vào trong kết cấu kể chuyện, đổi vai của nhân vật thơ rất sinh động, dân gian nên trở nên gần gũi và mộc mạc, không sáo Trong cái mạch kể tả ấy, câu, ý, lại không tả, kể nên đọc xong nhớ lâu, không tầm thường.” [21, 144] Trong Vẻ đẹp thơ Xuân Quỳnh, tác giả

Nguyễn Xuân Nam khi tìm hiểu ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh trong mối quan hệ

với ca dao dân ca cũng đã đưa ra nhận định: “Từ ngữ gọi nhau, như say như tỉnh, biến hóa thông minh, như bản chất đồng dao xưa cổ nhất Quả thật ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh trở nên mềm mại duyên dáng hẳn khi kế thừa và phát triển những vẻ đẹp của ca dao dân ca.” [21, 159] Một trong số họ không ngần ngại

Trang 3

sự thể hiện sức mạnh của một tâm hồn phụ nữ đã so sánh thơ Xuân Quỳnh với ông hoàng của thơ tình yêu – Xuân Diệu: “Cái mãnh liệt, dữ dội của tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh rất gần với “ông vua thơ tình” Xuân Diệu…tình yêu của Xuân Diệu đạt đến độ say đắm, đam mê, nhưng vẫn mang nhiều nét tượng trưng

Ở Xuân Quỳnh, tình yêu không còn là sự tượng trưng mà là những cảm nhận máu thịt cụ thể, tinh tế.” [21, 81 – 82] Trần Thị Thìn trong bài Sóng cũng so sánh thơ Xuân Quỳnh với thơ của các nhà thơ nữ cùng thời: “Thơ Xuân Quỳnh tiêu biểu cho phong cách của lớp nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ chống Mỹ

Nó vẫn giữ được những nét cổ điển của thơ ca dân tộc, đồng thời lại có những khám phá sáng tạo hết sức mới lạ và độc đáo Nếu nói Xuân Quỳnh là nhà thơ tình trội nhất trong đội ngũ các nhà thơ trẻ hiện đại thì cũng không có gì là quá đáng” [21, 184] Trong bài viết Thế giới thiên nhiên trong thơ Xuân Quỳnh, tác

giả Lê Thị Ngọc Quỳnh cũng so sánh thơ Xuân Quỳnh với các nhà thơ nữ cùng

thời trên nhiều phương diện: “So với các tác giả thơ nữ cùng thời: Phan Thị Thanh Nhàn, Ý Nhi, Như Trang…chị “đời” hơn, nhiều day dứt đau khổ và cũng nồng nhiệt hơn Nhưng chị không để cho nỗi bất hạnh làm trái tim mình cằn cỗi chai sạn Mỗi hình ảnh, mỗi chi tiết, mỗi tứ thơ của chị luôn được tiếp thêm nguồn cảm xúc chứa chan tươi mới như chưa hề cũ đi bao giờ.” [21, 22] Đoàn Thị Đặng Hương với bài Người đàn bà yêu và làm thơ đã so sánh Xuân Quỳnh

với nhà văn Pháp nổi tiếng Saint – Exupéry, về cái chất tâm hồn của hai nghệ sĩ

ở hai thời gian và hai mảnh đất khác nhau: “Nếu ở Saint – Exupéry là niềm khát vọng của thế giới đàn ông, niềm khát vọng chinh phục thế giới vĩ mô thì: Ở Xuân Quỳnh là khát vọng (có thể coi đây là điển hình chăng ở người phụ nữ?) chinh phục cái thế giới vĩ mô của tình yêu (dẫu là thế giới ấy chỉ rộng bằng chu vi của một trái tim) (Mà thật ra nào khác gì đâu về chiều dài và chiều rộng của hai thế giới ấy?)” [21, 74 – 75] Gần đây một số luận văn nghiên cứu về thơ Xuân Quỳnh như: Nguyễn Thị Lệ Hằng trong công trình Một số đặc điểm trong thơ

Trang 4

tình Xuân Quỳnh, Đại học sư phạm Vinh, 1997, Trần Thị Linh trong công trình Hình tượng tác giả trong thơ Xuân Quỳnh, Đại học Vinh, 2007,…

Thơ Xuân Quỳnh được nghiên cứu nhiều từ góc độ phê bình văn học, nhưng

từ góc độ ngôn ngữ thì còn ít có một số công trình như Lương Thị Bích nga, Đặc điểm ngữ pháp – ngữ nghĩa của từ biểu thị tâm trạng trong ca dao người Việt,

Đại học Vinh, 2008,

Điểm qua các công trình nghiên cứu về thơ Xuân Quỳnh, chúng tôi thấy chưa có ai nghiên cứu từ chỉ tâm trạng trong thơ chị Vì vậy chúng tôi chọn đề

tài “Từ chỉ tâm trạng trong thơ Xuân Quỳnh”.

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Như tên đề tài đã nêu, đối tượng nghiên cứu của luận văn là “Từ chỉ tâm trạng trong thơ Xuân Quỳnh” Chúng tôi nghiên cứu cả đặc điểm (đặc điểm ngữ

pháp và đặc điểm ngữ nghĩa) và vai trò của từ chỉ tâm trạng trong thơ Xuân Quỳnh

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu “Từ chỉ tâm trạng trong thơ Xuân Quỳnh” về văn bản thơ chúng tôi chọn cuốn Thơ Xuân Quỳnh do Ngô Văn Phú (Chọn thơ) Bên cạnh đó, chúng tôi có đối chiếu với những tài liệu khác như cuốn Xuân Quỳnh thơ và đời

do Vân Long sưu tầm và biên soạn, ngoài ra chúng tôi còn tham khảo các bài thơ

tại Thivien.net;

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thống kê, phân loại các từ chỉ tâm trạng trong thơ Xuân Quỳnh;

- Phân tích các đặc điểm của từ chỉ tâm trạng trong thơ Xuân Quỳnh (đặc điểm

về ngữ pháp, đặc điểm về ngữ nghĩa) và vai trò của từ chỉ tâm trạng trong thơ

Trang 5

- Rút ra những đặc trưng ngôn ngữ của Xuân Quỳnh qua lớp từ chỉ tâm trạng Từ

đó có so sánh đối chiếu với một số nhà thơ nữ cùng thời để thấy được sự khác nhau giữa Xuân Quỳnh và họ

5 Phương pháp nghiên cứu

Để luận văn đạt được nhưng nhiệm vụ đã nêu, trong quá trình thực hiện luận văn chúng tôi đã vận dụng những phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê, phân loại: Thống kê và phân loại các từ chỉ tâm trạng

và tần số xuất hiện của từng từ trong thơ Xuân Quỳnh trong nguồn tư liệu đã xác định;

- Phương pháp đối chiếu, so sánh: So sánh đối chiếu các từ chỉ tâm trạng trong thơ Xuân Quỳnh với một số nhà thơ nữ cùng thời

- Phương pháp phân tích – miêu tả và tổng hợp

6 Đóng góp của khóa luận

- Khóa luận là công trình đầu tiên khảo sát các từ chỉ tâm trạng trong thơ Xuân Quỳnh một cách có hệ thống để góp phần xác định phong cách của một nhà thơ

nữ tiêu biểu trong kháng chiến chống Mỹ

- Kết quả nghiên cứu cũng có thể góp một phần nhỏ vào việc giảng dạy thơ Xuân Quỳnh vào trong nhà trường hiện nay

7 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung liên quan đến đề tài

Chương 2: Đặc điểm của từ chỉ tâm trạng trong thơ Xuân Quỳnh

Chương 3: Vai trò của từ chỉ tâm trạng trong thơ Xuân Quỳnh

Trang 6

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 VÀI NÉT VỀ XUÂN QUỲNH VÀ THƠ XUÂN QUỲNH

1.1.1 Vài nét về nhà thơ Xuân Quỳnh

Xuân Quỳnh tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, sinh ngày 06 tháng 10 năm 1942 tại xã La Khê, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây (Hà Nội ngày nay) La Khê nằm bên bờ sông Nhuệ hiền hòa, đó là một làng quê như bao làng quê khác vùng đồng bằng Bắc Bộ hồi xưa, nơi đó có những ngôi chùa cổ kính, những con đường lát gạch nghiêng nghiêng bên những bờ ao và xung quanh làng có những lũy tre già bao bọc Chính nơi đây Xuân Quỳnh đã được sinh ra với một tuổi thơ không êm đềm: Sinh ra trong một gia đình công chức Xuân Quỳnh mồi côi mẹ khi còn trứng nước và vắng bàn tay chăm sóc thương yêu của người cha Tuổi thơ của chị gắn với hai người thân yêu nhất đó là bà nội và chị gái của mình

Năm 13 tuổi (tháng 12/1955) chị được tuyển vào đoàn văn công Trung Ương Năm 1962, Xuân Quỳnh được đi học khóa I Trường bồi dưỡng viết văn trẻ Ở môi trường tập hợp nhiều tài năng trẻ và trí tuệ, những người thầy như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân…đã tác động rất mạnh đến định hướng sau này của chị Và rồi cái duyên của chị với văn học nghệ thuật cũng đã tới, chị phải giã từ đoàn ca múa – cái nôi êm ấm chị sống như gia đình

từ thời thiếu nữ để đi theo văn học nghệ thuật

Bằng sự say mê sáng tạo nhiệt tình và nghiêm túc, năm 1964 Xuân Quỳnh trở thành biên tập viên Báo văn nghệ Sau đó chuyển sang biên tập viên nhà xuất bản Tác phẩm mới Tại đại hội lần thứ 3 chị được bầu vào ban chấp hành Có thể nói con đường văn nghiệp của chị đã mở ra và đạt được nhiều thành công

Trang 7

1.1.2 Thơ Xuân Quỳnh

Bước vào con đường văn nghiệp bằng sự say mê sáng tạo đầy nghiêm túc Sau gần 30 năm cầm bút chị đã có một sự nghiệp văn học phong phú Về thơ có

các tập như: Tơ tằm – chồi biếc (in chung với Cẩm Lai) (1963), Hoa dọc chiến hào (1968), Gió Lào cát trắng (1974), Lời ru trên mặt đất (1978), Sân ga chiều

em đi (1984), Tự hát (1984), Hoa cỏ may (1989) Các sáng tác dành cho thiếu nhi gồm: Cây trong phố - chờ trăng (tập thơ – in chung) (1981), Bầu trời trong quả trứng (tập thơ) (1982), truyện Lưu Nguyễn (truyện thơ) (1983), Bao giờ con lớn (tập truyện), Chú gấu trong vòng đu quay (tập truyện), Mùa xuân trên cánh đồng (tập truyện), Bến tàu trong thành phố (tập truyện), Vẫn có ông trăng khác

(tập truyện)

Những sáng tác của chị được đánh giá rất cao trong đó có 2 tác phẩm đạt

giải thưởng của Hội nhà văn: Bầu trời trong quả trứng (giải thưởng văn học

1982 – 1983), Hoa cỏ may (giải thưởng văn học năm 1990)

Như vậy, kể từ lúc xuất hiện đến khi vĩnh biệt cõi đời, quá trình sáng tác của chị là một chặng đường đi lên không đứt đoạn Chị đi sâu vào tìm hiểu đời sống, khoác ba lô trên vai chị đi đến những vùng khói lửa Vĩnh Linh – Quảng Trị, đến với công cuộc dựng xây của đất nước để làm chất liệu sáng tác cho thơ mình Nên hồn thơ của chị ngày một đa dạng và không ngừng được mở ra Thơ chị khác nào một cuốn nhật ký bỏ ngỏ, quần chúng – nam, phụ, lão, ấu và cả lính nữa – ân ưu và nồng nhiệt đón nhận

Có thể nói từ khi “Chồi biếc” xuất hiện đến “Hoa cỏ may” thơ Xuân

Quỳnh đều được đánh giá cao ở cả mặt nội dung và hình thức nghệ thuật Và thành công nổi bật nhất của chị phải kể đến là ở mảng thơ tình yêu, những bài

thơ như Sóng, Thuyền và biển, Tự hát,…đã nằm trong gia tài thơ của những đôi

lứa yêu nhau

Trang 8

1.1.2.1 Đặc điểm nội dung

Ngòi bút của chị đã được thử thách qua thời gian với nhiều loại chủ đề khác nhau, nhưng thơ chị không có mạch thơ nào thực sự bình yên, đơn giản, thường

có nhiều trăn trở, băn khoăn Dù đi vào những vấn đề lớn của đất nước hay trở về với những tình cảm riêng tư, thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng là tiếng nói rất riêng của một tâm hồn phụ nữ thông minh, sắc sảo, nhạy cảm, giàu yêu thương

Tất cả những gì chị nói đến trong thơ: Miền gió lào cát trắng, con đường 20 trong những năm đánh Mỹ, thành phố của tuổi thơ, tổ ấm của chị, đều được diễn tả qua những cảm xúc tràn đầy của tâm trạng Các đề tài trong thơ chị dường như là cái cớ để chị tự biểu hiện tâm trạng của mình:

Dòng sông này, bãi cát, cánh buồm quen Hoa lau trắng suốt một thời quá khứ Tôi đã đi đến tận cùng xứ sở

Đến tận cùng đau đớn, đến tình yêu (Thơ tình cho bạn trẻ)

Ở “Chồi biếc” ta bắt gặp chất hồn nhiên, trong sáng, yêu đời của người

thiếu nữ mới lớn, tình yêu trong thơ chị giai đoạn này rất mạnh mẽ, thiết tha sôi nổi và bạo dạn song còn mang nặng chất lý tưởng của một hồn thơ chưa từng trải, chưa qua bao sóng gió cuộc đời Song ta vẫn nhận thấy một tâm hồn đẹp thiên về lý tưởng và thi vị hóa cuộc đời, thể hiện một cái nhiệt tình đắm say của một hồn thơ, cái tình của nhà thơ với cuộc đời

Hiện thực bề bộn của đất nước trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, những bài viết về tình mẹ con, bà cháu đã

làm phong phú thêm nội dung phản ánh trong tập “Hoa dọc chiến hào” và làm

Trang 9

ngày càng trở nên chân thực và sâu sắc hơn qua những tập thơ tiếp sau đó: Gió Lào cát trắng, Hoa cỏ may,…và ở tập thơ cuối cùng chị vẫn giữ phong độ của

tập thơ đầu, đằm thắm, hỏm hỉnh, duyên dáng nhưng sâu sắc hơn và tràn đầy tâm

sự ẩn chứa một nỗi buồn man mác, những dự cảm mất mát, lo âu Xuyên suốt các tập thơ của chị là một tình yêu sâu nặng không nhạt phai

Như vậy chúng ta có thể nhận thấy thơ Xuân Quỳnh trước hết là những cung bậc tình cảm khác nhau khi đắm say hạnh phúc, lúc day dứt suy tư nhưng Xuân Quỳnh không phải là nhà thơ chỉ biết lắng nghe những rung động của chính tâm hồn mình mà thơ chị còn đi sâu vào hiện thực lớn – cuộc đấu tranh chống Mỹ của dân tộc, để nghe tâm hồn thời đại Thơ chị còn đi sâu vào khám phá thế giới ngộ nghĩnh qua đôi mắt trẻ thơ, thơ Xuân Quỳnh nói chính lời trẻ thơ, nghĩ cách nghĩ trẻ thơ, sâu sắc mà nghộ ngĩnh…Chính vì thế người đọc tìm thấy nhà thơ qua các bài thơ và cũng tìm thấy chính mình, tâm trạng mình, cuộc đời mình trong đó Đấy chính là sức truyền cảm và đồng cảm của thơ Xuân Quỳnh, khiến thơ chị được bạn đọc yêu thích

1.1.2.2 Đặc điểm nghệ thuật

Về mặt hình thức, thơ Xuân Quỳnh ít phải bận tâm về việc đi tìm hình thức biểu hiện Xuân Quỳnh thường dùng thể thơ lục bát để thể hiện những tình cảm đằm thắm ngọt ngào, sử dụng thể thơ ngũ ngôn cho sự ngắn gọn, giản dị Ngoài

ra chị còn thành công với thể thơ 4 chữ, thơ văn xuôi gần với lời ăn tiếng nói của quần chúng, chị đã đưa chất văn xuôi vào thơ của mình Đó là những lo toan vụn vặt rất đàn bà của chị, là những suy nghĩ, lo âu dằn vặt đầy nữ tính

Chúng tôi quan tâm đến xà phòng, đến thuốc đánh răng

Lo đan áo cho chồng con khỏi rét

Chúng tôi là những người đàn bà bình thường trên trái đất Quen với công việc nhỏ nhoi bếp núc hằng ngày

(Thơ vui về phái yếu)

Trang 10

Nếu như các nhà thơ cùng thời ra sức đi tìm cho mình một hình thức thơ, ngôn ngữ trau chuốt, cầu kỳ thì với chị, chị cũng không mất công nhiều lắm cho

việc lựa chọn hình ảnh, chải chuốt ngôn từ Chị từng phát biểu: “Đừng lo đi tìm ngôn ngữ Cảm xúc sẽ tự chọn ngôn ngữ của mình” Chị đến với những bài thơ

một cách hồn nhiên Nhưng khi tìm hiểu thơ Xuân Quỳnh sẽ nhận thấy chị là nhà thơ có nghệ thuật và kỹ thuật biểu hiện tương đối vững vàng, có bản lĩnh Trước tiên, đó là nghệ thuật trong cấu tứ Cấu tứ trong thơ Xuân Quỳnh thường rất tự

nhiên nhưng lại chắc chắn gọn ghẽ, sắc sảo Trong khá nhiều bài thơ của chị: Gió Lào cát trắng, Làng, Bàn tay em, Mẹ của anh, …Cả bài thơ với những hình ảnh

và cảm xúc tự nhiên đến dễ dàng, người đọc không hề nhận thấy một sự gò bó nào trong cấu tứ, cho đến đoạn cuối với cái kết thúc bất ngờ, nhiều khi táo bạo, chủ đề thơ mới được vụt sáng lên đạt hiệu quả mạnh Thơ Xuân Quỳnh chủ yếu dùng tứ thơ bộc lộ trực tiếp và tứ thơ ngầm Thơ Xuân Quỳnh cũng sử dụng

nhiều mô típ như hình ảnh trái tim, hình ảnh hoa cỏ, cát, hình ảnh con đường,…Tất cả làm cho mạch thơ uyển chuyển và tinh tế hơn

Đặc điểm đặc sắc hơn trong nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh có lẽ là giọng điệu thơ Thơ chị có giọng điệu riêng khó lẫn, đó là giọng điệu của tâm hồn, một giọng điệu không kiểu cách, khiên cưỡng, mà luôn tự nhiên, phóng khoáng Chị thường chọn lời ru hoặc lấy cảm hứng từ lời ru làm giọng điệu cho bài thơ của

mình như bài Ru, Lời ru, Hát ru,…Đặc biệt là chị sử dụng rất nhiều từ chỉ tâm trạng để chuyên chở những cảm xúc như yêu, nhớ, buồn,…

1.2 Khái niệm tâm trạng và từ chỉ tâm trạng trong tiếng Việt

1.2.1 Khái niệm tâm trạng

Thế giới tâm lý của con người vô cùng diệu kỳ và phong phú, nó đã được quan tâm nghiên cứu cùng với lịch sử hình thành và phát triển nhân loại Từ

Trang 11

nghiên cứu về tâm lý không ngừng phát triển và ngày càng giữ một vị trí quan trọng trong các ngành khoa học nghiên cứu về con người

Trong cuộc sống hằng ngày, nhiều người vẫn sử dụng từ tâm lý để nói về

lòng người như: “Anh T rất tâm lý”,“Chị B chuyện trò tâm tình cởi mở”,…Nhưng để hiểu “tâm lý” một cách chính xác và khoa học, loài người đã

trải qua một thời gian dài nghiên cứu thử nghiệm, đã phải chứng kiến biết bao cuộc đấu tranh quyết liệt giữa các khuynh hướng khác nhau Trong đó có sự khác nhau giữa quan điểm của các nhà chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật Các

nhà chủ nghĩa duy tâm cho rằng: “Hiện tượng tâm lý là bản chất siêu hình đặc biệt của sinh vật và được gọi là linh hồn” [22, 15] Còn các nhà chủ nghĩa duy vật lại cho rằng: “Tâm lý là biểu hiện của vật chất, là sản phẩm dưới dạng đặc biệt của vật chất, có tổ chức cao là bộ não của con người” [20, 16]

Các ý kiến trên vẫn còn nhiều tranh luận chưa ngã ngũ nhưng chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất: Tâm lý là sự phản ánh chủ quan thế giới khách quan, có cơ sở tự nhiên là hoạt động thần kinh và hoạt động nội tiết, được nảy sinh bằng hoạt động sống của từng người, và gắn bó với các quan hệ xã hội lịch

sử Hay nói cách khác tâm lý bao gồm tất cả những hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành mọi hành động hoạt động của con người Các hiện tượng tâm lý đóng vai trò đặc biệt trong đời sống của con người, trong quan hệ giữa con người với con người trong xã hội loài người Hiện tượng tâm lý là những hiện tượng phức tạp nằm ngay trong thực thể diễn biến theo các cung bậc tình cảm và ý thức khác nhau khi chủ thể cảm nhận, tri giác, nhận thức hoặc bị tác động bởi một đối tượng nào đó Có thể chia hiện tượng tâm lý của con người thành: Hoạt động tâm lý, quá trình tâm lý, tư thế tâm lý, trạng thái tâm

lý (hay còn gọi là tâm trạng) Như vậy tâm trạng chính là một hiện tượng tâm lý

Theo cuốn “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê (chủ biên) (2006), tâm trạng được định nghĩa: “Tâm trạng là trạng thái tâm lý, tình cảm” [33, 897] Ví dụ:

Trang 12

Tâm trạng vui vẻ phấn chấn, tâm trạng sảnh khoái lúc ban mai, có tâm trạng hoài nghi, chán nản của kẻ liên tiếp bị thất bại Con người có những cung bậc tình cảm khác nhau: Có tâm trạng buồn đau, có tâm trạng vui sướng, có tâm trạng hồi hộp lo âu,…

1.2.2 Các từ biểu hiện tâm trạng trong tiếng Việt

Những từ tiếng Việt biểu thị trạng thái tâm lý – tình cảm của con người

được gọi là từ chỉ tâm trạng Chẳng hạn như: Mong, nhớ, yêu,…Nhóm từ này chiếm số lượng khá lớn trong tiếng Việt Tác giả Nguyễn Ngọc Trâm trong “Đặc trưng ngữ nghĩa – ngữ pháp của nhóm từ biểu thị tâm lí – tình cảm trong tiếng Việt” đã thống kê sơ bộ được 300 từ chỉ tâm trạng Nhưng điều quan trọng hơn là

từ chỉ tâm trạng thuộc lớp từ vựng cơ bản, nó biểu thị một trong những hoạt động cơ bản của con người – đó là hoạt động tâm lí Con người trong những mối quan hệ luôn nảy sinh những phản ứng tâm lí, tình cảm, do đó trong trong tiếng Việt các từ chỉ tâm trạng xuất hiện với tần số cao cả trong nói và viết Ví dụ

Lương Thị Bích Nga trong “Đặc trưng ngữ pháp – ngữ nghĩa của từ biểu thị tâm trạng trong ca dao tình yêu người Việt” đã khảo sát 5054 bài ca dao viết về tình

yêu đôi lứa, thống kê được 180 từ với 5502 lượt dùng

Các từ biểu thị tâm trạng trong tiếng Việt tạo thành một nhóm từ đặc biệt

mà hầu hết các nhà ngữ pháp tiếng Việt đều đề cập tới như Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban, Đinh Văn Đức, Đỗ Thị Kim Liên, Lê Biên Khi phân định từ loại tiếng Việt, đa số nhóm từ biểu thị tâm trạng được các tác giả xếp vào động từ, một số tác giả xếp vào loại tính từ

Xếp từ chỉ tâm trạng như yêu, ghét, lo,…vào từ loại động từ là các tác giả

Trang 13

khả năng kết hợp thành tố phụ “xong”: “Động từ chỉ sự việc có khả năng kết thúc” như ăn, đọc; Đối lập với những “động từ không có khả năng kết thúc” như biết, hiểu, ghét; Sau đó dựa vào khả năng kết hợp với phó từ chỉ mức độ như rất, hơi, lắm, quá,… Để phân biệt những “động từ không có khả năng tăng giảm mức độ”, như yêu, ghét, lo sợ, giận với những động từ không có khả năng tăng mức độ như đánh, ngồi” [10, 225] Tác giả Đỗ Thị Kim Liên, khi phân loại động

từ đã chia thành 6 nhóm, trong đó động từ chỉ trạng thái tâm lí thuộc nhóm thứ 6

Đó là các từ như: Lo lắng, bồn chồn, thoi thóp, băn khoăn, thấp thỏm,… Ví dụ: Người mẹ lo lắng về đứa con của mình Diệp Quang Ban xếp vào loại động từ

chỉ trạng thái, Lê Biên xếp vào loại động từ cảm nghĩ nói năng

Bên cạnh đó từ chỉ tâm trạng lại được tác giả Đinh văn Đức xếp vào tính từ

Tác giả cho rằng: “Tính từ…Còn bao gồm những đặc trưng được hình thành theo những chủ quan của con người trong quan hệ với đối tượng – những quan

hệ của trạng thái tình cảm (vui, buồn, thương, yêu)” [18, 150] Nhưng theo tác giả: “Những tính từ thiên về trạng thái nên có sắc thái “động’’(vui, buồn, thương, yêu, nhớ, mong) Cho nên đấy là những từ mà từ một phương diện khác còn có thể coi là động từ chỉ cảm xúc” [18, 160]

Như vậy một bộ phận lớn từ chỉ tâm trạng trong tiếng Việt vừa giống động

từ vừa giống tính từ, ví dụ: Yêu, ghét, lo, nhớ, hồi hộp,…chúng có những đặc

điểm ngữ pháp của động từ và có những đặc điểm ngữ pháp của tính từ Số này, nhìn chung được xếp vào động từ Chúng tôi cũng cho những từ này là động từ

Ngoài bộ phận đa số đó thì có một số từ chỉ tâm trạng thuộc về tính từ như da diết, tha thiết, âm thầm Những từ này thường đứng sau động từ bổ nghĩa cho động từ ví dụ: Nhớ da diết, yêu tha thiết Ngoài ra, trong hoạt động ngữ pháp, các từ chỉ tâm trạng có thể kết hợp với loại từ như nỗi, niềm, sự,…tạo thành danh

từ ví dụ: Nỗi đau, niềm vui sướng, nỗi buồn, nỗi nhớ…

Trang 14

Từ ý kiến của các tác giả đi trước và căn cứ vào hoạt động ngữ pháp, chúng tôi cho từ chỉ tâm trạng trong tiếng Việt gồm 3 loại: Động từ, tính từ, danh từ trong đó động từ chiếm số lượng nhiều nhất

Trang 15

“Thơ tình Xuân Quỳnh” (do nhà xuất bản Văn học, 2008) và một số bài thơ từ tập thơ “Bầu trời trong quả trứng” cùng một số nguồn tài liệu khác có liên quan,

chúng tôi thống kê được 121 từ với 631 lượt dùng Do từ chỉ tâm trạng gồm 3 từ loại, nên chúng tôi sẽ thống kê theo hướng: Bảng thống kê từ chỉ tâm trạng là động từ, bảng thống kê từ chỉ tâm trạng là tính từ, bảng thống kê từ loại là danh

từ

Trang 16

Bảng 1.1 Thống kê các từ chỉ tâm trạng là động từ

TT Từ chỉ tâm

trạng

Số lần xuất hiện

Trang 18

Bảng 1.2 Thống kê các từ chỉ tâm trạng là tính từ

TT Từ chỉ tâm

trạng

Số lần xuất hiện

Trang 20

Như vậy tham gia vào các từ chỉ trạng thái cảm xúc bao gồm các từ thuộc nhiều từ loại khác nhau nhưng chúng tôi đi vào tìm hiểu 3 từ loại tiêu biểu đó là động từ, tính từ, danh từ:

Trang 21

2.1.1.2 Một số nhận xét chung về các loại từ biểu thị tâm trạng trong thơ

Xuân Quỳnh

Từ góc độ từ loại, qua khảo sát chúng tôi thấy từ chỉ tâm trạng gồm ba từ loại

chính nhưng phần lớn từ chỉ tâm trạng là động từ Điều này rất hợp với thơ Xuân

Quỳnh, bởi vì thơ Xuân Quỳnh “Ở bất cứ góc độ nào cũng có thể bắt gặp những

xúc cảm tha thiết trước cuộc đời, những suy tư sâu sắc hay là niềm khát vọng khôn

nguôi” [21, 19] Trong số đó các từ có tần số xuất hiện lớn là nhớ, yêu, thương,…

Các từ chỉ tâm trạng còn có hiện tượng đa từ loại – một đặc điểm của từ tiếng

Việt Đa từ loại cũng là một hiện tượng chuyển loại nhưng là một hiện tượng

chuyển loại đặc biệt, rất nhiều từ chỉ tâm trạng trong thơ Xuân Quỳnh cũng có hiện

tượng này Đó là hiện tượng động từ chỉ trạng thái chuyển sang tính từ chỉ trạng

thái tính chất:

Phải màu nắng từ lâu vẫn thế

Khách đi rồi phố huyện có buồn không?

ĐT

(Phố huyện) Đâu phải tiếng ru buồn bên khung cửa lạnh

TT Của mẹ xưa Tôi cất lời ca

(Tiếng mẹ)

Trang 22

Hay là hiện tượng động từ chỉ trạng thái chuyển sang danh từ chỉ trạng thái:

Những ngày không gặp nhau

Biển bạc đầu thương nhớ

ĐT

(Sóng)

Em chẳng biết nói lời thương nhớ

DT Tàu chạy rồi bỡ ngỡ vẫy bàn tay

(Hát với con tàu)

Trong thơ Xuân Quỳnh, hiện tượng đa từ loại được sử dụng khá phổ biến,

nhằm chuyển tải những trạng thái cảm xúc tinh tế nhiều cung bậc khác nhau của con người Đó là nét độc đáo và phong phú trong cách sử dụng từ chỉ tâm trạng của Xuân Quỳnh

2.1.2 Hoạt động ngữ pháp của từ biểu thị tâm trạng trong thơ Xuân Quỳnh

2.1.2.1 Khả năng kết hợp của từ chỉ tâm trạng trong thơ Xuân Quỳnh

Các từ chỉ tâm trạng trong thơ Xuân Quỳnh là động từ, tính từ, hay danh từ, nên chúng tôi sẽ đi vào phân tích khả năng kết hợp của từng từ loại để làm nổi bật lên cách sử dụng ngôn ngữ độc đáo của Xuân Quỳnh

a Khả năng kết hợp của từ chỉ tâm trạng là động từ trong thơ Xuân Quỳnh

Qua khảo sát, động từ chỉ tâm trạng trong thơ Xuân Quỳnh có mấy dạng kết hợp sau đây:

Trang 23

- Kết hợp với phó từ chỉ sự tiếp diễn: Còn, lại, đều, vẫn, cứ,…

“Lại”: Biểu thị một hành động, trạng thái tình cảm tiếp tục sau một hành động

trạng thái tình cảm trước đó hoặc biểu thị một trạng thái tình cảm được lặp đi lặp lại nhằm mục đích nhấn mạnh

Lại thương con dế dưới hầm

Những năm bom đạn sống cùng lời ru

(Lời ru trên mặt đất)

“Cũng”: Là phụ từ mang ý nghĩa sự khẳng định sự quyết tâm khi thực hiện

một điều gì đó:

Em biết chị cũng nhớ Miền đất bãi quê ta (Tháng ba, viết cho chị)

“Vẫn”: Từ biểu thị sự tiếp tục, tiếp diễn như trước, chứ không có gì thay đổi,

vào thời điểm nói đến, của một hành động, trạng thái, tính chất:

Nhiều khi em vẫn thương

Tán dừa xanh giữa lửa

Trang 24

- Kết hợp với phó từ chỉ thời gian như: Từng, đã, vừa, mới, đang, sẽ,…

“Đã”: Biểu thị sự việc, hiện tượng tình cảm nói đến xảy ra trước hiện tại hoặc

một thời điểm nào đó, được xem là mốc của quá khứ hoặc tương lai

Đã thương mấy núi cũng trèo

Mấy sông mấy biển mấy đèo cũng qua

(Tình ca trong lòng vịnh)

“Sẽ”: Biểu thị sự việc, hiện tượng nói đến xảy ra trong tương lai, sau thời

điểm nói, hoặc xảy ra trong thời gian, sau thời điểm nói, hoặc xảy ra sau thời điểm nào đó trong quá khứ được lấy làm mốc:

Lên Đồng Đăng nhìn nàng Tô Thị

Con sẽ thương những người vợ trong nam

hai mươi năm giết giặc chờ chồng

- Kết hợp với phó từ nêu ý khẳng định hay phủ định như: Có, không, chưa chẳng,…

“Có”: Biểu thị ý khẳng định trạng thái, tình cảm tồn tại, sự xảy ra của điều gì

hoặc biểu thị ý muốn hỏi về điều muốn khẳng định là như thế (hay là trái lại):

Ta đến rồi ta đi

Bao lần anh có nhớ (Mùa hoa doi)

Trang 25

“Chẳng”: Biểu thị ý phụ định được nhấn mạnh đối với điều được nêu ra sau

đó (có thể là một hiện tượng hoặc trạng thái tâm lý tình cảm)

Chỉ thấy núi muôn màu rực rỡ

Đôi khi dẫm lên mà chẳng nhớ (Hoa dại núi Hoàng Liên)

“Không”: Biểu thị ý phủ định đối với điều được nêu ra sau đó (Có thể là một

hiện tượng hoặc trạng thái tâm lý tình cảm):

Em quên cả tên con sông và không nhớ rõ

Những phố nào mình đã đi qua

- Kết hợp với phó từ mệnh lệnh như: Hãy, đừng,chớ,…

“Hãy”: Biểu thị ý yêu cầu có tính chất mệnh lệnh hoặc thuyết phục, động viên

nên làm việc gì đó hoặc có thái độ nào đó

Xin đừng nhắc chuyện ngày xưa

Hãy vui với sóng với tàu với em (Tình ca trong lòng vịnh)

“Đừng”: Biểu thị ý khuyên ngăn, bảo không nên, hoặc biểu thị ý phụ định đối

với điều người nói mong không xảy ra

Thôi đừng buồn nữa anh

Tấm rèm cửa màu xanh

Trang 26

Trang thơ viết còn dở Tách nước nóng trên bàn

Và lòng em mong nhớ…

(Anh)

“Chớ”: Biểu thị ý khuyên răn dứt khoát, một lời đề nghị hướng đến người

nghe:

Đến phố huyện lại thương về phố huyện

Thôi chớ buồn những chuyện tự ngày xưa (Phố huyện)

Trong số các từ hãy, đừng, chớ,…động từ chỉ tâm trạng trong thơ Xuân Quỳnh kết hợp nhiều nhất với từ “đừng”, nhằm khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của người phụ

nữ yêu thương, gìn giữ cho hạnh phúc gia đình, thấu hiểu những suy nghĩ của người mà mình yêu thương cho dù phải hi sinh những hạnh phúc riêng tư

- Trong quá trình khảo sát chúng tôi còn thấy một số động từ kết hợp với nhiều

Em vẫn cứ thương về ngày trước

Người yêu em thưở ấy có em đâu

(Thương về ngày trước)

Sự xuất hiện của các phụ từ đi liền nhau trong thơ Xuân Quỳnh không phải là

Trang 27

hiệu nhất và gợi cho người đọc những suy tư Nếu khi đọc “em vẫn thương về ngày trước” và “em cứ thương về ngày trước” hẳn người đọc sẽ không nhận ra được

nét độc đáo trong cách sử dụng từ ngữ của Xuân Quỳnh, cứ thương hay vẫn thương đều biểu hiện tình cảm vẫn tồn tại nhưng khi kết hợp lại vẫn cứ thương thể hiện

tình cảm thương yêu đó mãnh liệt, âm thầm, dai dẳng hơn vượt qua mọi rào cản của không gian, thời gian và không có một sức mạnh nào tàn phá nổi Điều đó cho chúng ta thấy Xuân Quỳnh là người phụ nữ đa cảm, có tâm hồn tinh tế, dịu hiền khi yêu, Xuân Quỳnh không chỉ yêu những gì là của hiện tại, chị tin về quá khứ, tìm về những thiếu hụt ngày xưa của người yêu để mà thương

Sự kết hợp của các từ chỉ trạng thái thuộc từ loại động từ trong thơ Xuân Quỳnh cũng giống như sự kết hợp của động từ nói chung trong tiếng Việt Nhưng trong thơ Xuân Quỳnh không chỉ dừng lại ở sự kết hợp của một từ loại mà sự kết hợp này như một phương tiện nghệ thuật thể hiện tình cảm mãnh liệt, da diết của nhà thơ Đó là dụng ý nghệ thuật của Xuân Quỳnh

b Khả năng kết hợp của từ chỉ tâm trạng là tính từ trong thơ Xuân Quỳnh Trong thơ Xuân Quỳnh xuất hiện rất nhiều tính từ chỉ trạng thái như: Thiết tha, bỡ ngỡ, bồi hồi…các từ này có các kiểu kết hợp sau:

- Tính từ chỉ trạng thái tâm lý kết hợp với phó từ chỉ thời gian: Đã, sẽ, đang,…

Và con sẽ ngỡ ngàng như gặp

Cảnh người kia từ đã lâu rồi

(Lời ru)

- Từ chỉ trạng thái kết hợp với phó từ chỉ sự tiếp diễn: Còn, lại, vẫn, cứ,…

Như đất nước, vừa qua thời lửa đạn

Lại ngỡ ngàng: chim nhỏ, tháng giêng xuân

(Những con đường tháng giêng)

Trang 28

Con vẫn bâng khuâng tự hỏi:

“Phải người mẹ năm nào mưa ướt áo tứ thân”

(Lời ru)

- Tính từ chỉ trạng thái tâm lý kết hợp với các phó từ chỉ mức độ:

Tôi đã đi đến tận cùng xứ sở

Đến tận cùng đau đớn, đến tình yêu (Thơ tình cho bạn trẻ)

Nỗi buồn, hạnh phúc là những nốt nhạc tấu lên giai điệu tình yêu Trong thơ Xuân Quỳnh nốt nhạc đó không bình yên đơn giản, chị luôn khắc khoải lo âu để rồi

đi đến tận cùng của sự đau đớn Nhưng không vì thế mà trái tim của chị thôi khao

khát yêu và bất tử cùng tình yêu Đây chính là nhịp đập riêng khó lẫn của Xuân Quỳnh với các nhà thơ khác

Như vậy các từ chỉ tâm trạng trong thơ Xuân Quỳnh là tính từ rất ít kết hợp với phó từ chỉ mức độ Điều này có thể lý giải do cách thể hiện, do khát vọng cháy bỏng của nhà thơ nên từ chỉ tâm trạng đã tự thân hàm chứa mức độ cao cho nên ít

kết hợp với rất, hơi, lắm, quá,

c Khả năng kết hợp của từ chỉ trạng thái tâm lý là danh từ trong thơ Xuân

Quỳnh

Danh từ chỉ trạng thái tâm lý bao gồm các từ: Tình yêu, nỗi buồn, hạnh phúc…đây là những danh từ trừu tượng Những danh từ trừu tượng này kết hợp với

số từ, đi kèm với quan hệ từ,…

- Danh từ chỉ tâm trạng có khả năng kết hợp với từ chỉ số lượng:

Hoa sim tím một nỗi buồn hoang dã

Hoa lay ơn góc vườn xua còn nhớ

Mà thấy người cành lá khẽ lung lay

Trang 29

Anh, con xa ngái

Anh, bức vẽ không màu

Anh, nghìn nỗi lo âu

Anh, dòng thơ nổi gió

(Anh)

- Danh từ chỉ trạng thái tâm lý kết hợp với định từ tạo ý nghĩa số:

Những phương trời khao khát

Những tình yêu chờ mong

Những cửa biển dòng sông Những hành tinh mới lạ…

(Hoa tigôn)

Không phải hoa được cắm trên bàn

Trong ngày hội của những niềm vui mới (Hoa dại núi Hoàng Liên)

Hành trình đến với bến bờ hạnh phúc không hề bình lặng Nhưng không vì thế trái tim nơi chị chịu một sự bó hẹp nào của không gian, thời gian mà nó luôn rộng

mở, ôm chứa tất cả tình yêu, niềm vui hay cả nỗi buồn,…tất cả tạo nên một hồn thơ

Xuân Quỳnh phong phú, đa dạng

- Đi kèm với các quan hệ từ: Và, của,… để chỉ ý nghĩa sở hữu

“Của”: Biểu thị điều sắp nêu ra là người hay sự vật có quyền sở hữu, quyền

chi phối cái vừa nói đến

Của tình yêu ra đi và trở lại

Mùa đông này có biết những ai xa

(Nghe rét đến, nhớ về Hà Nội)

Trang 30

Vịnh này vịnh của con tim

Của tình yêu, của ấm êm cuộc đời (Tình ca trong lòng vịnh)

Có lẽ do chị luôn khao khát tình yêu cháy bỏng nên đó là niềm thôi thúc bản năng trong đáy sâu tâm hồn của người phụ nữ Khi có được, chị giữ gìn nó bằng tất

cả tâm sức của mình khi xa chị nhớ quay quắt, khi ở nhà chị ra sức vun vén Điều

đó chị luôn giống những người phụ nữ khác Chỉ có điều chị luôn khẳng định sở

hữu của mình với thái độ mạnh mẽ khác thường: “Của tình yêu”, “của ấm êm”,

“của nỗi buồn”,…

Như vậy danh từ chỉ trạng thái tâm lý trong thơ Xuân Quỳnh không kết hợp

với các từ cả, tất cả,…đứng trước và các từ này, nọ, kia,…đứng sau mà chủ yếu

kết hợp với số từ và từ chỉ lượng Sở dĩ có sự kết hợp đó là do Xuân Quỳnh khi diễn tả những cung bậc tình cảm chị luôn đi vào những cảm xúc cụ thể, tinh tế mà không phải là những cảm xúc chung chung, khó nắm bắt

2.1.2.2 Chức vụ ngữ pháp trong câu

Như đã nêu ra ở trên, từ chỉ trạng thái tâm lý gồm ba từ loại: Động từ, tính từ, danh từ Do đó chúng tôi cũng đi vào từng chức vụ ngữ pháp của từng từ loại cụ thể

a Động từ

Qua khảo sát động từ chỉ trạng thái trong thơ Xuân Quỳnh, chúng tôi thấy động từ chỉ trạng thái tâm lý đảm nhiệm các chức năng ngữ pháp sau: Động từ biểu thị trạng thái trong thơ Xuân Quỳnh chủ yếu giữ vai trò vị ngữ:

Tôi yêu những con đường gió lộng

Buổi mai chiều tíu tít bánh xe lăn

(Những con đường tháng giêng)

Trang 31

Anh thương nơi em qua

Những phố phường nhộn nhịp

(Sân ga chiều em đi)

Động từ chỉ trạng thái tâm lý còn đảm nhận chức vụ bổ ngữ trong câu:

Những năm tháng cùng nhau anh chỉ thấy Quá khứ dài làm mái tóc em đen

Vui, buồn trong tiếng nói nụ cười em (Bàn tay em)

Lại thấy nhớ một thời kháng chiến

Vui buồn anh từ thuở còn thơ (Phố huyện)

Như vậy động từ chỉ trạng thái tâm lý đảm nhận chức vụ vị ngữ nhiều nhất bởi

vì chỉ có đảm nhận chức vụ này mới thể hiện được những cảm xúc của đối tượng được nêu ở chủ ngữ một cách hiệu quả nhất

b Tính từ

Cũng giống như nhóm động từ chỉ trạng thái tâm lý, nhóm tính từ chỉ trạng thái tâm lý cũng đảm nhận chức vụ vị ngữ:

Con vẫn bâng khuâng tự hỏi

Phải người mẹ năm nào mưa ướt áo tứ thân?

(Lời ru)

Tính từ chỉ trạng thái tâm lí còn đảm nhiệm chức vụ bổ ngữ:

Thơ tình tôi viết cho tôi

Qua cay đắng với buồn vui đã nhiều (Thơ tình tôi viết)

Trang 32

Nhóm tính từ chỉ trạng thái tâm lí còn đảm nhiệm chức vụ chủ ngữ:

Yêu thương là lòng anh

Bao dung là mái phố

(Mái phố)

Như vậy, tính từ chỉ trạng thái tâm lý trong thơ Xuân Quỳnh đảm nhận chức

vụ vị ngữ nhiều nhất bởi vì khi đảm nhận chức vụ này tính từ diễn tả được những trạng thái tình cảm, ý nghĩa tình cảm của chủ thể được nhắc đến

c Danh từ

Nhóm danh từ chỉ tâm trạng cũng đảm nhận các chức vụ ngữ pháp khác

nhau Ở mỗi vị trí nó có vai trò nhất định trong câu Qua khảo sát chúng tôi thấy nhóm danh từ đảm nhận chức vụ chủ ngữ:

Thời gian như gió thoảng qua

Tình yêu là cánh đồng hoa giữa trời (Hát ru)

Niềm mơ ước gửi vào trang giấy trắng Nỗi đau buồn dồn xuống đáy tâm tư (Có một thời như thế)

Bên cạnh đó nhóm danh từ chỉ tâm trạng còn đảm nhận chức vụ vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ trong câu:

Những vần thơ cùng du hành vũ trụ

Sưởi ấm vừng trăng lạnh niềm vui (Khát vọng) Qua gương mặt anh hiểu điều lo lắng

Qua ánh mắt anh hiểu điều mong ngóng (Bàn tay em)

Trang 33

Như vậy danh từ chỉ trạng thái tâm lý trong thơ Xuân Quỳnh chủ yếu đảm

nhận chức vụ chủ ngữ nhằm gọi tên những trạng thái cảm xúc như tình yêu, nỗi buồn, niềm hạnh phúc,…

Tóm lại, từ khả năng kết hợp và chức năng ngữ pháp của từ biểu thị tâm trạng trong thơ Xuân Quỳnh, ta có thể thấy một đặc điểm nổi bật của của các từ loại: Động từ có khả năng kết hợp rộng rãi với phó từ, giữ chức vụ làm vị ngữ trong câu, ngoài ra còn đảm nhiệm chức vụ chủ ngữ, bổ ngữ Còn nhóm tính từ chỉ trạng thái tâm lí rất ít kết hợp với các phó từ chỉ mức độ và đảm nhận chức vụ chủ yếu là vị ngữ Các từ chỉ tâm trạng là danh từ kết hợp chủ yếu với số từ và giữ chức vụ chủ ngữ là chủ yếu Tuy nhiên trong ba từ loại đó nhóm động từ chỉ trạng thái tâm lí vẫn là nhóm phức tạp nhất

2.2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TỪ CHỈ TÂM TRẠNG TRONG THƠ XUÂN QUỲNH

Xuân Quỳnh không phải là nhà thơ chỉ biết lắng nghe những rung động của

chính tâm hồn mình, bởi khi đọc thơ chị, chúng ta tiếp xúc với một nữ thi sĩ vui vẻ,

dí dỏm, một tâm hồn thơ trong sáng, yêu đời, trẻ trung, hồn nhiên Ở Xuân Quỳnh

có cái thông minh dân dã, những cảm xúc tinh tế, và hầu như lúc nào cũng pha chút hài hước tinh nghịch tạo nên nét hóm hỉnh riêng không trộn lẫn Đồng thời chúng ta cũng tiếp xúc với một Xuân Quỳnh sâu sắc, đa cảm và giàu lòng nhân ái Có lẽ vì thế thơ chị đầy cảm xúc, tâm trạng, những cung bậc tình cảm khác nhau, đó có khi

là những cảm xúc nhớ nhung, yêu thương mãnh liệt nhưng có khi đó là tình cảm trái ngược nhau nhưng tất cả làm nổi bật lên những cảm xúc tinh tế nhất Và những

cảm xúc đó được chuyển tải qua hàng loạt các từ chỉ tâm trạng: Yêu, thương, lo lắng, trăn trở,… Những nốt nhạc đó hợp nên một bản nhạc lúc trầm lúc bổng, lúc

ngân vang, có lúc lắng lại và giai điệu đó xuyên suốt trong thơ Xuân Quỳnh Tất cả

Trang 34

các cung bậc tình cảm của người phụ nữ đều được thể hiện qua các từ chỉ tâm trạng

2.2.1 Từ chỉ tâm trạng biểu hiện sự nhớ nhung

Trong thế hệ các nhà thơ thời chống Mỹ, ta bắt gặp một Lâm Thị Mỹ Dạ trầm

tư chiêm nghiệm với cách cảm nhận cuộc sống riêng, một Phan Thị Thanh Nhàn nhẹ nhàng, kín đáo, e ấp, thầm kín Đến Xuân Quỳnh ta lại cảm nhận được sự ồn

ào, mãnh liệt, sâu lắng trong từng câu thơ Cái ồn ào, mãnh liệt đó còn được thể hiện ngay trong cả nỗi nhớ, những trạng thái của tình yêu được thể hiện qua các từ

như: nhớ, yêu, thương, nỗi nhớ,…xuất hiện với tần số cao trong thơ Xuân Quỳnh

Từ nhớ xuất hiện 75 lần, yêu - 62 lần, thương - 40 lần, nỗi nhớ - 20 lần Xuyên suốt

các tập thơ Xuân Quỳnh có lẽ là nỗi nhớ, đó là nỗi nhớ người yêu, nhớ bà nhớ mẹ, nhớ những cảnh vật, những kỉ niệm thân yêu, nhớ những vùng đất mà chị đã đi qua

và gắn bó,…Trước hết, với Xuân Quỳnh nỗi nhớ người yêu là mãnh liệt, da diết nhất Nỗi nhớ của Xuân Quỳnh là nỗi nhớ phải cách xa nhau mong ngày gặp lại được thể hiện qua hình tượng thuyền và biển:

Những ngày không gặp nhau

Biển bạc đầu thương nhớ (Thuyền và biển)

Nỗi nhớ ấy thường trực, mạnh mẽ và quyết liệt Điều này làm cho nỗi nhớ trong thơ Xuân Quỳnh khác với nỗi nhớ nhẹ nhàng lan tỏa trong thơ Lâm Thị Mỹ Dạ:

Cô gái nhỏ thân quen

Nhớ anh anh có biết

(Lâm Thị Mỹ Dạ)

Trang 35

Hay là nỗi nhớ trong thơ Ý Nhi:

Những con đường mở ra trăm lối nhỏ

“Con sóng dưới lòng sâu, con sóng trên mặt nước” là những cung bậc khác

nhau của nỗi em nhớ anh Sóng trên mặt nước dù có lớn cũng còn có thể lựa chiều

mà vượt chứ “Con sóng dưới lòng sâu” âm thầm, khó nhận thấy mới thực sự dữ

dội và nguy hiểm Nhưng dù trên mặt nước hay dưới lòng sâu, con sóng đều có bờ,

bờ là nơi đến của sóng, sóng có đối tượng để ve vuốt vỗ về, có cái đích để đi đâu về đâu cũng nhớ, lúc nào cũng không quên, ngày cũng như đêm, nỗi nhớ có cái biểu hiện trên bề mặt mà cũng có cái ẩn chứa tận lòng sâu Vắng anh, em nhớ Đó là nhớ trên mặt Giận anh mà nhớ mới là nỗi nhớ dưới lòng sâu Nỗi nhớ ấy mới da diết khắc khoải, thổn thức Trong mơ vẫn nhớ là cái nhớ nó không chịu ngủ, cứ trằn trọc hoài Nỗi nhớ đó còn được gắn với khái niệm thời gian vô tận và không gian

vô cùng Với thời gian, nó không có ngày đêm, với không gian, nó chẳng có nhiều phương hướng, không gian có 4 hướng: Đông, tây, nam, bắc, còn tình yêu chí có một phương, đó là nhớ về anh Và trong những năm cuối đời của chị vẫn là nỗi nhớ

khắc khoải:

Trang 36

Dù cùng một thời gian, cùng một không gian Ngoài cánh cửa với em là quá khứ

Còn hiện tại của em là nỗi nhớ

(Thời gian trắng)

Trong thơ Xuân Quỳnh không chỉ thể hiện nỗi nhớ người yêu mà bên cạnh đó còn là nỗi nhớ người thân, gia đình, quê hương, và những nơi chị đã từng đi qua và gắn bó Đó là mái phố xuất hiện trong nỗi nhớ chất chứa bao kỷ niệm tuổi thơ:

Sinh ở đây thuở nhỏ

Lớn lên tôi đi xa Trời khi nắng khi mưa

Lại nhớ về mái phố (Mái phố)

Và một con đường một góc phố Hà Nội cũng đi vào nỗi nhớ da diết của chị:

Chị luôn dành tình cảm sâu đậm cho Hà Nội ở từng khoảnh khắc khác nhau

Khi là những con đường tháng giêng “đông vui như tuổi trẻ” lúc lại là mùa đông

“nghe rét nhớ về Hà Nội” và đây đó những góc phố lúc hồng bóng phượng khi

ngan ngát mùi hương hoa sấu Đọc thơ chị ta thấy Hà Nội vừa trẻ trung, tươi, mới vừa uy nghiêm cổ kính, nhưng vẫn cứ thân thuộc trong nỗi nhớ của chị

Trang 37

Hay có khi đó là nỗi nhớ về vùng đất có gió lào khắc nghiệt:

Em mới về em chưa thấy gì đâu Chỉ có cát và gió lào quạt lửa

Ngọn gió bỏng khi đi thành nỗi nhớ Cát khô cằn ở mãi hóa yêu thương (Gió lào cát trắng)

Và đặc biệt hơn trong thơ Xuân Quỳnh khi viết về những người thân, luôn là tiếng nói thiết tha, thầm lặng mang sức nặng tình cảm Hình ảnh người bà thể hiện cho tiếng gọi tình yêu, đánh thức ước muốn giản dị của con người về một cuộc sống bình thường Đó là thanh âm của tiếng lòng, của tuổi thơ tràn ngập giấc mơ về

hạnh phúc:

Tiếng gà trưa

Mang bao nhiêu hạnh phúc

Đêm cháu về nằm mơ Giấc ngủ hồng sắc trứng

(Tiếng gà trưa)

Tình yêu thương của người mẹ đã nâng đỡ những bước đi của mỗi người trên chặng đường đầy mệt mỏi lo âu Xuân Quỳnh khi viết về mẹ bằng tất cả niềm cảm thông, chia sẻ, biết ơn Sự nhớ mong sâu sắc ấy chỉ có thể được viết ra từ những trái tim nếm trải của cuộc đời làm vợ, làm mẹ, từ những bất trắc, những vấp váp, đau đớn của chính cuộc đời chị:

Những lời ru vời vợi canh khuya

Con vẫn nhớ

Lời mẹ hát có đôi bờ cách trở

Có bên này bên nớ ngóng trông nhau

(Gửi mẹ)

Ngày đăng: 16/10/2021, 17:59

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w