1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình điều dưỡng cơ bản - ThS. Lê Văn Duy

303 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 303
Dung lượng 3,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(NB) Giáo trình Điều dưỡng cơ bản có nội dung trình bày được định nghĩa và tình trạng nghề Điều dưỡng. Trình bày được lịch sử ngành Điều dưỡng trên Thế giới và ở Việt Nam. Để hiểu rõ hơn mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết của giáo trình này.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI NAM KHOA ĐIỀU DƯỠNG ThS Lê Văn Duy (Chủ biên)

Giáo trình

ĐIỀU DƯỠNG CƠ BẢN

(Lưu hành nội bộ)

Hà Nội - 2021

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐẠI NAM KHOA ĐIỀU DƯỠNG

CHỦ BIÊN:

ThS Lê Văn Duy

THAM GIA BIÊN SOẠN:

ThS Lê Văn Duy

TS Ngô Xuân Long ThS Nguyễn Thị Thanh Hà

Giáo trình

ĐIỀU DƯỠNG CƠ BẢN

(Lưu hành nội bộ)

Hà Nội - 2021

Trang 3

2

Trang 4

3

MỤC LỤC

BẢNG VIẾT TẮT 4

LỜI GIỚI THIỆU 5

BÀI 1: LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 6

BÀI 2: VAI TRÒ, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI ĐIỀU DƯỠNG 15

BÀI 3: HỌC THUYẾT ĐIỀU DƯỠNG 23

BÀI 4: TƯ DUY BIỆN CHỨNG TRONG THỰC HÀNH ĐIỀU DƯỠNG 38

BÀI 5: NHẬN ĐỊNH ĐIỀU DƯỠNG 61

BÀI 6: CHẨN ĐOÁN ĐIỀU DƯỠNG 84

BÀI 7: LẬP KẾ HOẠCH CAN THIỆP ĐIỀU DƯỠNG 101

BÀI 8: THỰC HIỆN VÀ ĐÁNH GIÁ CAN THIỆP ĐIỀU DƯỠNG 119

BÀI 9: MỘT SỐ XÉT NGHIỆM SỬ DỤNG TRONG LÂM SÀNG 134

BÀI 10: GIẤC NGỦ 147

BÀI 11: QUẢN LÝ ĐAU 175

BÀI 12: LIỆU PHÁP OXY 192

BÀI 13: SỬ DỤNG THUỐC CHO NGƯỜI BỆNH 200

BÀI 14: TIẾP NHẬN NGƯỜI BỆNH VÀO VIỆN, CHUYỂN VIỆN VÀ RA VIỆN 213

BÀI 15: HỒ SƠ NGƯỜI BỆNH VÀ CÁCH GHI CHÉP 219

BÀI 16: TRUYỀN DỊCH VÀ TRUYỀN MÁU 224

BÀI 17: CẤP CỨU SỐC PHẢN VỆ 232

BÀI 18: PHÒNG CHỐNG LOÉT ÉP CHO NGƯỜI BỆNH 239

BÀI 19: CÁCH LẤY MẪU XÉT NGHIỆM 246

BÀI 20: CẤP CỨU NGỪNG TUẦN HOÀN VÀ CẤP CỨU VẾT THƯƠNG CHẢY MÁU 256

BÀI 21: PHÒNG NGỪA SỰ CỐ Y KHOA LIÊN QUAN ĐẾN NGƯỜI BỆNH 267

BÀI 22: CHĂM SÓC TRONG THỰC HÀNH ĐIỀU DƯỠNG 283

BÀI 23: CHĂM SÓC ĐIỀU DƯỠNG TRẺ VỊ THÀNH NIÊN 294

Trang 5

CSSKSS

Chăm sóc người bệnh Chăm sóc sức khỏe sinh sản

TCYTTG Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)

TTCSSKSS Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản

Trang 6

5

LỜI GIỚI THIỆU

Trước nhu cầu về đào tạo nguồn nhân lực cán bộ Y tế không ngừng được nâng cao cùng với sự phát triển toàn diện mọi mặt của nhà trường Việc dạy và học luôn được đổi mới theo hướng tích cực, từng bước nâng cao tính chủ động của sinh viên trong học tập và nghiên cứu Khoa học Điều dưỡng đã có nhiều tiến bộ về học thuật

và công nghệ Tốc độ thay đổi của các khái niệm định nghĩa cơ bản đến các tư duy biện chứng trong thực hành điều dưỡng dựa vào bằng chứng, là căn cứ để thúc đẩy một cách nhanh chóng chất lượng cung cấp các dịch vụ điều dưỡng đáp ứng được các nhu cầu cấp bách của người bệnh và xã hội Nhu cầu cần có một cuốn tài liệu cốt lõi, bao phủ cho toàn bộ cơ sở khoa học Điều dưỡng tên tiếng Anh là

“Fundamentals of Nursing” “Nền tảng của điều dưỡng” được dịch sang tiếng Việt là

“Điều dưỡng cơ bản”; “Điều dưỡng cơ sở” được cập nhật liên tục, trở thành cẩm nang cho tất cả điều dưỡng viên dù đang công tác hay hoạt động chuyên sau theo các ngành điều dưỡng Xuất phát từ thực tế đó Khoa Điều dưỡng trường Đại học Đại Nam đã biên soạn và xây dựng cuốn tài liệu giảng dạy “Điều dưỡng cơ bản” nhằm đáp ứng phần nào về tài liệu học tập góp phần nâng cao chất lượng dạy và học cho đối tượng đại học điều dưỡng

Nội dung tài liệu được viết trên cơ sở chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, chương trình đào tạo của trường và tham khảo các tài liệu của nước ngoài

Trong cuốn tài liệu này chúng tôi cố gắng chọn lọc những kiến thức cập nhật nhất, phù hợp với chương trình đào tạo đại học là cơ sở cho sinh viên thực hành tốt sau này

Trong quá trình biên soạn không tránh khỏi thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các bạn đồng nghiệp và sinh viên để cuốn tài liệu giảng dạy được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn

Trang 7

6

BÀI 1:

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG

THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

MỤC TIÊU

Sau khi học xong bài này sinh viên có khả năng:

1 Trình bày được định nghĩa và tình trạng nghề Điều dưỡng

2 Trình bày được lịch sử ngành Điều dưỡng trên Thế giới và ở Việt Nam

NỘI DUNG

1 Đại cương

Ngày nay, ngành Điều dưỡng đã phát triển khá xa so với Điều dưỡng 50 năm về trước Bước vào thế kỷ XXI, ngành Điều dưỡng ngày càng tiến bộ Để hiểu ngành Điều dưỡng ngày nay và chuẩn bị cho tương lai, chúng ta phải hiểu những sự kiện đã xảy ra, đang xảy ra và những yếu tố xã hội ảnh hưởng đến nó Rất khó để đưa ra được định nghĩa đầy đủ và toàn diện về ngành Điều dưỡng bởi vì người Điều dưỡng làm quá nhiều việc Nếu ở lớp học, khi bạn hỏi sinh viên hoàn thành câu: "Ngành Điều dưỡng là gì?" thì sẽ có rất nhiều câu trả lời khác nhau, bởi vì mỗi người sẽ trả lời dựa trên những kinh nghiệm và kiến thức khác nhau của mình về ngành Điều dưỡng Khi bạn tiếp xúc với chương trình Điều dưỡng, sự định nghĩa về ngành Điều dưỡng của bạn sẽ thay đổi, bạn sẽ biết và hiểu thêm về ngành Điều dưỡng là gì? Nội dung khuôn khổ bài này giới thiệu về ngành Điều dưỡng, chương trình giáo dục, nghề nghiệp và hướng dẫn thực hành nghề Điều dưỡng

2 Định nghĩa

Theo Tạp chí The New Lexicon Wesbter’s đã định nghĩa: "Người Điều dưỡng

là người phụ nữ được huấn luyện để chăm sóc những người ốm đau" Tuy nhiên, ngày nay có nhiều nam giới đã chọn nghề Điều dưỡng Những người Điều dưỡng này được cung cấp những kỹ năng chăm sóc bảo vệ người bệnh tốt qua một chương trình đào tạo

Florence Nightingale đã đưa ra một định nghĩa về ngành Điều dưỡng cách đây hơn 100 năm: "Điều dưỡng là một hành động thiết thực bảo vệ môi trường chung quanh người bệnh để giúp cho người bệnh bình phục" Trong thuyết đầu tiên này, Florence Nightingale đã đề cao vai trò của công tác Điều dưỡng Người Điều dưỡng không những được huấn luyện để chăm sóc người bệnh ốm đau mà còn được huấn luyện như những người nội trợ

Virginia Henderson là một trong những người Điều dưỡng đầu tiên nêu ra định nghĩa Điều dưỡng (1960): "Chức năng của Điều dưỡng là giúp đỡ các cá thể, đau ốm hoặc khoẻ mạnh, giúp họ cải thiện chất lượng cuộc sống và bình phục nhanh chóng Người Điều dưỡng cần thiết phải có sức khỏe, thông minh, có kiến thức và phong

Trang 8

7

thái làm việc càng nhanh càng tốt" (Henderson, 1966, p.3) Henderson cho rằng người Điều dưỡng cần phải chăm sóc người bệnh không kể họ ốm đau hay khoẻ mạnh Bà còn đề cập đến việc giáo dục và ủng hộ vai trò của người Điều dưỡng Canadian Nurses Association (CAN, 1984) đã nêu một định nghĩa về ngành Điều dưỡng như sau: "Điều dưỡng nghĩa là phải chăm sóc người bệnh phù hợp với bệnh tật của họ bao gồm cả việc luyện tập về tinh thần, chức năng và phục vụ người bệnh trực tiếp hoặc gián tiếp, giúp cho người bệnh cải thiện sức khỏe, ngăn chặn ốm đau, hoà nhập vào cộng đồng và xã hội"

Bước vào thế kỷ XXI, người ta đã cố gắng trả lời câu hỏi: "Nếu không có ngành Điều dưỡng thì cái gì sẽ mất?" Người ta đã xem ngành Điều dưỡng như là một nghệ thuật, một môn khoa học Điều dưỡng liên quan đến sức khỏe quá khứ, hiện tại và tương lai Điều dưỡng là một ngành, nghề chăm sóc người bệnh

3 Điều dưỡng từ nền văn minh cổ đại cho đến thế kỷ thứ XX

Ngành Điều dưỡng có một lịch sử phát triển đáng tự hào Những người phụ nữ ngày xưa với vai trò làm vợ, làm mẹ, họ bao gồm cả việc chăm sóc và nuôi nấng những thành viên của gia đình Xã hội ngày càng phát triển, dân cư ngày càng đông đúc, có nhiều người đau ốm và họ có thể chăm sóc bản thân, gia đình và xã hội Từ

đó, những người phụ nữ trong gia đình đã tham gia vào các công việc của xã hội Trong xã hội đã xuất hiện các cá nhân, những tổ chức giúp đỡ những người đau ốm cần chăm sóc và ngành Điều dưỡng ra đời

3.1 Ngành Điều dưỡng trong nền văn minh cổ đại

Ngành Điều dưỡng chưa bao giờ tồn tại một cách riêng biệt Trong thời gian đầu, vai trò của người Điều dưỡng đã được xác định bởi những cấu trúc xã hội mà con người đang sinh sống Chăm sóc sức khỏe và Điều dưỡng như chúng ta đã biết ngày nay chịu ảnh hưởng bởi những gì đã xảy ra trong quá khứ

Ở nền văn hoá nguyên thuỷ, con người nghĩ rằng đau ốm là do một nhân vật siêu phàm gây nên Để giúp giải thích những điều chưa biết này, thuyết duy linh đã

mô tả rằng "mọi vật trong tự nhiên sống dưới một thế lực và khả năng không thấy được, những linh hồn tốt sẽ mang lại điều may mắn, những linh hồn tội lỗi sẽ bị ốm đau và chết" (Dolan, 1978) Suốt thời gian này, vai trò của những thầy thuốc và Điều dưỡng tồn tại tách biệt Người thầy thuốc điều trị bệnh tật qua việc cầu kinh, lo sợ hoặc sự tuyệt vọng làm thế nào để giải thoát những linh hồn tội lỗi Người Điều dưỡng thông thường là những người mẹ, người mà thường chăm sóc chính gia đình

họ khi bị ốm đau bằng những chăm sóc y tế, hoặc những phương thuốc thảo mộc Vai trò chăm sóc này của người Điều dưỡng tiếp tục được duy trì cho đến bây giờ Khi mà những bộ lạc trở nên văn minh hơn, những đền thờ trở thành trung tâm của những chăm sóc y tế, bởi vì người ta tin rằng, sự đau ốm được gây ra bởi những dấu hiệu không hài lòng của Chúa Những vị linh mục, thầy tu được xem như là những người thầy thuốc bậc cao, cuộc sống của những người đàn ông và phụ nữ

Trang 9

8

không có giá trị trong xã hội Những người Điều dưỡng như là những nô lệ, họ thực hiện những nhiệm vụ của những người đầy tớ dựa trên những mệnh lệnh của những thầy thuốc linh mục Trái lại, suốt thời kỳ này, người Hebrews cổ đại đã đưa ra những luật lệ về những mối quan hệ đạo đức của con người, về sức khỏe tâm trí và

về sự điều khiển bệnh tật thông qua 10 điều răn của Đức Chúa Trời Người Điều dưỡng chăm sóc ốm đau tại nhà và tại cộng đồng và cũng thực hiện như vai trò của

nữ hộ sinh (Dolan, 1978)

Trong thời kỳ cổ đại, con người có rất ít kiến thức để chăm sóc trong lúc ốm đau Suốt thời gian này họ tin tưởng nhiều vào Chúa, Thần linh Khi xã hội ngày càng phát triển hơn, nhiều phương pháp điều trị bệnh ra đời và người ta đã biết rằng, việc chăm sóc lúc ốm đau là cần thiết Đặc biệt trong giai đoạn này vai trò của người

hộ sinh là quan trọng Họ chăm sóc cả mẹ và con suốt quá trình thai nghén và sinh

nở Họ hướng dẫn cho sản phụ cách chăm sóc con, cho con bú và cách tự chăm sóc cho chính bản thân

Ở nền văn hoá cổ đại tại Châu Phi, chức năng của người Điều dưỡng là bao gồm cả vai trò người hộ sinh, chăm sóc trẻ em và người già Ở Ấn Độ, có nhiều bệnh viện với đội ngũ Điều dưỡng nam, người Điều dưỡng nam này phải hội đủ 4 điều kiện:

- Có kiến thức cơ bản về thuốc

- Thông minh

- Hết lòng vì người bệnh

- Có sức khỏe tốt

3.2 Lịch sử phát triển ngành Điều dưỡng thế giới

Vào thế kỷ thứ III ở Rome, phụ nữ không đảm nhiệm vai trò này mà là những người đàn ông, gọi là Parabolani Brotherhood Nhóm những người đàn ông này chăm sóc những ai đau ốm

Ở thời Crusades, đã có nhiều bệnh viện từ thiện được xây dựng Những bệnh viện này dùng để chăm sóc những trẻ mồ côi, goá phụ, người nghèo và những người đau ốm Năm 60, bà Phoebe (Hylạp) đã đến từng gia đình có người ốm đau để chăm sóc Bà được ngưỡng mộ và suy tôn là người nữ Điều dưỡng tại gia đầu tiên của thế giới

Thế kỷ thứ IV, bà Fabiola (Lamã) đã tự nguyện biến căn nhà sang trọng của mình thành bệnh viện, đón những người nghèo khổ đau ốm về để tự bà chăm sóc nuôi dưỡng

Suốt từ năm 500 - 1500 sau Công nguyên, nhiều tổ chức quân đội gồm cả nam

và nữ được thành lập để chăm sóc những người đau ốm

Ở thế kỷ thứ XVI, Camillus De Lellis đã thành lập những nhóm người để chăm sóc người nghèo, người đau ốm và những người tù Năm 1633, Sisters Chariting đã

Trang 10

9

thành lập Saint Vincent De Paul tại Pháp Đó là tổ chức đầu tiên dưới thời Giáo Hoàng dùng để chăm sóc người đau ốm Tổ chức đã gửi những người Điều dưỡng này đi khắp nơi trên thế giới, họ đã thành lập thêm nhiều bệnh viện ở Canada, Mỹ và

Úc

Thời kỳ viễn chinh ở Châu Âu, bệnh viện được xây dựng để chăm sóc số lượng lớn những người hành hương bị đau ốm Cả nam và nữ đều thực hiện việc chăm sóc sức khỏe cho tất cả mọi người Nghề Điều dưỡng trở thành nghề được coi trọng Vào thời điểm bắt đầu có đạo Cơ đốc, người Điều dưỡng có vai trò quan trọng

và rõ ràng hơn Dẫn đầu bởi niềm tin về tình yêu và sự chăm sóc những cá nhân khác

là quan trọng, tổ chức đầu tiên về chăm sóc những người đau ốm được thực hiện bởi những người phụ nữ, gọi là "những người trợ tế" Trong suốt cuộc viễn chinh ở Châu

Âu, những bệnh viện đã được xây dựng để chăm sóc một số lượng những người hành hương cần chăm sóc sức khỏe và người Điều dưỡng được kính trọng hơn

Đến cuối thế kỷ thứ XVI, chế độ nhà tù ở Anh và Châu Âu bị bãi bỏ Các tổ chức tôn giáo bị giải tán, dẫn đến sự thiếu hụt trầm trọng người chăm sóc người bệnh Những người phụ nữ phạm tội, bị giam giữ được tuyển chọn làm Điều dưỡng, thay vì thực hiện án tù; còn những người phụ nữ khác chỉ chăm sóc gia đình mình thôi Bối cảnh này tạo ra những quan niệm và thái độ xấu của xã hội đối với Điều dưỡng

Giữa thế kỷ XVIII đầu thế kỷ thứ XIX, việc cải cách xã hội đã thay đổi về vai trò người Điều dưỡng Vai trò của người phụ nữ trong xã hội nói chung cũng được cải thiện Trong thời kỳ này, một phụ nữ người Anh đã được thế giới tôn kính và suy tôn là người sáng lập ra ngành Điều dưỡng Đó là Florence Nightingale (1820 - 1910) Bà sinh ra trong một gia đình giàu có ở Anh nên được giáo dục chu đáo Bà biết nhiều ngoại ngữ, đọc nhiều sách triết học, tôn giáo, chính trị Ngay từ nhỏ, bà đã thể hiện thiên tính và hoài bão được giúp đỡ người nghèo khổ Bà đã vượt qua sự phản kháng của gia đình để vào học và làm việc tại bệnh viện Kaiserwerth (Đức) năm 1847 Sau đó bà học thêm ở Paris (Pháp) vào năm 1853

Những năm 1854 - 1855, chiến tranh Crimea nổ ra, bà cùng 38 phụ nữ Anh khác được phái sang Thổ Nhĩ Kỳ để phục vụ các thương binh của quân đội hoàng gia Anh Tại đây bà đã đưa ra lý thuyết về khoa học vệ sinh trong các cơ sở y tế và sau 2 năm bà đã làm giảm tỷ lệ nhiễm trùng từ 42% xuống còn 2% Đêm đêm, Florence cầm ngọn đèn dầu đi thăm bệnh, chăm sóc thương binh, đã để lại hình tượng người phụ nữ với cây đèn trong trí nhớ những người thương binh hồi đó Chiến tranh chưa kết thúc, Florence phải trở lại nước Anh Cơn "sốt Crimea" và sự căng thẳng của những ngày ở mặt trận đã làm cho bà mất khả năng làm việc Bà được dân chúng và những người lính Anh tặng món quà 50.000 bảng Anh để chăm sóc sức khỏe Vì sức khỏe không cho phép tiếp tục làm việc ở bệnh viện, Florence đã lập ra hội đồng quản

lý ngân sách 50.000 bảng Anh để thành lập trường đào tạo Điều dưỡng đầu tiên trên thế giới ở nước Anh vào 1860 Trường Điều dưỡng Nightingale cùng với chương

Trang 11

tế Bà đã trở thành người mẹ tinh thần của ngành Điều dưỡng thế giới

Hiện nay ngành Điều dưỡng của thế giới đã được xếp là một ngành nghề riêng biệt, ngang hàng với các ngành, nghề khác Có nhiều trình độ Điều dưỡng khác nhau: đại học, trên đại học Nhiều cán bộ Điều dưỡng đã có bằng thạc sĩ, tiến sĩ, và các học hàm phó giáo sư, giáo sư

3.3 Lịch sử phát triển ngành Điều dưỡng Việt Nam

* Trước thời Pháp thuộc

- Vai trò của người mẹ:

Cũng như thế giới, từ xa xưa các bà mẹ Việt Nam đã chăm sóc, nuôi dưỡng con cái và gia đình mình Bên cạnh những kinh nghiệm chăm sóc của gia đình, các bà đã được truyền lại các kinh nghiệm dân gian của các lương y trong việc chăm sóc người bệnh, biết dùng các cây thuốc nam để chữa bệnh,

- Người đặt nền móng cho y học cổ truyền Việt Nam

Hai danh y nổi tiếng thời xưa của dân tộc ta là Tuệ Tĩnh (thế kỷ XIV) và Hải Thượng Lãn Ông - Lê Hữu Trác (thế kỷ XVIII) đã sử dụng phép dưỡng sinh để trị bệnh, đã phát hiện ra hàng trăm vị thuốc để điều trị bệnh có hiệu quả Hai danh y này

đã để lại cho nền y học nước ta một gia sản có giá trị lớn về y đức, y thuật Việt Nam

- Vai trò của các tôn giáo trong công tác Điều dưỡng

Cuối thế kỷ XV, nhiều đoàn giáo sĩ phương Tây đã đến Việt Nam vừa truyền đạo, vừa chữa bệnh cho các tín đồ Một số giáo sĩ được mời vào cung vua để chữa bệnh cho các vua quan trong triều đình Cuối thế kỷ XVII, linh mục Vachet người Pháp và linh mục Coffler người Bồ Đào Nha là hai giáo sĩ đầu tiên đặt nền móng y học và Điều dưỡng phương Tây ở nước ta Sau đó, các tu viện được thành lập, các trại chăm sóc cho người nghèo, trẻ mồ côi do các nữ tu đảm nhiệm Việc chăm sóc mang tính nhân đạo, tự nguyện và không đòi hỏi thù lao

* Dưới thời Pháp thuộc

Thời kỳ Pháp thuộc, người Pháp đã xây dựng nhiều bệnh viện Trước năm

1900, họ đã ban hành chế độ học việc cho những người muốn làm việc tại bệnh viện Việc đào tạo không chính quy mà chỉ là cầm tay chỉ việc Họ là những người giúp việc thạo kỹ thuật, vững tay nghề và chỉ phụ việc bác sĩ mà thôi

Năm 1901, mở lớp nam y tá đầu tiên tại bệnh viện Chợ Quán, nơi điều trị bệnh tâm thần và bệnh phong

Ngày 20-12-1906, Toàn quyền Đông Dương ban hành nghị định thành lập

Trang 12

11

ngạch nhân viên Điều dưỡng bản xứ

Năm 1910, lớp học chuyển về bệnh viện Chợ Rẫy để đào tạo y tá đa khoa Ngày 1-12-1912, Công sứ Nam Kỳ ra nghị định mở lớp nhưng mãi đến năm

1923 mới mở Trường Y tá và ban hành ngạch bậc y tá bản xứ Do chính sách của thực dân Pháp không tôn trọng người bản xứ và coi y tá chỉ là người giúp việc nên về lương bổng chỉ được xếp ở ngạch hạ đẳng

Năm 1924, Hội Y tá ái hữu và Nữ hộ sinh Đông Dương thành lập, người sáng lập là cụ Lâm Quang Thiêm, nguyên Giám đốc bệnh viện Chợ Quán Chánh hội trưởng là ông Nguyễn Văn Mân Hội đã đấu tranh với chính quyền thực dân Pháp yêu cầu đối xử công bằng với y tá bản xứ, chấp nhận cho y tá được thi chuyển ngạch trung đẳng, nhưng không được tăng lương mà chỉ được phụ cấp đắt đỏ

Năm 1937, Hội Chữ thập đỏ Pháp tuyển sinh lớp nữ y tá đầu tiên ở Việt Nam Lớp học tại 38 Tú Xương (hiện là Trung tâm điều trị trẻ suy dinh dưỡng)

* Thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954)

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà vừa mới thành lập đã phải bước ngay vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Ngành Y tế non trẻ mới ra đời, với vài chục bác sĩ và vài trăm y tá được đào tạo thời Pháp thuộc Lớp y tá đầu tiên được đào tạo 6 tháng do giáo sư Đỗ Xuân Hợp làm hiệu trưởng được tổ chức tại quân khu X (Việt Bắc) Những y tá vào học lớp này được tuyển chọn tương đối kỹ lưỡng Sau đó liên khu III cũng mở lớp đào tạo y tá Năm 1950, ta mở nhiều chiến dịch Vì vậy nhu cầu chăm sóc thương bệnh binh tăng mạnh Việc đào tạo y tá cấp tốc (3 tháng là phổ biến) đã cung cấp nhiều y tá cho kháng chiến Để đáp ứng công tác quản lý, chăm sóc và phục vụ người bệnh trong những năm 1950 Cục Quản lý cũng đã mở một số lớp đào tạo y tá trưởng, nhưng chương trình chưa được hoàn thiện Mặt khác, kháng chiến rất gian khổ, cơ sở vật chất nghèo nàn, thuốc men cũng rất hạn chế, nên việc điều trị cho người bệnh chủ yếu dựa vào chăm sóc và chính nhờ Điều dưỡng mà nhiều thương, bệnh binh bị chấn thương, cắt cụt, vết thương chiến tranh, sốt rét ác tính, đã qua khỏi

* Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975)

Năm 1954, kháng chiến chống Pháp thắng lợi Đất nước ta bị chia làm 2 miền Miền Bắc bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục chịu sự xâm lược của đế quốc Mỹ Tuy vậy, mỗi miền có những bước phát triển riêng về công tác Điều dưỡng

- Ở miền Nam

Năm 1956 có trường Điều dưỡng đào tạo Điều dưỡng 3 năm Cô Lâm Thị Hạ,

là nữ giám học đầu tiên

Năm 1968, do thiếu Điều dưỡng trầm trọng nên đã mở thêm ngạch Điều dưỡng

sơ học 12 tháng chính quy tại các trường Điều dưỡng Từ những năm 1960 đã có Sở Điều dưỡng tại Bộ Y tế

Trang 13

12

Năm 1970, Hội Điều dưỡng Việt Nam được thành lập, cô Lâm Thị Hai là chánh

sự vụ Sở Điều dưỡng đầu tiên kiêm Chủ tịch hội

Năm 1973, mở lớp Điều dưỡng y tế công cộng 3 năm tại Viện Quốc gia Y tế công cộng

- Ở miền Bắc

Năm 1954, Bộ Y tế đã xây dựng chương trình đào tạo y tá sơ cấp hoàn chỉnh để

bổ túc cho lớp y tá học cấp tốc trong chiến tranh

Năm 1968, Bộ Y tế xây dựng tiếp chương trình đào tạo y tá trung cấp, lấy học sinh tốt nghiệp lớp bảy phổ thông đào tạo y tá 2 năm 6 tháng Khoá đầu tiên mở lớp y

tá cạnh bệnh viện Bạch Mai, sau đó đưa vào các trường trung học trực thuộc Bộ Đồng thời Bộ gửi giảng viên của hệ này đi tập huấn ở Liên Xô, Ba Lan, Cộng hoà Dân chủ Đức,

Việc đào tạo Điều dưỡng trưởng cũng đã được quan tâm Ngay từ năm 1960, một số bệnh viện và Trường Trung học Y tế trung ương đã mở lớp đào tạo y tá trưởng như lớp trung học y tế bệnh viện Bạch Mai Tuy nhiên chương trình và tài liệu giảng dạy chưa được hoàn thiện

Ngày 21 tháng 11 năm 1963, Bộ trưởng Bộ Y tế ra quyết định về chức vụ y tá trưởng ở các cơ sở điều trị bệnh viện, viện Điều dưỡng, trại phong, bệnh xá từ 30 giường bệnh trở lên

* Công tác Điều dưỡng từ năm 1975 đến nay

Năm 1975, kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, đất nước được thống nhất, Bộ Y tế

đã thống nhất chỉ đạo công tác chăm sóc và điều trị người bệnh ở cả 2 miền Từ đó, nghề Điều dưỡng bắt đầu có tiếng nói chung giữa 2 miền Nam - Bắc

Từ năm 1975, tiêu chuẩn tuyển chọn vào y tá trung học cần trình độ văn hoá cao hơn, học sinh được tuyển chọn bắt buộc phải tốt nghiệp trung học phổ thông hay

bổ túc văn hoá và chương trình đào tạo cũng hoàn thiện hơn

Ngày 27 tháng 11 năm 1979, Bộ Y tế ra công văn số 4839 về chế độ phụ cấp trách nhiệm đối với y tá trưởng khoa và bệnh viện

Năm 1982, Bộ Y tế ban hành chức danh y tá trưởng bệnh viện và y tá trưởng khoa Năm 1985, một số bệnh viện đã xây dựng phòng Điều dưỡng, phòng này tách

Trang 14

13

Ngày 14 tháng 3 năm 1992, Bộ trưởng Bộ Y tế ra quyết định thành lập Phòng Y

tá của Bộ đặt trong Vụ Quản lý sức khỏe

Ngày 10 tháng 6 năm 1993, Bộ Y tế ra quyết định số 526 kèm theo quy định về chế độ trách nhiệm của y tá trong việc chăm sóc người bệnh tại bệnh viện Cùng ngày

đó, vụ Quản lý sức khỏe (nay là Vụ Điều trị) ra công văn số 3722 về việc triển khai thực hiện quy định trên

Về đào tạo, năm 1985, Bộ Y tế được Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp cho phép tổ chức khoá đào tạo đại học Điều dưỡng đầu tiên tại Trường Đại học Y Hà Nội, năm 1986 mở tại Trường Đại học Y - Dược thành phố Hồ Chí Minh Đây là mốc lịch sử quan trọng trong lĩnh vực đào tạo Đại học Điều dưỡng của nước ta

Tổ chức Y tế thế giới rất hoan nghênh chủ trương này, vì từ đây Bộ Y tế đã xác định được hướng đi của ngành Điều dưỡng, coi đây là một ngành nghề riêng biệt, chứ không suy nghĩ như trước đây cho y tá giỏi học chuyên tu thành bác sĩ

Năm 1994, Bộ Giáo dục Đào tạo và Bộ Y tế lại tiếp tục cho phép đào tạo cử nhân cao đẳng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên y học khoá III tại Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Cao đẳng Y tế Nam Định

Năm 1998, Trường Đại học Y khoa Huế mở lớp Điều dưỡng cao đẳng đầu tiên tại khu vực miền Trung

Vào những năm 60 của thế kỷ XX đã đào tạo Điều dưỡng trưởng tại Bệnh viện Bạch Mai để cung cấp Điều dưỡng trưởng cho các Bệnh viện Trung ương nhưng chưa được bài bản Năm 1990, lớp đầu tiên đào tạo Điều dưỡng trưởng được Bộ Y tế cho phép là Trường Trung học Kỹ thuật Y tế trung ương I phối hợp với chuyên gia Thụy Điển mở 3 lớp "Điều dưỡng trưởng Bệnh viện": lớp thứ nhất tại Bệnh viện Uông Bí - Thụy Điển Sau đó lớp thứ hai mở tại Trường Cao đẳng Y tế Nam Định, lớp thứ 3 tại Trường Đại học Y- Dược Hồ Chí Minh

Đến nay khoảng 50% Điều dưỡng trưởng khoa, Điều dưỡng trưởng Bệnh viện

đã được đào tạo qua các lớp quản lý Điều dưỡng trưởng

Năm 1986, Hội Điều dưỡng khu vực thành phố Hồ Chí Minh mở đại hội Năm

1989, Hội Điều dưỡng thủ đô Hà Nội và Hội Điều dưỡng tỉnh Quảng Ninh ra đời Sau đó lần lượt một số tỉnh thành khác cũng thành lập Hội Điều dưỡng, thôi thúc sự

ra đời của Hội Điều dưỡng cả nước Ngày 26 tháng 10 năm 1990, Hội Y tá Điều dưỡng Việt Nam mở đại hội lần thứ nhất tại hội trường Ba Đình lịch sử Nhiệm kỳ thứ nhất của Ban Chấp hành Trung ương (BCHTW) Hội là 3 năm (1990 - 1993) BCH có 31 ủy viên ở cả 2 miền Bà Vi Thị Nguyệt Hồ là Chủ tịch, 3 phó Chủ tịch là:

Cô Trịnh Thị Loan, Cô Nguyễn Thị Niên, ông Nguyễn Hoa Tổng Thư ký là ông Phạm Đức Mục Ngày 26 tháng 3 năm 1993, đại hội đại biểu y tá - Điều dưỡng toàn quốc lần thứ 2 (nhiệm kỳ 1993 - 1997) được tổ chức tại Bộ Y tế và BCH mới gồm 45

ủy viên, Chủ tịch là Bà Vi Thị Nguyệt Hồ, 3 phó Chủ tịch là: Ông Nguyễn Hoa, Cô Trịnh Thị Loan, Ông Phạm Đức Mục (kiêm tổng thư ký)

Trang 15

Trong quá trình phát triển của ngành Điều dưỡng Việt Nam từ khi đất nước được thống nhất đến nay, chúng ta đã được nhiều tổ chức Điều dưỡng quốc tế giúp

đỡ cả về tinh thần, vật chất và kiến thức Trong các tổ chức đó phải kể đến đội ngũ Điều dưỡng của Thụy Điển đã liên tục đầu tư cho việc đào tạo hệ thống Điều dưỡng Nhiều chuyên gia Điều dưỡng Thụy Điển đã để lại những kỷ niệm tốt đẹp cho anh chị em Điều dưỡng Việt Nam như Eva Johansson, Lola Carison, Ann Mari Nilsson, Marian Advison, Emma Sunberg, Tổ chức Y tế thế giới cũng đã cử những chuyên gia Điều dưỡng giúp chúng ta như Chieko Sakamoto, Margret Truax, Miller Therese, cùng nhiều chuyên gia Điều dưỡng khác của tổ chức Care International, tổ chức khoa học Mỹ - Việt, Các bạn đã giúp chúng ta cả về kinh phí, kiến thức và tài liệu Chúng ta không thể quên được sự giúp đỡ quý báu của các bạn Điều dưỡng quốc tế Chính các bạn đã giúp đỡ chúng ta hiểu rõ nghề nghiệp của mình và phấn đấu cho sự nghiệp Điều dưỡng Việt Nam phát triển

Kết luận

Trên đây là vài nét sơ lược về ngành Điều dưỡng trên Thế giới và Việt Nam Qua đây chúng ta cũng thấy lịch sử ngành Điều dưỡng Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển của đất nước Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, tuy ngành Điều dưỡng Việt Nam chưa được coi là một ngành riêng biệt, nhưng đã được quan tâm và có cống hiến to lớn Chúng ta có quyền tự hào về ngành Điều dưỡng của chúng ta

thành tựu của ngành Điều dưỡng Việt Nam hiện nay chính là sự kết tinh truyền thống và kinh nghiệm của những người đi trước truyền lại cho những thế hệ Điều dưỡng hôm nay và mai sau Đó cũng là sự giúp đỡ tận tình của các chuyên gia Điều dưỡng quốc tế Thế hệ Điều dưỡng chúng ta quyết phát huy truyền thống của dân tộc, của ngành Điều dưỡng Việt Nam không ngừng học tập, rèn luyện để tiến bộ, góp phần xây dựng và phát triển ngành ngày càng mạnh mẽ

Trang 16

15

BÀI 2 VAI TRÒ, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC CỦA

NGƯỜI ĐIỀU DƯỠNG

MỤC TIÊU

Sau khi học xong sinh viên có khả năng:

1 Trình bày được vai trò của người Điều dưỡng

2 Trình bày được các chức năng của người Điều dưỡng

3 Trình bày được các nhiệm vụ của người Điều dưỡng

4 Mô tả được quy định 12 điều y đức

5 Mô tả được các yêu cầu về phẩm chất cá nhân của người Điều dưỡng

NỘI DUNG

1 Vai trò của người Điều dưỡng Việt Nam:

Người Điều dưỡng Việt Nam có ba vai trò chính

1.1 Vai trò thực hành

Do các Điều dưỡng viên sơ học, trung học trực tiếp chăm sóc người bệnh trong các bệnh viện và là thành viên của nhóm trong mạng lưới chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Vai trò thực hành được thể hiện qua các việc làm sau:

- Hỗ trợ: Người Điều dưỡng thường có mặt để hỗ trợ khi cần thiết

- Giáo dục: Hướng dẫn, tư vấn cho cộng đồng những vấn đề về sức khoẻ mà gia đình và cộng đồng có thể thực hiện được

- Làm mẫu: Người Điều dưỡng có những hành vi mẫu mực và phương pháp bảo vệ sức khoẻ

- Biện hộ: Thay mặt cho cộng đồng để trao đổi với các nhóm y tế, các tổ chức khác trong cộng đồng

- Duy trì, hỗ trợ: Đảm bảo được chăm sóc sức khoẻ liên tục

- Chuyển người bệnh: Người Điều dưỡng là cầu nối giữa cộng đồng và y tế tuyến cơ sở hoặc Phòng khám đa khoa khu vực

1.2 Vai trò giảng dạy và nghiên cứu khoa học

Người Điều dưỡng viên có thể làm công tác giảng dạy, tham gia giảng dạy và nghiên cứu khoa học

1.3 Vai trò lãnh đạo và quản lý:

Cho các Điều dưỡng trưởng đã được học qua các lớp học quản lý

2 Chức năng của người Điều dưỡng:

Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo người Điều dưỡng có hai chức năng như sau:

Trang 17

16

2.1 Chức năng chủ động:

Bao gồm những nhiệm vụ chăm sóc cơ bản thuộc phạm vi kiến thức người Điều dưỡng đã được đào tạo và có khả năng thực hiện chủ động Chức năng chủ động đáp ứng các nhu cầu cơ bản của người bệnh đã được mô tả như sau:

- Hô hấp - Ngủ và nghỉ

3 Khái niệm về y đức

Theo tiếng Hy Lạp Y đức học là một học thuyết về trách nhiệm Theo cách giải thích hiện đại của y học Liên xô cũ thì y đức học là học thuyết về các nguyên tắc ứng

xử của nhân viên y tế nhằm đạt được lợi ích tối đa cho người bệnh

Chức năng của đạo đức là để chỉ đạo hành vi, thái độ của con người Nó đưa ra các yêu cầu về thái độ của con người và nó đánh giá hành động của con người theo quan điểm lợi ích xã hội mà họ phải đảm nhiệm

Nguyên lý chính yếu của y đức học là chủ nghĩa nhân đạo, mà biểu hiện của nó trong thực tế hằng ngày là nhân phẩm của người cán bộ y tế và sự thực hiện nghĩa vụ của họ đối với con người, là điều kiện thiết yếu để điều trị thành công cho người bệnh

3.1 Định nghĩa

Y đức là đạo đức của người cán bộ y tế Đạo đức là một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội người thầy thuốc Đạo đức bắt nguồn từ những yêu cầu của sự tồn tại và phát triển xã hội, từ một tất yếu khách quan của đời sống xã hội, là điều chỉnh hành

vi của con người trong mối quan hệ xã hội để kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể

3.2 Quy định 12 điều y đức

Y đức là phẩm chất tốt đẹp của người làm công tác y tế, được biểu hiện ở tinh thần trách nhiệm, tận tụy phục vụ, hết lòng thương yêu chăm sóc người bệnh, coi họ

Trang 18

17

đau đớn như mình đau đớn, như lời Bác Hồ đã dạy "Lương y như từ mẫu"

1 Phải có lương tâm và trách nhiệm cao, hết lòng yêu nghề, luôn rèn luyện nâng cao phẩm chất của người thầy thuốc, không ngừng học tập và tiếp tục nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn gian khổ vì sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân

2 Tôn trọng pháp luật và thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn Không được sử dụng người bệnh làm thực nghiệm cho những phương pháp chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu khoa học khi chưa được phép của bộ y tế và sự chấp nhận của người bệnh

3 Tôn trọng quyền được khám bệnh, chữa bệnh của nhân dân, tôn trọng những

bí mật riêng tư của người bệnh, khi thăm khám, chăm sóc cần bảo đảm kín đáo, lịch

sự Quan tâm đến người bệnh trong viện chính sách ưu đãi xã hội, không được phân biệt đối xử với người bệnh, không có thái độ ban ơn, lạm dụng nghề nghiệp và gây phiền hà cho người bệnh Phải trung thực khi thanh toán các chi phí khám bệnh, chữa bệnh

4 Khi tiếp xúc với bệnh nhân và gia đình họ, luôn có thái độ niềm nở, tận tình, trang phục phải chỉnh tề, sạch sẽ để tạo niềm tin cho người bệnh, phải giải thích tình hình bệnh tật cho người bệnh và gia đình họ hiểu để cùng hợp tác điều trị, phổ biến cho họ về chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của người bệnh, động viên, an ủi, khuyến khích người bệnh điều trị, tập luyện để chóng hồi phục, trong trường hợp bệnh nặng hoặc tiên lượng xấu cũng phải hết lòng cứu chữa và chăm sóc tới cùng, đồng thời báo cho gia đình người bệnh biết

5 Khi cấp cứu phải khẩn trương chẩn đoán, xử trí kịp thời không được đùn đẩy người bệnh

6 Kê đơn phải phù hợp với chẩn đoán và đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, không vì lợi ích cá nhân mà giao cho người bệnh thuốc kém chất lượng, thuốc không đúng với yêu cầu và mức độ bệnh

7 Không được rời bỏ vị trí khi làm nhiệm vụ, theo dõi, xử trí kịp thời các diễn biến của người bệnh

8 Khi người bệnh ra viện phải dặn dò chu đáo, hướng dẫn họ phải tiếp tục điều trị, tự chăm sóc và giữ gìn sức khỏe

9 Khi người bệnh tử vong, phải thông cảm sâu sắc chia buồn và hướng dẫn, giúp đỡ gia đình họ làm các thủ tục cần thiết

10 Thật thà đoàn kết, tôn trọng đồng nghiệp, kính trọng các bậc thầy, sẵn sàng truyền thụ kiến thức, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau

11 Khi bản thân có thiếu sót, phải tự giác nhận trách nhiệm về mình, không đổ lỗi cho đồng nghiệp và tuyến trước

Trang 19

18

12 Hăng hái tham gia công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe, phòng chống dịch bệnh, cứu chữa người bị tai nạn, đau ốm tại cộng đồng, gương mẫu thực hiện nếp sống vệ sinh, giữ gìn môi trường trong sạch

Để thực hiện 12 điều y đức này, các cơ sở y tế phải nghiêm túc tổ chức cho toàn thể các CBVC học tập và thực hiện, nhằm mang lại sự hài lòng cho người bệnh

Do tính đặc thù của nghề nghiệp, người Điều dưỡng cần có thêm những phẩm chất, đạo đức của người trực tiếp làm công tác chăm sóc y tế

4 Phẩm chất cá nhân của người Điều dưỡng:

Phẩm chất cá nhân cao là điều kiện cần thiết để người Điều dưỡng thực hiện nghĩa vụ nghề nghiệp của mình

4.1 Phẩm chất về đạo đức

- Ý thức trách nhiệm cao: Đối tượng phục vụ của Điều dưỡng là con người

Công việc của người Điều dưỡng liên quan chặt chẽ tới cuộc sống, tính mạng và hạnh phúc của người bệnh Mọi sự cẩu thả, sơ xuất đều có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng Người Điều dưỡng phải thấu hiểu sâu sắc và phải rèn luyện thường xuyên để nâng cao ý thức trách nhiệm của mình

- Đức tính trung thực: Trung thực tuyệt đối là một trong những nét cơ bản trong

tính cách của người Điều dưỡng Thực hiện các chức năng Điều dưỡng: chủ động và phối hợp Người Điều dưỡng có mối quan hệ chặt chẽ với người bệnh, với đồng nghiệp dựa trên cơ sở lòng tin

- Sự ân cần và cảm thông sâu sắc: Người Điều dưỡng phải thấu hiểu, cảm thụ

được nỗi đau đớn của người bệnh như nỗi đau của chính mình Trong công việc phải tận tụy, ân cần chăm sóc người bệnh Tuy nhiên không được để tình cảm gây trở ngại đến công việc

- Tính mềm mỏng và nguyên tắc: Điều dưỡng phải biết xem xét, đánh giá đặc

điểm, tính cách cá nhân của từng người bệnh trong mọi giai đoạn của bệnh Phải là nhà tâm lý học, có tính dễ gần, chan hoà, đồng thời phải biết đòi hỏi yêu cầu cao, có nguyên tắc Tính tình cau có, khô khan, thiếu cởi mở hoặc đùa cợt không đúng chỗ, xuồng xã sẽ làm cho người Điều dưỡng mất uy tín trước người bệnh, đồng nghiệp

- Tác phong khẩn trương và tự tin: Tính khẩn trương là một yêu cầu và phẩm

chất của cán bộ y tế Nhiệm vụ của cán bộ y tế là đấu tranh cho sự sống của con người Chậm trễ, thiếu tự tin sẽ làm mất cơ hội cứu sống người bệnh Vì vậy, người Điều dưỡng phải khẩn trương, bình tĩnh, tự tin trong công việc Không được vội vàng, hấp tấp dễ gây hậu quả xấu cho người bệnh

- Lòng yêu nghề: Người Điều dưỡng say mê nghề nghiệp sẽ không ngừng học

tập nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức hiện đại, khắc phục được khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình

Trang 20

Quần áo nhàu nát, tóc rối bù hoặc trang điểm sặc sỡ, móng tay bôi sơn và để dài

sẽ gây tổn hại đến uy tín của cán bộ y tế, đặc biệt đối với người đang chịu đau đớn, người nghèo khổ sẽ là cảm giác mâu thuẫn, căng thẳng, sự thiệt thòi trong cuộc sống Môi trường bệnh viện, nhân viên bệnh viện không được gây cho người bệnh cảm giác buồn chán Người Điều dưỡng không được phép để các mùi khó chịu như

mồ hôi, nước hoa, mùi rượu… gây phản ứng khó chịu cho người bệnh

4.3 Phẩm chất về trí tuệ

Phẩm chất về trí tuệ bao gồm: Khả năng nhận định và đánh giá tình trạng người bệnh, kỹ năng thành thạo, khả năng nghiên cứu và cải tiến, khôn khéo trong công tác Ngành Điều dưỡng đã phát triển, trở thành một ngành riêng Người làm công tác Điều dưỡng được đào tạo có hệ thống, trình độ đào tạo đã được nâng cao Những kiến thức về nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh và các phương pháp điều trị, dự phòng bệnh cho phép người Điều dưỡng thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, điều trị người bệnh, theo dõi người bệnh có ý thức, có cơ sở khoa học, giảm bớt được những sai sót trong khám chữa bệnh

Điều dưỡng là khoa học chăm sóc người bệnh Những đề tài nghiên cứu khoa học, những sáng kiến cải tiến Điều dưỡng sẽ giúp cho khoa học Điều dưỡng, thực hành Điều dưỡng phát triển lên trình độ cao hơn Người dân, người bệnh được hưởng chăm sóc y tế tốt hơn

Người Điều dưỡng phải thực hiện thành thạo các kỹ năng tiếp xúc, giao tiếp với người bệnh Thực hiện thành thạo các kỹ thuật chăm sóc, khôn khéo trong công việc, trong quan hệ với đồng nghiệp, với môi trường xung quanh, như người nghệ sĩ trong nghệ thuật chăm sóc sức khỏe cho nhân dân

5 Nghĩa vụ nghề nghiệp của người Điều dưỡng:

5.1 Với người bệnh

Nghĩa vụ nghề nghiệp của người Điều dưỡng với người bệnh dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau:

5.1.1 Không được từ chối giúp đỡ người bệnh

Người Điều dưỡng phải sẵn sàng quên mình để giúp đỡ người bệnh trong bất cứ hoàn cảnh, thời gian nào, luôn nhớ rằng người bệnh là người đang gặp tai họa, đe doạ đến tính mạng, đang cần sự quan tâm giúp đỡ đặc biệt của người cán bộ y tế Từ chối

Trang 21

20

giúp đỡ người bệnh là vi phạm nghĩa vụ xã hội, phải chịu sự lên án về mặt đạo đức,

sự trừng phạt của pháp luật

5.1.2 Giúp người bệnh loại trừ các đau đớn về thể chất

Người Điều dưỡng phải luôn thông cảm và thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến nỗi đau đớn của người bệnh, coi đó là nỗi đau của chính mình Trong khi thực hiện các kỹ thuật chăm sóc điều trị phải nhẹ nhàng, nhanh chóng làm giảm đến mức thấp nhất nỗi đau đớn của người bệnh

5.1.3 Không được bỏ mặc người bệnh

Người Điều dưỡng có nhiệm vụ đấu tranh vì sự sống của người bệnh đến cùng, với tinh thần “còn nước, còn tát”, “cứu bệnh như cứu hoả” Không được rời bỏ vị trí trong khi làm nhiệm vụ, không được để người bệnh một mình đối phó, vật lộn với bệnh tật, cũng không được nhờ cậy người nhà, người quen chăm sóc người bệnh Trước mọi nhu cầu về thể chất của người bệnh, người Điều dưỡng phải linh hoạt đáp ứng với thái độ nghề nghiệp và tinh thần trách nhiệm cao

5.1.4 Hỗ trợ về tinh thần cho người bệnh

Người bị bệnh thường lo lắng, đôi khi chán nản, suy sụp tinh thần, người bệnh phải nằm viện, cách ly với gia đình và người thân, môi trường bệnh viện… là các yếu

tố ảnh hưởng đến tinh thần người bệnh Người Điều dưỡng phải gây được niềm tin cho người bệnh ngay từ khi tiếp xúc, để người bệnh tin tưởng, yên tâm chữa bệnh Mọi hành vi, thái độ, lời nói gây chấn thương tinh thần cho người bệnh đều bị lên án,

xử phạt

Những trường hợp người bệnh nặng, người bệnh trong giai đoạn cuối thường hay suy xét về quá khứ, về hiện tại và tương lai của chính họ, gia đình, xã hội, về vật chất, tinh thần… người Điều dưỡng phải thông cảm dành cho họ sự quan tâm chăm sóc đặc biệt

5.1.5 Tôn trọng nhân cách của người bệnh

Trong xã hội hiện đại, mọi người dân đều có quyền được hưởng các dịch vụ chăm sóc y tế Người bệnh thuộc nhiều thành phần khác nhau, có vị trí xã hội, tôn giáo, phong tục tập quán, nhân cách khác nhau Người Điều dưỡng phải tôn trọng mọi giá trị nhân cách của người bệnh Phải niềm nở, mềm mỏng khi tiếp xúc với người bệnh Không được gọi người bệnh là ông kia, bà kia, không được quát mắng, cáu gắt, dọa nạt người bệnh Không được phân biệt đối xử với người bệnh

5.1.6 Giữ bí mật những điều riêng tư của người bệnh

Người bệnh khi đã tin tưởng nhân viên y tế, thường tâm sự, trao đổi những điều riêng tư Người Điều dưỡng phải tuyệt đối giữ kín, không được để lộ gây tổn hại đến niềm tin của họ Tình trạng bệnh tật của người bệnh cũng cần được giữ kín, chỉ nên thông báo cho người bệnh ở thời điểm thích hợp

Trang 22

Trong toàn bộ quá trình chăm sóc người bệnh, Điều dưỡng phải cộng tác thân ái

và giúp đỡ lẫn nhau, hỗ trợ lẫn nhau, thiết lập bàn không khí hòa thuận trong tập thể, cùng nhau giành giật sự sống cho người bệnh

5.2.2 Tôn trọng lẫn nhau

Môi trường làm việc của Điều dưỡng có nhiều thành phần: Bác sĩ, Dược sĩ, Điều dưỡng với nhiều trình độ khác nhau,… nhưng cùng chung một nhiệm vụ là chăm sóc, điều trị người bệnh Tôn trọng người khác, tế nhị trong ứng xử có ý nghĩa quyết định trong thiết lập các mối quan hệ Điều dưỡng không được phép cãi nhau, xúc phạm, chê bai lẫn nhau trước mặt người bệnh

5.2.3 Phê bình có thiện chí

Phê bình rất cần thiết trong công tác cũng như trong cuộc sống, làm cho con người tiến bộ, hoàn thiện hơn Phê bình, góp ý phải có thiện chí, tức là Điều dưỡng phải tế nhị, khôn khéo trong phê bình và tiếp thu phê bình Người có khuyết điểm tiếp thu được ý kiến của cá nhân, tập thể để sửa chữa, khắc phục Tập thể đoàn kết, không khí làm việc vui vẻ, thân mật chăm sóc người bệnh sẽ tốt hơn

5.2.4 Truyền thụ kinh nghiệm

Người Điều dưỡng có nhiều năm công tác thường đúc ra nhiều kinh nghiệm, có nghĩa vụ truyền lại những kinh nghiệm ấy cho lớp trẻ Điều dưỡng mới ra trường cần học hỏi, cần sự chỉ bảo giúp đỡ của nhiều người khác để đảm bảo an toàn tính mạng cho người bệnh Thường xuyên trao đổi học hỏi lẫn nhau là điều rất thiết thực với người Điều dưỡng hiện đại

5.3 Với nghề nghiệp

- Người Điều dưỡng có trách nhiệm cá nhân khi hành nghề, phải tôn trọng luật pháp Không được hành nghề khi chưa được phép, không được hành nghề vượt quá quy định của pháp luật

- Phải luôn giữ vững tư cách đạo đức, mang lại uy tín cho nghề nghiệp, không được vì lợi ích trước mắt làm mất nhân phẩm của bản thân, uy tín của nghề Điều dưỡng

- Không ngừng học tập nâng cao trình độ: Nền y học thế giới ngày càng phát triển, đòi hỏi người Điều dưỡng phải liên tục học tập để nâng cao kiến thức, trình độ

Trang 23

22

và kỹ năng chăm sóc Không được thoả mãn, chủ quan mà phải khiêm tốn, kiên trì học tập để tiếp thu các kiến thức mới, hiện đại

- Duy trì các tiêu chuẩn chăm sóc cao nhất trong từng hoàn cảnh, điều kiện thực

tế, Điều dưỡng phải biết vận dụng khắc phục khó khăn, triển khai, tìm mọi cách để công tác chăm sóc người bệnh đạt tiêu chuẩn cao nhất

5.4 Người Điều dưỡng với xã hội

- Hoà nhập với cộng đồng: Người Điều dưỡng là một thành viên trong xã hội, nghề Điều dưỡng hiện nay ngang bằng với các nghề khác Phát huy vai trò Điều dưỡng trong cộng đồng là góp phần vào công tác nâng cao sức khỏe cho nhân dân

- Tìm hiểu hoàn cảnh xã hội, phong tục tập quán, tôn giáo, thói quen, cơ cấu xã hội, người Điều dưỡng sẽ có điều kiện để đề ra các biện pháp phù hợp và thực hiện

kế hoạch chăm sóc tốt hơn

- Người Điều dưỡng có trách nhiệm cùng tham gia, hỗ trợ các hoạt động chăm sóc y tế trong khuôn khổ cho phép để đáp ứng các nhu cầu sức khoẻ của xã hội, của nhân dân

LƯỢNG GIÁ

1 Trình bày các chức năng của người Điều dưỡng

2 Trình bày vai trò của người Điều dưỡng

3 Nêu định nghĩa y đức?

4 Nêu 3 phẩm chất cá nhân của người Điều dưỡng?

5 Trình bày nghĩa vụ người Điều dưỡng với người bệnh?

6 Trình bày nghĩa vụ người Điều dưỡng với đồng nghiệp?

6 Trình bày nghĩa vụ người Điều dưỡng với nghề nghiệp?

7 Trình bày nghĩa vụ người Điều dưỡng với xã hội

Trang 24

23

BÀI 3 HỌC THUYẾT ĐIỀU DƯỠNG

MỤC TIÊU:

Sau khi học xong bài này sinh viên có khả năng:

1 Giải thích ảnh hưởng của học thuyết Điều dưỡng đối với cách tiếp cận thực hành Điều dưỡng

2 Mô tả các học thuyết Điều dưỡng

3 Mô tả mối liên quan giữa học thuyết Điều dưỡng, quy trình Điều dưỡng

và nhu cầu của người bệnh

4 Thảo luận một số học thuyết Điều dưỡng

NỘI DUNG

Cung cấp chăm sóc Điều dưỡng có chất lượng và dựa vào bằng chứng là mong muốn của tất cả Điều dưỡng Bạn sẽ học được cách áp dụng kiến thức từ khoa học Điều dưỡng, khoa học y sinh học cơ bản, khoa học hành vi, đạo đức và chính sách y tế

Để tập trung vào đáp ứng chức năng, giai đoạn đối với vấn đề y tế, thực hành Điều dưỡng dựa trên kiến thức là cần thiết để thiết kế và thực hiện các can thiệp Điều dưỡng

để đạt được nhu cầu của người bệnh Thông thường ban đầu bạn sẽ thấy rất khó hiểu

về khoa học Điều dưỡng Tuy nhiên khi kiến thức về các học thuyết được tăng lên, bạn

sẽ thấy rằng các học thuyết giúp mô tả, giải thích và/ hoặc mô tả biện pháp chăm sóc

Ví dụ: học thuyết Điều dưỡng giúp bạn cách để giao tiếp với người bệnh và người nhà Kiến thức khoa học từ các hoạt động này sẽ mở rộng hiểu biết về nghề Điều dưỡng Học thuyết cung cấp cho người Điều dưỡng một nền tảng tư duy cơ bản về tại sao người Điều dưỡng lại sử dụng can thiệp đặc thù và làm như thế nào Trình độ chuyên môn của Điều dưỡng là kết quả của thu nhận kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn về lâm sàng Nghề Điều dưỡng đòi hỏi phải hiểu được tình huống lâm sàng để đưa ra lập luận lâm sàng làm cốt lõi cho chăm sóc Điều dưỡng và là cơ sở cho thực hành Điều dưỡng cấp cao và khoa học Điều dưỡng (Benner & Canner, 1987) Bạn sẽ học từ khái niệm và ngày càng quen dần với các học thuyết Điều dưỡng để áp dụng kiến thức vào thực tế Các học thuyết Điều dưỡng hiện nay là nền tảng cho tiếp cận chăm sóc sức khỏe cho người bệnh

1 Ngành Điều dưỡng

Nói về một ngành là nói về một nghề Nghề bao gồm chủ thể, các khái niệm trung tâm, giá trị, niềm tin, hiện tượng quan tâm và vấn đề trọng tâm của một môn học Nghề Điều dưỡng cung cấp thực hành và kiến thức bao gồm lịch sử Điều dưỡng; học thuyết Điều dưỡng, giáo dục Điều dưỡng; thực hành và nghiên cứu Điều dưỡng Ngành Điều dưỡng cung cấp cách thức và xác định nhu cầu và điều trị cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người bệnh tất cả các tuyến, tất cả môi trường thực hành y tế

Trang 25

Hình 4.1: Mô hình tứ trụ Điều dưỡng

Con người: Là đối tượng của chăm sóc Điều dưỡng bao gồm cá nhân người

bệnh; gia đình và cộng đồng Con người là trung tâm chăm sóc Điều dưỡng mà bạn cung cấp Vì nhu cầu của con người rất phức tạp nên cung cấp Điều dưỡng là cho từng

cá nhân riêng biệt chứ không chung chung

Sức khỏe: Có ý nghĩa khác nhau đối với từng cá nhân, môi trường lâm sàng và

ngành y tế Sức khỏe là động học và thay đổi liên tục Thách thức của bạn là cung cấp chăm sóc tốt nhất cho các nhu cầu sức khỏe của người bệnh

Con người

Môi trường

Trang 26

25

Môi trường/ tình huống: Là các điều kiện ảnh hưởng đến người bệnh và môi

trường mà chăm sóc sức khỏe cần được thực hiện Giữa con người và môi trường có

sự tương tác liên tục Tương tác có hiệu quả dương tính và âm tính đối với sức khỏe và nhu cầu chăm sóc của con người Ví dụ các yếu tố như nhà ở, trường học, cộng đồng đều ảnh hưởng đến nhu cầu sức khỏe

Trong y học, người bác sỹ chẩn đoán và điều trị bệnh Ngược lại, người Điều dưỡng là “chẩn đoán và điều trị đáp ứng của con người đối với bệnh thật sự hay một vấn đề sức khỏe có khả năng xuất hiện” (ANA, 2003) Phạm vi của Điều dưỡng rất lớn Ví dụ một người Điều dưỡng không chẩn đoán y khoa một người bệnh bị bệnh tim mạch mà chẩn đoán Điều dưỡng xem bệnh tim mạch đó ảnh hưởng đến các chức năng của cơ thể như mệt mỏi, ngủ kém, khó thích nghi với cuộc sống hàng ngày Từ các chẩn đoán Điều dưỡng này, người Điều dưỡng sẽ xây dựng một kế hoạch chăm sóc cá nhân cho từng người bệnh và từng vấn đề sức khỏe của người bệnh đó Bạn sẽ

sử dụng tư duy biện chứng để lồng ghép tất cả kiến thức, kinh nghiệm thái độ và chuẩn mực chuyên môn vào trong bản kế hoạch thực hành chăm sóc cho cá nhân người bệnh Học thuyết là một phần kiến thức giúp cho người Điều dưỡng thành công trong chăm sóc sức khỏe của người bệnh

2 Học thuyết

Học thuyết được thiết kế để giải quyết một hiện tượng như chăm sóc hay tự chăm sóc Ví dụ người Điều dưỡng sử dụng học thuyết về thiếu hụt tự chăm sóc của Orem giúp người bệnh đáp ứng được nhu cầu chăm sóc của họ Trong học thuyết này, Điều dưỡng giúp người bệnh bằng các hoạt động hỗ trợ về thể chất và tinh thần Học thuyết của Orem còn có một khung chi tiết về các khái niệm tự chăm sóc được kết nối với nhau theo cách hỗ trợ người bệnh để có được kết quả tốt hơn Học thuyết là cách tìm kiếm cách thức tương đối cụ thể về những khái niệm đặc thù và định vị nó để mô tả kết nối giữa các khái niệm”

Học thuyết Điều dưỡng là khái niệm hóa một số lĩnh vực của Điều dưỡng áp dụng để mô tả, giải thích, ước đoán hoặc mô tả chăm sóc Điều dưỡng Ví dụ học thuyết của Orem giải thích yếu tố trong một tình huống lâm sàng của người bệnh hỗ trợ hoặc can thiệp vào khả năng tự chăm sóc của người bệnh Do vậy người Điều dưỡng thực hành theo học thuyết này có thể dự đoán các yếu tố như vậy khi thiết kế một kế hoạch giáo dục cho người bệnh Học thuyết này có giá trị giúp Điều dưỡng thiết kế một can thiệp có thể thúc đẩy tự chăm sóc trong quản lý bệnh tật như tiểu đường và viêm khớp

Học thuyết Điều dưỡng cung cấp cho người Điều dưỡng cách xem xét tình huống của người bệnh, cách để thu thập và tổng hợp dữ liệu thông tin và phương pháp phân tích, diễn giải thông tin Người Điều dưỡng sử dụng học thuyết Orem trong thực hành Điều dưỡng sẽ nhận định và diễn giải thông tin liên tục để xác định nhu cầu tự chăm sóc, sự thiếu hụt khả năng tự chăm sóc của người bệnh để quản lý bệnh tật Học thuyết khi đó sẽ chỉ đạo thiết kế can thiệp Điều dưỡng cho từng cá nhân người bệnh Việc áp

Trang 27

26

dụng học thuyết vào thực tế phụ thuộc vào kiến thức và các mô hình học thuyết khác

và cách các mô hình này liên kết với nhau, sử dụng các mô hình này để thiết kế can

thiệp Điều dưỡng Điều dưỡng là một nghề thông qua học tập, là một khoa học và

nghệ thuật Người Điều dưỡng cần có học thuyết nền tảng về khoa học và nghệ thuật

Điều dưỡng để tăng cường sức khỏe của cá nhân, gia đình và cộng đồng

Hiện tượng

Giả định/

kích cỡ

Trang 28

27

- Hiện tượng: Các hoạt động Điều dưỡng tập trung vào hiện tượng và chăm sóc

Hiện tượng là một mặt của thực tế mà con người cảm nhận được hoặc trải nghiệm (Meleis, 2006) Ví dụ hiện tượng Điều dưỡng gồm chăm sóc, tự chăm sóc, đáp ứng của người bệnh với stress Trong mô hình học thuyết Điều dưỡng của Neuman (1995), hiện tượng bao gồm tất cả các đáp ứng của người bệnh, các yếu tố môi trường và hoạt động Điều dưỡng

- Khái niệm: Một hoạt động Điều dưỡng bao gồm các khái niệm tương tác với

nhau, những khái niệm này có thể đơn giản, phức tạp và liên quan đến một thực thể hoặc sự kiện từ các kinh nghiệm hiểu biết cá nhân (Tomey & Alligood, 2006) Đó là ý tưởng và tưởng tượng về tinh thần Khái niệm giúp mô tả hay mã hóa hiện tượng Sử dụng mô hình Neuman (1995) là một ví dụ về tồn tại các khái niệm tác động lên hệ thống của người bệnh

Hệ thống người bệnh là cấu trúc mở bao gồm các yếu tố bên trong và bên ngoài (Tomey & Aliwood, 2008) Các yếu tố này là sinh lý, tâm lý, văn hóa – xã hội và môi trường có thể liên quan đến sức khỏe, hạnh phúc, phòng chống stress và cơ chế đề kháng, bảo vệ (Meleis, 2006)

- Định nghĩa: Định nghĩa trong một học thuyết giao tiếp có ý nghĩa chung của

các khái niệm Định nghĩa này mô tả hoạt động cần thiết để đo lường khái niệm, mối quan hệ và các biến trong một học thuyết (Chinn &Kamer, 2004) Ví dụ mô hình hệ thống Neuman sử dụng cách tiếp cận hệ thống để mô tả cách người bệnh phản ứng với các stress trong môi trường nội sinh và ngoại sinh Người Điều dưỡng sử dụng học thuyết Neuman trong thực hành Điều dưỡng sẽ tập trung chăm sóc về các đáp ứng với các stress (Meleis, 2006) Ví dụ một người bệnh đảm nhiệm một vai trò mới trong công ty của mình có thể phản ứng với yếu tố stress này bằng một chế độ ăn không hợp

lý Trong tình huống này, người Điều dưỡng tập trung vào đáp ứng về stress và thiết

kế can thiệp liên quan đến cải thiện dinh dưỡng hợp lý

- Giả định: Giả định là một mệnh đề “dùng tạm thời” để giải thích bản chất của

một khái niệm, định nghĩa, mục đích, mối quan hệ và cấu trúc của một học thuyết (Chinn & Kramer, 2004) Ví dụ trong mô hình của hệ thống Neuman thì giả định bao gồm các thứ dưới đây: Người bệnh là động học; mối quan hệ giữa khái niệm học thuyết ảnh hưởng đến cơ chế bảo vệ và xác định đáp ứng của người bệnh Người bệnh

có đáp ứng bình thường Các yếu tố stress tấn công hệ thống bảo vệ và vẫn nằm trong mức độ tấn công, phòng vệ bình thường và hoạt động của Điều dưỡng tập trung vào phòng chống cấp 1, cấp 2 và cấp 3 (Neuman 1975)

3 Các loại học thuyết

Mục đích chung cho một học thuyết rất quan trọng bởi vì nó đặc trưng cho ngữ cảnh và tình huống mà học thuyết đó áp dụng (Chinn & Kramer, 2004) Các học

Trang 29

28

thuyết có mục đích khác nhau và đôi khi được phân loại bằng tính trừu tượng (các học thuyết lớn đối ngược với học thuyết trung bình) hoặc mục đích của học thuyết Học thuyết mô tả dự đoán hoặc mô tả các hoạt động cho hiện tượng quan tâm

3.1 Học thuyết lớn:

Là học thuyết rộng về phạm vi, phức tạp và do vậy đòi hỏi nhiều hơn các đánh giá đặc thù thông qua các nghiên cứu Một học thuyết lớn không cung cấp các hướng dẫn cụ thể cho các can thiệp đặc thù mà cung cấp một khung cấu trúc cho một ý tưởng trừu tượng rộng lớn về Điều dưỡng (Fawcett, 2005) Ví dụ mô hình Neuman là một học thuyết lớn cung cấp một nền tảng phức hợp rộng lớn cho thực hành Điều dưỡng, khoa học Điều dưỡng, giáo dục và nghiên cứu (Walker & Avant, 2005)

3.2 Học thuyết trung bình

Hạn chế hơn về phạm vi và ít trừu tượng, tập trung vào một hiện tượng đặc hiệu

và phản ánh thực hành Điều dưỡng Hiện tượng trong các học thuyết thường bắt chéo giữa các lĩnh vực Điều dưỡng khác và phản ánh sự đa dạng của tình huống chăm sóc Điều dưỡng như tính không chắc chắn, không liên tục, hỗ trợ xã hội, chất lượng chăm sóc và chăm sóc (Meleis, 2006) Ví dụ học thuyết của Mishel về tính không chắc chắn trong bệnh tật (1988, 1990) tập trung vào kinh nghiệm của người bệnh ung thư với cuộc sống không chắc chắn, không lường trước được Học thuyết cung cấp cơ sở hỗ trợ người bệnh thích nghi với tính chất đột ngột, mơ hồ của đáp ứng với bệnh ung thư

3.3 Học thuyết có tính mô tả:

Là các cập độ đầu tiên của phát triển hệ thống mô tả hiện tượng, lý giải tại sao hiện tượng đó lại xảy ra và mô tả hậu quả các hiện tượng Các học thuyết này giải thích liên quan và trong một số tình huống dự đoán được hiện tượng Điều dưỡng (Meleis, 2007) Ví dụ học thuyết về phát triển và trưởng thành mô tả quá trình lớn lên

và trưởng thành của một người ở các lứa tuổi khác nhau Các học thuyết mô tả không chỉ đạo dẫn dắt các hoạt động Điều dưỡng nhưng giúp để nhận định người bệnh

3.4 Học thuyết có tính can thiệp:

Tập trung vào can thiệp cho một hiện tượng và dự đoán hậu quả của một can thiệp Điều dưỡng Trong Điều dưỡng, học thuyết can thiệp thiết kế các điều kiện để một can thiệp xảy ra cùng với các hậu quả (Meileis, 2006) Học thuyết can thiệp là các hoạt động định hướng và thử nghiệm tính giá trị và tính dự báo của can thiệp Các học thuyết này dẫn dắt nghiên cứu Điều dưỡng để xây dựng và thử nghiệm các can thiệp Điều dưỡng Ví dụ học thuyết của Mishel về sự không chắc chắn, không dự đoán được của bệnh tật để nâng cao kỹ năng thích nghi của người bệnh bị ung thư phụ khoa sẽ hỗ trợ khả năng người bệnh chống lại tính không chắc chăn của chẩn đoán và điều trị ung thư (Mishel, 1997) Như vậy học thuyết cung cấp một bộ khung để thiết kế can thiệp Điều dưỡng để nâng cao khả năng và nguồn lực thích ứng của người bệnh

 Xác định nghề nghiệp và mục đích Điều dưỡng

 Cung cấp kiến thức để cải thiện quản lý, thực hành, giáo dục và nghiên cứu

Trang 30

29

khoa học Điều dưỡng

 Hướng dẫn nghiên cứu và mở rộng cơ sở kiến thức về Điều dưỡng

 Xây dựng, thiết lập luật pháp để điều hành thực hành, nghiên cứu và giáo dục Điều dưỡng

 Xây dựng và phát triển chương trình đào tạo Điều dưỡng

 Dẫn dắt, chỉ đạo cho hệ thống dịch vụ chăm sóc Điều dưỡng

 Cung cấp cấu trúc hệ thống, lý giải, lập luận của hoạt động Điều dưỡng

4 Mối liên quan của học thuyết với thực hành Điều dưỡng

Điều dưỡng hiện đang là một ngành nghề phát triển liên tục, nhanh chóng trong những thập niên 90 của thế kỷ XX cho đến nay Các kiến thức cần thiết để mô tả chăm sóc Điều dưỡng đặc thù sẽ cải thiện kết quả của người bệnh, các học thuyết Điều dưỡng và các khái niệm hiện đang thăng hoa Florence Nightingale đã nói với sự khẳng định về “bản chất của Điều dưỡng là một nghề hoàn toàn khác biệt với nghề của bác sỹ” (Nightingale, 1860) Mục đích cuối cùng của kiến thức Điều dưỡng là để giải thích thực hành Điều dưỡng là hoàn toàn khác biệt và tách biệt với thực hành bác sỹ, nghề tâm lý và công việc xã hội (Chinn & Kramer, 2004)

Học thuyết tạo ra kiến thức Điều dưỡng để sử dụng trong thực hành Điều dưỡng Lồng ghép học thuyết và thực hành là nền tảng của nghề Điều dưỡng (McEwen & Wills, 2007) Quy trình Điều dưỡng được sử dụng trong lâm sàng để xác định nhu cầu của cá nhân người bệnh Mặc dù quy trình Điều dưỡng là trung tâm đối với Điều dưỡng nhưng nó không phải là học thuyết Điều dưỡng Nó cung cấp một quy trình hệ thống để cung cấp dịch vụ chăm sóc Điều dưỡng chứ không phải là kiến thức của môn học Điều dưỡng

Ví dụ: Một học thuyết có thể ảnh hưởng đến nhận định cái gì, xác định nhu cầu của người bệnh như thế nào; cách lập kế hoạch chăm sóc, cách chọn các can thiệp Điều dưỡng cho từng cá nhân con người và cách đánh giá kết quả của người bệnh Một học thuyết Điều dưỡng tốt phải thích ứng và điều chỉnh theo các người bệnh khác nhau trong toàn bộ hệ thống dịch vụ chăm sóc Điều dưỡng

5 Các học thuyết đa ngành

Trong thực tế của hệ thống dịch vụ y tế hiện nay Điều dưỡng đang cần các kiến thức khoa học mạnh mẽ từ ngành Điều dưỡng và các ngành khác của khoa học sức khỏe như khoa học về thể chất, văn hóa xã hội và khoa học hành vi Kiến thức của các ngành này có các học thuyết để giải thích hiện tượng Một học thuyết đa ngành giải thích cách nhìn một cách hệ thống cho một hiện tượng đặc thù cho một yêu cầu môn học Ví dụ học thuyết của Piaget về phát triển nhận thức giúp giải thích trẻ em suy nghĩ, tư duy và cảm nhận thế giới

5.1 Hệ thống học thuyết

Một hệ thống là do nhiều thành tố đóng góp lại mà thành Các thành tố có mối tương tác và chia sẻ mục đích chung để tạo thành một tổng thể Có hai hệ thống: (i) hệ

Trang 31

30

thống đóng và (ii) hệ thống mở Một hệ thống mở như cơ thể con người hay quy trình như quy trình Điều dưỡng tương tác với môi trường, trao đổi thông tin giữa hệ thống với môi trường Các yếu tố làm thay đổi môi trường sẽ ảnh hưởng đến hệ thống Hệ thống đóng như một phản ứng hóa học xảy ra trong ống nghiệm không tương tác với môi trường

Cũng giống như các học thuyết khác, quy trình Điều dưỡng có mục đích và mục tiêu đặc biệt Mục đích của quy trình Điều dưỡng là tổ chức và cung cấp cách tiếp cận

có tính cá thể cho chăm sóc Điều dưỡng Là một hệ thống nên quy trình Điều dưỡng

có các thành tố sau: (i) đầu vào; (ii) đầu ra; (iii) phản hồi và (iv) nội dung (Hình 4.3) Đầu vào trong quy trình Điều dưỡng là thông tin hay dữ liệu lấy từ nhận định người bệnh (ví dụ cách bệnh nhân tương tác với môi trường, các chức năng sinh lý của người bệnh) Đầu ra là sản phẩm của một hệ thống và trong trường hợp quy trình Điều dưỡng thì đó là tình trạng sức khỏe của người bệnh được cải thiện hay ổn định do kết quả của chăm sóc Điều dưỡng

5.2 Phản hồi

Dùng để thông báo cho một hệ thống về chức năng của nó Ví dụ trong quy trình Điều dưỡng thì kết quả phản hồi đáp ứng của người bệnh với can thiệp Điều dưỡng Nội dung là sản phẩm và thông tin từ hệ thống Ví dụ nội dung là thông tin về chăm sóc Điều dưỡng cho người bệnh có các vấn đề sức khỏe Một số học thuyết Điều dưỡng sử dụng một hệ thống học thuyết làm cơ sở Ví dụ như Neuman (1995) đã định nghĩa một mô hình tổng thể và cách tiếp cận cho hệ thống mở Trong hệ thống mở, con người tương tác với môi trường Môi trường có môi trường bên trong và môi trường bên ngoài và con người tương tác với các yếu tố stress từ môi trường có thể ảnh hưởng đến cuộc sống của người bệnh

5.3 Nhu cầu cơ bản của con người

Tháp nhu cầu của Maslow là một học thuyết liên ngành dùng để xác định ưu tiên trong chăm sóc Điều dưỡng Tháp nhu cầu cơ bản có 5 mức độ được xếp từ theo thứ tự

ưu tiên từ dưới lên trên

Trang 32

31

Tháp Hình 4.4 Nhu cầu của Maslow

Tháp nhu cầu Maslow rất hữu ích khi lựa chọn ưu tiên Các nhu cầu thể chất (oxy, nước, thức ăn ) và an toàn là các nhu cầu có ưu tiên số 1 đặc biệt khi người bệnh đang trong tình trạng phụ thuộc về thể chất, ốm yếu Tuy nhiên có trường hợp người bệnh không đòi hỏi nhiều về thể chất mà quan tâm đến các nhu cầu về tinh thần, văn hóa xã hội, phát triển và tâm linh Có một nguyên tắc trong tháp Maslow là khi các nhu cầu được đáp ứng hoặc một phần thì mới xuất hiện nhu cầu mức cao hơn

Người bệnh trong một hệ thống chăm sóc sức khỏe thường có các nhu cầu chưa được đáp ứng Ví dụ một người bệnh đến phòng cấp cứu vì viêm phổi cấp và cần được thở oxy ngay lập tức (nhu cầu cấp thiết nhất) Một phụ nữ ở nơi không có nhiều tội phạm vẫn có nhu cầu về an toàn ngay khi bà ấy ở tại bệnh viện vì bà ta lo bị kẻ trộm viếng thăm nhà Một người góa phụ khi các con đã trưởng thành và ở riêng sẽ buồn rầu vì thấy mình bị bỏ rơi, không ai chăm sóc, cô đơn trong cõi đời này Người Điều dưỡng luôn cố gắng để giúp đỡ người bệnh đáp ứng được nhu cầu Tháp nhu cầu là một cách để lập kế hoạch chăm sóc cho một cá nhân người bệnh Từng nhu cầu có vị trí ưu tiên so với nhu cầu khác như thở oxy là cấp thiết nhất rồi đến các can thiệp khác

5.4 Các học thuyết phát triển

Con người sinh ra, lớn lên và về già là một quy luật bắt đầu bằng khái niệm kết thúc bằng cái chết Có nhiều học thuyết mô tả, dự báo hành vi phát triển trong suốt giai đoạn cuộc đời

Trang 33

32

5.5 Học thuyết về tâm lý, tinh thần

Điều dưỡng là một ngành nghề nhằm giúp người bệnh đạt được các nhu cầu về thể chất, tinh thần, văn hóa xã hội và tâm linh của Các các học thuyết giúp giải thích/dự đoán đáp ứng của người bệnh

6 Một số học thuyết Điều dưỡng chọn lọc

Định nghĩa và học thuyết Điều dưỡng giúp chúng ta hiểu được thực hành Điều dưỡng Các học thuyết sẽ được mô tả cụ thể như sau:

Bảng 4.1: Tổng hợp các học thuyết Điều dưỡng

ĐIỀU DƯỠNG

NỀN TẢNG CHO THỰC HÀNH Nightingale

1860

Thay đổi “quá trình can thiệp

cơ thể thành môi trường của người bệnh”

Điều dưỡng phải can thiệp vào môi trường của người bệnh gồm có ít tiếng ồn, dinh dưỡng, ánh sáng, xã hôi hóa, hy vọng

Điều dưỡng giúp người bệnh thực hiện 14 nhóm nhu cầu của Henderson 1966

Abdellah

1960

Điều dưỡng cung cấp dịch vụ cho cá nhân, gia đình và cộng đồng luôn chăm sóc tốt nhất nhưng vẫn thông minh, năng lực

và chuẩn bị kiến thức để cung cấp dịch vụ chăm sóc (Tomey, 2006)

Học thuyết này bao gồm 21 vấn đề Điều dưỡng (Abdlah &

Con người là thống nhất trong suốt quá trình sống Người bệnh thay đổi liên tục và tồn tại với môi trường

Trang 34

về sinh y học, tinh thần, phát triển và xã hội (Orem, 2001)

King

1971

Sử dụng giao tiếp để giúp người bệnh giao tiếp và thích nghi dương tính với môi trường

Điều dưỡng là một quá trình tương tác động học giữa Điều dưỡng, người bệnh và hệ thống

y tế

Neuman

1972

Hỗ trợ cá nhân, gia đình tập thể để có được và duy trì tối đa hạnh phúc bằng các can thiệp có chủ đích

Giảm stress là mục tiêu của thực hành Điều dưỡng Điều dưỡng là phòng chống bệnh tật ở

3 mức độ: mức độ 1,2,3 (Neuman 1995)

Lenigher

1978

Cung cấp chăm sóc và kế hoạch Điều dưỡng là trọng tâm (Chinn& Kramer, 2004)

Với học thuyết đa văn hóa thì chăm sóc là trọng tâm của kiến thức và thực hành Điều dưỡng

Roy

1979

Xác định loại nhu cầu của người bệnh, nhận định về thích nghi đối với yêu cầu và giúp người bệnh thích nghi với tình huống mới

Mô hình thích nghi dựa trên phòng chống các yếu tố gây hại

về thể chất, tinh thần, xã hội (Roy, 1980)

Watson

1979

Củng cố sức khỏe về phòng chống bệnh tật

Đưa triết lý và xã hội vào chăm sóc Điều dưỡng là một quá trình tương tác giữa con người với các đáp ứng cho nhu cầu con người

6.1 Học thuyết Nightingale (1860)

Một trong những đóng góp to lớn đối với nghề Điều dưỡng là tạo ra mô hình học thuyết Điều dưỡng đầu tiên trên thế giới (Meleis, 2006) Nightingale là người đưa ra

khái niệm môi trường là trung tâm của chăm sóc Điều dưỡng Bà cũng là người đầu

tiên muốn phân biệt rõ ràng về nghề nghiệp giữa người Điều dưỡng và người bác sỹ

Bà nhìn nhận người Điều dưỡng không chỉ tập trung vào dùng thuốc hoặc hỗ trợ điều trị cho người bệnh dưới chỉ định của bác sỹ mà công việc chính của người Điều dưỡng

Trang 35

34

tập trung vào cung cấp không khí trong sạch, ánh sáng, sự ấm áp, sạch sẽ, yên tĩnh và đầy đủ dinh dưỡng Thông qua quan sát thu thâp thông tin bà đã kết nối tình trạng sức khỏe của người bệnh với các yếu tố môi trường và đề xuất cải thiện vệ sinh và môi trường trong cuộc chiến tại bán đảo Crimea

“Học thuyết mô tả Nightigale cung cấp cho người Điều dưỡng cách nghĩ về người bệnh và môi trường Những lá thư của bà gửi cho Điều dưỡng hãy làm việc với

tư cách của một người bệnh Các nguyên lý và tầm nhìn của bà đã đưa ra các lĩnh vực thực hành Điều dưỡng, nghiên cứu và giáo dục Điều dưỡng (Tomey & Alligood, 2006) Quan trọng hơn cả là bà đã dạy học bằng quy trình Điều dưỡng và điêu quan trong là quan sát trực tiếp (nhận định) không phải chỉ là để thu thâp thông tin để thỏa mãn sự tò mò mà là để cứu sống và nâng cao sức khỏe của người bệnh

6.2 Học thuyết Pelau (1952)

Học thuyết Pelau tập trung vào cá nhân người bệnh, người Điều dưỡng và quá trình tương tác Mục đích của Điều dưỡng là giáo dục người bệnh để đạt được phát triển nhân cách của một người trưởng thành

Khi xây dựng mối quan hệ Điều dưỡng - người bệnh, người Điều dưỡng được coi

là một người hỗ trợ, tư vấn và ủng hộ người bệnh Ví dụ khi người bệnh tìm kiếm sự giúp đỡ của Điều dưỡng điều đầu tiên là người bệnh thảo luận bản chất của vấn đề, Điều dưỡng giải thích về dịch vụ Điều dưỡng hiện có Khi quan hệ Điều dưỡng – người bệnh tốt lên thì cả hai cùng xác định vấn đề và giải pháp Người bệnh hưởng lợi

từ mối quan hệ này bằng việc sử dụng dịch vụ để đáp ứng nhu cầu và Điều dưỡng giúp người bệnh giảm lo lắng liên quan đến vấn đề sức khỏe

Học thuyết Pelau là nhất quán Mối quan hệ hợp tác Điều dưỡng - người bệnh tạo

ra “sức mạnh trưởng thành” thông qua hiệu quả con người đạt được nhu cầu cơ bản Khi nhu cầu được giải quyết có thể xuất hiện nhu cầu mới Các giai đoạn đặc trưng cho mối quan hệ Điều dưỡng - người bệnh là: định hướng; xác định; giải thích và giải quyết (Chinn & Kramer, 2004)

6.3 Học thuyết Henderson (1955)

Virgina Henderson định nghĩa Điều dưỡng là “hỗ trợ các cá nhân đau ốm hay khỏe mạnh bằng việc tiến hành các hoạt động nhằm đem đến sự khỏe mạnh, phục hồi sức khỏe hoặc cái chết thanh thản mà một cá nhân muốn tiến hành khi cần thiết về sức khỏe, ý nguyện và kiến thức (Hammer & Henderson, 1955); (1966) Henderson sắp xếp 14 nhóm nhu cầu cơ bản bao gồm: các hiện tượng về sinh lý, tinh thần, văn hóa xã hội; tâm linh và phát triển Điều dưỡng và người bệnh làm việc cùng với nhau để đạt được các nhu cầu này

6.4 Học thuyết Roger (1970)

Matha Roger đã xác định cá nhân hay con người là một đơn vị từ trường trong vũ trụ Cá nhân con người là một đơn vị hoàn chỉnh, tương tác một cách liên tục và tạo ra các đặc điểm đa dạng lớn hơn một tổng thể các bộ phận (Roger 1970,1990) Một cá

Trang 36

35

nhân con người là một trường năng lượng 4 chiều được xác định bằng đặc điểm cho tổng thể mà không thể dự đoán từ các kiến thức riêng rẽ (Tomey & Alliwood, 2006) Học thuyết Roger 4 chiều là: (i) trường năng lượng; (ii) sự mở; (iii) mô hình tổ chức;

và tính đa chiều - hỗ trợ phát triển nguyên tắc liên quan đến phát triển con người

6.5 Học thuyết Orem (1971)

Học thuyết thiếu hụt sự chăm sóc của Dorothea Orem (1971) tập trung vào nhu cầu chăm sóc của người bệnh Orem định nghĩa chăm sóc là một hoạt động học được hướng đến mục đích điều chỉnh và duy trì cuộc sống sức khỏe và phát triển hạnh phúc Mục đích của học thuyết là giúp cho người bệnh tự chăm sóc Chăm sóc Điều dưỡng chỉ cần thiết khi người bệnh không có khả năng đáp ứng nhu cầu chăm sóc y sinh học, tâm lý, phát triển và xã hội Người Điều dưỡng xác định tại sao người bệnh lại không

có khả năng tự chăm sóc và cần làm gì để người bệnh có thể tự chăm sóc Học thuyết cũng nhấn mạnh vào xác định người bệnh tự chăm sóc được bao nhiêu Mục đích của chăm sóc Điều dưỡng là tăng tính độc lập của người bệnh để đạt được các nhu cầu này

6.6 Học thuyết Leininger (1991)

Học thuyết về tính đa dạng văn hóa (1991) nói rằng chăm sóc là quan trọng, cốt lõi, khác biệt và đặc thù của Điều dưỡng Các yếu tố xã hội như tôn giáo, chính trị, văn hóa, truyền thống là các thế lực ảnh hưởng đến mô hình bệnh tật của người bệnh

6.7 Học thuyết Roy (1959)

Sister Callista Roy nhìn nhận người bệnh như là một hệ thống thích nghi Theo

mô hình này, mục đích của Điều dưỡng là giúp người bệnh thích nghi với nhu cầu sinh

lý, cái tôi cá nhân, chức năng nhiệm vụ và quan hệ phụ thuộc giữ sự khỏe mạnh và đau

ốm (Tomey & Alligood, 2006) Nhu cầu chăm sóc sức khỏe xảy ra khi người bệnh không thể thích nghi với các yêu cầu nội sinh và ngoại sinh Tất cả cá nhân người bệnh phải thích nghi theo yêu cầu sau:

1 Đạt được các nhu cầu sinh lý cơ bản

2 Xây dựng được khái niệm “cái tôi” trong vai trò xã hội

3 Có được vai trò trong xã hội

4 Đạt được cân bằng giữa độc lập và phụ thuộc

Người Điều dưỡng xác định yêu cầu nào là vấn đề nguyên nhân của người bệnh

và nhận định đánh giá xem người bệnh thích nghi như thế nào đối với các vấn đề đó Người Điều dưỡng chăm sóc trực tiếp giúp người bệnh thích nghi Ví dụ một người bệnh sau mổ bị mất máu nhiều, hiện tại chỉ số hematocrit thấp (giảm số lượng và chất lượng hồng cầu) Cần can thiệp Điều dưỡng để hỗ trợ thích nghi với sự mệt mỏi Người Điều dưỡng thiết kế can thiệp để cho phép có thời gian phục hồi của hệ tạo máu

Trang 37

36

6.8 Học thuyết Watson (1987)

Triết lý Jean Watson về chăm sóc thông qua con người (1987) xác định kết quả của hoạt động Điều dưỡng liên quan đến các khía cạnh nhân văn của cuộc sống (Tomey&Alliwood, 2006) Mục đích của nghề Điều dưỡng là thu được và duy trì sức khỏe hoặc ra đi thanh thản của một con người Mục đích của các hoạt động Điều dưỡng là hiểu được mối quna hệ tương tác giữa sức khỏe và đau ốm và hành vi con người Watson thiết kế mô hình quy trình chăm sóc hỗ trợ người bệnh để thu được và duy trì sức khỏe Quy trình này đòi hỏi người Điều dưỡng phải hiểu biết về hành vi con người và đáp ứng với một vấn đề hiện tại hay tiềm tàng Điều dưỡng cần biết nhu cầu của con người, cách đáp ứng đối với người khác, điểm mạnh và điểm yếu của người bệnh, gia đình và đưa ra một sự cảm thông, thấu hiểu với gia đình và người bệnh Chăm sóc biểu hiện tất cả các yếu tố mà người Điều dưỡng sử dụng để cung cấp cho người bệnh

6.9 Học thuyết Benner &Wrubel (1989)

Tập trung vào chăm sóc và nhấn mạnh chăm sóc là trung tâm Chăm sóc tạo ra khả năng thích nghi kết nối với người khác và cho phép cho - nhận sự giúp đỡ (Chinn& Cramer, 2004) Chăm sóc nghĩa là hiện tượng, dự án, và các hoạt động khác đối với con người Chăm sóc thể hiện kết nối và hiện diện rộng với môi trường (chăm sóc cho một gia đình, cho một mối quan hệ, cho một cá nhân) Benner &Wrubel nhìn nhận rằng để chăm sóc một con người, Điều dưỡng cần giúp người bệnh phục hồi bằng các can thiệp thành công và hướng dẫn người chăm sóc của chính người bệnh

7 Các khái niệm cốt lõi

1 Mô hình học thuyết Điều dưỡng cung cấp kiến thức, thực hành, chỉ đạo dẫn dắt nghiên cứu và là cơ sở để xác định can thiệp Điều dưỡng, xây dựng mục đích nghề nghiệp trong thực hành Điều dưỡng

2 Học thuyết Điều dưỡng là khái niệm hóa một số mặt của giao tiếp Điều dưỡng với mục đích mô tả, giải thích, dự đoán và chi tiết hóa chăm sóc Điều dưỡng

3 Học thuyết lớn là các khung cấu trúc, phức tạp, rộng lớn và trừu tượng

4 Học thuyết trung bình thường hạn chế về phạm vi, bớt trừu tượng Các học thuyết này tập trung vào hiện tượng cụ thể và các khái niệm và thực hành Điều dưỡng

5 Tứ trụ Điều dưỡng là xác định kết nối 4 yếu tố của nghề Điều dưỡng: con người, sức khỏe, môi trường và Điều dưỡng Các học giả Điều dưỡng nhất trí 4 yếu tố này là quan trọng thiết yếu để xác định một học thuyết Điều dưỡng

6 Học thuyết giúp tạo ra kiến thức điều đưỡng dùng cho thực hành Quy trình Điều dưỡng là phương pháp áp dụng học thuyết và kiến thức Lồng ghép học thuyết và quy trình Điều dưỡng là cơ sở cốt lõi cho nghề Điều dưỡng

7 Học thuyết Điều dưỡng và học thuyết của các ngành khác giúp giải thích về vai trò, chức năng của người Điều dưỡng phù hợp với nghề Điều dưỡng

Trang 38

37

8 Các nghiên cứu để tạo ra học thuyết cố gắng phát hiện và mô tả mối quan hệ

mà không có giả định trước

9 Nghiên cứu thử nghiệm học thuyết nhằm xác định tính chính xác của học thuyết mô tả hiện tượng trong Điều dưỡng như thế nào

LƯỢNG GIÁ

1 Giải thích khái niệm về Điều dưỡng

3 Phân tích nội dung học thuyết về Orem

4 Phân tích nội dung học thuyết về Henderson

5 Phân tích nội dung học thuyết về Nightingale

6 Phân tích nội dung học thuyết Newman

Trang 39

38

BÀI 4

TƯ DUY BIỆN CHỨNG TRONG THỰC HÀNH ĐIỀU DƯỠNG

MỤC TIÊU

Sau khi học xong bài này sinh viên có khả năng:

1 Mô tả đặc điểm của người có tư duy biện chứng

2 Thảo luận được trách nhiệm của Điều dưỡng khi ra quyết định

3 Thảo luận về cách thức cải thiện thực hành Điều dưỡng

4 Thảo luận cách viết báo cáo để thúc đẩy tư duy biện chứng

5 Mô tả thành tố của mô hình tư duy biện chứng để ra quyết định lâm sàng

6 Giải thích mối quan hệ giữa kinh nghiệm lâm sàng và tư duy biện chứng

7 Giải thích mối quan hệ giữa quy trình Điều dưỡng và tư duy biện chứng

NỘI DUNG

Là người Điều dưỡng chúng ta sẽ gặp nhiều tình huống có sự tham gia của người bệnh, gia đình người bệnh, đồng nghiệp Trong mỗi tình huống đó điều quan trọng là phải có quyết định nhanh chóng và chính xác Để làm được việc đó, người Điều dưỡng phải xây dựng các kỹ năng tư duy biện chứng (critical thinking) và giải quyết vấn đề chăm sóc người bệnh mang tính gợi mở, sáng tạo, tự tin và thông thái Khi người bệnh xuất hiện những triệu chứng mới và yêu cầu can thiệp Điều dưỡng thì quan trọng là tư duy biện chứng và cân nhắc để người bệnh có được chăm sóc Điều dưỡng tốt nhất Tư duy biện chứng không phải là các bước đơn giản có thể học được một cách nhanh chóng Đây là một quá trình đạt được qua trải nghiệm, sự cam kết và sự ham học hỏi

1 Quyết định lâm sàng trong thực hành Điều dưỡng

Người Điều dưỡng chịu trách nhiệm ra các quyết định lâm sàng chính xác và phù hợp Các quyết định lâm sàng tạo ra sự khác biệt giữa người Điều dưỡng chuyên nghiệp với các cán bộ khác Điều dưỡng viên đưa ra một quyết định lâm sàng khi tình trạng người bệnh xấu đi hoặc khi người bệnh có các dấu hiệu biến chứng cần phải gọi bác sỹ can thiệp hoặc trong tình huống mà kế hoạch chăm sóc không hiệu quả cần phải điều chỉnh Benner (1984) đã mô tả quyết định lâm sàng là cách thức đưa ra một tư duy biện chứng và các hành động mang tính khoa học và tính thực tế Rất nhiều người bệnh có các vấn đề y tế không có giải pháp rõ ràng trong sách, tài liệu Mỗi vấn đề của người bệnh là sản phẩm của nhiều yếu tố gồm: sức khỏe thể chất của người bệnh, lối sống, văn hóa, quan hệ với gia đình, bạn bè, môi trường, kinh nghiệm Người Điều dưỡng chưa thể có được một bức tranh toàn cảnh về nhu cầu của người bệnh và chưa thể đưa ra các hoạt động phù hợp khi gặp gỡ lần đầu với người bệnh Vì thế, người Điều dưỡng phải học cách đặt câu hỏi, tìm tòi, phát hiện nhiều mặt của vấn đề để đưa

ra giải pháp tốt nhất đối với người bệnh

Trang 40

39

Vì vấn đề sức khỏe của từng người bệnh là khác nhau do đó người Điều dưỡng phải quan sát kỹ lưỡng, khám và đưa ra các giả thiết về vấn đề sức khỏe, so sánh các nguyên lý khoa học liên quan đến vấn đề đó để xác định được và đưa ra được các cách tiếp cận chăm sóc Với kinh nghiệm của mình, người Điều dưỡng sẽ học được cách tìm kiếm sáng tạo tri thức mới, xử lý nhanh khi sự vật thay đổi và đưa ra quyết định đúng cho người bệnh Như vậy, người Điều dưỡng đạt được nghĩa vụ và trách nhiệm thông qua các quyết định được đưa ra Tư duy biện chứng là trọng tâm của thực hành Điều dưỡng vì nó giúp người Điều dưỡng thử nghiệm, tiếp cận và học tập từ thành công cũng như thất bại và áp dụng được tri thức Điều dưỡng mới

2 Định nghĩa về tư duy biện chứng

Tư duy và học tập là hai quá trình liên quan với nhau Theo thời gian, tri thức và kinh nghiệm lâm sàng sẽ nâng cao năng lực thông qua quan sát, phân tích và lựa chọn vấn đề Các định nghĩa về tư duy biện chứng nhấn mạnh về tính hợp lý (logic) và suy luận (Divito-Thomas, 2005)

Tư duy biện chứng là một quá trình nhận thức chủ động, có tính tổ chức để xem xét một cách thận trọng hiện tượng khách quan (Chaffee, 2002) Nó bao gồm từ xác nhận có một vấn đề (sức khỏe của người bệnh chẳng hạn), phân tích thông tin về vấn

đề đó (các số liệu lâm sàng của người bệnh, đánh giá thông tin (rà soát các giả thiết và bằng chứng) và đưa ra kết luận (Setterten and Lauer, 2004) Một người có tu duy biện chứng luôn xem xét điều gì là quan trọng trong tình huống đó, suy luận về các khả năng, xem xét các nguyên lý về đạo đức và đưa ra được những quyết định chính xác Hãy xem ví dụ dưới đây:

Bệnh nhân Hùng 58 tuổi, vừa mổ cắt tiền liệt tuyến do ung thư Tuyến tiền liệt ngày hôm trước Điều dưỡng Hoa quan sát thấy người bệnh nằm ngửa, hai tay xuôi theo mép giường có vẻ căng thẳng Khi Điều dưỡng Hoa kiểm tra vết mổ và ống dẫn lưu người bệnh kêu đau Cô hỏi bệnh nhân đêm qua có hay trở mình không thì bệnh nhân trả lời là không nhiều Điều dưỡng Hoa hỏi bệnh nhân có đau nhiều không bệnh nhân trả lời là có và mỗi lần trở mình rất đau Cô quan sát người bệnh và thấy bệnh nhân rất đau nên không thể quay trở mình được Điều dưỡng Hoa quyết định rằng cần làm giảm đau cho bệnh nhân Hùng để có thể dễ dàng xoay chuyển và có thể đi lại để chóng bình phục

Khi chăm sóc người bệnh, tư duy biện chứng bắt đầu bằng các câu hỏi: Mình đã biết rõ gì về người bệnh? Biết bằng cách nào? Có lựa chọn nào khác không? (Paul & Heaslip) Trong trường hợp của bệnh nhân Hùng, Điều dưỡng Hoa biết rằng đau là vấn

đề thường gặp đối với một người bệnh sau phẫu thuật Qua quan sát, hỏi và trả lời của người bệnh, điều dưỡng Hoa khẳng định hiểu biết của mình là đau là một vấn đề sức khỏe Lựa chọn giải pháp của cô là cho bệnh nhân Hùng thuốc giảm đau và đợi cho đến khi thuốc có tác dụng sẽ thay đổi vị trí để người bệnh thoải mái hơn Khi đã bớt đau, Điều dưỡng Hoa sẽ tiến hành hướng dẫn một số động tác vận động nhẹ

Ngày đăng: 16/10/2021, 15:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w