Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm giới thiệu những đặc điểm chính cũng như các bước để tiến hành phương pháp dạy học theo chủ để (Thematic unit approach) - phương pháp được xem là phù hợp nhất khi giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành du lịch cho sinh viên.
Trang 1doi: 10.15625/vap.2020.00118
ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH
THEO CHỦ ĐỀ CHO SINH VIÊN NGÀNH DU LỊCH
Trần Thị Thanh Sang
Phân hiệu Đại học Đà Nẵng tại Kon Tum
tttsang@kontum.udn.vn
TÓM TẮT: Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm giới thiệu những đặc điểm chính cũng như các bước để tiến hành phương pháp dạy
học theo chủ để (Thematic unit approach) - phương pháp được xem là phù hợp nhất khi giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành du lịch cho sinh viên Nghiên cứu cũng đề xuất phương pháp giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành hiệu quả cho giảng viên, đồng thời tạo môi trường giao tiếp và phát triển đầy đủ các kỹ năng ngôn ngữ cho sinh viên, giúp sinh viên có thể xóa bỏ rào cản ngôn ngữ, chủ động hơn và tích cực hơn trong giao tiếp bằng một ngôn ngữ khác
Từ khóa: Dạy học theo định hướng giao tiếp, CLT, phương pháp dạy học theo chủ đề, chủ đề
I GIỚI THIỆU
Sự phát triển như vũ bão của ngành du lịch khách sạn trong những năm gần đây có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến khả năng ngoại ngữ của sinh viên - đặc biệt là tiếng Anh - ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi nhất trong ngành du lịch quốc tế ở thế kỉ XXI Các trường đại học ở Việt Nam hiện nay rất chú trọng đến vấn đề đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành cho sinh viên các khối ngành khác nhau đồng thời quy định chuẩn ngoại ngữ đầu ra cho sinh viên trước khi bước vào thế giới việc làm Các trường đại học trực thuộc Đại học Đà Nẵng đều quy định chuẩn đầu ra bậc 3/6 (đối với tiếng Anh) và bậc 2/6 (đối với các ngoại ngữ khác) trở lên theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam được ban hành theo Thông tư số 01/2014/TT-BGDĐT ngày 24 tháng 01 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Giao tiếp thường ngày bằng một ngôn ngữ khác đã khó, để giao tiếp chuyên môn bằng ngoại ngữ khác càng khó hơn gấp bội Để đạt kết quả cao trong môn học này, sinh viên cần phải nhận thức được tầm quan trọng của môn học đối với nghề nghiệp của mình trong tương lai, mặc khác cần phải có phương pháp học tập rèn luyện hiệu quả để có thể lĩnh hội ngoại ngữ tốt nhất Giảng viên cần dựa vào ứng dụng thực tiễn của môn học để chọn lựa những giáo trình phù hợp nhất, đồng thời tìm ra phương pháp dạy học phù hợp để xây dựng lớp học truyền cảm hứng giúp sinh viên có thể lĩnh hội môn học một cách dễ dàng hơn
Đã có những nghiên cứu liên quan đến tiếng Anh chuyên ngành nói chung và ngành du lịch nói riêng được công bố trong và ngoài nước Điển hình như: Nghiên cứu về nhu cầu ngôn ngữ và các khóa học tiếng Anh chuyên ngành-đối tượng sinh viên năm cuối chuyên ngành quản lý du lịch tại Iran (Moattarian & Tahririan, 2014); Mô hình học tiếng Anh du lịch và khách sạn trực tuyến (Cantoni, L., Kalbaska, N., & Inversini, A (2009); Tiếng Anh chuyên ngành du lịch và khách sạn (Zahedpisheh, Abu bakar & Saffari, 2017); Áp dụng phương pháp học tiếng Anh theo dự án cho sinh viên chuyên ngành du lịch tại Đại học Thái Lan (Simpson, 2011); Đánh giá chương trình dạy và học tiếng Anh chuyên ngành du lịch tại Việt Nam (Khuong, 2015); Đánh giá giáo trình tiếng Anh chuyên ngành du lịch quốc tế (Sarem, Hamidi, & Mahmoudie, 2013) Bài viết này sẽ thảo luận về tính hữu ích của phương pháp dạy học theo chủ đề - một trong số những phương pháp dạy học theo hướng giao tiếp tạo hứng thú cho sinh viên ngành du lịch trong việc học môn tiếng Anh chuyên ngành
II PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY NGÔN NGỮ THEO ĐỊNH HƯỚNG GIAO TIẾP
(COMMUNICATIVE LANGUAGE TEACHING (CLT))
Thuật ngữ CLT xuất hiện từ những năm 1960s và nhanh chóng thu hút sự quan tâm của những nhà ngôn ngữ học đồng thời cũng là phương pháp giảng dạy ngoại ngữ nổi bật nhất lúc bấy giờ (Brown, 2000; Spada, 2007) Mục tiêu của việc dạy ngôn ngữ là phát triển năng lực giao tiếp (Richard và Rodger, 2001: 69) CLT không chỉ đề cập những khía cạnh ngôn ngữ được dạy (what to teach), mà còn chỉ ra cách nhấn mạnh đến phương pháp giảng dạy (how to teach) Thuật ngữ “Dạy cái gì” (what to teach) trong CLT nhấn mạnh tầm quan trọng của chức năng ngôn ngữ hơn là giảng dạy đơn thuần ngữ pháp và từ vựng Mục tiêu của CLT là giúp người học có thể sử dụng ngôn ngữ thích hợp trong nhiều bối cảnh và nhiều mục đích khác nhau Thuật ngữ “Dạy như thế nào” (how to teach) trong CLT coi trọng việc tạo ra càng nhiều cơ hội tiếp xúc và sử dụng ngôn ngữ càng tốt và xem đây là yếu tố đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển và kỹ năng của người học (Harmer, 1998: 84) Mục tiêu chính của phương pháp CLT là phát triển năng lực giao tiếp (communicative competence) và phát triển các kỹ thuật, phương pháp, quy trình dạy học các kỹ năng ngôn ngữ dựa trên các khía cạnh phụ thuộc lẫn nhau của ngôn ngữ và giao tiếp Năng lực giao tiếp bao gồm năng lực ngữ pháp (grammatical competence), xã hội học (sociolinguistic) và chiến lược (strategies) Khả năng ngôn ngữ giao tiếp bao gồm kiến thức hoặc năng lực và sự thành thạo trong việc áp dụng các năng lực này trong việc sử dụng ngôn ngữ giao tiếp, theo ngữ cảnh và phù hợp với các tình huống giao tiếp khác nhau
Trang 2Những nhà nghiên cứu về CLT cũng nhận thấy rằng nhiều người học tiếng Anh để sử dụng trong các bối cảnh công việc cụ thể Vì thế, việc dạy tiếng Anh sẽ đạt hiệu quả tốt hơn nếu dạy họ những ngoại ngữ chuyên ngành tương ứng và những kỹ năng giao tiếp cần thiết trong những công việc khác nhau hơn là chỉ tập trung vào tiếng Anh giao tiếp thông thường (Richards, 2005) Chính vì thế những khóa học tiếng Anh chuyên ngành (English for special purposes) nhanh chóng xuất hiện để giải quyết nhu cầu ngôn ngữ của những sinh viên các chuyên ngành khác nhau Chúng ta thường hay nghe những thuật ngữ tiếng Anh chuyên ngành như tiếng Anh chuyên ngành xây dựng (English for civil engineering), tiếng Anh chuyên ngành ngân hàng (English for banking), Tiếng Anh trong kinh doanh (English for business), Tiếng Anh chuyên ngành du lịch khách sạn (English for tourism and hopsitality), etc Điều này dẫn đến việc phải phân tích nhu cầu (needs analysis) của người học đối với các phân ngành cụ thể Việc phân tích bao gồm quan sát, điều tra, phỏng vấn, phân tích tình huống, phân tích ngôn ngữ được chọn lọc trong các bối cảnh khác nhau để xác định loại giao tiếp mà người học sẽ có thể vận dụng trong các tình huống nghề nghiệp khác nhau Việc phân tích nhu cầu sẽ giúp xác định đặc điểm cụ thể của ngôn ngữ cho mục đích cụ thể nào đó hơn là cho mục đích giao tiếp chung chung
Vì giữa hai loại hình ngôn ngữ này có những sự khác biệt về sự lựa chọn từ vựng, ngữ pháp, bối cảnh, chức năng và yêu cầu những kỹ năng đặc biệt khác nhau (Richards, 2005)
Thực tế cho thấy, nhiều sinh viên Việt Nam không thể sử dụng tiếng Anh giao tiếp hiệu quả sau nhiều năm học tiếng Anh trên ghế nhà trường phổ thông và đại học Mặc dù có nhiều thay đổi đáng kể trong chương trình đạo tạo ở hầu hết các cơ sở giáo dục để chuẩn bị cho lực lượng lao động chất lượng cao cho thị trường, tuy nhiên năng lực ngoại ngữ của sinh viên ngành du lịch vẫn chưa thõa mãn được mong đợi từ giảng viên, nhà tuyển dụng hay thậm chí chính người học (Khuong, 2015) Chính về thế, việc đề xuất phương pháp dạy học theo chủ đề có thể là phương pháp giảng dạy đầy hứa hẹn để phát triển toàn diện các kỹ năng cho sinh viên, giúp sinh viên có thể tiếp cận gần hơn đến các tình huống xảy ra trong thực tế và có nhiều cơ hội để phát triển tất cả các kỹ năng giao tiếp tiếng Anh
III PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ (THEMATIC UNIT APPROACH)
A Định nghĩa
Phương pháp dạy học theo chủ đề tích hợp việc giảng dạy các kỹ năng nghe, đọc, viết và nói đồng thời phát triển nội dung bài học theo hướng học tập chủ động, lấy người học là trung tâm Giảng viên sử dụng các tài liệu thực tế, vận dụng nhiều hình thức giảng dạy khác nhau và tạo cơ hội giúp sinh viên trải nghiệm, giao tiếp xử lý các vấn đề chuyên môn Sinh viên có thể tham gia vào các cuộc tranh luận, thảo luận, những bài viết có ý nghĩa, hay những bài viết được chia sẻ dưới dạng kinh nghiệm, những bài đọc mang tính định hướng nghề nghiệp và học tập tương tác (Swicegood & Parsons, 1991)
Sử dụng phương pháp giảng dạy theo chủ đề phù hợp với trình độ cũng như độ tuổi khác nhau của người học (Brinton, 2003) Theo Brinton, nội dung của các bài học theo chủ đề có thể kéo dài nhiều tuần, cung cấp một lượng lớn các kiến thức về mặt lý thuyết chẳng hạn như từ vựng, phát âm ngữ pháp đồng thời giúp phát triển toàn diện kỹ năng nghe nói đọc viết cho sinh viên Đối với giảng viên, xây dựng các bài học theo chủ đề theo khung chương trình yêu cầu là một trong số những phương pháp mở rộng phạm vi bối cảnh giao tiếp đồng thời cung cấp thêm nhiều cơ hội giúp người học
có thể giao tiếp tiếng Anh nhiều hơn với các tình huống đa dạng khác nhau
Nhóm các bài học được chọn lọc liên quan đến nhau có thể theo một chủ đề nào đó hoặc cũng có thể theo một chủ điểm ngữ pháp, hay theo chức năng ngôn ngữ Brown (2001, 149) định nghĩa một bài học nhìn chung bao gồm một loạt các hoạt động đồng nhất được tổ chức trong một tiết học ở lớp Bởi vậy, một chủ đề lớn sẽ gồm các bài học khác nhau, có thể được tổ chức trong thời gian bốn hoặc năm tiết học, có liên kết chặt chẽ với nhau và được phát triển từ một chủ đề chung giúp kết nối người học với ngôn ngữ được sử dụng
B Đặc điểm của phương pháp dạy học theo chủ đề
- Kết hợp các tình huống thực tế trong giảng dạy;
- Giảng dạy bốn kỹ năng ngôn ngữ theo phương pháp giao tiếp;
- Khuyến khích mô hình học tập sinh viên chủ động;
- Áp dụng phương pháp học trải nghiệm;
- Ứng dụng phương pháp dạy học dự án
Những đặc điểm này không hoàn toàn tách biệt nhau vì các tình huống giao tiếp thực tế có xu hướng tích hợp bốn kỹ năng ngôn ngữ một cách tự nhiên nhất Thêm vào đó, việc áp dung mô hình học tập theo dự án và trải nghiệm vừa khuyến khích việc học tự chủ vừa khuyến khích sự lựa chọn của người học và các bài tập dự án cũng được xem là một hình thức học trải nghiệm Năm đặc điểm này mặc dù có sự khác biệt riêng, nhưng nhìn chung tất cả chúng đều rất quan trọng đối với giảng viên khi xây dựng các hoạt động hướng dẫn dựa vào một chủ đề cụ thể nào đó nhằm thu hút người học và cung cấp những cơ hội giao tiếp thực tế trong lớp học
Trang 3C Các bước xây dựng một bài học theo chủ đề
Bước 1 Kiểm tra các mục tiêu trong khung chương trình giảng dạy và các bài học được yêu cầu cho lớp học
Đầu tiên rà soát lại chuẩn đầu ra của sinh viên trong khung chương trình sau khi hoàn thành khóa học tiếng Anh chuyên ngành, họ cần đạt được những kỹ năng, thái độ và nhận thức gì để từ đó phát triển các chủ đề phù hợp Đồng thời, giảng viên cần xem xét đến thời lượng phân bổ chương trình dành cho khóa học là bao nhiêu để có thể lựa chọn những chủ đề quan trọng, thiết thực nhất và hữu ích nhất cho người học
Ứng dụng: Chủ đề “Làm việc cho công ty du lịch” (Working for travel agencies unit)
Chủ đề về Working for travel agencies rất phổ biến và dễ dàng tìm thấy ở nhiều tài liệu tiếng Anh chuyên ngành du lịch khác nhau Đồng thời chủ đề này cũng rất thực tế đối với sinh viên chuyên ngành du lịch Nhờ đó giảng viên có thể
dễ dàng tìm kiếm tài liệu liên quan và phát triển các kỹ năng ngôn ngữ cho sinh viên Với chủ đề gần gũi và mang tính thiết thực cao, sinh viên sẽ cảm thấy rất hứng thú vì được tích lũy những kinh nghiệm làm việc, hay xử lý các tình huống giao tiếp ngay trong các lớp học này
Bước 2 Chọn một chủ đề ý nghĩa và phù hợp với sinh viên
Khi xem xét các chủ đề sẽ đưa vào chương trình giảng dạy, giảng viên cần phải xem xét rất nhiều những tiêu chí để có thể chọn lọc chủ đề phù hợp và hữu ích cho sinh viên Các chủ đề nên đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Tạo động lực, thú vị và phù hợp cho cả sinh viên và giảng viên;
- Các nội dung giảng dạy được thiết kế dựa vào khung chương trình đồng thời kết nối với các tình huống thực tế;
- Thu hút và/hoặc phát triển các phương pháp học chủ động khác nhau;
- Xây dựng ngữ cảnh giao tiếp, tương tác thiết thực, ý nghĩa;
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các kỹ năng ngôn ngữ và phương thức giao tiếp phù hợp, hữu ích trong thực tế;
- Kết nối với văn hóa của ngôn ngữ đích
Yêu cầu quan trọng nhất của việc chọn lựa một chủ đề phù hợp đó là sự thú vị, ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn mà các đơn vị bài học truyền tải đến sinh viên Trên thực tế, việc lựa chọn các chủ đề có thể được xác định trong khung chương trình của trường, nhưng việc chọn lựa tài liệu và thiết kế các hoạt động trong lớp học cần sự linh hoạt của người dạy để làm cho các chủ đề trở nên lôi cuốn hơn, hấp dẫn hơn và quan trọng hơn tạo động lực tự học và chủ động của người học
Các chủ đề trong khung chương trình có thể được trích dẫn từ nhiều nguồn Tuy nhiên công đoạn này yêu cầu giảng viên phải lập kế hoạch cho các bài học theo chủ đề, kết hợp nhiều khái niệm ngôn ngữ thú vị khác nhau vào cùng một chủ đề Các chủ đề và bài học nên tích hợp ngôn ngữ, nội dung và văn hóa vào các hoạt động học tập tạo cơ hội cho sinh viên có thể sử dụng ngoại ngữ trong nhiều ngữ cảnh khác nhau (Haas, 2000) Cần tập trung vào giao tiếp, bao gồm việc phát triển đầy đủ các kỹ năng nghe, nói, đọc và viết Nhờ đó, người học có khả năng giải thích ngôn ngữ, diễn đạt bằng ngôn ngữ và đàm phán ý nghĩa trong ngôn ngữ (Savignon, 1997) Khi bắt đầu các lớp học ngôn ngữ giao tiếp, vai trò của giảng viên bao gồm giới thiệu từ vựng, cụm từ và cung cấp đầu vào ngôn ngữ dễ hiểu cho người học Hình ảnh
và thao tác, cử chỉ, âm thanh và hành động đều giúp sinh viên hiểu từ vựng và cấu trúc mới Sinh viên sẽ tham gia tích cực vào các nhiệm vụ được yêu cầu, chuyển tải ý nghĩa và thực hành ngôn ngữ trong giao tiếp với giảng viên, bạn cùng lớp và những người khác Pesola (1995) đã xây dựng một bộ câu hỏi hướng dẫn lập kế hoạch trong khung chương trình giảng dạy, trong đó xác định người học là ai, các đặc điểm của người học, chẳng hạn như trình độ phát triển, phương pháp học tập và nền tảng kinh nghiệm, các hoạt động được lên kế hoạch là gì, và người dạy sẽ đánh giá kết quả học tập của người học như thế nào, khung cảnh lớp học sẽ ảnh hưởng như thế nào đến các hoạt động đã lập kế hoạch, người dạy cần những tài liệu gì để hỗ trợ các hoạt động, người học sẽ sử dụng ngôn ngữ, từ vựng và cấu trúc ngữ pháp nào thông qua các hoạt động và cuối cùng người học sẽ tiếp thu được những kiến thức gì về nội dung môn học và văn hóa của ngôn ngữ đích
Ứng dụng: Chủ đề “Làm việc cho công ty du lịch”
Bài 1: Xin việc (Apply for a job)
Bài 2: Bán sản phẩm và dịch vụ của công ty (Selling services and products)
Bài 3: Tương tác với khách hàng mới (Dealing with new customers)
Bài 4: Viết báo cáo (Write a report)
Khi phát triển các bài học từ chủ đề đã chọn, giảng viên cần xem xét về đối tượng người học và các tình huống giao tiếp có thể xảy ra trong công việc Các bài học được liệt kê trên đây sẽ giúp sinh viên phần nào hình dung những nội
Trang 4dung, kiến thức ngôn ngữ nào mình sẽ đạt được Sinh viên sẽ cảm thấy hứng thú với các bài học vì đây sẽ là những trải nghiệm sớm giúp sinh viên tiếp cận với công việc của chính mình trong tương lai
Bước 3 Vẽ sơ đồ các ý tưởng kết hợp các tình huống và nhiệm vụ thực tế
Dựa vào các tình huống thực tế, giảng viên sẽ phác thảo nên một sơ đồ về các chủ đề và nội dung học khác nhau Phương pháp này phù thuộc vào mục đích và cách tiếp cận các lớp học ngoại ngữ Ví dụ, nếu bạn muốn xây dựng một bài học tiếng Anh chuyên ngành du lịch cho đối tượng sinh viên, bạn cần tìm kiếm các bài được đăng tải trên các tạp chí, trên các trang web để cập nhật các bài mới nhất liên quan đến du lịch Từ đó khai thác bài học, truyền tải và phát triển các kỹ năng ngôn ngữ liên quan cho sinh viên
Ứng dụng: Làm việc cho công ty du lịch
Hình 1 Phác họa nội dung, hoạt động dạy học
Theo sơ đồ này, các hoạt động, nội dung được sắp xếp theo trật tự dựa trên những tình huống có khả năng xảy ra trên thực tế Các kỹ năng ngôn ngữ khác nhau, nội dung, tình huống giao tiếp cũng được liệt kê trong sơ đồ Các kỹ năng giao tiếp thường được phát triển song song ví dụ kỹ năng đọc viết thường đi đôi với nhau trong khi đó nghe nói thường được phát triển đồng thời Giảng viên dựa vào đặc điểm, điều kiện thực tế để lựa chọn nội dung bài học phù hợp, đa dạng và không lặp lại Ví dụ liên lạc với khách hàng để bán sản phẩm hay xác định nhu cầu khách hàng, sẽ có nhiều cách tiếp cận khác nhau như liên hệ trực tiếp, qua email, điện thoại Do đó, giảng viên cần cân nhắc lựa chọn hình thức nào phổ biến hơn và tránh lặp lại
Bước 4 Lựa chọn, tổ chức và sắp xếp các hoạt động
Sau khi phác họa ý tưởng của chủ đề, giảng viên nên đưa ý tưởng này vào sơ đồ (xem hình 1) Sắp xếp các hoạt động, chọn lọc những hoạt động nào phù hợp và những nội dung nào thực tế nhất Cùng với việc tạo ra một môi trường giao tiếp, việc sắp xếp trật từ các hoạt động sao cho hiệu quả nhất cũng rất quan trọng Khi sắp xếp và tổ chức các hoạt động trong một bài học, giảng viên nên lưu ý các vấn đề sau:
- Đa dạng hóa các loại hình bài tập, hoạt động và kỹ năng ngôn ngữ;
- Lựa chọn các hoạt động hữu ích nhất cho người học;
- Sắp xếp các nhiệm vụ phản ánh ứng dụng thực tế của nhiệm vụ;
- Kết nối các hoạt động với nhau: ví dụ như từ kỹ năng nhận thức đến;
- Sắp xếp nội dung theo một trình tự nhất định (dựa vào những trật tự có thể xảy ra trên thực tế) để có thể ôn lại các kiến thức ngôn ngữ và từng bước phát triển các kỹ năng cho sinh viên
Đây là bước quan trọng để soạn giáo án riêng cho từng bài học Để đảm bảo bài học phù hợp và tạo động lực cho sinh viên, sẽ hữu ích nếu như cho sinh viên được chọn lựa hoạt động nào thú vị và bổ ích nhất đối với họ Luôn đề cao tính
Trang 5tự chủ trong việc tiếp cận ngôn ngữ, chủ động giao tiếp bằng ngôn ngữ là yêu cầu quan trọng của giảng viên khi tiến hành soạn giảng
Ứng dụng: Làm việc cho công ty du lịch
Nhìn vào sơ đồ (Hình 1), người học có thể chọn lựa các hình thức học khác nhau Ví dụ như khi tiến hành bán các sản phẩm hay dịch vụ du lịch, hay khi tiếp xúc với khác hàng mới, sẽ có ba cách chọn lựa qua điện thoại (by phone), qua email (via email) hay tiếp xúc trực tiếp (direct contact) Hoặc trong phần Viết báo cáo (Write report), người dạy và học
có thể lựa chọn mục nào phù hợp nhất cho công việc của họ sau này: hoặc viết báo cáo cuối ngày (end-of-day report), hoặc điền thông tin khách hàng (customer information) hoặc nhận xét chất lượng dịch vụ và sản phẩm của công ty du lịch (travel quality and features)
Bước 5 Kết hợp dạy học dự án nhằm khuyến khích quyền tự do lựa chọn và tính tự chủ của người học
Khi giảng viên lựa chọn các hoạt động và sắp xếp trật tự các hoạt động, họ có thể xây dựng theo mô hình dự án Việc
áp dụng phương pháp có nhiều ưu điểm sau: Phương pháp này tập trung vào các chủ đề, những vấn đề đang được quan trong trong thế giới thực; Lấy người học làm trung tâm; Khuyến khích sự hợp tác và kết hợp tất cả các kỹ năng thực tế; Mục đích rõ ràng, thực tế, có động lực và thúc đẩy tính tự chủ của người học (Alan & Stoller, 2005) Phương pháp này khuyến khích người học hợp tác với nhau, sử dụng ngôn ngữ mục tiêu để giao tiếp, tích hợp tất cả các kỹ năng ngôn ngữ, các nội dung đã được học trong toàn bộ bài học Phương pháp này cũng cho phép người học đưa ra các sự lựa chọn và có tư duy phản biện về chủ đề được đề cập trong bài học
Ứng dụng: Làm việc cho công ty du lịch
Bảng 1 Nội dung, kỹ năng, nhiệm vụ dạy và học
Writing personal statement (PS)
and cover letter (CL)
Reading, Writing Sections in PS: general interests, descbing
specific interests, skills and qualifications, experience and training, language ability
Cover letter: format, sections
Tips on writing PS and CL Taking part in a job interview Listening, Speaking Listening practice through a video “A job
interview”
Vocabulary: jobs & interview process Past simple tense: write a short story Speaking practice: A job interview role-play Identify services and products Reading, Writing Vocabulary: different services and products Present services and products Listening, Speaking Described service provision:
Review: present simple, can, present simple passive, imperatives
Find out sales process Reading, Writing Vocabulary: Sales terms
Identify customers’ needs Listening, Speaking ‘Open/ Closed question’
Open questions: beginning with question
words
Closed questions: replied with short answers
(yes/no + subjects +auxiliary verbs (not)) Giving suggestions, advices Listening, Speaking Suggestion: You should, Why don’t we, How
about +V-ing, What about +V-ing Have you thought about +V-ing
Giving advice: If, I were you, I’d + infinitive
Your best option is to + infinitive
Write a report
(Travel quality and features
assessment)
Reading, Writing Reading practice: report sample
Vocabulary: descriptive adjectives and evaluating
Writing practice: write experience after the trip on a form
Trang 6IV KẾT LUẬN
Đối với phương pháp dạy học theo phương pháp chủ đề, sinh viên có nhiều cơ hội tiếp xúc trực tiếp các nguồn tài liệu
và các hoạt động thực tế và sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp có ý nghĩa trong các bổi cảnh công việc thực tế khác nhau Nhờ đó các kỹ năng ngôn ngữ như nghe, nói, đọc, viết được phát triển toàn diện Cụ thể như sau:
Kỹ năng nghe và nói: sinh viên có nhiều cơ hội để nghe hiểu các video về các đoạn hội thoại được chọn lọc dựa trên các tình huống có thể xảy ra trong thực tiễn thế giới việc làm Quan sát sau đó thực hành đóng vai hoặc thực hành các nhiệm vụ khác giúp sinh viên có những tương tác, xử lý tình huống, cử chỉ và phong thái làm việc phù hợp Kỹ năng giao tiếp thông qua các tương tác xã hội do đó sẽ được phát triển Các chủ đề và các hoạt động thực tiễn thú vị, thử thách, tạo động lực và hứng thú cho sinh viên, phát triễn kỹ năng giao tiếp một cách có ý nghĩ và mục đích rõ ràng
Kỹ năng đọc: các bài đọc được trích dẫn từ các trang báo, tạp chí, hay các tài liệu sát thực tiễn: cẩm nang du lịch, trang web du lịch, hướng dẫn du lịch…Với sự đa dạng này, sinh viên có thể lựa chọn các bài đọc riêng phù hợp với sở thích, nhu cầu và mục đích riêng của họ Những trang tài liệu hữu ích và thực tiễn sẽ tăng hứng thú và động lực giúp sinh viên tiếp cận gần hơn đến với thế giới việc làm
Kỹ năng viết: việc tiếp xúc các tài liệu thực tiễn và các phong cách viết khác nhau giúp sinh viên hiểu được cách sử dụng các ngôn ngữ du lịch thực tế đồng thời trải nghiệm đầy đủ quy trình viết trong tiếng Anh chuyên ngành: lập dàn
ý, phát thảo, sửa đổi, hiệu đính, đánh giá và tiến hành viết Tiến hành luyện tập các kỹ năng viết như thế sẽ giúp người học trao đồi vốn từ vựng, ngữ pháp, cấu trúc câu, chính tả và sử dụng các dấu chấm câu
Việc áp dụng phương pháp học dự án và trải nghiệm phát huy tối đa sự tự chủ trong học ngôn ngữ phát triển kỹ năng ngôn ngữ, kỹ năng học tập và tự tin cho sinh viên Với nhiều hoạt động học phong phú, sinh viên cần chủ động trong quá tình học đồng thời có trách nhiệm hơn với việc học của riêng họ
V TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Alan, B., & F L Stoller, 2005 Maximizing the benefits of project work in foreign language classrooms English Teaching Forum 42(4), 10-21
[2] Brown, H D (2000) Principles of Language Learning and Teaching New York: Longman
[3] Cantoni, L., Kalbaska, N., & Inversini, A (2009) eLearning in Tourism and Hospitality: A Map JoHLSTE - Journal of Hospitality, Leisure, Sport & Tourism Education, 8(2), 148-156
[4] Haas, M (2000) Thematic, communicative language teaching in the K-8 classroom ERIC Digest,
EDO-FL-0004 http://www.cal.org/resources/digest/digestpdfs/0004-thematic-haas.pdf
[5] Harmer, J (1998) How to teach English: an introduction to the practice of English language teaching New
York: Logman
[6] Khuong, T H C (2015) An evaluation of English teaching and learning in tourism training programs in
Vietnam International Journal of Arts & Sciences, 8(6), 561-572
[7] Moattarian, A &Tahririan, M H (2014) Language Needs of Graduate Students and ESP Courses: The Case of Tourism Management in Iran RALs, 5(2), 4-22
[8] Pesola, C A D (1995) Background, design, and evaluation of a conceptual framework for FLES curriculum
Unpublished doctoral dissertation, University of Minnesota, Minneapolis
[9] Richards, J C (2005) Communicative language teaching today Singapore: RELC
[10] Richards, J C., & Rodgers, T.S (2001) Approaches and Methods in Languague Teaching Cambridge:
Cambridge University Press
[11] Sarem, S.N., Hamidi, H., & Mahmoudie, R (2013) A critical look at textbook evaluation: A case study of
evaluating an ESP course-book: English for international tourism International Research Journal of Applied and Basic Sciences, 4(2), 372-380
[12] Savignon, S.J (1997) Communicative competence: Theory and classroom practice (2nd ed.) New York:
McGraw-Hill
[13] Simpson, J (2011) Integrating project-based learning in an English language tourism classroom in a Thai university (PhD Thesis), Australian Catholic University
[14] Spada, N (2007) Communicative Language Teachining: Current Status and Future Prospects In J Cummins &
C Davision (Eds.) International Handbook of English Language Teaching (pp 271-288) Norwell, MA:
Springer
[15] Swicegood, P R., & Parsons, J L (1991) The Thematic Unit Approach: Content and process instruction for
secondary learning disabled students Learning Disabilities Research & Practice, 6(2), 112-116
[16] Zahedpisheh, N., Bakar, A., Zulqarnain, B., & Saffari, N (2017) English for tourism and hospitality purposes
(ETP) English Language Teaching, 10(9), 86-94
Trang 7INTEGRATING THEMATIC UNIT APPROACH INTO TEACHING
STUDENTS MAJORING IN TOURISM
Tran Thi Thanh Sang
ABSTRACT: This study aims to introduce the main features as well as steps to implement the thematic unit approach - regarded as
the most suitable method to teach English to students majoring in tourism The study proposes an effective method of teaching English for Special Purposes for teachers, while creating a communication environment and developing a full range of language skills for students, helping students to remove language barriers, being more active in communicating in another language