Hành nghề luật đòi hỏi rất cao về kiến thức chuyên môn, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp, kinh nghiệm hành nghề, trong khi các sinh viên mới ra trường hầu như rất ít khả năng đáp ứng các yêu cầu xử lý công việc do các cơ quan tư pháp, bổ trợ tư pháp giao cho. Bài viết này thảo luận về cách thức mà các cơ sở đào tạo luật của Việt Nam đổi mới chương trình đào tạo nhằm giải quyết một cách hiệu quả nhiệm vụ trên.
Trang 1doi: 10.15625/vap.2020.0084
ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGÀNH LUẬT NHẰM ĐÁP ỨNG NHU CẦU NGUỒN NHÂN LỰC LÀM VIỆC
TRONG CÁC CƠ QUAN BỔ TRỢ TƯ PHÁP TRONG THỜI KỲ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Hoàng Thị Việt Anh
Trưởng Khoa Luật, Trường Đại học Sài Gòn
anhhtv@sgu.edu.vn
TÓM TẮT: Hành nghề luật đòi hỏi rất cao về kiến thức chuyên môn, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp, kinh nghiệm hành nghề, trong
khi các sinh viên mới ra trường hầu như rất ít khả năng đáp ứng các yêu cầu xử lý công việc do các cơ quan tư pháp, bổ trợ tư pháp giao cho Vấn đề đặt ra trước bối cảnh của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang mang lại nhiều cơ hội lẫn thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam Trong Nghị quyết Bộ Chính trị khóa XII đã nêu rõ nhiệm vụ: “Phải sớm xây dựng chiến lược tiếp cận và chủ động tham gia cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0” Trước đó, công tác đào tạo trong Nghị quyết 14/CP của Chính phủ đã đặt nhiệm vụ về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 cũng đã nêu rõ: “Phát triển các chương trình giáo dục đại học theo định hướng nghiên cứu và định hướng nghề nghiệp - ứng dụng … Đổi mới nội dung đào tạo, gắn kết chặt chẽ với thực tiễn nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và nghề nghiệp trong xã hội, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của từng ngành, từng lĩnh vực, tiếp cận trình độ tiên tiến của thế giới” Bài viết này thảo luận về cách thức mà các cơ
sở đào tạo luật của Việt Nam đổi mới chương trình đào tạo nhằm giải quyết một cách hiệu quả nhiệm vụ trên
Từ khóa: Đổi mới, chương trình đào tạo, bổ trợ tư pháp
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất nước ta đang trong xu thế hội nhập quốc tế sâu rộng, chịu tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 và các thách thức của nghề luật cũng cần các chuyên gia pháp lý tinh thông nghiệp vụ, có bản lĩnh, kỹ năng nghề nghiệp vững vàng đòi hỏi các cơ sở đào tạo luật phải có những đổi mới trong chương trình đào tạo phù hợp với chuẩn đầu ra của ngành
để đáp ứng được xu thế đó
II NỘI DUNG
A Nhu cầu nguồn nhân lực làm việc trong các cơ quan bổ trợ tư pháp của nước ta hiện nay
1 Đối với Chấp hành viên
Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung 2014 Chấp hành viên có ba ngạch là Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên
trung cấp và Chấp hành viên cao cấp Chấp hành viên do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm và việc tuyển chọn Chấp
hành viên được thực hiện thông qua thi tuyển (Điều 17 Luật Thi Hành án Dân sự năm 2008) Chấp hành viên đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức thi hành án, quyết định trực tiếp đến hiệu quả công tác thi hành án dân sự, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, củng cố niềm tin của nhân dân, vì vậy, chấp hành viên phải đáp đứng những tiêu chuẩn nhất định về chuyên môn, nghiệp vụ, tư cácch đạo đức, ý thức trách nhiệm công vụ Khi Chấp hành viên không đáp được các tiêu chuẩn thì bị miễn nhiệm hoặc bị cách chức theo quy định của pháp luật
Theo Báo cáo của Tổng cục Thi hành án dân sự về công tác tổ chức cán bộ về biên chế toàn ngành thi hành án dân sự như sau: Toàn hệ thống Thi hảnh án dân sự được phân bổ 9.488 biên chế, giảm 169 biên chế so với năm 2017, trong đó, 175 biên chế tại Tổng cục và 9.313 biên chế tại các cơ quan THADS địa phương Đến nay, đã thực hiện 9.359/9.488 biên chế Toàn quốc có 4.139 Chấp hành viên; 738 Thẩm tra viên; 1.628 Thư ký [4]
Hoạt động nghề nghiệp của Chấp hành viên là thi hành các bản án, quyết định chính là giai đoạn hiện thực hoá các phán quyết của Toà án về quyền và lợi ích hợp pháp cũng như nghĩa vụ của các bên Nghề nghiệp Chấp hành viên là gắn với vật chất Đó là việc trực tiếp thu tiền của bên phải thi hành án để trả cho người được thi hành án, đó là việc trực tiếp bán tài sản của người phải thi hành án để thu tiền trả cho bên được thi hành án, do đó nghề chấp hành viên rất cần những người yêu nghề và hiểu biết pháp luật Năm 2018, theo báo cáo công tác của Tổng cục Thi hành án dân sự - Bộ
Tư pháp thì yêu cầu bồi thường phát sinh ở khá nhiều vụ việc trong lĩnh vực thi hành án dân sự Cụ thể, 06 tháng đầu năm 2018 toàn quốc có 32 vụ việc (năm 2017 chuyển sang là 28 vụ việc; phát sinh mới 04 vụ việc) Kết quả: 01 vụ đã được Bộ Tài chính cấp kinh phí với số tiền 28 triệu 381 nghìn đồng, 01 vụ việc cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định không chấp nhận bồi thường; hiện còn 30 vụ việc đang tiếp tục xem xét, giải quyết [4]
2 Đối với Công chứng viên
Công chứng là hoạt động bổ trợ tư pháp với mục đích là tạo niềm tin cho người dân, doanh nghiệp tham gia các quan
hệ pháp luật dân sự, kinh tế Để công chứng viên thực sự là những “thẩm phán phòng ngừa”, người “gác cổng” cho các
hợp đồng, giao dịch, bản thân mỗi công chứng viên cần ý thức không ngừng học hỏi, trau dồi đạo đức, bản lĩnh nghề
Trang 2NGUỒN NHÂN LỰC LÀM VIỆC TRONG CÁC CƠ QUAN BỔ TRỢ TƯ PHÁP TRONG THỜI KỲ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 nghiệp, hoàn thiện kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng nghề nghiệp của mình Với đặc thù là một nghề bổ trợ
tư pháp, các công chứng viên cần có kỹ năng nghề nghiệp, tuân thủ quy tắc đạo đức hành nghề công chứng, để bảo đảm tuyệt đối an toàn cho các bên khi tham gia giao dịch
Công chứng viên là người có chuyên môn về pháp luật, có đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, được Bộ trưởng
Bộ Tư pháp bổ nhiệm để hành nghề công chứng (Điều 8 Luật Công chứng 2014) Công chứng viên cung cấp dịch vụ công do Nhà nước ủy nhiệm thực hiện nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch; phòng ngừa tranh chấp; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; ổn định và phát triển kinh tế - xã hội Công chứng viên là những người chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của các hợp đồng, giao dịch, bản dịch, văn bản dịch, chứng thực bản sao, chữ ký trong giấy tờ, văn bản Công chứng viên là người nắm vững các quy định của pháp luật có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, có kỹ năng soạn thảo văn bản nhằm thực hiện rõ ràng, đầy đủ ý nguyện của những người yêu cầu công chứng cũng như đảm bảo các văn bản này phù hợp với các quy định của pháp luật Theo thống kê của Bộ Tư pháp, đến nay, cả nước đã có 2.400 công chứng viên hành nghề tại hơn 1.000 tổ chức hành nghề công chứng trên toàn quốc Các tổ chức hành nghề công chứng phát triển khá mạnh mẽ ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và các tỉnh, thành phố lớn khác Thực tiễn hành nghề công chứng cụ thể trong thời gian gần đây, 06 tháng đầu năm 2018, các tổ chức hành nghề công chứng đã công chứng được 3.268.269 hợp đồng, giao dịch (tăng hơn
35 % so với cùng kỳ năm 2017), đóng góp cho Ngân sách nhà nước hoặc nộp thuế hơn 167,7 tỷ đồng Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, số lượng sai sót, vi phạm của Văn phòng Công chứng và công chứng viên hành nghề tại Văn phòng Công chứng có xu hướng tăng hơn [5]
3 Đối với Thừa phát lại
Thừa phát lại là người có chuyên môn về pháp luật, có đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, được Bộ trưởng Bộ
Tư pháp bổ nhiệm để hành nghề thừa phát lại, thực hiện các loại công việc: Tống đạt văn bản, lập vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành án Khi thực hiện các công việc theo thẩm quyền, pháp luật về Thừa phát lại và có liên quan cũng quy định nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Thừa phát lại
Trước nhu cầu sử dụng các dịch vụ pháp lý liên quan đến hoạt động của Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự ngày càng cao, trong khi các công việc phát sinh này càng nhiều trong hoạt động của các cơ quan này, việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại như tạo ra luồng gió mới và bước đầu đã được sự đón nhận của quần chúng nhân dân, thông qua các số liệu được thể hiện ở Báo cáo số 538/BC-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ, theo đó tính đến hết ngày 30/9/2015, các Văn phòng Thừa phát lại đã tống đạt được tổng số 939.544 văn bản, thu được 69 tỷ 390 triệu 413 nghìn đồng; đã lập và đăng ký tại Sở Tư pháp 42.911 vi bằng, thu 58 tỷ 828 triệu 768 nghìn đồng; đã xác minh điều kiện thi hành án 885 vụ việc, thu được 3 tỷ 234 triệu 336 nghìn đồng; đã trực tiếp tổ chức thi hành án 378 vụ việc, thu được 4 tỷ 554 triệu 074 nghìn đồng Theo thống kê của Cục Bổ trợ tư pháp, trong gần 3 năm 2016 – 2018, các văn phòng TPL đã tống đạt hơn 1,6 triệu văn bản, lập trên 188 nghìn vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án 69 việc, trực tiếp tổ chức thi hành án 181 việc, tổng doanh thu đạt hơn 296 tỷ đồng Những con số ấn tượng này cho thấy vai trò và những đóng góp tích cực của Thừa phát lại trong thời gian qua đối với hoạt động của Tòa án, cơ quan thi hành án dân
sự cũng như góp phần vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân trong thời gian qua Trong đó, việc lập
vi bằng được đánh giá là lĩnh vực hoạt động thành công nhất của Văn phòng Thừa phát lại Theo báo cáo của Sở Tư pháp TP Hồ Chí Minh, tính đến tháng 11 năm 2018, toàn thành phố có 11 văn phòng thừa phát lại đang hoạt động với tổng số 106 thừa phát lại hành nghề, 111 thư ký nghiệp vụ thừa phát lại và 80 nhân viên khác
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã khẳng
định: “Từng bước thực hiện việc xã hội hóa và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án” Trên cơ sở Nghị quyết này của Đảng, Quốc hội đã lần lượt
ban hành 03 Nghị quyết từng bước thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại từ phạm vi hẹp rồi mở rộng dần, bắt đầu
từ năm 2010 thí điểm riêng tại TP Hồ Chí Minh, từ 01/7/2012 đến hết ngày 31/12/2015 thực hiện thí điểm nhân rộng trên phạm vi 13 tỉnh, thành phố và kể từ ngày 01/01/2016 đã chấm dứt việc thí điểm và đây cũng là thời điểm đánh dấu
sự ra đời của một nghề mới, nghề Thừa phát lại trên phạm vi cả nước [5]
4 Đối với Đấu giá viên
Đấu giá viên là người làm việc tại các tổ chức bán đấu giá tài sản, trực tiếp điều hành và thực hiện cuộc bán đấu giá theo đúng thủ tục, trình tự do pháp luật quy định Đấu giá viên, có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, do Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm trên cơ sở đạt kết quả tham gia kiểm tra kết quả tập sự hành nghề đấu giá (Điều 10 Luật Đấu giá tài sản 2016)
Để điều hành tốt cuộc bán đấu giá thì đấu giá viên ngoài trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật, phải có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ là những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp nào đó Đây là những kiến thức bắt buộc phải có đối với bất kỳ ai hoạt động nghề nghiệp trong xã hội nói chung
và hoạt động trong nghề đấu giá nói riêng khi thực hiện công việc Kiến thức về kỹ năng nghiệp vụ trong một lĩnh vực công tác cụ thể là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng để đánh giá kỹ năng nghề nghiệp của mỗi người Bán đấu giá tài sản là một dịch vụ trong nền kinh tế thị trường, có liên quan tới rất nhiều lĩnh vực pháp luật, có tính chất nghề nghiệp chuyên biệt nên đòi hỏi đội ngũ đấu giá viên phải có kiến thức nghiệp vụ vững vàng Vì vậy, để góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp và chất lượng của đội ngũ đấu giá viên, Nghị định số 17/2010/NĐ-CP đã nâng cao tiêu
Trang 3chuẩn đấu giá viên và quy định chặt chẽ về điều kiện hành nghề đấu giá so với các quy định trước đây Theo đó, tại Điều 5, Nghị định số 17/2010/NĐ-CP quy định đấu giá viên phải có đủ các tiêu chuẩn là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, tốt nghiệp đại học ngành luật hoặc ngành kinh tế và đã qua khóa đào tạo nghề đấu giá Đấu giá viên phải hoạt động trong một tổ chức bán đấu giá chuyện nghiệp Trong quá trình làm việc, đấu giá viên cần phải thường xuyên tìm hiểu, cập nhật, tích luỹ kiến thức về kỹ năng nghiệp vụ bằng cách tự học hỏi, tự đúc rút kinh nghiệm thông qua trao đổi chuyên môn, nghiệp vụ với đồng nghiệp cũng như qua thực tiễn hoạt động bán đấu giá Để hỗ trợ đắc lực cho hoạt động nghiệp vụ, ngoài trình độ chuyên môn, đấu giá viên cần có sự hiểu biết rộng rãi về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Ví dụ như am hiểu về thị trường bất động sản; tình hình kinh tế, xã hội của địa phương nơi có bất động sản; thị trường xe ô tô, xe máy; đặc tính của một số loại tài sản cụ thể Điều này giúp ích cho đấu giá viên khi quy định bước giá và lựa chọn hình thức bán đấu giá sao cho phù hợp với từng loại tài sản
Bên cạnh đó, để tiến hành hoạt động nghề nghiệp của mình, đấu giá viên cần được trang bị và rèn luyện những kỹ năng
cơ bản Kỹ năng nghề nghiệp của đấu giá viên là khả năng vận dụng thành thạo và khéo léo tất cả những kiến thức và kinh nghiệm mà mình có được vào việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ nhằm đạt được hiệu quả cao nhất với mức chi phí thấp nhất cả về thời gian, công sức và kinh tế Để việc bán đấu giá từng loại tài sản cụ thể đạt hiệu quả, đấu giá viên phải sử dụng tốt các kỹ năng chung kết hợp với sự hiểu biết về tính đặc thù của từng loại tài sản, quy định của pháp luật về tài sản đó, từ đó tạo ra những kỹ năng chuyên biệt phù hợp với từng trường hợp bán đấu giá Các kỹ năng cụ thể đem lại sự linh hoạt trong hoạt động bán đấu giá tài sản Mặc dù pháp luật về bán đấu giá tài sản quy định thống nhất
về trình tự, thủ tục bán đấu giá nhưng không thể áp dụng quy trình tuyệt đối giống nhau cho từng trường hợp bán đấu giá đối với từng loại tài sản cụ thể vì mỗi loại tài sản đều có thể sẽ chịu sự điều chỉnh của một hoặc nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Như đối với trường hợp bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự thì ngoài việc tuân thủ các quy định của pháp luật về bán đấu giá theo Nghị định 17/2010/NĐ-CP thì còn phải tuân thủ các quy định của pháp luật
về thi hành án dân sự theo Luật thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành
Từ khi Nghị định số 17/2010/NĐ-CP, số lượng đấu giá viên trên cả nước đã có sự gia tăng đáng kể Tuy nhiên chất lượng chưa đi kèm với số lượng Nhiều đấu giá viên còn có nhận thức chưa đầy đủ về nghề đấu giá, chưa thực sự coi trọng đạo đức nghề nghiệp khi hành nghề Theo Bộ Tư pháp, trước khi Nghị định số 17/2010/NĐ-CP được ban hành, pháp luật về bán đấu giá tài sản quy định tiêu chuẩn, điều kiện trở thành đấu giá viên ở nước ta còn đơn giản Người có bằng đại học bất kỳ ngành đào tạo nào cũng có thể trở thành đấu giá viên, đồng thời pháp luật không bắt buộc người muốn trở thành đấu giá viên phải trải qua khóa đào tạo nghề đấu giá Tính đến ngày 01-12-2015, tổng số đấu giá viên
cả nước là 1.512, trong đó bao gồm 583 người được cấp Thẻ Đấu giá viên theo quy định của Nghị định số
05/2005/NĐ-CP và 929 người được cấp Chứng chỉ hành nghề đấu giá theo quy định của Nghị định số 17/2010/NĐ-05/2005/NĐ-CP [5]
5 Luật sư
Luật sư là một chức danh tư pháp độc lập, chỉ những người có đủ điều kiện hành nghề chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện việc tư vấn pháp luật, đại diện theo ủy quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân, tổ chức và nhà nước trước tòa án và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác Điều 2 Luật Luật sư sửa đổi, bổ sung
2012 quy định: Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật luật sư, thực hiện dịch
vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức Tiêu chuẩn luật sư được quy định tại Điều 10 Luật Luật sư như
sau: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng Cử nhân Luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành Luật sư” Lưu ý rằng, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 của Luật luật
sư muốn được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư Nghề luật sư có
ba tính chất cơ bản như sau: (1) Tính chất trợ giúp: Nói đến trợ giúp nghĩa là nói đến sự giúp đỡ, bênh vực không vụ lợi của luật sư cho những người ở vào vị thế thấp kém Những người được trợ giúp thường là người bị ức hiếp, bị đối
xử bất công trái pháp luật trong xã hội hay những người nghèo, người già cô đơn, người chưa thành niên mà không có
sự đùm bọc của gia đình Do đó, tính chất này thể hiện hoạt động của nghề luật sư không chỉ là bổn phận mà còn là thước đo lòng nhân ái và đạo đức của luật sư; (2) Tính chất hướng dẫn: Thông thường, luật sư thực hiện việc hướng dẫn cho khách hàng hiểu đúng tinh thần và nội dung của pháp luật, để từ đó họ biết cách tháo gỡ vướng mắc sao cho phù hợp với pháp lý và đạo lý, cũng như để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của họ; (3) Tính chất phản biện: Là những biện luận nhằm phản bác lại lý lẽ, ý kiến quan điểm của người khác mà mình cho là không phù hợp với pháp lý
và đạo lý Luật sư lấy pháp luật và đạo đức xã hội làm chuẩn mực để xem xét mọi khía cạnh của sự việc nhằm xác định
rõ phải trái, đúng sai… từ đó đề xuất những biện pháp phù hợp bảo vệ lẽ phải, loại bỏ sai trái, bảo vệ công lý
các lĩnh vực pháp lý thuộc phạm vi hành nghề theo quy định của pháp luật Luật sư, trên thực tế chỉ có khoảng chưa tới
100 tổ chức hành nghề luật sư chuyên hoạt động trong lĩnh vực thương mại quốc tế, tư vấn cho các giao dịch có yếu tố nước ngoài vì có thể đặc thù của lĩnh vực này đòi hỏi nhiều kiến thức và kỹ năng phức tạp Vì vậy, muốn làm nghề luật
sư bạn phải có kiến thức chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm và đạo đức nghề nghiệp, thêm nữa là tính chuyên nghiệp trong cung cấp dịch vụ cũng rất cần thiết [7]
B Quan điểm của Đảng và Nhà nước phải chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 để đổi mới phương thức hoạt động nguồn lực
Trang 4NGUỒN NHÂN LỰC LÀM VIỆC TRONG CÁC CƠ QUAN BỔ TRỢ TƯ PHÁP TRONG THỜI KỲ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng phải chủ động, tích cực tham gia cuộc CMCN 4.0 là yêu cầu tất yếu khách quan
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) đã và đang mang lại nhiều cơ hội lẫn thách thức đối với sự phát
triển của Việt Nam Nghị quyết Bộ Chính trị khóa XII đã nêu rõ nhiệm vụ: “Phải sớm xây dựng chiến lược tiếp cận và chủ động tham gia cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0” Để triển khai thực hiện chủ trương này, tháng 3 năm 2017, nội
dung về cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã được đưa ra thảo luận tại phiên họp Chính phủ thường kỳ Ngày 4/5/2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 16 CT-TTg, về việc Tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư Chỉ thị này đã nhận diện các thách thức, cơ hội và đưa ra giải pháp, nhiệm vụ để Việt Nam có thể chủ động “đi tắt, đón đầu” trong cuộc CMCN 4.0 Ngày 27/9/2019 Bộ Chính trị đã xác định rõ hơn trong việc đề ra một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc CMCN 4.0 trong Nghị quyết 52-NQ/TW
Đảng xác định đây là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, gắn chặt với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng; đồng thời nhận thức đầy đủ, đúng đắn về nội hàm, bản chất của cuộc CMCN 4.0 để quyết tâm đổi mới tư duy và hành động, coi đó là giải pháp đột phá với bước đi
và lộ trình phù hợp là cơ hội để Việt Nam bứt phá trong phát triển kinh tế - xã hội
CMCN 4.0 mang lại cả cơ hội và thách thức Phải nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả các cơ hội để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, hiệu lực, hiệu quả quản lý xã hội thông qua nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng mạnh mẽ các thành tựu tiên tiến của cuộc CMCN 4.0 cho các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, nhất là một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, có tiềm năng, lợi thế để làm động lực cho tăng trưởng theo tinh thần bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới Chủ động phòng ngừa, ứng phó để hạn chế các tác
động tiêu cực, bảo đảm quốc phòng, an ninh, an toàn, công bằng xã hội và tính bền vững của quá trình phát triển đất nước
2 Yêu cầu đặt ra đối với hoạt động đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng cuộc cách mạng 4.0
Cách mạng công nghiệp 4.0 tạo cơ hội cũng như đặt ra yêu cầu tất yếu phải xây dựng nền giáo dục 4.0 Theo đó, giáo dục trở thành một hệ sinh thái mà mọi người có thể cùng học tập mọi lúc mọi nơi với các thiết bị được kết nối Các trường đại học phải phải tạo sản phẩm mang tính cá thể với kiến thức và năng lực đổi mới, sáng tạo riêng Giáo dục 4.0
có sự thay đổi lớn trong mục tiêu và cách thức đào tạo, chuyển từ truyền thụ kiến thức cho số đông sang khai phóng tiềm năng, đồng thời trao quyền sáng tạo cho từng cá nhân Người dạy sẽ chuyển sang vai trò mới là người thiết kế, xúc tác, cố vấn tạo môi trường học tập Với nội dung học tập được số hóa, người học sẽ có lộ trình học tập riêng, có thể lựa chọn nội dung phù hợp với mục tiêu đào tạo Hệ thống học tập số hóa cũng cung cấp phản hồi về hiệu quả học tập cùng với các gợi ý cho các nội dung học tập tiếp theo
C Đổi mới chương trình đào tạo ngành luật nhằm đáp ứng nguồn nhân lực trong thời kỳ cách mạng 4.0
Trước yêu cầu và thách thức nói trên, giáo dục đạo học nói chung và đào tạo nguồn nhân lực pháp luật nói riêng cần có những đổi mới như sau:
Thứ nhất, hoàn thiện mục tiêu và chương trình đào tạo ngành luật
Mục tiêu chung: Đào tạo nhân lực chất lượng, năng động sáng tạo, có tư duy tích cực, có khả năng thích ứng với môi trường pháp luật áp lực cao, đáp ứng nhu cầu trong nước và khu vực Đông Nam Á; Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có kiến thức cơ sở, chuyên môn vững vàng để thực hiện hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp Mục tiêu cụ thể: Các mục tiêu cụ thể là sự cụ thể hoá mục tiêu chung của chương trình, thể hiện những gì người học có thể đạt được sau khi tốt nghiệp Từ mục tiêu chung đã đề ra, chương trình đào tạo ngành Luật phải xác định rõ ràng về năng lực đạt được sau khi tốt nghiệp của người học như thiết kế các môn học theo cấp độ và theo học kỳ Ví dụ: Các học phần được phân bổ theo các năm học (với khóa học 4 năm, chia thành 8 học kỳ) Năm thứ nhất và năm thứ hai, chương trình sẽ hướng đến cấp năng lực là hiểu được kiến thức lý luận và thực tiễn về nhà nước và pháp luật; Sử dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề pháp lý phát sinh trong đời sống; Sử dụng pháp luật quốc tế, về pháp luật điều chỉnh quan hệ giữa Việt Nam với các nước, với các tổ chức quốc tế và với các chủ thể khác của pháp luật quốc tế để chủ động trong quá trình hội nhập kinh tế, quốc tế; Phân tích được các quy phạm pháp luật thuộc một trong sáu nhóm lĩnh vực pháp luật cơ bản là pháp luật nhà nước, pháp luật hành chính, pháp luật hình sự, pháp luật dân sự, pháp luật kinh tế và pháp luật quốc tế Đồng thời, người học cũng hình thành nền tảng vững chắc về kiến thức giáo dục đại cương, kiến thức cơ sở ngành Luật; Sử dụng thành thạo các kỹ năng tự học, kỹ năng giải quyết vấn đề và các kỹ năng nghề nghiệp
và tư duy sáng tạo trong lĩnh vực pháp luật; Giao tiếp hiệu quả, biết tổ chức, lãnh đạo và làm việc nhóm; Vận dụng tốt các năng lực hình thành ý tưởng: Lên kế hoạch thực hiện các công việc có liên quan đến kiến thức pháp luật nói riêng
và các lĩnh vực khác có liên quan; Có khả năng nắm bắt các nhu cầu xã hội, thực hiện tốt trách nhiệm xã hội, đạo đức nghề nghiệp, đề xuất các giải pháp để xây dựng chính sách và hoàn thiện hệ thống pháp luật Từ đó, nhà trường cần đề
ra nội dung đào tạo thích ứng để đạt được chuẩn đầu ra của ngành
Thứ hai, nhà trường cần có những thiết chế phù hợp để tăng cường hợp tác đào tạo với các cơ quan tư pháp, cơ quan
bổ trợ tư pháp trong hoạt động đào tạo
Nhà trường cần xúc tiến các hợp đồng hợp tác hướng dẫn sinh viên thực tế, thực tập cụ thể hơn trong công tác đào tạo thông qua văn bản hợp tác cụ thể, với những điều khoản mà ở đó thể hiện thêm cả vai trò cũng như trách nhiệm của các
cơ quan, tổ chức, công ty, văn phòng luật Có như vậy, mới giúp người học hiểu thêm về tầm quan trọng của việc học tập, làm nghề, xây dựng thái độ tích cực, mục tiêu rõ ràng để có hành động đúng và thiết thực hơn Thực tiễn cho thấy, nếu được thực tế, thực tập sớm tại các Công ty Luật, Văn phòng Luật sư, Văn phòng công chứng, Tòa án nhân dân,
Trang 5Viện kiểm sát nhân dân, người học sẽ thay đổi được cách học, cách tiếp cận vấn đề và hướng tới giải quyết tranh chấp hợp tình, hợp lý hơn
Thứ ba, cần phải đổi mới phương pháp giảng dạy và thay đổi chất lượng kiểm tra đánh giá
Đổi mới phương pháp giảng dạy: Đối với Giảng viên cần phải xây dựng các modul và thiết kế bài giảng kết hợp giữa lý thuyết và giải quyết tình huống, tạo điều kiện để người học phát huy kỹ năng làm việc nhóm và tạo sự phản biện giữa
người giảng và người học trên nguyên tắc lấy người học làm trung tâm Bên cạnh đó, cũng cần bổ sung thêm các nội
dung kiểm tra, thi hết môn, đề thi nên có các câu hỏi theo các cấp độ dánh giá năng lực người học, cấp độ hiểu, áp dụng, phân tích, đánh giá một vấn đề về pháp luật hay trả lời các câu hỏi trong tình huống pháp luật cụ thể nhằm giúp
người học nhớ lý thuyết, rèn kỹ năng
Thứ tư, bảo đảm khả năng học tập, nâng cao trình độ sau khi ra trường
Đào tạo ra nguồn nhân lực có năng lực tự chủ và trách nhiệm là sứ mệnh của mỗi ngành đào tạo khi đưa ra mục tiêu đào tạo phải phù hợp với chuẩn đầu ra ngành luật nhằm bước đầu đáp ứng cho các công ty luật, văn phòng luật, cơ quan công chứng, thừa phát lại, thi hành án những cử nhân có năng lực cao và đạo đức tốt bước đầu có thể giải quyết vấn đề; rút ra những nguyên tắc, quy luật trong quá trình giải quyết công việc; đưa ra được những sáng kiến có giá trị
và có khả năng đánh giá giá trị của các sáng kiến; có khả năng thích nghi với môi trường làm việc hội nhập quốc tế; có năng lực lãnh đạo và có tầm ảnh hưởng tới định hướng phát triển chiến lược của tập thể; có năng lực đưa ra được những đề xuất của chuyên gia hàng đầu với luận cứ chắc chắn về khoa học và thực tiễn; có khả năng quyết định về kế hoạch làm việc, quản lý các hoạt động nghiên cứu, phát triển tri thức, ý tưởng mới, quy trình mới
Thứ năm, đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số, đón đầu áp dụng công nghệ mới
Cần nâng cao năng lực quản lý nhà nước và quản trị đại học, quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học; bảo đảm tài chính bền vững và tăng cường tính minh bạch Tạo sự đồng thuận của các cấp, các bộ ngành, các cơ sở đào tạo và các bên liên quan đến giáo dục đại học Tập trung rà soát, sửa đổi các quy định về trách nhiệm vai trò hội đồng trường trong quản trị trường đại học; có cơ chế chính sách tạo điều kiện và môi trường thuận lợi, tạo khung pháp lý cho mối quan hệ giữa trường và doanh nghiệp
Chuyển đổi số phải bảo đảm 4 yếu tố, bao gồm: Trao quyền cho giảng viên; tương tác với sinh viên; tối ưu hóa tổ chức
và đổi mới phương pháp Quá trình chuyển đổi số ở trường đại học diễn ra ở cả ba giai đoạn, bao gồm: lập kế hoạch; Xây dựng chiến lược một cách độc lập và thực hiện các đổi mới sáng tạo; giám sát tác động của việc triển khai công nghệ Hiện nay, có rất nhiều công cụ cho chuyển đổi số như: công cụ hội nghị truyền hình Skype, GoToMeeting, Blue jeans; ứng dụng đàm thoại, chia sẻ tài nguyên Microsoft Teams; ứng dụng OneNote; Stream; ứng dụng phân tích người đọc Reader Analytics; tra từ điển Tflat; App hỗ trợ vẽ mindmap (Mindnode, Simplemind); dịch vụ trực tuyến Wolfram Alpha; công cụ Power BI và các Hệ thống quản lý học tập Blackboard, WebCT, Desire2Learn, ANGEL, Sakai, Moodle Các trường đại học cần áp dụng công nghệ mới, sử dụng các công cụ đa năng như máy tính, máy chiếu, bài giảng điện tử, bảng điện tử thông minh, sách giáo khoa điện tử, nhất là các phần mềm dạy học (E-learning ) Theo đó, việc tổ chức lớp học, giao bài tập, giới hạn thời gian, kiểm tra bài, cung cấp tài liệu, nhận phản hồi, điều chỉnh hoạt động của sinh viên đều được thao tác trên máy
Thứ sáu, tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế về đào tạo
Hợp tác và hội nhập quốc tế tạo cơ hội cho sinh viên tham gia các chương trình trao đổi hoặc du học tại chỗ và được tự
do phát triển cá nhân; cho phép giảng viên học hỏi phương pháp điều hành và giáo dục từ các trường đại học quốc tế và giúp đối tác hiểu về giáo dục ở Việt Nam; tạo ra các cơ hội hợp tác nghiên cứu khoa học xuyên quốc gia; cải thiện chất lượng theo hướng tiếp cận tiêu chuẩn khu vực/quốc tế trong quản lý, đào tạo, nghiên cứu Với tính tự chủ cao, các khoa trong trường đại học cần chủ động trong việc tổ chức các hình thức hợp tác và hội nhập quốc tế theo chiến lược của trường
III KẾT LUẬN
Đổi mới chương trình đào tạo đại học cho phù hợp với thực tiễn của ngành là việc làm rất cần thiết trong thời kỳ cách mạng công nghệ 4.0 hiện nay, để có thể thích nghi và đáp ứng được yêu cầu công việc thực tế của các chấp hành viên, công chứng viên, thừa phát lại, đấu giá viên, luật sư thì các sinh viên cần được trang bị kiến thức, kỹ năng thích hợp để
có thể thích ứng nhanh ngay các công việc khi được tuyển dụng Trước yêu cầu và thách thức nói trên, giáo dục đạo học nói chung và đào tạo nguồn nhân lực pháp luật nói riêng cần có những đổi mới như hoàn thiện mục tiêu và chương trình đào tạo ngành luật, đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng kiểm tra đánh giá, bảo đảm khả năng học tập, nâng cao trình độ sau khi ra trường, tăng cường hợp tác đào tạo với các cơ quan tư pháp, cơ quan bổ trợ tư pháp trong hoạt động đào tạo, đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số, đón đầu áp dụng công nghệ mới và tăng cường hơn nữa
hợp tác và hội nhập quốc tế về đào tạo./
IV TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Bộ Chính trị, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020
Trang 6NGUỒN NHÂN LỰC LÀM VIỆC TRONG CÁC CƠ QUAN BỔ TRỢ TƯ PHÁP TRONG THỜI KỲ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 [2] Bộ Chính trị, Nghị quyết 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư
[3] Chủ động tham gia cuộc CMCN 4.0, cập nhật ngày 03/01/2020, http://tuyengiao.vn/nhip-cau-tuyen-giao/ban-tuyen-giao-tw/chu-dong-tham-gia-cuoc-cach-mang-cong-nghiep-lan-thu-tu-126161
[4] Báo cáo Kết quả công tác thi hành án dân sự, hành chính 6 tháng đầu năm 2018, Tổng cục Thi hành án dân sự [5] Trường Đại học Sài Gòn (2019), Kỷ yếu Hội thảo khoa học Chuẩn đầu ra chương trình đào tạo ngành luật của trường Đại học Sài Gòn trong xu thế phát triển và hội nhập
[6] Phan Thị Việt Huyền, Kỹ năng nghề nghiệp của đấu giá viên,
https://stp.quangbinh.gov.vn/3cms/ky-nang-nghe-nghiep-cua-dau-gia-vien.htm, cập nhật ngày 8/5/2020
[7] Luật Đại Việt, Nghề luật sư ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp,
http://www.luatdaiviet.vn/xem-tin-tuc/-nghe-luat-su-o-viet-nam-thuc-trang-va-giai-phap, cập nhật ngày 8/5/2020)
INNOVATING THE LAW TRAINING TO MEET THE HUMAN
INDUSTRIAL REVOLUTION
Hoang Thi Viet Anh
ABSTRACT: Legal professional practice requires a high level of the knowledge, skills, professional practice ethics, and experience
of job candidate, whistle most of law fresh graduation are incapable to handle the job assigned in the justice and judical support areas The problem became more critical to every law school in front of the challenges of the fourth industrial revolution This issue has been addressed in the Resolution of the Politburo Term XII: “It is necessity to build the strategy to approach and actively engage
in the 4th Indusrial Revolution” To guide for implementation, in the Resolution No.14/CP the Government has set the innovation of the college education mission of the university for the period 2006-2020: “To develop the college education following the career development orientation … Renovating the training, the training must attach to the scientific reaseach, tecnology development, and career requirement of the society, meeting the demand of social-economic development for each branches, business areas and must catching up the world level” The article dissusing how the law training insititution to innovate their law training program to tackle the said issue effectively