Đặc biệt, để xem xét đồng tính như một vấn đề của xã hội hơn là vấn đề cá nhân, xóa bỏ hiểu nhầm họ là nhóm yếu thế tức là “bình thường hóa” vấn đề đồng tính, như hội thảo về người đồng
Trang 1Đồng tính là chủ đề tính dục khá nhạy cảm nhưng không còn mới mẻ, xa
lạ trong xã hội hiện nay, đặc biệt là một vài năm trở lại đây, nhiều người đồngtính không chỉ công khai giới tính thật, mà còn khẳng định, bảo vệ quyền lợicủa chính họ và cộng đồng đồng tính nói chung Trước đây dư luận coi đồngtính là một vấn nạn của xã hội, một thứ tệ nạn cần bài trừ giống như ma túy,mại dâm,…Tuy nhiên, cho đến nay, sự phát triển của các xu hướng biểu hiệncủa đồng tính cùng với việc xã hội ngày càng đề cao tính khoa học và nhânvăn về các vấn đề liên quan đến con người, đã khiến đồng tính trở thành mộtvấn đề xã hội ngày càng được quan tâm và đề cập nhiều hơn
Kéo theo sự phổ biến của vấn đề đồng tính trong nước và trên thế giới,
dư luận xã hội đối với đề tài này cũng nảy sinh nhiều vấn đề Đặc biệt khi cácphương tiện truyền thông đại chúng, tiêu biểu là báo chí, khai thác chủ đềđồng tính trên nhiều phương diện, nó càng gây được sự chú ý và nhận đượcnhiều phản ứng trái chiều từ dư luận Dù cho xã hội đã có cái nhìn “thoáng”hơn nhưng người đồng tính vẫn bị kỳ thị và phân biệt đối xử Thông qua
những hoạt động xã hội của các diễn đàn, câu lạc bộ về người đồng tính, cáchội thảo nghiên cứu, cũng như việc đề xuất luật hôn nhân cho người đồnggiới, công nhận người chuyển giới,… người đồng tính phần nào đã được xãhội chấp nhận và ủng hộ Tuy nhiên, để xóa bỏ định kiến và kỳ thị người đồngtính từ trong ý thức để tiến tới công nhận họ và đối xử bình đẳng với họ là cảmột quá trình khó khăn, lâu dài và cần có sự nhận thức lại từ cộng đồng xãhội Đặc biệt, để xem xét đồng tính như một vấn đề của xã hội hơn là vấn đề
cá nhân, xóa bỏ hiểu nhầm họ là nhóm yếu thế tức là “bình thường hóa” vấn
đề đồng tính, như hội thảo về người đồng tính ở Việt Nam do Viện nghiên cứukinh tế, xã hội và môi trường Việt Nam (iSEE) đã khẳng định “Bình thườnghóa ở đây không có nghĩa là sự chuyển đổi từ cực này sang cực kia mà đơn
giản đó là nhu cầu chính đáng từ những người có giới tính không thuộc về sốđông: được xã hội tôn trọng sự riêng tư và nhìn nhận một cách hoàn toànbình đẳng” thì những nghiên cứu về đồng tính càng nên được quan tâm và đềxuất Đối tượng thanh niên, đặc biệt là sinh viên, là đối tượng có cơ hội tiếp1
Trang 2cận thông tin nhiều nhất và là bộ phận quan trọng của dư luận xã hội Tìmhiểu nhận thức của họ sẽ cho thấy phần nào nhận thức xã hội đối với vấn đềđồng tính Từ tầm quan trọng và những lý do cấp thiết trên, đề tài “Nhận thức
và thái độ của sinh viên hiện nay về đồng tính (Qua khảo sát sinh viên Họcviện Báo chí và Tuyên truyền)” xin được đưa ra xem xét và nghiên cứu để làm
rõ nhận thức và thái độ của sinh viên đối với chủ đề này
Tổng quan tài liệu nghiên cứu:
2
Đồng tính và những vấn đề liên quan đến người đồng tính ngày càng
được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn Tuy nhiên, với tính nhạy cảm và khótiếp cận của vấn đề, khách thể nghiên cứu mới chỉ bó hẹp trong cộng đồngđồng tính ở phạm vi nhỏ, cơ sở định lượng của nhiều nghiên cứu còn thiếutính đại diện, các nhóm xã hội khác có liên quan thường được nhắc đến rất íttrong khi các vấn đề cộng đồng, văn hóa, xã hội xung quanh người đồng tínhrất đáng được lưu tâm Bên cạnh đó, các đề tài nghiên cứu thường khắc họachân dung người đồng tính, xoay quanh các vấn đề về sức khỏe tình dục,phòng chống HIV/AIDS cho người đồng tính, nghiên cứu về sự kỳ thị và địnhkiến xã hội ảnh hưởng như thế nào đến người đồng tính, quyền, nhu cầu và cơhội tiếp cận với các nguồn lực xã hội của họ Theo những thu thập bước đầu
về tổng quan tài liệu, có thể thấy rằng số lượng những nghiên cứu trong nước
ít hơn nhiều so với các tài liệu của nước ngoài và các nghiên cứu tập trung vềnhận thức, thái độ của cộng đồng xã hội về người đồng tính còn rất ít Sau đâytác giả xin điểm qua một vài nghiên cứu theo trình tự báo cáo nghiên cứu,khóa luận, báo chí; ở Việt Nam và trên thế giới về người đồng tính và một sốvấn đề liên quan có ích cho đề tài này
Đối mặt với sự thật: Tình dục đồng giới nam (MSM) và HIV/AIDS ở
Việt Nam (Vũ Ngọc Bảo & Philippe Girault – Chuyên san giới tình dục vàsức khỏe tình dục, 2005) Nghiên cứu này đã cung cấp những thông tin vềtình dục đồng giới nam (MSM) ở Việt Nam, thực trạng và nguy cơ lây nhiễm
Trang 3HIV/ bệnh lây truyền qua đường tình dục trong nhóm MSM và bối cảnh xãhội của MSM Việt Nam Các kết quả dựa trên tổng quan chọn lọc các bài viết
và báo cáo nghiên cứu xã hội học từ năm 1990 đến năm 2000, đa số được tiếnhành tại các thành phố lớn TP Hồ Chí Minh và Hà Nội Các thông tin về đặcđiểm xã hội, văn hóa, bối cảnh xã hội thu thập được từ nghiên cứu định tính2
2
xã hội học, do Tổ chức Sức khỏe Gia đình Quốc Tế (FHI) và Ủy ban Phòngchống AIDS TP.HCM thực hiện năm 2004 Báo cáo tập trung nhấn mạnh vềviệc không có các chương trình dự phòng HIV cho MSM, đồng thời với sự kỳthị và phân biệt đối xử đi kèm, MSM đang đi vào bóng tối vô thức về nguy cơ
và các biện pháp dự phòng HIV cho bản thân họ Đặc biệt, việc bộc lộ khuynhhướng và đặc tính tình dục hạn chế họ trong việc tiếp cận các nguồn lực nhưgiáo dục, y tế,… khiến họ bị kỳ thị và phân biệt đối xử Bên cạnh đó nghiêncứu còn đưa ra khuyến nghị về các chương trình, chính sách nhằm công nhận
sự tồn tại của MSM Tuy nhiên báo cáo chỉ nhằm tập trung nghiên cứu vàonhu cầu dự phòng HIV của MSM nên tác giả nhấn mạnh “Để ra các quyết
định đúng đắn cần có thêm các nghiên cứu ước tính quần thể, các khía cạnhvăn hóa xã hội của MSM,…”
Báo cáo “Hình ảnh người đồng tính trên báo mạng và báo in”, Ths
Nguyễn Thị Tuyết Minh, Khoa Xã hội học, Học viện Báo chí Tuyên truyền(Các bài báo và công trình nghiên cứu về đề tài tính dục tại Học viện Báo chí
và Tuyên truyền năm 2008-2009)
Có thể nói báo cáo trên là cơ sở dữ liệu quan trọng, góp phần định hướngcho việc nghiên cứu và phân tích ảnh hưởng của báo chí truyền thông đếnnhận thức và thái độ của sinh viên đối với vấn đề đồng tính Thông qua
nghiên cứu trường hợp trên 502 bài báo in và báo mạng trong năm 2004, 2006
và đầu năm 2008, báo cáo đã đưa ra những phát hiện quan trọng Mặc dù sốlượng bài viết về nhóm đồng tính tăng lên theo thời gian song phần lớn cácbài viết này sử dụng đồng tính như một chi tiết gây sự chú ý của người đọctheo hướng bất lợi cho người đồng tính (71% trong tổng số 500 bài báo), điều
Trang 4này có thể là một trong những nguyên nhân gây nên sự kỳ thị trong xã hội.Không quá bất ngờ khi báo cáo chỉ ra rằng các khái niệm liên quan đến đồngtính vẫn bị nhầm lẫn tuy nhiên điểm đáng nói là sự thiếu hiểu biết về vấn đềđồng tính của một số tác giả kéo theo việc gán nhãn sai cho nhóm người đồngtính, điều này có xu hướng gây định kiến hoặc sự kỳ thị với nhóm này Bêncạnh đó, kết quả nghiên cứu còn cho thấy, các bài viết chuyên sâu về đồngtính còn nặng về lý giải nguyên nhân đồng tính với thái độ thường là lên án,chân dung người đồng tính thường được khắc họa theo định kiến giới hai giátrị, chân dung cộng đồng đồng tính phiến diện và tiêu cực, mức độ kỳ thị còn3
3
cao khi khắc họa hình ảnh người đồng tính (41%/ 502 bài báo), ngôn ngữ mô
tả mang định kiến có sự thay đổi đáng kể theo hướng tích cực (39% năm 2004
so với 16% năm 2008) Với hướng tiếp cận và phân tích đa chiều, đa dạng,báo cáo này đã đặt ra những vấn đề cấp bách cần tiếp tục giải quyết: Nhữngthông điệp truyền thông chưa đầy đủ và thiếu chính xác về người đồng tính vàcác vấn đề liên quan (đặc biệt là trên báo in và báo mạng) dễ gây ra sự hiểunhầm, thái độ kỳ thị của công chúng đối với nhóm người này Tuy nhiên, xét
về mặt thời gian, số lượng các bài viết về chủ này này cùng với thái độ trungtính hay khách quan ngày càng tăng, đặt ra câu hỏi: Liệu có sự chuyển đổitheo hướng tích cực về nhu cầu quan tâm, nhận thức và thái độ của côngchúng đối với đồng tính? Những lý do nào dẫn đến sự chuyển đổi ấy và liệu
nó có bền vững? Quan điểm trong báo cáo cho rằng “Người đồng tính e dèkhi công khai mình dễ được thông cảm hơn là người không giấu mình” có cònđúng ở thời điểm hiện tại và với đối tượng tiếp nhận như thế nào?
Khóa luận tốt nghiệp: “Hòa nhập xã hội của người đồng tính tại Việt
Nam” (2009), Phan Thị Thu Trang, Khoa xã hội học K25, Học viện Báo chí
và Tuyên truyền
Nghiên cứu đã cung cấp một bức tranh toàn cảnh về người đồng tính,
xây dựng chân dung người đồng tính qua lăng kính của chính họ Đây là mộtcách tiếp cận khá quan trọng, bổ sung vào việc thống nhất, tập hợp các quan
Trang 5điểm về người đồng tính, các vấn đề xã hội liên quan và đặc biệt là đã chạmtới góc khuất trong đời sống của người đồng tính Đóng góp quan trọng của
đề tài là đã khẳng định được nhu cầu hòa nhập xã hội của người đồng tính,những nhu cầu rất đỗi bình thường và cơ bản của một con người: nhu cầukhẳng định bản thân, nhu cầu về tình yêu, tình dục và hôn nhân, nhu cầu đượctôn trọng và công bằng xã hội, nhu cầu về giao tiếp và giải trí Thông quaphương pháp phân tích tài liệu và phỏng vấn sâu 10 đồng tính nam và đồngtính nữ từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2009 ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, kếtquả nghiên cứu cho thấy, định kiến xã hội, gia đình và sự kỳ thị của cộngđồng là những yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến sự hòa nhập xã hội của ngườiđồng tính, đặc biệt là vai trò của cộng đồng xã hội và những người xung
quanh Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra những điểm hạn chế đó là thiếu những4
4
nghiên cứu định lượng nhằm kiểm định lại kết quả định tính và cần thiết phải
có nghiên cứu đối chiếu với nhận thức và thái độ cộng đồng xã hội
Khóa luận tốt nghiệp: “Nhận thức và thái độ của sinh viên Học viện
Báo chí Tuyên truyền với đồng tính nam” (2009), Đặng Thị Thu Thủy,
Khoa Xã hội học K25, Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Với mục đích là khảo sát nhận thức và thái độ của sinh viên Học viện
Báo chí Tuyên truyền với đồng tính nam, thông qua điều tra và nghiên cứu,tác giả đã phân tích các yếu tố tác động từ đó đề xuất các giải pháp nhằmnâng cao nhận thức giúp cho sinh viên có thái độ tích cực hơn Kết quả
nghiên cứu cho thấy rằng đa phần sinh viên HVBCTT nhận thức còn hạn chế
và sai lệch về đồng tính nam, dẫn đến những thái độ tiêu cực đối với chủ đềnày Cho tới thời điểm nghiên cứu (tháng 4/2009) phần lớn sinh viên có thái
độ kỳ thị với đồng tính nam, chiếm 81,2% trên tổng số 208 người tham gianghiên cứu Có đến 41,3% sinh viên đồng tình với ý kiến xã hội không nêntồn tại đồng tính nam Đặc biệt, tác giả đã đưa ra được phát hiện quan trọng,bên cạnh yếu tố năm học và xuất thân tác động gián tiếp đến nhận thức và thái
độ kỳ thị của sinh viên trong các khía cạnh cụ thể của nghiên cứu, thì yếu tố
Trang 6ngành/ khoa sinh viên học có tác động rõ rệt đến nhận thức của sinh viên vềđồng tính nam, cụ thể là những khoa nghiệp vụ có nhận thức đầy đủ hơn cáckhoa lý luận (vì có chương trình giảng dạy lồng ghép các vấn đề về tính dục,
ví dụ khoa xã hội học có tỷ lệ sinh viên nhận thức đầy đủ về nguy cơ đối vớiđồng tính nam là 14,5% so với khoa Triết 0%) Ngoài ra, các phương tiệntruyền thông đại chúng cũng có tác động rất lớn đến nhận thức của sinh viên(63,9% sinh viên nghe thông tin về đồng tính nam từ sách báo và internet).Tuy nhiên nghiên cứu chưa đưa ra được kết luận đâu là yếu tố tác động mạnh
mẽ nhất Ngoài ra, nghiên cứu này chỉ tập trung vào đồng tính nam, vì vậychưa có cái nhìn bao quát về nhận thức và thái độ đối với vấn đề đồng tính nóichung (trong đó có đồng tính nữ), cũng như so sánh thái độ đối với đồng tínhnam và đồng tính nữ trong sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường văn hóa –
xã hội Nhìn chung, các kết quả trên của nghiên cứu có vai trò rất quan trọngtrong việc xác định hướng và trọng tâm nghiên cứu cơ bản, cụ thể là đặt nềntảng cho việc xây dựng giả thuyết nghiên cứu về nhận thức và thái độ của5
Qua bài viết “Quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới và
iSEE 2012” của tác giả Bình Lê đăng ngày 25/12/2012, có thể thấy rõ sự lantỏa và hiệu quả của các hoạt động thúc đẩy và bảo vệ quyền của cộng đồngthiểu số tính dục trong năm 2012 Điều này đã thể hiện sự quan tâm rất lớncủa toàn xã hội và nhà nước đối với mục tiêu đánh giá đúng và xóa bỏ kỳ thịđối với người đồng tính Bài viết đã chỉ ra rằng, cuộc thảo luận trên báo chí vàtrong xã hội về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT)
đã được khai thông theo hướng tích cực nhờ thông tin về việc Bộ tư pháptham vấn các cơ quan chính phủ về hôn nhân cùng giới, đẩy cuộc thảo luận từ
“Đồng tính có phải là bệnh không?” qua “Có nên cho phép người đồng tính
Trang 7kết hôn hay không?” Đây là bước tiến quan trọng nhờ những nỗ lực của bảnthân cộng đồng LGBT trong hơn bốn năm và sự ủng hộ, định hướng dư luận
xã hội đúng đắn của giới truyền thông báo chí Đã có nhiều sự kiện tập thể vàhoạt động nhằm đưa kiến thức đúng về cộng đồng LGBT cho sinh viên và xã
hội nói chung Các buổi giao lưu, hội thảo, tọa đàm với sinh viên các trườngđại học đã tạo cơ hội để sinh viên có kiến thức đúng và ủng hộ sự bình đẳngcho cộng đồng LGBT Bên cạnh đó, những hoạt động nhân đạo mà cộng đồngLGBT tham gia đã làm thay đổi xã hội theo hướng tích cực, thừa nhận và tôntrọng cộng đồng LGBT và gia đình họ Sự lên tiếng của Hội cha mẹ có con làđồng tính, song tính và chuyển giới (PFLAG) đã thuyết phục được nhiều nhàlàm luật cũng như xã hội về sự cần thiết phải hợp pháp hóa quan hệ cùng giới
và bảo vệ quyền bình đẳng của người LGBT và hạnh phúc gia đình Nhữngthành quả trên cần được toàn cộng đồng và xã hội tiếp tục ủng hộ và thúc đẩyhơn nữa để bảo vệ quyền bình đẳng của người đồng tính, song tính và chuyểngiới trong hôn nhân gia đình cũng như trong giáo dục, y tế và công ăn việclàm
Ảnh hưởng của những rào cản từ xã hội và luật pháp đến sự quan
tâm, khuyến khích việc nâng cao sức khỏe tình dục và về HIV/AIDS cho6
6
nam giới có quan hệ tình dục với nam giới ở Bangladesh và Ấn Độ (Nhà
xã hội học Shivananda Khan và Aditya Bondyopadhyay)
Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng số lượng MSM bị lạm dụng, bạo hành và
cưỡng hiếp là rất cao Trong đó, môi trường xã hội và luật pháp đã có nhữngảnh hưởng tiêu cực đến những can thiệp về sức khỏe tình dục cho MSM.Những rào cản này đã trực tiếp dẫn đến thực trạng làm gia tăng khả năng dễlây nhiễm HIV và các bệnh khác cho MSM Bên cạnh đó, những rào cản nàycòn là tác nhân khiến thực trạng bạo lực và vi phạm quyền con người đối vớicác MSM gia tăng đồng thời vô hình tạo ra sự sợ hãi cho họ Nghiên cứu này
đã góp phần đưa ra chiến lược nhằm giảm thiểu sự phân biệt đối xử và tìnhtrạng bị quấy rối cho MSM Một lần nữa, những vấn đề về nhân quyền và
Trang 8nguy cơ bệnh tật lại được đặt ra đối với người đồng tính, khi mà xã hội thiếu
sự cảm thông, quan tâm và nhìn nhận lại vấn đề đồng tính
Như vậy, qua tổng quan một số tài liệu nghiên cứu, ta có thể hình dung
phần nào tình hình nghiên cứu về đề tài đồng tính cũng như thấy được vị trí
và tầm quan trọng của những nghiên cứu về nhận thức và thái độ cộng đồngđối với vấn đề đồng tính Điều này đã đặt ra cho đề tài “Nhận thức và thái độcủa sinh viên hiện nay về đồng tính” những yêu cầu về việc nghiên cứu tổngquát và cụ thể nhận thức và thái độ của sinh viên đối với vấn đề này; cũngnhư phân tích thái độ của sinh viên đối với sự kỳ thị, phản đối của nhữngngười xung quanh người đồng tính; tìm hiểu được những yếu tố ảnh hưởngđến sự nhận thức và thái độ đó của sinh viên Các vấn đề của đồng tính vốn đãrất đa dạng, trong bối cảnh văn hóa Việt Nam mang đậm các giá trị truyềnthống thì việc cấp thiết phải có những nghiên cứu sâu rộng hơn, tập trungnhiều hơn vào mức độ quan tâm, quan điểm, thái độ của thanh niên sinh viên– nhóm đối tượng có nhu cầu nhận thức các vấn đề xã hội, hưởng ứng vàtham gia vào các hoạt động xã hội rất lớn Để bổ sung thêm những dữ liệuđịnh lượng về nhận thức và thái độ của sinh viên về đồng tính, cũng như cungcấp những số liệu có thể so sánh với các nghiên cứu trước, hy vọng rằng đềtài sẽ góp phần thúc đẩy những nghiên cứu chuyên sâu và đầy đủ hơn sau này.7
7
Mục đích – nhiệm vụ nghiên cứu:
3
3.1 Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu và xác định được mức độ nhận thức của sinh viên đối với vấn
đề đồng tính, mức độ quan tâm, thái độ của sinh viên đối với những vấn đềliên quan đến người đồng tính như thế nào (ủng hộ/ phản đối)
Trang 9- Tìm hiểu về những nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến nhận
thức và thái độ đó của sinh viên
- Đánh giá được thực trạng nhận thức và thái độ của sinh viên từ đó đề rađược các khuyến nghị với nhà trường cũng như một số giải pháp để khắc phục.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ các khái niệm có liên quan đến đề tài làm cơ sở cho tìm hiểu
nhận thức của sinh viên về đồng tính Khảo sát các tài liệu, báo cáo, nghiêncứu có liên quan nhằm đưa ra định hướng, cách tiếp cận cho đề tài
- Mô tả thực trạng nhận thức và thái độ của sinh viên về đồng tính và các
vấn đề liên quan
- Trên cơ sở các kết luận khách quan, chỉ ra và lý giải được các nguyên
nhân dẫn đến nhận thức và thái độ của sinh viên về đồng tính
- Đưa ra các khuyến nghị giúp nhà trường nâng cao và cải thiện hơn nữa
nhận thức, thái độ của sinh viên về đồng tính thông qua:
+ Chương trình giảng dạy lồng ghép các vấn đề về đồng tính, quyền và
nhu cầu chính đáng của họ
+ Các chương trình tuyên truyền, nâng cao nhận thức của Đoàn trường,
các hoạt động thường niên, câu lạc bộ,… nhằm giúp giảm bớt sự kì thị đối vớingười đồng tính
Đối tượng- khách thể - phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian tiến hành điều tra: từ ngày 1/4/2013 đến 7/4/2013
- Địa điểm: Học viện Báo chí tuyên truyền
8
8
Trang 10Phương pháp luận- phương pháp nghiên cứu:
-định kiến và kỳ thị xã hội, Thuyết tương tác ba ngôi của George Mead
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
5.2.1 Phương pháp thu thập thông tin:
- Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp với nghiêncứu định tính, trong đó nghiên cứu định lượng là phương pháp chủ yếu để thuthập thông tin, phương pháp định tính góp phần hỗ trợ, bổ sung cho nghiêncứu định tính Các thông tin thu thập được từ nghiên cứu định tính sẽ được sử
dụng để làm dẫn chứng, giải thích thêm cho số liệu định lượng
- Đề tài sử dụng bộ công cụ thu thập thông tin:
+ Nghiên cứu định lượng: bảng hỏi (Anket)
+ Nghiên cứu định tính: hướng dẫn phỏng vấn sâu
5.2.2 Phương pháp chọn mẫu:
+ Phương pháp chọn mẫu cho nghiên cứu định lượng:
Từ danh sách các lớp trong HV BC&TT, sử dụng phương pháp chọn
mẫu ngẫu nhiên hệ thống chọn ra 15 lớp, mỗi lớp lấy ngẫu nhiên ra 20 mẫu
Số lượng mẫu được chọn là 300 mẫu
+ Chọn mẫu (cho nghiên cứu định tính):
Đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, lựa chọn phỏng vấn
Trang 11sâu 10 sinh viên từ 4 khoa.
+ Phương pháp xử lý dữ liệu thông tin: SPSS11.5
Trong quá trình xử lý, bên cạnh việc chạy tần suất và tương quan đểphân tích dữ liệu, tác giả còn sử dụng cách tính trung bình cộng để tiện sosánh các mức độ đồng tình của sinh viên trong các trường hợp cụ thể.9
Giả thuyết 2: Đa số sinh viên HV BC&TT hiện nay vẫn còn thái độ kỳthị với người đồng tính
Trang 12và kỳ thị của gia đình, bạn bè, TTĐC đối với người đồng tính.
10
10
6.2 Khung lý thuyết:
Môi trường Xã hội –
Văn hóa – Pháp luật
Đặc điểm nhân khẩu học:
Giới tính
Quê quán
Nhận thức của sinh viên về: - Khái niệm người đồng tính
- Nghĩ đến dạng ĐT nào đầu tiên
- Xu hướng về người đồng tính
Nơi ở hiện tại
- Những nguyên nhân của đồng tính
Người trong gia đình/ người thân/ bạn bè là người đồng tính
Tham gia các hoạt động xã hội/ tình nguyện
Có người yêu hay chưa
Mức độ tiếp cận thông tin trên TTĐC
Thái độ của sinh viên về:
Mức độ chấp nhận
Thái độ của gia đình, bạn bè, hàng xóm, lãnh đạo – Đoàn thể, TTĐC đối với người
Trang 13- Truyền thông đại chúng
- Người xung quanh
- Các chương trình, hội thảo vì
quyền của người ĐT
Trang 14-Số lần đọc các thông tin về đồng tính trên các phương tiện TTĐC (Dưới 3 lần/ Từ 3
đến 5 lần/ Trên 5 lần)
-Tham gia các hội thảo về đồng tính, viết bài về đồng tính (có/không)
6.3.2 Biến số phụ thuộc: Nhận thức và thái độ của sinh viên về đồng tính:
Trang 16Thái độ của sinh viên khi bạn bè của người đồng tính (ở 2 mức độ riêng): bạn
bè ở trường và bạn bè xung quanh (nhóm, hội…):
Trang 17Không quan tâm.