Phương pháp Southern Blot được triển khai nhờ một số kỹ thuật nền tảng của công nghệ sinh học phân tử như: Tách chiết gen PCR Thẩm tích các phân tử acid nucleotide lên màng lai Lai p
Trang 1GVHD: Trần Thị DungSVTH: Nguyễn Thị Hoàng Yến 61103239
Nguyễn Văn Cư 61103020Huỳnh Thị Mai Thy 61103315
MÔN KỸ THUẬT DI TRUYỀN
PHƯƠNG PHÁP SOUTHERN BLOT
Trang 2Mục lục:
• 1.Nguyên lý.
• 2.Nguyên tắc.
• 1.Tạo mẫu dò nhờ Plasmid
Trang 3I Giới thiệu về phương pháp
Southern blot
Phương pháp lai Southern blot là phương pháp lai giữa DNA của
tế bào với mẫu dò DNA Phương pháp này cho phép nghiên cứu DNA của bộ gen, kiểm tra kết quả chuyển gen hoặc kiểm tra sự
có mặt của một gen nào đó trong bộ gen của tế bào
Southern blot - một kĩ thuật chủ yếu trong việc
phân tích cấu trúc của gene, được phát triển vào giữa thập niên 1970 do Edwin Southern ở MRC một bộ phân của genome động vật hữu nhũ ở
Edinburgh (Southern, 1975)
Edwin Southern
Trang 4Phương pháp Southern Blot được triển khai nhờ một số
kỹ thuật nền tảng của công nghệ sinh học phân tử như:
Tách chiết gen
PCR
Thẩm tích các phân tử acid nucleotide lên màng lai
Lai phân tử (lai với mẫu dò đặc hiệu)
…
Đến nay, kỹ thuật lai Southern đã được cải tiến đi rất nhiều, chủ yếu bao gồm:
Tăng độ nhạy
Giảm một số bước trong quá trình lai
Giảm thời gian thực hiện
Vẽ kĩ thuật ngày nay đơn giản hơn rất nhiều.
Trang 5II Nguyên lý và Nguyên tắc
Dựa vào nguyên tắc bổ sung giữa
các cặp nucleotide: A-T, G-C ( các đoạn polynucleotide mạch đơn có trình tự bổ sung).
Màng lai nitrocellulose hay nylon có khả năng tiếp nhận
DNA
Màng lai nitrocellulose hay nylon có khả năng tiếp nhận
DNA
Trang 6“Probe”, Probe được đánh
dấu.
Đòi hỏi một đọan DNA (RNA) đã biết trình tự để làm mồi
“Probe”, Probe được đánh
dấu.
Các vật liệu, trang thiết bị máy móc
chính xác:
màng lai, máy Blotting,
buồng lai, máy PCR
Các vật liệu, trang thiết bị máy móc
chính xác:
màng lai, máy Blotting,
buồng lai, máy PCR
Trang 7III Tạo mẫu dò (probe)
Tạo mẫu dò nhờ Plasmid
Cắt plasmid và DNA đã
tách chiết từ tế bào bởi cùng một loại enzyme
Gắn DNA vào plasmid
trong điều kiện môi trường phù hợp
Thực hiện biến nạp vào
trong tề bào vi khuẩn
Nhân các tế bào vi kuẩn và
Gắn DNA vào plasmid
trong điều kiện môi trường phù hợp
Thực hiện biến nạp vào
trong tề bào vi khuẩn
Nhân các tế bào vi kuẩn và
Biến tính mẫu DNA thành các sợi đơn
Gắn mồi vào các sợi đơn
Tổng hợp các sợi DNA mới
Biến tính để tách các chuỗi mới vừa tổng hợp thành các sợi đơn
tiếp tục quay về gắn mồi vào các sợi đơn
Trang 8Đánh dấu mẫu dò
Gồm có 4 phương pháp:
1 Phương pháp Nick-translation
2 Phương pháp random priming
3 Phương pháp đánh dấu các oligonucleotide
4 Phương pháp tạo mẫu dò RNA (riboprobe)
Trang 91 Phương pháp Nick-translation
DNAse I tạo các khía trên DNA ở nhiều vị trí ngẫu nhiên khác
nhau
DNA polymerase với hoạt tính exonuclease 5’-3’, cắt mạch
DNA theo chiều 5’-3’ theo các khía đã tạo sẵn, đồng thời, tổng hợp bù đoạn thiếu với sự tham gia của nucleotide đánh dấu (thường là dATP)
Kết quả là DNA được đánh dấu.
Trang 102 Phương pháp random priming
DNA kép được biến tính bằng nhiệt thành 2 mạch đơn.
Hỗn hợp các oligonucleotide tổng hợp được thêm vào, trở
thành mồi (primer) cho DNA polymerase tổng hợp mạch bổ sung
Một trong 4 loại nucleotide bổ sung vào được đánh dấu, nên 2
mạch mới tổng hợp cũng được đánh dấu
3 Phương pháp đánh dấu các oligonucleotide
Các oligonucleotide được tổng hợp dưới dạng mạch đơn rồi
được đánh dấu ở đầu 5’ nhờ enzyme T4 polynucleotide kinase với sự hiện diện của một nucleotide đánh dấu Sau phản ứng các nuclotide tự do cũng được loại bỏ bằng sắc kí lọc gel, sắc kí lỏng cao áp (HPLC),…
Trang 114 Phương pháp tạo mẫu dò RNA (riboprobe)
Trước hết, trình tự DNA dùng để sản xuất mẫu dò RNA phải
được đưa vào một vector có mang các promoter
Vector này được cắt ra thành dạng mạch thẳng; sau đó, RNA
polymerase thích hợp được thêm vào phản ứng cùng với các nucleotide đánh dấu
RNA polymerase sẽ phiên mã trình tự DNA bắt đầu từ
promoter, tạo ra một lượng lớn RNA đánh dấu
Sau phản ứng, vector có mang trình tự DNA gốc bị DNase I
phân hủy, các enzyme được loại bỏ qua tách chiết bằng
phenol và RNA được tinh sạch trên sắc kí lọc gel
Trang 12IV Quy trình của phương pháp
Trang 13Sản phẩm cắt được điện di trên gel agarose
DNA kép được xử lý với kiềm (NaOH 0.4M), biến tính thành DNA mạch đơn ngay trên gel.
•Kiềm giúp cho cực âm của gốc thymine trong DNA gắn kết với cực dương của gốc amino có trong màng, biến tính DNA mạch kép thành DNA mạch đơn, đồng thời, loại tất cả các RNA còn sót lại
•Chỉ có DNA đơn mới có thể được chuyển lên màng lai.
Trang 14Giai đoạn 2
Chuyển DNA vừa biến tính lên màng lai (màng nylon hoặc nitrocellulose)
Nguyên tắc của quá trình:
Là sự mao dẫn của dung môi (thường là NaOH/NaCl)qua lớp gel từ nơi có thế nước cao sang nơi có thế nước thấp, mang theo DNA đính lên màng lai được sắp xếp ngay trên lớp gel.Quá trình này diễn ra trong vài giờ hoặc có thể dùng thiết bị thấm hút chân không
Tương tác ion giữa màng lai (tích điện dương) và DNA (tích điện âm) tạo lực hút, gắn kết các DNA lên màng lai
Trong quá trình chuyển, vị trí các DNA không thay đổi
Màng lai sau quá trình trên, được xử lý nhiệt (80 0 trong 2 giờ) hoặc chiếu tia UV (vài phút) để cố định DNA trên màng .
Trang 15Cách tiến hành:
Đặt gel lên giá chuyển máy Bloting để chuyển nguyên vẹn các sợi DNA biến tính
Dung dịch dẫn chuyển là NaOH 0.4M
Màng lai sẽ giữ cố dịnh các đoạn DNA được chuyển lên
từ gel điện li
Trang 16Giai đoạn 3
Lai các DNA cố định trên màng lai với các mẫu
dò (probe) có đánh dấu phóng xạ ( 32 P), biotin hoặc mẫu dò phát quang sinh học Quá trình này dựa trên nguyên tắc bổ sung của các
probe với DNA cố định
Lai các DNA cố định trên màng lai với các mẫu
dò (probe) có đánh dấu phóng xạ ( 32 P), biotin hoặc mẫu dò phát quang sinh học Quá trình này dựa trên nguyên tắc bổ sung của các
probe với DNA cố định
Sau quá trình lai, màng lai được rửa để loại các probe không bắt cặp chuyên biệt với
DNA trên màng
Sau quá trình lai, màng lai được rửa để loại các probe không bắt cặp chuyên biệt với
DNA trên màng
Cuối cùng, nhờ kĩ thuật phóng xạ
tự ghi (đối với probe đánh dấu
phóng xạ), phương pháp so màu
(với probe đánh dấu bằng biotin)
hay dựa vào sự phát quang (với
các probe phát quang sinh học) để
định vị DNA-probe
Cuối cùng, nhờ kĩ thuật phóng xạ
tự ghi (đối với probe đánh dấu
phóng xạ), phương pháp so màu
(với probe đánh dấu bằng biotin)
hay dựa vào sự phát quang (với
các probe phát quang sinh học) để
định vị DNA-probe
Trang 19IV Ứng dụng
Southern blot được sử dụng để đánh giá bản copy của gen
trong genome, xác định các intron, exon, các đoạn bị đột biến thêm hoặc mất đoạn…
Khi sử dụng các DNA marker khác nhau làm mẫu dò, có thể
phân biệt được các loài, các loài đồng hình
Southern blot – RFLP : giúp phát hiện sự đa dạng chiều dài các
đoạn cắt bởi RE, qua đó, nhận biết sai biệt di truyền ở vị trí nhận biết của các RE dẫ đến sai biệt trong chiều dài của các đoạn DNA tạo ra từ RE đó Đòng thời RFLP còn sử dụng để xác định huyết thống, lập bản đồ giới hạn gene
Truy tìm tội phạm dựa vào dấu vết hiện trường.
Chuẩn đoán bệnh thai nhi.
Trang 20Tài liệu tham khảo:
• Sinh học phân tử - Hồ Huỳnh Thùy Dương
• www.Wikipedia.org
Trang 21THE END THANKS FOR WATCHING !