1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

TÌM HIỂU sự KHÁC NHAU GIỮA GIA súc và GIA cầm về cấu tạo

27 734 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 703,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÌM HIỂU SỰ KHÁC NHAU GIỮA GIA SÚC VÀ GIA CẦM VỀ CẤU TẠO MÔ HỌC CỦA RUỘT MỤC LỤC Phần 2. NỘI DUNG 1 2.1. Sơ lược về ruột 1 2.1.1. Đại thể ruột các loài 1 2.1.1.1. Ruột non 1 2.1.1.2. Ruột gia cầm 3 2.1.1.3. Ruột già: 6 2.1.2. Chức năng 7 2.1.2.1. Chức năng ruột non 7 2.1.2.2. Chức năng ruột già 7 2.1.3. Các biểu hiện lâm sàng khi thú có bệnh lý ở ruột và ảnh hưởng, một số thí dụ các bệnh chuyên biệt ở đường ruột trên thú 9 2.1.3.1. Rối loạn tiêu hóa ở ruột 9 2.1.3.2. Rối loạn chức năng hấp thu ở ruột 10 2.2. Cấu tạo mô học 11 2.2.1. Cấu tạo mô học ruột gia súc 11 2.2.2. Cấu tạo mô học ruột gia cầm 14 2.2.3. Sự khác biệt cấu tạo mô học ruột giữa gia súc và gia cầm 15 Phần 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 17 TÀI LIỆU THAM KHẢO 18 DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2. 1 So sánh đặc điểm các đoạn ruột non ở các loài 2 DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH Hình 2. 1 Ruột gia súc 1 Hình 2. 2 Ruột bò 2 Hình 2. 3 Ruột heo 3 Hình 2. 4 Ruột gia cầm 4 Hình 2. 5 Ruột già gia súc 6 Hình 2. 6 Các đặc điểm giải phẫu hiển vi 13 Hình 2. 7 Ruột non được đặc trưng bởi sự hiện diện của các nốt nhú, nhung mao, được lót bởi các tế bào ruột. Villi làm tăng đáng kể diện tích bề mặt của ruột. 14 Hình 2. 8 Cấu tạo mô học ruột gia cầm 15 Phần 1. MỞ ĐẦU Mọi sinh vật sống trên trái đất muốn tồn tại đều bắt buộc phải thông qua quá trình hấp thu dinh dưỡng để chuyển hóa thành năng lượng duy trì sự sống. Ruột là bộ máy tiêu hoá chính của cơ thể, nơi đây có hệ sinh vật vô cùng phát triển, để biến những thức ăn thô sơ thành những chất dinh dưỡng và năng lượng cung cấp cho mọi hoạt động củ cơ thể. Đảm nhận chức năng quan trọng trong cơ thể nên về cấu tạo ruột vô cùng cùng phức tạp và từng loại lại có những cấu tạo riêng để phù hợp với loại thức ăn và nhu cầu dinh dưỡng. Hệ sinh vật phát triển cũng là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh trên ruột làm ảnh hưởng toàn bộ cơ thể. Cơ thể sinh vật là một thể thống nhất các bộ phận đều gắn kết và phối hợp nhịp nhàng với nhau. Chỉ một tổn thương nhỏ trên cơ quan cũng có thể làm ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể. Những bệnh về ruột ngày nay có xu hướng tăng vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Để khắc phục cần tìm hiểu cấu tạo mô học từ đó có hướng giải quyết những bất thường. Xét về chức năng của ruột cơ bản đều giống nhau giữa các loài tuy nhiên về phần cấu tạo và mô học lại có phần khác nhau trên từng loài. Từ đó cách chăm sóc và điều trị cho chúng cũng có sự khác biệt nhất định vì vậy để góp phần làm rõ sự khác biệt giữa cấu tạo của ruột các loài nên em tiến hành tìm hiểu đề tài “Tìm hiểu sự khác nhau giữa gia súc và gia cầm về cấu tạo mô học của ruột” Phần 2. NỘI DUNG 2.1. Sơ lược về ruột Là phần dài nhất của ống tiêu hoá, ruột của động vât ăn cỏ dài hơn động vật khác. (Trịnh Thị Thu Hiền, 2020) Hình 2. 1 Ruột gia súc 2.1.1. Đại thể ruột các loài 2.1.1.1. Ruột non Là phần tiêu hoá và hấp thu chủ yếu. Ruột non có cấu tạo gồm ba lớp: Lớp áo ngoài (outermost layer) do phúc mạc tạo thành Lớp áo cơ (musticular layer): Có cơ vòng phía trong, cơ dọc phía ngoài. Xen kẽ giữa hai lớp cơ có thần kinh, mạch quản. Ruột loài ăn thịt có lớp cơ chéo mỏng. Lớp niêm mạc(mucosa) gồm : Lớp hạ niêm mạc có các tuyến ruột, đám rối thần kinh và mạch quản. Lớp cơ niêm mỏng. Lớp đệm có các tuyến ruột (Lieberkun), đáy tuyến có các tế bào (panet) tiết dịch nhầy (lợn và mèo không có các tế bào này). Các nang kín lâm ba ở lớp này tập trung tạo các mảng (Payer). Lớp biểu mô tương tự lớp biểu mô dạ dày (gồm các tế bào đơn trụ), có các lông nhung, vi nhung để hấp thu các chất dinh dưỡng. (Trịnh Thị Thu Hiền, 2020) Ruột non chia làm ba đoạn: a. Tá tràng (duodenum): được cố định nhờ dây chằng nối gan vào dạ dày tá tràng. Thành tá tràng có lỗ đổ vào của ống dẫn tuỵ (ống dẫn Wilsing) và ống dẫn mật (ống Choledoque) (Trịnh Thị Thu Hiền, 2020) b. Không tràng (jejunum): tiếp theo tá tràng, được cố định nhờ hệ thống màng treo ruột (trên màng treo có hệ thống mạch quản, mạch bạch huyết và dây thần kinh). Niêm mạc có nhiều gấp nếp. Trên các gấp nếp có hệ thống các lông nhung. Trên mỗi lông nhung có các vi nhung làm tăng diện tích bề mặt lên 30 lần. Mỗi tế bào đơn trụ có khoảng 3000 vi nhung. Xen kẽ giữa các tế bào biểu mô còn thấy các tế bào hình đài. Dưới niêm mạc có các nang kín lâm ba tập trung thành từng đám gọi là mảng peyer có chức năng sản sinh các tế bào bạch cầu. Thành không tràng dày, lớp cơ có cơ còng ở trong, cơ dọc ở ngoài. (Trịnh Thị Thu Hiền, 2020) Hình 2. 2 Ruột bò c. Hồi tràng (ileum): ngắn, nối với manh tràng của ruột già qua phần nối có cấu tạo một vòng cơ trơn và van một chiều (van hồi hồi manh tràng: ileocecal valve) (Trịnh Thị Thu Hiền, 2020) Bảng 2. 1 So sánh đặc điểm các đoạn ruột non ở các loài Đ. ruột Ngựa Bò Lợn Chó Tá Tràng Từ hạ vị vòng sang phải tạo thành đường cong hình chữ S dài khoảng 1m. Cách hạ vị 12 cm có lỗ đổ vào của ống dẫn tụy và ống dẫn mật Nằm ở khoảng sườn 1213 dưới đường ngang kẻ từ khớp chậu đùi song song với mặt đất, từ hạ vị ngược lên vùng hông phải tạo gấp khúc hình chữ U. Cách hạ vị 6070 cm có lỗ đổ vào của ống dẫn mật; sau đó 3035 cm có lỗ đổ vào của ống dẫn tuỵ Dài 4090 cm đi theo vòng cung sườn phải, phía sau giáp đầu trước thận phải. Cách hạ vị 25 cm có lỗ đổ vào của ống dẫn mật, và15 20 cm có lỗ đổ vào của ống dẫn tụy Từ dưới thận phải về sau đến mặt dưới đốt hông 5, 6 Không tràng dài 1216 m nằm ở hõm hông trái gấp đi gấp lại nhiều lần nằm áp sát thành bụng phải, nằm trên đường ngang kẻ từ giữa xương đùi đến xương sườn 12 dài 36 m nằm sau vùng bụng trái, có nhiều tuyến ruột. có 68 gấp khúc nằm phía vùng bụng trái Hồi tràng ngắn và khó phân biệt với không tràng, có nhiều mảng payer dài khoảng 1m nằm trước hõm hông phải từ vùng bụng trái vòng sang áp sát thành bụng phải đổ vào ruột già. phía phải xoangbụng; từ tá tràng đến đốt hông 1 2 Hình 2. 3 Ruột heo 2.1.1.2. Ruột gia cầm Ngắn ở chim ăn thịt, dài ở chim ăn hạt. Đường kính ruột ít thay đổi từ đầu đến cuối nên khó phân biệt giữa ruột non và ruột già. Đoạn đầu của ruột có một quai gấp (ứng với đoạn tá tràng ) gồm hai nhánh đi song song với nhau, kẹp giữa là tuỵ dài. Sau quai tá tràng, ruột gấp lại thành hồi tràng và treo ở vùng dưới hông bởi một mạc treo dài. Hồi tràng hợp thành một khối nằm giữa hai túi khí bụng. Gần chỗ tận cùng của ruột phát ra hai mang nang dài 1520 cm hướng về trước (ở gà, vịt). Bồ câu chỉ có một củ nhỏ. (Trịnh Thị Thu Hiền, 2020) Hình 2. 4 Ruột gia cầm Trực tràng là một đoạn ngắn từ lỗ đổ vào của hai manh nang đến ổ nhớp (cloaca). Ổ nhớp là hốc chung thải phân, nước tiểu. Trong ổ nhớp có dương vật và túi fabricius (bursa of fabricius) (Trịnh Thị Thu Hiềm, 2020) Ruột non được tạo thành từ tá tràng (còn gọi lànhư quai tá tràng) và ruột non phía dưới. Tá tràng nhậnmen tiêu hóa và bicarbonate (để chống lại axit clohydric từ proventriculus) từ tuyến tụy và mật từ gan qua túi mật. Các enzym tiêu hóa do tuyến tụy sản xuất chủ yếu liên quan đến protein tiêu hóa. Tuyến tụy đóng vai trò quan trọng trong cả tiêu hóa và nội tiết tố các hệ thống. Nó cũng tiết ra các hormone vào hệ thống máu quan trọng trong điều hòa lượng đường trong máu. Mật là một chất tẩy rửa quan trọng trong quá trình tiêu hóa lipid và hấp thu các vitamin tan trong chất béo (vitamin A, D, E và K). Các phần còn lại của quá trình tiêu hóa xảy ra trong tá tràng và các chất dinh dưỡng được giải phóng là được hấp thu chủ yếu ở phần dưới ruột non (hỗng tràng và hồi tràng). Thấp hơn ruột non được cấu tạo bởi hai phần là hỗng tràng và hồi tràng. Các merkels diverticulum đánh dấu phần cuối của hỗng tràng và phần bắt đầu của hồi tràng. Chỉ trước nở, túi noãn hoàng, đã được cung cấp dinh dưỡng trong quá trình phôi thai phát triển, được hút vào khoang rốn. Cái túi nhỏ còn sót lại là merkels diverticulum. Túi noãn hoàng cung cấp thức ăn và nước cho gà con mới nở và là lý do mà gà con có thể được vận chuyển một khoảng cách đáng kể mà không có tác dụng phụ. Viêm miệng là một tình trạng đặc trưng bởi túi noãn hoàng bị nhiễm trùng, thường kèm theo rốn chưa lành ở những con mới nở gần đây gà con. Nó là bệnh truyền nhiễm nhưng không lây. Nó thường được kết hợp với quá mức độ ẩm và sự ô nhiễm rõ rệt đối với trứng nở hoặc máy ấp. Các gà con bị ảnh hưởng thường xuất hiện bình thường cho đến vài giờ trước khi chết. Phiền muộn, đầu rủ xuống và co ro gần nguồn nhiệt thường là dấu hiệu. Rốn có thể bị viêm và không đóng lại được, tạo ra một vết ẩm ướt trên phần bụng; có thể có vảy. Manh tràng là hai túi mù ở chỗ nối của ruột non và ruột già. Tái hấp thụ nước diễn ra trong manh tràng. Lên men nguyên liệu thô và sản xuất tám loại vitamin B (Thiamine, riboflavin, niacin, axit pantothenic, pyridoxine, biotin, axit folic và vitamin B12) cũng xuất hiện trong manh tràng, nhưng vì manh tràng nằm gần 3.5 phần cuối của đường tiêu hóa có sự hấp thụ tối thiểu của bất kỳ chất dinh dưỡng nào được giải phóng. Các manh tràng làm rỗng nội dung của chúng hai hoặc ba lần một ngày, tạo ra nhão phân thường có mùi hôi hơn phân thông thường và thường mù tạt để màu nâu sẫm. Tần suất phân của manh tràng, cũng như xuất hiện giữa phân thường xuyên, cho bạn biết đường tiêu hóa của gà là về mặt chức năng bình thường. • Ruột già (còn gọi là ruột kết): Mặc dù có tên gọi, nhưng ruột già ruột thực sự ngắn hơn ruột non. Ruột già là nơi cuối cùng của quá trình tái hấp thụ nước xảy ra. • Kết tràng: Trong kết tràngcó sự trộn lẫn các chất thải tiêu hóa với chất thải từ hệ thống tiết niệu (urat). Vật liệu phân thường bị vô hiệu hóa như chất thải tiêu hóa với các tinh thể axit uric màu trắng ở bề mặt bên ngoài (tức là gà không đi tiểu đái ra máu). Đường sinh sản cũng thoát ra ngoài qua khu vực này (ví dụ: trứng hoặc tinh trùng). Cả ruột non và ruột già thường được sinh sống bởi các vi khuẩn có lợi. Hỗ trợ microflora trong tiêu hóa và tăng cường khả năng miễn dịch bằng cách canh giữ lãnh thổ của chúng (tức là đường tiêu hóa) chống lại vi trùng xâm nhập. Bệnh đường ruột thường xảy ra khi sự cân bằng của hệ vi sinh bị rối loạn hoặc hệ vi sinh bình thường bị quá nhiều sinh vật lạ xâm nhập. (https:kenanaonline.comfiles007373747CHICKEN%20ANATOMY%20AND%20PHYSIOLOGY.pdf) 2.1.1.3. Ruột già Có đường kính lớn, được cố định trong xoang bụng nhờ màng treo ruột già. Ruột già có đặc điểm cấu tạo gồm ba lớp: Ngoài cùng là lớp tương mạc Giữa là lớp cơ gồm: lớp cơ dọc tập trung thành từng bó. Lớp cơ vòng ở trong thắt lại từng đoạn. Phần giáp với trực tràng là cơ vân, xen kẽ có các mạch quản và thần kinh. Thành ruột già có các u bướu nổi lên. Lớp niêm mạc không có hệ thống lông nhung. Lớp hạ niêm mạc không có các tế bào tiết dịch. Thành ruột có các nang lâm ba phân tán Chức năng của ruột già: Lên men vi sinh vật, tạo vitamin, hấp thu nước, muối khoáng và tạo khuôn phân. Hình 2. 5 Ruột già gia súc Ruột già phân làm ba đoạn: Manh tràng (cecum) là nơi sảy ra quá trình lên men, tạo axit béo, các axit amin Kết tràng (colon) là đoạn ruột dài nhất của ruột già Trực tràng (rectum) có đoạn đầu nằm trong xoang bụng; đoạn sau trong xoang chậu, áp sát mặt dưới xương khum. Trực tràng thẳng, không có u bướu, niêm mạc có các gấp nếp dọc. Lớp cơ và lớp niêm mạc liên kết lỏng lẻo với nhau. (Trịnh Thị Thu Hiền, 2020) 2.1.2. Chức năng 2.1.2.1. Chức năng ruột non Ruột non của gia súc nhai lại có cấu tạo và chức năng tương tự như của gia súc dạ dày đơn. Trong ruột non có các enzym tiêu hoá tiết qua thành ruột và tuyến tuỵ để tiêu hoá các loại tinh bột, đường, protein và lipid. Những phần thức ăn chưa được lên men ở dạ cỏ (dinh dưỡng thoát qua) và sinh khối VSV được đưa xuống ruột non sẽ được tiêu hoá bằng men. Ruột non còn làm nhiệm vụ hấp thu nước, khoáng, vitamin và các sản phẩm tiêu hoá ở ruột (glucoza, axít amin và axít béo). Gia súc càng cao sản thì vai trò tiêu hoá ở ruột non (thức ăn thoát qua) càng quan trọng vì khả năng tiêu hoá dạ cỏ là có hạn. (http:www.naihuou.comKienthucchannuoi2617304104530Bomaytieuhoacuagiasucnhailai.html) Ruột non là một ống dài tới 150 feet với dung tích 20 gallon trong một con bò trưởng thành. Chất tiêu hóa đi vào ruột non trộn với dịch tiết từ tuyến tụy và gan làm tăng độ pH từ 2,5 đến giữa 7 và 8. Độ pH cao hơn này là cần thiết cho các enzym trong ruột non hoạt động tốt. Mật từ túi mật là tiết vào đoạn đầu tiên của ruột non để hỗ trợ tiêu hóa. Chất dinh dưỡng tích cực sự hấp thụ xảy ra khắp ruột non bao gồm cả protein đi qua dạ cỏ sự hấp thụ. Thành ruột chứa nhiều hình chiếu giống như ngón tay được gọi là nhung mao. tăng diện tích bề mặt ruột để hỗ trợ quá trình hấp thụ dinh dưỡng. Hỗ trợ co thắt cơ bắp trong việc trộn các mô hình và chuyển nó sang phần tiếp theo. (Jane Parish, 2011) Ruột non là nơi hấp thụ chính của thú ăn thịt và thú ăn tạp. Ở thú ăn cỏ sự hấp thu cũng chiếm một vai trò quan trọng. Đó là nhờ các tế bào mâm khía có một mạng lưới vi nhung mao phát triển cũng như mạng lưới mạch máu và mạch bạch huyết ở trục liên kết. Ruột non cũng tham gia chủ yếu trong tiêu hoá thức ăn nhờ tuyến ruột tiết ra dịch ruột có chứa các mêm trypsin, enterokinase, amylase, lipase, erepsin, invectin. Ngoài ra do chuyển động của ruột thúc ăn được nhào trộn với dịch tiêu hoá ruột, dịch tuỵ và mật và được đẩy đi thuận chiều. Ruột non cũng tham gia bảo vệ cơ thể nhờ những nang bạch huyết nằm ở vách ruột và những tế bào biểu mô đặc biệt gọi là tế bào M. (Lâm Thị Thu Hương, 2005) 2.1.2.2. Chức năng ruột già Ruột già có chức năng lên men, hấp thu và tạo phân. Trong phần manh tràng có hệ vi sinh vật tương tự như trong dạ cỏ có vai trò lên men các sản phẩm đưa từ trên xuống. Đối với gia súc nhai lại lên men vi sinh vật dạ cỏ là lên men thứ cấp, còn đối với một số động vật ăn cỏ dạ dày đơn (ngựa, thỏ) thì lên men vi sinh vật ở manh tràng lại là hoạt động tiêu hoá chính. Các axit béo bay hơi sinh ra từ quá trình lên men trong ruột già được hấp thu tương tự như ở dạ cỏ, nhưng xác vi sinh vật không được tiêu hoá tiếp mà thải ra ngoài qua phân. Trực tràng có tác dụng hấp thu nước, tạo khuôn và tích trữ phân. (http:www.naihuou.comKienthucchannuoi2617304104530Bomaytieuhoacuagiasucnhailai.html) Ruột già có chức năng hấp thụ nước từ vật chất đi qua nó và sau đó để đào thải các chất còn lại dưới dạng phân ra khỏi trực tràng. Manh tràng là một mù lớn túi ở đầu ruột già phục vụ ít chức năng ở động vật nhai lại, không giống như vai trò của nó đối với ngựa. Đại tràng là nơi hấp thụ phần lớn nước trong đại ruột. (Jane Parish, 2011) Động vật nhai lại chưa trưởng thành như bê non, đang lớn từ sơ sinh đến khoảng 2 đến 3 tháng tuổi là động vật không nhai lại về mặt chức năng. Rãnh lưới (thực quản) hiện diện trong động vật non được hình thành bởi các nếp gấp của lưới cơ. Nó pha sữa trực tiếp vào omasum và sau đó là abomasum, bỏ qua reticulorumen. Dạ cỏ trong những động vật phải được cấy vi sinh vật dạ cỏ. Điều này được cho là hoàn thành thông qua động vật nhai lại trưởng thành liếm bê và tiếp xúc với môi trường các vi sinh vật này. (Jane Parish, 2011) Động vật nhai lại chưa trưởng thành phải trải qua quá trình tăng trưởng reticulorumenomasal bao gồm tăng khối lượng và cơ. Nhú dạ cỏ (vị trí hấp thụ chất dinh dưỡng) kéo dài và giảm số lượng như một phần của sự phát triển dạ cỏ. Bởi vì động vật nhai lại chưa trưởng thành làm không có dạ cỏ chức năng, các khuyến nghị cho ăn khác nhau đối với động vật nhai lại đang phát triển so với gia súc nhai lại trưởng thành. Ví dụ, nó được khuyến khích cho động vật nhai lại chưa trưởng thành không được phép tiếp cận với thức ăn có chứa nitơ phi protein như urê. (Jane Parish, 2011) Động vật nhai lại đang phát triển cũng nhạy cảm hơn với gossypol và mức chất béo trong chế độ ăn uống hơn động vật nhai lại trưởng thành. Thiết kế các chương trình dinh dưỡng cho động vật nhai lại xem xét tuổi của động vật. (Jane Parish, 2011) 2.1.3. Các biểu hiện lâm sàng khi thú có bệnh lý ở ruột và ảnh hưởng, một số thí dụ các bệnh chuyên biệt ở đường ruột trên thú 2.1.3.1. Rối loạn tiêu hóa ở ruột • Rối loạn tiết dịch ruột a. Biểu hiện lâm sàng Tăng tiết dịch: chủ yếu do ruột bị kích thích bởi yếu tố cơ học, hóa học, nhiệt độ, sinh vật và tiết dịch nhiều nhất đặc biệt làm cho viêm ruột, loét ruột (khi viêm tăng tiết dịch lên 8 lần) dẫn đến ỉa chảy. Giảm tiết dịch: viêm ruột mãn tính làm teo ruột, các quá trình bệnh lý khác: sốt, đau từ nơi khác. b. Ảnh hưởng chung Hậu quả giảm tiết dịch gây ỉa chảy là chủ yếu dẫn đến suy dinh dưỡng. • Rối loạn tiết mật a. Biểu hiện lâm sàng Rối loạn tiêu hóa mỡ dẫn tới rối loạn protein do mỡ bọc protein xung quanh. Mất cân bằng hệ vi sinh vật (vì mật ngoài tác dụng tiêu hóa còn có tác dụng sát trùng). Rối loạn hấp thu một số vitamin.(Phạm Thị Huê, 2020) b. Ảnh hưởng chung Tắc mật (viêm, u sẹo, sỏi, giun chui ống mật, viêm niêm mạc tá tràng) Do thiếu mật (thiếu máu, bệnh ở gan, giảm co bóp túi mật). (Phạm Thị Huê, 2020) • Hội chứng tắc ruột a. Biểu hiện lâm sàng Khi một đoạn ruột bị tắc thì phần trên chỗ tắc tăng cường co bóp, mục đích để làm thông chỗ tắc cho nên gây cơn đau dữ dội, từng đợt theo nhu động ruột tạo nên hiện tượng rắn bò thành bụng (đau bụng ở ngựa) khi nhìn nghiêng. Tiếp theo là ruột chướng hơi do các vi sinh vật lên men, hấp thu giảm, ứ trệ các tiết dịch của ruột do giảm hấp thu và tràn dịch từ máu vào lòng ruột. Nguyên nhân gây chết chủ yếu do mất nước và thần kinh bị kích thích do ruột căng gây ra. (Phạm Thị Huê, 2020) b. Ảnh hưởng chung Khi tắc ruột non ở phần trên thì hậu quả trước tiên là mất nước và mất muối do nôn nhiều, mất nước kèm theo mất HCl cho nên gây hiện tượng nhiễm kiềm. Khi tắc tá tràng nôn kèm cả dịch ruột kiềm tính cho nên sẽ bị nhiễm độc axit. Ngoài ra mất nước máu cô độc gây rối loạn tuần hoàn, huyết áp giảm, máu qua thận ít lọc ít gây thiểu niệu hoặc vô niệu, mê cao. (Phạm Thị Huê, 2020) Khi tắc phần thấp như ruột già thì triệu chứng yếu hơn nhưng tình trạng nhiễm độc lại mạnh hơn. (Phạm Thị Huê, 2020) Yếu tố căng ruột do tắc tác động lên thần kinh ở thành ruột và ở bụng cũng có tác dụng gây rối loạn tuần hoàn và gây chết. (Phạm Thị Huê, 2020) 2.1.3.2. Rối loạn chức năng hấp thu ở ruột a. Biểu hiện lâm sàng Có thể do những nguyên nhân rối loạn hấp thu tại ống tiêu hóa như các bệnh ở dạ dầy, gan, mật, tuỵ và tại ruột. (Phạm Thị Huê, 2020) Do nhiễm các chất độc như ăn phải cỏ độc, độc tố aflatoxin, nấm mốc... cũng gây ỉa chảy viêm xuất huyết. (Phạm Thị Huê, 2020) Do rối loạn tuần hoàn tại ruột, như tắc mạch (do ký sinh trùng ở ngựa thường các búi giun gây tắc mạch ở màng treo ruột ngựa gây cơn đau bụng dữ dội). Các vi sinh vật theo thức ăn và nước uống vào trong cơ thể E. con, Salmonella, các trùng yếm khí, các nấm độc, coronavirus, rotavirus, vi rút dịch tả lợn. (Phạm Thị Huê, 2020) Do yếu tố nội tiết như thiểu năng tuyến giáp trạng, tuyến thượng thận gây giảm hấp thu. (Phạm Thị Huê, 2020) Do rối loạn thần kinh X làm giảm nhu động ruột gây nhiễm khuẩn dẫn đến kém hấp thu. (Phạm Thị Huê, 2020) b. Ảnh hưởng chung Đặc biệt quá trình hấp thu xảy ra chủ yếu ở ruột non trong một số bệnh của gia súc như Colibacillosis, Salmonella, ỉa phân trắng làm teo niêm mạc ruột, teo lông rung làm cho diện tích hấp thu giảm. Cũng là nguyên nhân gây kém hấp thu dẫn tới suy dinh dưỡng, còi cọc, từ kém hấp thu còn dẫn tới nhiều trạng thái bệnh lý khác như thiếu vitamin D gây còi xương, thiếu vitamin C gây thiếu Fe, thiếu máu nhược sắc. Thiếu vitamin nhóm B (B1, B12) gây thiếu máu ác tính, phù, viêm. Thiếu vitamin A gây viêm niêm mạc da, mắt khô. Thiếu vitamin K gây xuất huyết. Thiếu vitamin E ảnh hưởng đến chức năng sinh dục... (Phạm Thị Huê, 2020) 2.2. Cấu tạo mô học 2.2.1. Cấu tạo mô học ruột gia súc Ruột non của hầu hết các loài trong nước khá giống nhau về chức năng và mô học. Sự khác biệt về cấu trúc và chức năng ở các vùng cụ thể của ruột non mang lại khả năng chức năng khác biệt cho các phân đoạn này. Ruột non được chia thành ba đoạn rõ rệt, từ miệng đến ruột: tá tràng, hỗng tràng và hồi tràng. Các chức năng chính của ruột non là tiêu hóa, bài tiết và hấp thụ. Niêm mạc ruột non có một số sự thích nghi về mặt giải phẫu nhằm tạo ra một diện tích bề mặt rộng lớn để tiêu hóa và hấp thụ các chất dinh dưỡng. Chúng bao gồm các vòng tuần hoàn (nếp gấp ruột), nhung mao và vi nhung mao. ( https:ohiostate.pressbooks.pubvethistochapter8smallintestine) Niêm mạc ruột non được đặc trưng bởi nhiều nhú gai, phân bố đều đặn gọi là nhung mao. Villi được lót bởi các tế bào biểu mô trụ, tế bào ruột. Tế bào ruột có các vi nhung mao ở đỉnh (viền bàn chải). Mặc dù không thể phân biệt được các vi nhung mao riêng lẻ, nhưng đường viền bàn chải rõ ràng là một lớp màu nhạt, đều màu ~ 1 µm dọc theo bề mặt bề ngoài của tế bào ruột. Tế bào ruột hoạt động chủ yếu trong tiêu hóa và hấp thụ. Các tế bào ruột nằm xen kẽ với các tế bào hình cốc, tế bào biểu mô trụ với lượng tế bào chất phong phú, kém bắt màu, đại diện cho mucin. Mật độ của tế bào cốc thường dồi dào hơn ở các đoạn xa hơn của ruột. (https:ohiostate.pressbooks.pubvethistochapter8smallintestine) Các nhung mao ruột tiếp giáp với các tuyến nằm ở phần gốc của nhung mao: các đoạn mã của Lieberkuhn, hoặc các tuyến mật của ruột. Các mật mã chứa quần thể tế bào gốc biểu mô ruột đang hoạt động phân bào. Hình dạng phân bào thường được nhìn thấy trong các tế bào của mật mã. Trong các màng ngăn, các tế bào gốc biểu mô phân chia và đẩy lên trên (theo chiều dọc), tiếp tục biệt hóa thành các tế bào ruột hoặc tế bào cốc. Bằng cách này, các nhung mao ruột non tương tự như một băng chuyền sản xuất các tế bào biểu mô đường tiêu hóa được tạo ra trong các ngăn lạnh và dần dần di chuyển bề ngoài dọc theo các nhung mao về phía bề mặt âm đạo, tại đó, ở các đầu của nhung mao, các tế bào biểu mô được ghép vào lumen. Quá trình này diễn ra liên tục và thúc đẩy tỷ lệ thay thế luân chuyển tế bào ruột cao. ( https:ohiostate.pressbooks.pubvethistochapter8smallintestine) Ngoài các tế bào ruột và tế bào cốc, ruột non chứa một số lượng thấp các tế bào phụ. Ở một số loài như ngựa, mật mã chứa số lượng tế bào thấp, tế bào Paneth, chứa nhiều hạt tế bào chất bạch cầu ái toan. Những hạt này chứa các phân tử kháng khuẩn quan trọng trong khả năng miễn dịch bẩm sinh của đường ruột. Cuối cùng, số lượng tế bào nội tiết thấp nằm xen kẽ trong các ngăn lạnh. Các tế bào nội tiết này sản xuất ra các hormone có thể bao gồm somatostatin, cholecystokinin, và secrettin. Các tế bào nội tiết không rõ ràng trong các phần HE thông thường. Lớp đệm của ruột non kéo dài vào và tạo thành lõi của nhung mao ruột non. Lớp đệm nhung mao được cấu tạo chủ yếu từ mô keo lỏng lẻo, nhưng chứa một số cấu trúc và tế bào quan trọng. Lớp đệm của nhung mao giàu cả mao mạch và bạch huyết giúp vận chuyển các chất dinh dưỡng được hấp thụ bởi các tế bào ruột trên bề mặt da. Lớp đệm ruột non cũng chứa số lượng tế bào miễn dịch thấp, bao gồm tế bào lympho và tế bào plasma, và một số lượng nhỏ tế bào lympho thường nằm trong biểu mô nhung mao. ( https:ohiostate.pressbooks.pubvethistochapter8smallintestine) Mặc dù phần lớn các đặc điểm đã thảo luận trước đây của ruột non áp dụng cho tá tràng, hỗng tràng và hồi tràng, nhưng việc phân biệt các đặc điểm giải phẫu vi thể của tá tràng và hồi tràng được trình bày chi tiết dưới đây. Tá tràng Môn vị đổ vào lòng tá tràng. Lớp dưới niêm mạc tá tràng chứa các tuyến tubuloacinar mở rộng, tuyến Brunner, được lót bởi các tế bào biểu mô hình trụ cao với tế bào chất giàu mucin, ít bắt màu. Các tuyến của Brunner giao tiếp với lumen của các đoạn mã của Lieberkuhn. Các tuyến tiết của Brunner có tính kiềm và giúp trung hòa dịch tiêu hóa có tính axit nhận được từ dạ dày. Hình 2. 6 Các đặc điểm giải phẫu hiển vi Ống tụy và ống mật chủ chèn vào thành tá tràng và thông với lòng tá tràng. Hồi tràng Niêm mạc hồi tràng chứa một số lượng lớn các mô tổ chức lympho (các nang lympho), được gọi là các mảng Peyer. Các bản vá lỗi của Peyer đóng vai trò như một cơ quan lymphoid chính và phụ. Các bản vá của Peyer là thành phần quan trọng của GALT. ( https:ohiostate.pressbooks.pubvethistochapter8smallintestine) Hình 2. 7 Ruột non được đặc trưng bởi sự hiện diện của các nốt nhú, nhung mao, được lót bởi các tế bào ruột. Villi làm tăng đáng kể diện tích bề mặt của ruột. 2.2.2. Cấu tạo mô học ruột gia cầm Người ta quan sát thấy thành ruột non bao gồm của niêm mạc tunica, dưới niêm mạc, tunica muscularis và tunica các lớp thanh mạc (Hình 2a). Lớp biểu mô của tunica niêm mạc được hình thành với các tế bào cột đơn lớp và các tế bào cốc được tìm thấy giữa chúng. Lamina lớp đệm bao gồm mô bạch huyết khuếch tán. Nó đã được quan sát rằng các cơ lamina kéo dài vào nhung mao ruột như một lớp cơ mỏng mịn. Lớp dưới niêm mạc được xem là mô liên kết lỏng lẻo, bao gồm bạch huyết mô. Tunica muscularis có hình tròn bên trong và bên ngoài các lớp cơ trơn dọc, và thanh mạc tunica được cấu tạo bởi các mô liên kết lỏng lẻo. Các tiểu thùy trong gan của chim ó không được chú ý khi họ được kiểm tra mô học vì nó thấy rằng không có vách ngăn giữa các khối (Kafkas Univ Vet Fak Derg, 2018) Hình 2. 8 Cấu tạo mô học ruột gia cầm Kiểm tra cho thấy trong trường hợp tế bào gan, rìa rõ ràng, bao quanh tĩnh mạch trung tâm, và ở đó cũng là hình sin giữa các tế bào gan. Gan động mạch, tĩnh mạch liên cầu và một ống mật đã được quan sát thấy trong không gian Kiernan (trường cổng) trong gan. Ngoài ra, các khu vực bạch huyết được tìm thấy trong gan. Một phản ứng dương tính với PAS đã được phát hiện trong các tế bào cốc và trong lớp dưới niêm mạc của ruột non. Nó đã cũng được quan sát thấy trong một số tế bào chất tế bào gan và một số các vùng mô liên kết trong gan. (Kafkas Univ Vet Fak Derg, 2018) Người ta xác định có catalase tế bào chấthoạt tính miễn dịch ở lớp đệm và lớp dưới niêm mạccác lớp của tá tràng, hỗng tràng và hồi tràng trongkiểm tra ruột non. Tuy nhiên, điều này phản ứng không được tìm thấy trong lớp biểu mô và lớp đệm các lớp cơ trong những phần đó của ruột non. Một số tế bào biểu mô có phản ứng rất yếu, nhưng không có phản ứng nào trong các phần khác của đoạn mã. Hoạt động miễn dịch catalase trong gan đã khuếch tánvà dạng hạt trong tế bào chất của tế bào gan. Các phản ứng nói chung là trong tế bào chất, nhưng trong một số tế bào gan, phản ứng đã được nhìn thấy trong cả tế bào chất và nhân. Nó đã quan sát thấy các tế bào gan có các mức độ khác nhau của hoạt động miễn dịch. Không có catalase hoạt tính miễn dịch trong các vùng mô liên kết, tế bào nội mô, Kupffer tế bào và ống mật của gan. (Kafkas Univ Vet Fak Derg, 2018) 2.2.3. Sự khác biệt cấu tạo mô học ruột giữa gia súc và gia cầm Ruột gia cầm không có kết tràng nhưng có hai manh tràng. Đoạn cuối ống tiêu hoá kết thúc bằng xoang tiết niệu sinh dục. Sự hấp thu xảy ra mạnh nhất ở ruột non, manh tràng và xoang tiết niệu. (Lâm Thị Thu Hương, 2005) Phần 3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 3.1. Kết luận Ruột gia súc là phần dài nhất của ống tiêu hoá, ruột của động vât ăn cỏ dài hơn động vật khác Ruốt gia cầm ngắn ở chim ăn thịt, dài ở chim ăn hạt. Đường kính ruột ít thay đổi từ đầu đến cuối nên khó phân biệt giữa ruột non và ruột già. Ruột non của gia súc nhai lại có cấu tạo và chức năng tương tự như của gia súc dạ dày đơn. Trong ruột non có các enzym tiêu hoá tiết qua thành ruột và tuyến tuỵ để tiêu hoá các loại tinh bột, đường, protein và lipid. Ruột già có chức năng lên men, hấp thu và tạo phân. Trong phần manh tràng có hệ vi sinh vật tương tự như trong dạ cỏ có vai trò lên men các sản phẩm đưa từ trên xuống. Đối với gia súc nhai lại lên men vi sinh vật dạ cỏ là lên men thứ cấp, còn đối với một số động vật ăn cỏ dạ dày đơn (ngựa, thỏ) thì lên men vi sinh vật ở manh tràng lại là hoạt động tiêu hoá chính. Ruột giữ vai trò quan trọng trong bộ máy tiêu hóa. Ở đây thức ăn được chuyển hoàn toàn thành những chất hấp thu được. Rối loạn chức năng tiêu hóa ở ruột có thể là những rối loạn về tiết dịch, rối loạn co bóp ruột, rối loạn hấp thu và bài tiết. Ruột non của hầu hết các loài trong nước khá giống nhau về chức năng và mô học. Sự khác biệt về cấu trúc và chức năng ở các vùng cụ thể của ruột non mang lại khả năng chức năng khác biệt cho các phân đoạn này. Ruột non được chia thành ba đoạn rõ rệt, từ miệng đến ruột: tá tràng, hỗng tràng và hồi tràng 3.2. Đề nghị Nghiên cứu thêm về ruột gia súc và gia cầm, đưa ra những phác đồ điều trị hiệu quả khi mắc bệnh về ruột. Khuyến cáo tiêm phòng đầy đủ khi chăn nuôi gia súc và gia cầm, đưa ra lịch tiêm phòng hợp lí, hiệu quả, tăng miễn dịch cho vật nuôi. Tiếp tục nghiên cứu chuyên s các chủng virus chính đang lưu hành để tiến hành sản xuất vacxin phòng bệnh về ruột cho hiệu quả cao hơn. Có kế hoạch phòng chống bệnh một cách chủ động. Nghiên cứu thêm nhiều phương pháp chẩn đoán đánh chính xác và nhanh chống đem lại hiệu quả cao. Đọc nhiều tài liệu về ruột gia súc và gia cầm. Nghiên cứu và tìm hiểu chuyên sâu. TÀI LIỆU THAM KHẢO I. Tài liệu tiếng việt 1. Lâm Thị Thu Hương (2005), Giáo trình mô phôi gia súc, NXB Đạ học quốc gia Tp. Hồ Chí Minh. 2. Phạm Thị Huê (2020), Giáo trình bệnh lý động vật 2 3. Trịnh Thị Thu Hiền (2020), Giáo trình giải phẩu học thú y II. Tài liệu dịch 1. Jane Parish (2011), Ruminant Digestive Anatomy and Function 2. Kafkas Univ Vet Fak Derg (2018) The Anatomical and Histological Structures of Buzzard’s (Buteo buteo) Small Intestine and Liver, and Immunohistochemical Localization of Catalase III. Các trang web 1. http:www.naihuou.comKienthucchannuoi2617304104530Bomaytieuhoacuagiasucnhailai.html 2. http:www.naihuou.comKienthucchannuoi2617304104530Bomaytieuhoacuagiasucnhailai.html 3. https:kenanaonline.comfiles007373747CHICKEN%20ANATOMY%20AND%20PHYSIOLOGY.pdf 4. https:ohiostate.pressbooks.pubvethistochapter8smallintestine

Trang 1

1

Trang 2

TÌM HIỂU SỰ KHÁC NHAU GIỮA GIA SÚC VÀ GIA CẦM VỀ CẤU TẠO

MÔ HỌC CỦA RUỘT MỤC LỤC

Phần 2 NỘI DUNG 1

2.1 Sơ lược về ruột 1

2.1.1 Đại thể ruột các loài 1

2.1.1.1 Ruột non 1

2.1.1.2 Ruột gia cầm 3

2.1.1.3 Ruột già: 6

2.1.2 Chức năng 7

2.1.2.1 Chức năng ruột non 7

2.1.2.2 Chức năng ruột già 7

2.1.3 Các biểu hiện lâm sàng khi thú có bệnh lý ở ruột và ảnh hưởng, một số thí dụ các bệnh chuyên biệt ở đường ruột trên thú 9

2.1.3.1 Rối loạn tiêu hóa ở ruột 9

2.1.3.2 Rối loạn chức năng hấp thu ở ruột 10

2.2 Cấu tạo mô học 11

2.2.1 Cấu tạo mô học ruột gia súc 11

2.2.2 Cấu tạo mô học ruột gia cầm 14

2.2.3 Sự khác biệt cấu tạo mô học ruột giữa gia súc và gia cầm 15

Phần 3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 17

Trang 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2 1 So sánh đặc điểm các đoạn ruột non ở các loài 2

Trang 4

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Hình 2 1 Ruột gia súc 1

Hình 2 2 Ruột bò 2

Hình 2 3 Ruột heo 3

Hình 2 4 Ruột gia cầm 4

Hình 2 5 Ruột già gia súc 6

Hình 2 6 Các đặc điểm giải phẫu hiển vi 13

Hình 2 7 Ruột non được đặc trưng bởi sự hiện diện của các nốt nhú, nhung mao, được lót bởi các tế bào ruột Villi làm tăng đáng kể diện tích bề mặt của ruột 14

Hình 2 8 Cấu tạo mô học ruột gia cầm 15

Trang 5

ra nhiều bệnh trên ruột làm ảnh hưởng toàn bộ cơ thể

Cơ thể sinh vật là một thể thống nhất các bộ phận đều gắn kết và phối hợpnhịp nhàng với nhau Chỉ một tổn thương nhỏ trên cơ quan cũng có thể làm ảnhhưởng đến toàn bộ cơ thể Những bệnh về ruột ngày nay có xu hướng tăng vì nhiềunguyên nhân khác nhau Để khắc phục cần tìm hiểu cấu tạo mô học từ đó có hướnggiải quyết những bất thường

Xét về chức năng của ruột cơ bản đều giống nhau giữa các loài tuy nhiên vềphần cấu tạo và mô học lại có phần khác nhau trên từng loài Từ đó cách chămsóc và điều trị cho chúng cũng có sự khác biệt nhất định vì vậy để góp phần làm rõ

sự khác biệt giữa cấu tạo của ruột các loài nên em tiến hành tìm hiểu đề tài “Tìm hiểu sự khác nhau giữa gia súc và gia cầm về cấu tạo mô học của ruột”

Trang 7

Phần 2 NỘI DUNG

2.1 Sơ lược về ruột

Là phần dài nhất của ống tiêu hoá, ruột của động vât ăn cỏ dài hơn

Lớp niêm mạc(mucosa) gồm : Lớp hạ niêm mạc có các tuyến ruột,

đám rối thần kinh và mạch quản Lớp cơ niêm mỏng Lớp đệm có cáctuyến ruột (Lieberkun), đáy tuyến có các tế bào (panet) tiết dịch nhầy (lợn

và mèo không có các tế bào này) Các nang kín lâm ba ở lớp này tập trungtạo các mảng (Payer) Lớp biểu mô tương tự lớp biểu mô dạ dày (gồm các

Trang 8

tế bào đơn trụ), có các lông nhung, vi nhung để hấp thu các chất dinh

dưỡng (Trịnh Thị Thu Hiền, 2020)

Ruột non chia làm ba đoạn:

a Tá tràng (duodenum): được cố định nhờ dây chằng nối gan vào dạ dày tá tràng.

Thành tá tràng có lỗ đổ vào của ống dẫn tuỵ (ống dẫn Wilsing) và ống dẫn mật

(ống Choledoque) (Trịnh Thị Thu Hiền, 2020)

b Không tràng (jejunum): tiếp theo tá tràng, được cố định nhờ hệ thống màng

treo ruột (trên màng treo có hệ thống mạch quản, mạch bạch huyết và dây thầnkinh) Niêm mạc có nhiều gấp nếp Trên các gấp nếp có hệ thống các lôngnhung Trên mỗi lông nhung có các vi nhung làm tăng diện tích bề mặt lên 30lần Mỗi tế bào đơn trụ có khoảng 3000 vi nhung Xen kẽ giữa các tế bào biểu

mô còn thấy các tế bào hình đài Dưới niêm mạc có các nang kín lâm ba tậptrung thành từng đám gọi là mảng peyer có chức năng sản sinh các tế bào bạch

cầu Thành không tràng dày, lớp cơ có cơ còng ở trong, cơ dọc ở ngoài (Trịnh Thị Thu Hiền, 2020)

Hình 2 2 Ruột bò

c Hồi tràng (ileum): ngắn, nối với manh tràng của ruột già qua phần nối có cấu

tạo một vòng cơ trơn và van một chiều (van hồi hồi manh tràng: ileocecal valve) (Trịnh Thị Thu Hiền, 2020)

Bảng 2 1 So sánh đặc điểm các đoạn ruột non ở các loài

Trang 9

12-13 dưới đường ngang kẻ

từ khớp chậu đùi song song với mặt đất, từ hạ

vị ngược lên vùng hông phải tạo gấp khúc hình chữ U Cách hạ vị 60-70

cm có lỗ đổ vào của ống dẫn mật; sau đó 30-35

cm có lỗ đổ vào của ống dẫn tuỵ

Dài 40-90 cm đitheo vòng cung sườn phải, phía sau giáp đầu trước thận phải

Cách hạ vị 2-5

cm có lỗ đổ vàocủa ống dẫn mật, và15- 20

cm có lỗ đổ vàocủa ống dẫn tụy

Từ dưới thận phải vềsau đến mặt dưới đốt hông 5, 6

dài 3-6 m nằm sau vùng bụng trái, có nhiều tuyến ruột

có 6-8 gấpkhúc nằmphía vùngbụng trái

hõm hông phải

từ vùng bụng trái

vòng sang áp sát

thành bụng phải

đổ vào ruột già

phía phảixoangbụng

;

từ tá tràng đến đốt hông 1- 2

Trang 10

Hình 2 3 Ruột heo

2.1.1.2 Ruột gia cầm

Ngắn ở chim ăn thịt, dài ở chim ăn hạt Đường kính ruột ít thay đổi từđầu đến cuối nên khó phân biệt giữa ruột non và ruột già Đoạn đầu củaruột có một quai gấp (ứng với đoạn tá tràng ) gồm hai nhánh đi song songvới nhau, kẹp giữa là tuỵ dài Sau quai tá tràng, ruột gấp lại thành hồitràng và treo ở vùng dưới hông bởi một mạc treo dài Hồi tràng hợp thànhmột khối nằm giữa hai túi khí bụng Gần chỗ tận cùng của ruột phát ra haimang nang dài 15-20 cm hướng về trước (ở gà, vịt) Bồ câu chỉ có một củ

nhỏ (Trịnh Thị Thu Hiền, 2020)

Trang 12

hấp thu chủ yếu ở phần dưới ruột non (hỗng tràng và hồi tràng) Thấp hơnruột non được cấu tạo bởi hai phần là hỗng tràng và hồi tràng Cácmerkels diverticulum đánh dấu phần cuối của hỗng tràng và phần bắt đầucủa hồi tràng Chỉ trước nở, túi noãn hoàng, đã được cung cấp dinh dưỡngtrong quá trình phôi thai phát triển, được hút vào khoang rốn Cái túi nhỏcòn sót lại là merkels diverticulum Túi noãn hoàng cung cấp thức ăn vànước cho gà con mới nở và là lý do mà gà con có thể được vận chuyểnmột khoảng cách đáng kể mà không có tác dụng phụ Viêm miệng là mộttình trạng đặc trưng bởi túi noãn hoàng bị nhiễm trùng, thường kèm theorốn chưa lành ở những con mới nở gần đây gà con Nó là bệnh truyềnnhiễm nhưng không lây Nó thường được kết hợp với quá mức độ ẩm và

sự ô nhiễm rõ rệt đối với trứng nở hoặc máy ấp Các gà con bị ảnh hưởngthường xuất hiện bình thường cho đến vài giờ trước khi chết Phiền muộn,đầu rủ xuống và co ro gần nguồn nhiệt thường là dấu hiệu Rốn có thể bịviêm và không đóng lại được, tạo ra một vết ẩm ướt trên phần bụng; cóthể có vảy

Manh tràng là hai túi mù ở chỗ nối của ruột non và ruột già Tái hấpthụ nước diễn ra trong manh tràng Lên men nguyên liệu thô và sản xuấttám loại vitamin B (Thiamine, riboflavin, niacin, axit pantothenic,pyridoxine, biotin, axit folic và vitamin B12) cũng xuất hiện trong manhtràng, nhưng vì manh tràng nằm gần 3.5 phần cuối của đường tiêu hóa có

sự hấp thụ tối thiểu của bất kỳ chất dinh dưỡng nào được giải phóng Cácmanh tràng làm rỗng nội dung của chúng hai hoặc ba lần một ngày, tạo ranhão phân thường có mùi hôi hơn phân thông thường và thường mù tạt đểmàu nâu sẫm Tần suất phân của manh tràng, cũng như xuất hiện giữaphân thường xuyên, cho bạn biết đường tiêu hóa của gà là về mặt chứcnăng bình thường

Trang 13

• Ruột già (còn gọi là ruột kết): Mặc dù có tên gọi, nhưng ruột già ruộtthực sự ngắn hơn ruột non Ruột già là nơi cuối cùng của quá trình tái hấpthụ nước xảy ra.

• Kết tràng: Trong kết tràngcó sự trộn lẫn các chất thải tiêu hóa vớichất thải từ hệ thống tiết niệu (urat) Vật liệu phân thường bị vô hiệu hóanhư chất thải tiêu hóa với các tinh thể axit uric màu trắng ở bề mặt bênngoài (tức là gà không đi tiểu / đái ra máu) Đường sinh sản cũng thoát rangoài qua khu vực này (ví dụ: trứng hoặc tinh trùng)

Cả ruột non và ruột già thường được sinh sống bởi các vi khuẩn có lợi

Hỗ trợ microflora trong tiêu hóa và tăng cường khả năng miễn dịch bằngcách canh giữ lãnh thổ của chúng (tức là đường tiêu hóa) chống lại vitrùng xâm nhập Bệnh đường ruột thường xảy ra khi sự cân bằng của hệ visinh bị rối loạn hoặc hệ vi sinh bình thường bị quá nhiều sinh vật lạ xâmnhập

(https://kenanaonline.com/files/0073/73747/CHICKEN%20ANATOMY%20AND

%20PHYSIOLOGY.pdf)

2.1.1.3 Ruột già Có đường kính lớn, được cố định trong xoang bụng nhờ màng

treo ruột già Ruột già có đặc điểm cấu tạo gồm ba lớp:

Ngoài cùng là lớp tương mạc

Giữa là lớp cơ gồm: lớp cơ dọc tập trung thành từng bó Lớp cơ

vòng ở trong thắt lại từng đoạn Phần giáp với trực tràng là cơ vân, xen kẽ

có các mạch quản và thần kinh Thành ruột già có các u bướu nổi lên

Lớp niêm mạc không có hệ thống lông nhung Lớp hạ niêm mạc

không có các tế bào tiết dịch Thành ruột có các nang lâm ba phân tán

Chức năng của ruột già: Lên men vi sinh vật, tạo vitamin, hấp thu

nước, muối khoáng và tạo khuôn phân

Trang 14

Hình 2 5 Ruột già gia súc

Ruột già phân làm ba đoạn:

Manh tràng (cecum) là nơi sảy ra quá trình lên men, tạo axit béo, các

axit amin

Kết tràng (colon) là đoạn ruột dài nhất của ruột già Trực tràng (rectum) có đoạn đầu nằm trong xoang bụng; đoạn sau

trong xoang chậu, áp sát mặt dưới xương khum Trực tràng thẳng, không

có u bướu, niêm mạc có các gấp nếp dọc Lớp cơ và lớp niêm mạc liên kết

lỏng lẻo với nhau (Trịnh Thị Thu Hiền, 2020)

2.1.2 Chức năng

2.1.2.1 Chức năng ruột non

Ruột non của gia súc nhai lại có cấu tạo và chức năng tương tự nhưcủa gia súc dạ dày đơn Trong ruột non có các enzym tiêu hoá tiết quathành ruột và tuyến tuỵ để tiêu hoá các loại tinh bột, đường, protein vàlipid Những phần thức ăn chưa được lên men ở dạ cỏ (dinh dưỡng thoátqua) và sinh khối VSV được đưa xuống ruột non sẽ được tiêu hoá bằngmen Ruột non còn làm nhiệm vụ hấp thu nước, khoáng, vitamin và cácsản phẩm tiêu hoá ở ruột (glucoza, axít amin và axít béo) Gia súc càngcao sản thì vai trò tiêu hoá ở ruột non (thức ăn thoát qua) càng quan trọng

Trang 15

vì khả năng tiêu hoá dạ cỏ là có hạn chan-nuoi/2617304/104530/Bo-may-tieu-hoa-cua-gia-suc-nhai-lai.html)

(http://www.naihuou.com/Kien-thuc-Ruột non là một ống dài tới 150 feet với dung tích 20 gallon trongmột con bò trưởng thành Chất tiêu hóa đi vào ruột non trộn với dịch tiết

từ tuyến tụy và gan làm tăng độ pH từ 2,5 đến giữa 7 và 8 Độ pH cao hơnnày là cần thiết cho các enzym trong ruột non hoạt động tốt Mật từ túimật là tiết vào đoạn đầu tiên của ruột non để hỗ trợ tiêu hóa Chất dinhdưỡng tích cực sự hấp thụ xảy ra khắp ruột non bao gồm cả protein đi qua

dạ cỏ sự hấp thụ Thành ruột chứa nhiều hình chiếu "giống như ngón tay"được gọi là nhung mao tăng diện tích bề mặt ruột để hỗ trợ quá trình hấpthụ dinh dưỡng Hỗ trợ co thắt cơ bắp trong việc trộn các mô hình và

chuyển nó sang phần tiếp theo (Jane Parish, 2011)

Ruột non là nơi hấp thụ chính của thú ăn thịt và thú ăn tạp Ở thú

ăn cỏ sự hấp thu cũng chiếm một vai trò quan trọng Đó là nhờ các tế bàomâm khía có một mạng lưới vi nhung mao phát triển cũng như mạng lướimạch máu và mạch bạch huyết ở trục liên kết

Ruột non cũng tham gia chủ yếu trong tiêu hoá thức ăn nhờ tuyếnruột tiết ra dịch ruột có chứa các mêm trypsin, enterokinase, amylase,lipase, erepsin, invectin Ngoài ra do chuyển động của ruột thúc ăn đượcnhào trộn với dịch tiêu hoá ruột, dịch tuỵ và mật và được đẩy đi thuậnchiều

Ruột non cũng tham gia bảo vệ cơ thể nhờ những nang bạch huyết

nằm ở vách ruột và những tế bào biểu mô đặc biệt gọi là tế bào M (Lâm Thị Thu Hương, 2005)

2.1.2.2 Chức năng ruột già

Ruột già có chức năng lên men, hấp thu và tạo phân Trong phầnmanh tràng có hệ vi sinh vật tương tự như trong dạ cỏ có vai trò lên mencác sản phẩm đưa từ trên xuống Đối với gia súc nhai lại lên men vi sinh

Trang 16

vật dạ cỏ là lên men thứ cấp, còn đối với một số động vật ăn cỏ dạ dàyđơn (ngựa, thỏ) thì lên men vi sinh vật ở manh tràng lại là hoạt động tiêuhoá chính Các axit béo bay hơi sinh ra từ quá trình lên men trong ruột giàđược hấp thu tương tự như ở dạ cỏ, nhưng xác vi sinh vật không được tiêuhoá tiếp mà thải ra ngoài qua phân Trực tràng có tác dụng hấp thu nước,

tạo khuôn và tích trữ phân nuoi/2617304/104530/Bo-may-tieu-hoa-cua-gia-suc-nhai-lai.html)

(http://www.naihuou.com/Kien-thuc-chan-Ruột già có chức năng hấp thụ nước từ vật chất đi qua nó và sau đó

để đào thải các chất còn lại dưới dạng phân ra khỏi trực tràng Manh tràng

là một mù lớn túi ở đầu ruột già phục vụ ít chức năng ở động vật nhai lại,không giống như vai trò của nó đối với ngựa Đại tràng là nơi hấp thụ

phần lớn nước trong đại ruột (Jane Parish, 2011)

Động vật nhai lại chưa trưởng thành như bê non, đang lớn từ sơsinh đến khoảng 2 đến 3 tháng tuổi là động vật không nhai lại về mặt chứcnăng Rãnh lưới (thực quản) hiện diện trong động vật non được hình thànhbởi các nếp gấp của lưới cơ Nó pha sữa trực tiếp vào omasum và sau đó

là abomasum, bỏ qua reticulorumen Dạ cỏ trong những động vật phảiđược cấy vi sinh vật dạ cỏ Điều này được cho là hoàn thành thông quađộng vật nhai lại trưởng thành liếm bê và tiếp xúc với môi trường các vi

sinh vật này (Jane Parish, 2011)

Động vật nhai lại chưa trưởng thành phải trải qua quá trình tăngtrưởng reticulorumen-omasal bao gồm tăng khối lượng và cơ Nhú dạ cỏ(vị trí hấp thụ chất dinh dưỡng) kéo dài và giảm số lượng như một phầncủa sự phát triển dạ cỏ Bởi vì động vật nhai lại chưa trưởng thành làmkhông có dạ cỏ chức năng, các khuyến nghị cho ăn khác nhau đối vớiđộng vật nhai lại đang phát triển so với gia súc nhai lại trưởng thành Ví

dụ, nó được khuyến khích cho động vật nhai lại chưa trưởng thành không

được phép tiếp cận với thức ăn có chứa nitơ phi protein như urê (Jane Parish, 2011)

Trang 17

Động vật nhai lại đang phát triển cũng nhạy cảm hơn với gossypol

và mức chất béo trong chế độ ăn uống hơn động vật nhai lại trưởng thành.Thiết kế các chương trình dinh dưỡng cho động vật nhai lại xem xét tuổi

của động vật (Jane Parish, 2011)

2.1.3 Các biểu hiện lâm sàng khi thú có bệnh lý ở ruột và ảnh hưởng, một số thí

dụ các bệnh chuyên biệt ở đường ruột trên thú

2.1.3.1 Rối loạn tiêu hóa ở ruột

Rối loạn tiết dịch ruột

a Biểu hiện lâm sàng

Tăng tiết dịch: chủ yếu do ruột bị kích thích bởi yếu tố cơ học, hóa học, nhiệt độ, sinh vật và tiết dịch nhiều nhất đặc biệt làm cho viêm ruột, loét ruột (khi viêm tăng tiết dịch lên 8 lần) dẫn đến ỉa chảy

Giảm tiết dịch: viêm ruột mãn tính làm teo ruột, các quá trình bệnh lý khác: sốt, đau

từ nơi khác

b Ảnh hưởng chung

Hậu quả giảm tiết dịch gây ỉa chảy là chủ yếu dẫn đến suy dinh dưỡng

Rối loạn tiết mật

a Biểu hiện lâm sàng

Rối loạn tiêu hóa mỡ dẫn tới rối loạn protein do mỡ bọc protein xung quanh.Mất cân bằng hệ vi sinh vật (vì mật ngoài tác dụng tiêu hóa còn có tác

dụng sát trùng) Rối loạn hấp thu một số vitamin.(Phạm Thị Huê, 2020)

b Ảnh hưởng chung

Tắc mật (viêm, u sẹo, sỏi, giun chui ống mật, viêm niêm mạc tá tràng) Do thiếu mật

(thiếu máu, bệnh ở gan, giảm co bóp túi mật) (Phạm Thị Huê, 2020)

Hội chứng tắc ruột

a Biểu hiện lâm sàng

Khi một đoạn ruột bị tắc thì phần trên chỗ tắc tăng cường co bóp, mụcđích để làm thông chỗ tắc cho nên gây cơn đau dữ dội, từng đợt theo nhu động ruột

Trang 18

tạo nên hiện tượng rắn bò thành bụng (đau bụng ở ngựa) khi nhìn nghiêng Tiếptheo là ruột chướng hơi do các vi sinh vật lên men, hấp thu giảm, ứ trệ các tiết dịchcủa ruột do giảm hấp thu và tràn dịch từ máu vào lòng ruột Nguyên nhân gây chết

chủ yếu do mất nước và thần kinh bị kích thích do ruột căng gây ra (Phạm Thị Huê, 2020)

b Ảnh hưởng chung

Khi tắc ruột non ở phần trên thì hậu quả trước tiên là mất nước và mấtmuối do nôn nhiều, mất nước kèm theo mất HCl cho nên gây hiện tượng nhiễmkiềm

Khi tắc tá tràng nôn kèm cả dịch ruột kiềm tính cho nên sẽ bị nhiễm độc axit.Ngoài ra mất nước máu cô độc gây rối loạn tuần hoàn, huyết áp giảm, máu qua

thận ít lọc ít gây thiểu niệu hoặc vô niệu, mê cao (Phạm Thị Huê, 2020)

Khi tắc phần thấp như ruột già thì triệu chứng yếu hơn nhưng tình trạng

nhiễm độc lại mạnh hơn (Phạm Thị Huê, 2020)

Yếu tố căng ruột do tắc tác động lên thần kinh ở thành ruột và ở bụng cũng có

tác dụng gây rối loạn tuần hoàn và gây chết (Phạm Thị Huê, 2020)

2.1.3.2 Rối loạn chức năng hấp thu ở ruột

a Biểu hiện lâm sàng

Có thể do những nguyên nhân rối loạn hấp thu tại ống tiêu hóa như các bệnh

ở dạ dầy, gan, mật, tuỵ và tại ruột (Phạm Thị Huê, 2020)

Do nhiễm các chất độc như ăn phải cỏ độc, độc tố aflatoxin, nấm mốc cũng

gây ỉa chảy viêm xuất huyết (Phạm Thị Huê, 2020)

Do rối loạn tuần hoàn tại ruột, như tắc mạch (do ký sinh trùng ở ngựa thườngcác búi giun gây tắc mạch ở màng treo ruột ngựa gây cơn đau bụng dữ dội)

Các vi sinh vật theo thức ăn và nước uống vào trong cơ thể E con,Salmonella, các trùng yếm khí, các nấm độc, coronavirus, rotavirus, vi rút dịch tả

lợn (Phạm Thị Huê, 2020)

Ngày đăng: 16/10/2021, 06:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Ruột gia súc - TÌM HIỂU sự KHÁC NHAU GIỮA GIA súc và GIA cầm về cấu tạo
Hình 2.1 Ruột gia súc (Trang 7)
Hình 2.2 Ruột bò - TÌM HIỂU sự KHÁC NHAU GIỮA GIA súc và GIA cầm về cấu tạo
Hình 2.2 Ruột bò (Trang 8)
Hình 2.3 Ruột heo - TÌM HIỂU sự KHÁC NHAU GIỮA GIA súc và GIA cầm về cấu tạo
Hình 2.3 Ruột heo (Trang 10)
Hình 2 .4 Ruột gia cầm - TÌM HIỂU sự KHÁC NHAU GIỮA GIA súc và GIA cầm về cấu tạo
Hình 2 4 Ruột gia cầm (Trang 11)
Hình 2 .5 Ruột già gia súc - TÌM HIỂU sự KHÁC NHAU GIỮA GIA súc và GIA cầm về cấu tạo
Hình 2 5 Ruột già gia súc (Trang 14)
Hình 2 .6 Các đặc điểm giải phẫu hiển vi - TÌM HIỂU sự KHÁC NHAU GIỮA GIA súc và GIA cầm về cấu tạo
Hình 2 6 Các đặc điểm giải phẫu hiển vi (Trang 21)
Hình 2 .7 Ruột non được đặc trưng bởi sự hiện diện của các nốt nhú, nhung mao, được lót bởi các tế bào ruột - TÌM HIỂU sự KHÁC NHAU GIỮA GIA súc và GIA cầm về cấu tạo
Hình 2 7 Ruột non được đặc trưng bởi sự hiện diện của các nốt nhú, nhung mao, được lót bởi các tế bào ruột (Trang 22)
Hình 2. 8 Cấu tạo mô học ruột gia cầm - TÌM HIỂU sự KHÁC NHAU GIỮA GIA súc và GIA cầm về cấu tạo
Hình 2. 8 Cấu tạo mô học ruột gia cầm (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w