Nội dung chủ yếu và sự chuyển biến của mô hình Trong những năm 30 của thế kỷ XX, nhà kinh tế học Nhật Bản Kaname Akamatsu đã khởi xướng mô hình “đàn nhạn bay” để lý giải xu thế phát tri
Trang 1MÔ HÌNH ĐÀN NHẠN BAY (FLYING GEESE PARADIGM - FGP)
I Định nghĩa
1 Sự hình thành của mô hình
Akamatsu quan sát sự phát triển của ngành sản xuất sợi bông ở Nhật Bản từ nửa cuối thế kỉ 19 đến thập niên 1930 và phát hiện thấy một hiện tượng là đầu tiên Nhật Bản phải nhập khẩu sợi bông, sau đó sản xuất sợi bông trong nước phát triển,
và tiếp theo đó là nhập khẩu sợi bông giảm và xuất khẩu sợi bông bắt đầu gia tăng,
để rồi cuối cùng xuất khẩu lẫn sản xuất sợi bông trong nước đều suy thoái Nếu biểu diễn nhập khẩu, sản xuất và xuất khẩu sợi bông của Nhật Bản trên một trục tọa độ với trục hoành là thời gian và trục tung là sản lượng sẽ thấy 3 đường cong hình chữ V ngược Akamatsu tưởng tượng những đường cong đó giống như một đàn nhạn đang bay với con nhạn đầu đàn ở điểm đổi chiều của chữ V ngược và các con nhạn khác bay phía sau ở hai phía Từ đó, ông đưa ra ý tưởng rằng sự phát triển của một ngành công nghiệp nào đó ở một nước nhất định có thể xảy ra theo hình đàn nhạn bay này Những nước đang phát triển có thể công nghiệp hóa theo đường lối bắt đầu từ phát triển những ngành sơ khai mà lúc đầu có thể phải tích lũy
tư bản bằng kinh doanh nhập khẩu rồi tiến tới tự sản xuất và sau đó xuất khẩu
2 Nội dung chủ yếu và sự chuyển biến của mô hình
Trong những năm 30 của thế kỷ XX, nhà kinh tế học Nhật Bản Kaname Akamatsu đã khởi xướng mô hình “đàn nhạn bay” để lý giải xu thế phát triển của các nước Đông Á Mô hình này ban đầu mô tả quá trình công nghiệp hoá của một nước phát triển, nhưng sau đó nó được mở rộng phạm vi áp dụng cho công nghiệp hoá, phát triển mạng lưới sản xuất và hợp tác trong khu vực Trước hết, Kaname Akamatsu cho rằng, quá trình phát triển kinh tế của các nước rất phụ thuộc vào nhau và các nước hỗ trợ nhau trong quá trình này như đàn nhạn trong tự nhiên
Trang 2Nhật Bản là nước phát triển nhất châu Á và đẩy mạnh phân công lao động quốc tế bằng mở rộng mạng lưới sản xuất ra các nước khác Trong mô hình đàn nhạn, Nhật Bản sẽ là con nhạn đầu đàn Kế tiếp Nhật Bản là các nền kinh tế mới (NIEs) là Hàn Quốc, Hong Kong, Đài Loan và Singapore Sau đó là các nước ASEAN Các nước này được ví như một đàn nhạn và bay theo một trình tự nhất định theo hình chữ V Theo Akamatsu, mô hình đàn nhạn bay “ biểu thị sự phát triển sau khi nền kinh tế của nước kém phát triển thiết lập mối quan hệ kinh tế với những nước phát triển”
Khía cạnh nội bộ ngành công nghiệp, là loại hình chủ yếu, ban đầu của mô hình đàn nhạn bay Loại hình cơ bản này sau đó có thể được áp dụng nhằm hình thành
và phát triển các ngành công nghiệp trong nước đang phát triển nhất định Điều này đưa đến khía cạnh liên ngành công nghiệp của mô hình này Việc kết hợp mô hình đàn nhạn bay này giữa các ngành công nghiệp trong quá trình công nghiệp hoá ở những nước phụ thuộc lẫn nhau đã hình thành nên khía cạnh quốc tế của mô hình
Để nêu khía cạnh nội bộ ngành của mô hình đàn nhạn bay, Akamatsu cho rằng
“…giai đoạn đầu tiên là khi những hàng hoá được sản xuất, hầu hết là những hàng tiêu dùng, được nhập khẩu từ nước ngoài Trong giai đoạn thứ hai, sản xuất trong nước được thực hiện sau khi tiến hành nhập khẩu những nguồn tài nguyên thiên nhiên, máy móc và các thiết bị cho quá trình sản xuất Thứ ba là giai đoạn công nghiệp hoá nhằm xuất khẩu khi hệ thống sản xuất bản địa được hình thành”
Đầu tiên, việc nhập khẩu những sản phẩm nước ngoài sẽ đưa đến sự gia tăng những nhu cầu trong nước đối với những sản phẩm này, do đó nó sẽ thúc đẩy sản xuất trong nước Khi việc sản xuất trong nước vượt quá cầu trong nước thì việc xuất khẩu được bắt đầu và sau đó tăng lên
Lý thuyết lí giải tương tự
- Lý thuyết khoảng cách công nghệ (technology gap): do những nhà kinh tế như Posner, Huffbauer đề xuất
Trang 3Theo Posner thì sự thay đổi công nghệ là một quá trình liên tục, có độ trễ về thời gian giữa việc phát minh và áp dụng công nghệ mới ở một quốc gia với việc áp dụng công nghệ này ở các quốc gia khác (độ trễ trong việc mô phỏng công nghệ), giữa việc phát triển một sản phẩm mới với sự xuất hiện và gia tăng nhu cầu về sản phẩm đó ở các quốc gia khác (độ trễ về nhu cầu)
Công nghệ mới đầu tiên được phát minh và ứng dụng ở các nước công nghiệp phát triển nhất và những nước này có lợi thế so sánh trong việc sản xuất những sản phẩm ứng dụng công nghệ này và trở thành những nước xuất khẩu những sản phẩm đó
Nhưng sau một thời gian, công nghệ này đã lan toả ra các nước khác và được
mô phỏng lại ở những nước đang phát triển, những nước đã phát minh ra công nghệ có thể mất dần lợi thế so sánh của mình và có thể trờ thành những người nhập khẩu ròng các sản phẩm ứng dụng công nghệ đó Quá trình này kéo dài bao lâu tùy thuộc vào độ trễ trong việc mô phỏng công nghệ và độ trễ về nhu cầu đã đề cập ở trên
- Lý thuyết vòng đời sản phẩm (product-life cycle): (các đại diện là Vernon và Hirsch) cũng có những ý nghĩa tương tư như lí thuyết về khoảng cách công nghệ
Vernon và Hirsch lập luận rằng các nhân tố cần thiết cho việc sản xuất một hàng hóa, sản phẩm sẽ thay đổi theo vòng đời của sản phẩm đó Việc phát minh một sản phẩm mới là một công việc tốn kém và nhiều rủi ro, cần những công nhân có trình
độ chuyên môn cao nên việc sản xuất sản phẩm trong giai đoạn đầu tập trung tại các nước giàu có, phát triển
Khi bản thân sản phẩm và qui trình sản xuất dần được chuẩn hóa, cũng như khi thời hạn của các bằng phát minh sáng chế đã hết hiệu lực thì các nước khác cũng bắt đầu gia nhập thị trường nếu họ có lợi thế trong việc sản xuất sản phẩm này so với nước sản xuất đầu tiên, ví dụ về mặt chi phí sản xuất chẳng hạn
Trang 4Khi công nghệ sản xuất đã được hoàn toàn chuẩn hóa và có thể sử dụng lao động phổ thông thì chúng ta có thể trông đợi vào việc địa điểm sản xuất sẽ được chuyển sang các nước đang phát triển là những nước có lợi thế về nguồn nhân công rẻ, dồi dào
Các giai đoạn của mô hình
Người khởi xướng lí thuyết này là giáo sự Kaname Akamatsu đã lí giải sự "bắt kịp" (catch up) của các nước đang phát triển đối với các nước tiên tiến Trong sự đuổi kịp này, vấn đề cơ cấu ngành có ý nghĩa quan trọng
Quá trình "bắt kịp" này được chia thành 4 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: các nước kém phát triển nhập hàng công nghiệp chế biến từ các
nước phát triển và xuất khẩu trở lại một số sản phẩm thủ công, nông nghiệp
- Giai đoạn 2: Các nước chậm phát triển tiếp nhận đầu tư của các nước phát triển
để tự chế tạo lấy các hàng hóa công nghiệp tiêu dùng mà trước đây vẫn phải nhập Ðây là giai đoạn tích lũy tư bản và mô phỏng công nghệ chế tạo của các nước phát triển
- Giai đoạn 3: những sản phẩm công nghiệp thay thế nhập khẩu ở giai đoạn 2 đã
có thể trở thành những sản phẩm xuất khẩu Khoảng cách giữa những nước đi sau với các nước phát triển không còn bao xa, vì vậy mà số lượng và qui mô mặt hàng xuất khẩu ngày càng mở rộng
- Giai đoạn 4: xuất khẩu hàng công nghiệp tiêu dùng bắt đầu giảm xuống, nền
công nghiệp đã đạt trình độ ngang bằng với các nước phát triển và bắt đầu chuyển giao một số sản phẩm công nghiệp tiêu dùng cho các nước kém phát triển hơn
3.Ưu điểm của mô hình
Trang 5Mô hình "đàn nhạn bay" đã có những tác động lớn đến các quan điểm kinh
tế chính trị, hợp tác kinh tế quốc tế của Nhật Bản đối với vùng Đông Á, đặc biệt là với các nước ASEAN
Akamatsu hình thành mô hình "đàn nhạn bay" trong khi Nhật Bản tiến hành xâm chiếm Trung Quốc và Chiến tranh Thái Bình Dương Tuy nhiên, điều đó không dẫn đến những sai lầm, ngộ nhận quan điểm "đàn nhạn bay" như là học thuyết trong khoảng thời chiến này Học thuyết của Akamatsu được dựa trên các phân tích nền kinh tế Nhật từ khi thực hiện chính sách mở cửa đối với các nước phương Tây thế kỷ XIX Akamatsu ủng hộ thương mại quốc tế bao gồm cả với các nước phương Tây đối địch với Nhật Bản trong chiến tranh Ông cho rằng Nhật Bản không phải là senshinkoku (nước đã phát triển) mà là shinkokoku (là nước đi trước, phát triển hơn) so với các nước đi sau, phát triển thấp hơn Lý thuyết của ông cũng không nêu lên việc thành lập một hệ thống kinh tế vùng một cách chặt chẽ Tuy nhiên, học thuyết này lại được dùng như là sự biện hộ về mặt tư tưởng cho chủ nghĩa đế quốc của Nhật Bản ở châu Á Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc làm rõ hơn sự liên quan về cá nhân ông với kế hoạch chiến tranh của Nhật Bản
Kojima là người kế tiếp và phát triển học thuyết trên của Akamatsu thành lý thuyết về phát triển kinh tế và liên kết vùng Đông Á Ông cũng đã đưa luận điểm
lý thuyết này vào chiến lược hợp tác vùng của Nhật Bản với mô hình cơ bản là: + Các nước kém phát triển hơn có thể học từ các nước tiên tiến thông qua nhập khẩu những sản phẩm và sản xuất hàng hoá cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu hàng hoá đó ra nước ngoài và cuối cùng là nhập khẩu trở lại các sản phẩm từ các nước kém phát triển hơn (hình thức cơ bản của mô hình đàn nhạn bay)
+ Mô hình này đã tạo nên những chuyển biến thực chất của nền kinh tế thông qua việc lặp lại từng bước cùng một chu kỳ từ sử dụng các công nghệ dùng nhiều lao động đến công nghệ sử dụng nhiều vốn và cuối cùng là phát triển các ngành công
Trang 6nghiệp có hàm lượng tri thức và công nghệ cao (hình thức biến thể của mô hình đàn nhạn bay)
+ Mô hình công nghiệp hoá mà Nhật Bản đã trải qua sẽ được lặp lại từ nền kinh tế này đến nền kinh tế khác trong vùng thông qua chuyển giao công nghệ và đầu tư trực tiếp (khía cạnh quốc tế của đàn nhạn bay)
Kojima cũng cho rằng việc hình thành nền kinh tế Đông Á dựa trên cơ cấu công nghiệp như trên sẽ củng cố nền tảng kinh tế nhằm thúc đẩy tính tự chủ của vùng và tạo nên những sức mạnh đàm phán với Mỹ và Tây Âu Với ý nghĩa này, những luận điểm của học thuyết đàn nhạn bay cũng trùng hợp với nội dung chiến lược vùng của Nhật Bản Trên thực tế, các nền kinh tế Đông Á đã tạo nên một chuỗi tăng trưởng cao thích ứng được với sự chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế Nhật Bản Đặc biệt từ giữa những năm 1980 với sự sụt giảm của đồng yên Nhật, FDI của Nhật Bản tăng mạnh trong vùng đã thúc đẩy tăng trưởng hướng theo xuất khẩu từ các nước NICs đến các nước ASEAN 4 Như vậy, mô hình này đã trở thành lý thuyết chủ yếu minh chứng cho sự tăng trưởng và hợp tác đầu tư thương mại của các nước trong vùng FDI của Nhật Bản theo mô hình đàn nhạn bay đã chuyển dịch những ngành công nghiệp từ cấp độ này đến cấp độ khác (từ sử dụng nhiều lao động đến sử dụng nhiều công nghệ) nếu ngành này ở Nhật Bản bị mất lợi thế cạnh tranh do việc nâng cao trình độ công nghệ cho các ngành công nghiệp và các nước Đông Á khác lại có được những lợi thế so sánh này Do đó, FDI được xem là hình thức chủ yếu để Nhật Bản có thể gia tăng ảnh hưởng của nước này trong vùng
Thông qua các chỉ tiêu phát triển kinh tế trong nước cũng như đầu tư và mậu dịch với các nước Đông Á, MITI và các cơ quan soạn thảo chính sách quan trọng khác của Nhật Bản đã đánh giá một cách xác thực các thành công trong mô hình phát triển “đàn nhạn bay” ở Đông Á, đã vận dụng và ủng hộ mô hình này như một phương thức thiết yếu qua đó tiến tới hội nhập hoàn toàn hơn nữa trong vùng Đối
Trang 7với MITI và các bộ ngành kinh tế khác, vị thế của Nhật Bản luôn luôn là con chim đầu đàn trong mô hình “đàn nhạn bay” và thứ bậc phát triển kinh tế Đông Á là bằng chứng thiết thực chứng minh quan điểm cho rằng Nhật Bản tất yếu là người
tổ chức và quốc gia dẫn đầu ở khu vực Đông Á MITI cũng đã khẳng định rằng các quốc gia Đông Á, giống như Nhật Bản, đã phải dựa vào chiến lược tiếp cận thị trường Mỹ để thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế trong suốt những giai đoạn phát triển ban đầu Vì vậy, điều này cũng có nghĩa là mô hình tam giác tương tác kinh tế Nhật Bản - Đông Á - Mỹ vẫn tiếp diễn ở một mức độ nhất định, trong đó Nhật Bản không phải là nước dẫn đầu đương nhiên trong khu vực và Đông Á vẫn cần “mở cửa” nhằm tiếp tục tham gia vào thị trường Mỹ cũng như các thị trường nước ngoài khác Tuy nhiên, MITI cũng cho rằng mức độ FDI và thương mại trong khu vực Đông Á liên tục tăng giữa Nhật Bản, nhóm NIE-4, ASEAN-4 và Trung Quốc và không còn phụ thuộc quá lớn vào hoạt động xuất khẩu sang Mỹ là dấu hiệu cho thấy sự xuất hiện của mô hình phát triển “đàn nhạn bay” được thể hiện ở chính khu vực này và rằng Nhật Bản là nền kinh tế quan trọng hàng đầu ở Đông Á
Kết quả, MITI và Chính phủ Nhật Bản vận dụng mô hình “đàn nhạn bay” – được hỗ trợ thông qua hình thức ODA – nhằm phổ biến các chuẩn mực phát triển của Nhật Bản trong toàn vùng cũng như trong các tổ chức toàn cầu Ví dụ, Kế hoạch Phát triển công nghiệp Châu Á mới năm 1987 của MITI nhằm mục đích thúc đẩy sự phân công lao động giữa Nhật Bản và các nước Đông Á thông qua mô hình “đàn nhạn bay”, cụ thể là khuyến khích các ngành công nghiệp hướng đến xuất khẩu trong khu vực và chuyển giao công nghệ cũng như cấp vốn cho các ngành công nghiệp Tương tự như vậy, Sách trắng Thương mại quốc tế năm 1992
và Báo cáo Tầm nhìn năm 2000 của MITI đã có ảnh hưởng đến các tranh luận về tương lai phát triển kinh tế của Đông Á trong khuôn khổ APEC Những báo cáo này cũng khẳng định tầm quan trọng của mô hình đàn nhạn bay cũng như tự do hoá thương mại và FDI cần được kết hợp với hợp tác giữa khu vực nhà nước và tư
Trang 8nhân nhằm đảm bảo mỗi thành viên APEC đều đạt được trình độ phát triển đủ để đối phó với áp lực của sự mở cửa và cạnh tranh ngày càng gia tăng
Trên thực tế, với sự gia tăng tỷ trọng thương mại trong nội vùng Đông Á cao hơn gấp 4 lần so với xuất khẩu của Đông Á sang Mỹ trong những năm 1980 và
1990 cũng như tỷ trọng FDI của Đông Á/ tổng FDI vào Đông Á đã tăng từ trên 6,.5% năm 1980 đến hơn xấp xỉ 20 % trong những năm gần đây đã khiến hình ảnh
mô hình đàn nhạn bay thậm chí ảnh hưởng lớn hơn trong thập niên 90 và ngay cả đầu những năm 2000
Như vậy, Nhật Bản với mô hình “đàn nhạn bay” đã đóng góp rất lớn cho sự phát triển kinh tế cũng như hợp tác kinh tế ở Đông Á, trong đó mạng lưới sản xuất của Nhật Bản, như một hình thức triển khai mô hình trên, cũng đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc tăng cường hợp tác kinh tế vùng trong những thập kỷ gần đây
4.Hạn chế
Tuy nhiên, từ cuối thập niên 1990, với sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc, sự phát triển của công nghệ thông tin, sự rút ngắn nhanh chóng khoảng cách công nghệ giữa các nước, nhiều người đã đặt nghi vấn về tính thuyết phục của mô hình đàn sếu bay Từ các nghi vấn này, có thể nêu vài điểm quan trọng nhìn từ góc
độ Việt Nam:
• Thứ nhất, với quy mô và tốc độ phát triển của Trung Quốc, với vùng tây nam rộng lớn và chưa phát triển của nước này, làn sóng công nghiệp có thể sẽ không lan toả tiếp xuống các nước có trình độ phát triển thấp hơn như Việt Nam
mà lan rộng trong nội bộ Trung Quốc
• Thứ hai, Trung Quốc xuất khẩu hầu như tất cả các loại hàng công nghiệp, từ các ngành có hàm lượng lao động cao đến các sản phẩm sử dụng nhiều tư bản và công nghệ cao, gây ra sự bất ổn trong trật tự phân công lao động ở Đông Á; các nước đi sau như Việt Nam khó chen chân vào cơ cấu phân công mới này, các nước ASEAN, NIEs và cả Nhật Bản cũng đứng trước một thách thức lớn
Trang 9Mô hình đàn nhạn bay không có tác dụng áp dụng để phát triển nữa
II Vận dụng mô hình trong phát triển kinh tế
1 Ảnh hưởng của mô hình đối với việc hình thành chính sách hợp tác kinh
tế vùng của Nhật Bản
Sau Chiến tranh Thế giới thứ II, kinh tế Nhật Bản dần dần phục hồi và phát triển Thập niên 1950 và 1960, Nhật Bản đã đạt được tăng trưởng kinh tế cao, đến thập niên 1970, GDP của Nhật Bản đã đứng hàng thứ hai trên thế giới, trở thành cường quốc kinh tế thứ hai sau Mỹ Năm 1960, GDP bình quân đầu người của Nhật Bản là 477 USD bằng 1/6 so với Mỹ Đến năm 2000, GDP bình quân đầu người của Nhật Bản đã đạt được 37578 USD vượt Mỹ (34796) Ban đầu, nguồn ngoại tệ của Nhật Bản thu được chủ yếu nhờ ngoại thương, sau nhờ áp dụng công nghệ dựa vào hệ thống nghiên cứu bao gồm tiêu thụ, thu hút và mở rộng công nghệ tiên tiến nhập khẩu Kết quả là một loạt ngành của Nhật Bản - ngành nọ nối tiếp ngành kia cùng phát triển tạo động lực đưa toàn bộ nền kinh tế của Nhật Bản cất cánh Đến thập niên 1970 và 1980, Nhật Bản cơ cấu lại các ngành có nhiều lợi thế
so sánh, ban đầu sang các nước mới công nghiệp và sau đó sang các nước ASEAN
và các nước châu á khác thông qua đầu tư và chuyển giao công nghệ Mô hình tái
cơ cấu và phát triển các ngành được biết đến với tên gọi "đàn nhạn bay" mà con chim đầu đàn là Nhật Bản, mà nền tảng là khoa học, công nghệ và kinh tế tạo đà cho kinh tế tăng trưởng nhanh trong khu vực thông qua việc cung cấp vốn, chiếm lĩnh thị phần và tái cơ cấu các ngành truyền thống
Tuy nhiên, đến thập niên 1990, mặc dù đã chuyển hướng sự phát triển sang nền kinh tế tri thức, song Nhật Bản chưa kịp thay đổi chiến lược phát triển của mình từ chiến lược "rượt đuổi" sang chiến lược "đổi mới", chính vì vậy Nhật Bản không cạnh tranh được so với Mỹ trong các lĩnh vực có công nghệ và giá trị gia tăng cao Bên cạnh đó, do tác động của sự sụp đổ nền kinh tế "bong bóng" Nhật Bản và ảnh hưởng khủng khoảng tài chính châu Á., kinh tế Nhật Bản đã bị rơi vào trì trệ tồi tệ nhất kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ II Từ năm 1991 đến năm 2000,
Tỷ lệ tăng GDP bình quân của Nhật Bản chỉ là 1,38% Tỷ lệ tăng GDP các năm
Trang 102000, 2001 và 2002 tương đương 2,8%, 0,4% và 0,3% Đến ngày 18, tháng 5/2001, Nhật Bản đã xuất bản cuốn "Sách trắng về thương mại năm 2001" với nhan đề " đối mặt với những thách thức của thế kỷ 21 về chính sách kinh tế đối ngoại" Cuốn sách này cho thấy thời đại mô hình kinh tế "đàn nhạn bay" của châu á mà con chim đầu đàn là Nhật Bản đã chấm dứt, người ta dự đoán rằng châu á sẽ bước vào một thời đại cạnh tranh lớn thực sự Nhưng mặc dù Nhật Bản đã và đang phải đối mặt với những khó khăn lớn về kinh tế song nếu xét toàn bộ nền kinh tế, Nhật Bản vẫn giữ được vị trí hàng đầu ở châu Á và đứng thứ hai trên thế giới bởi vì về cơ bản Nhật Bản có một nền tảng kinh tế vững chắc và vẫn là một cường quốc về kinh tế sau hơn 10 năm phát triển và tích luỹ vừa qua Nhật Bản đã và đang giữ được vị trí này và có thể sẽ tiếp tục duy trì được như vậy trong một thời gian tương đối dài sau này
Hiện nay, Nhật Bản vẫn là nước sở hữu nhiều phát minh khoa học công nghệ hiện đại nhất với tính cạnh tranh quốc tế cao như ngành điện tử, năng lượng, khoa học cuộc sống, vật liệu, viễn thông, chinh phục vũ trụ và đại dương, công nghệ phòng chống bệnh tật v.v
Các ngành có vốn lớn, tri thức và công nghệ của Nhật Bản chiếm đa số tỷ trọng trong nền kinh tế của Nhật Bản và các sản phẩm của những ngành này có giá trị gia tăng và công nghệ cao Đến năm 1998, các ngành chế tạo của Nhật Bản chiếm 24% GDP của toàn bộ nền kinh tế nước này, cao hơn so với Mỹ (22%) Trong số 25 công ty hàng đầu ở châu Á có tới 20 công ty là công ty của Nhật Bản
Đặc biệt, Nhật Bản hiện vẫn là nước sở hữu nguồn vốn khổng lồ, có nguồn
dự trữ ngoại tệ lớn nhất trên thế giới Năm 1998, thị trường vốn của Nhật Bản (tính giá trị thị trường trên thị trường chứng khoán) chiếm 9,09% thị trường vốn toàn thế giới Tính đến cuối năm 2000, giá trị tài sản của Nhật Bản ở nước ngoài đạt khoảng 3204,6 tỷ USD chiếm hơn một nửa giá trị tài sản của toàn thế giới Riêng năm 2000, giá trị tài sản của Nhật Bản ở nước ngoài lên đến 1157,9 tỷ USD đã biến Nhật Bản trở thành nhà tín dụng lớn nhất trên thế giới Dự trữ ngoại tệ của