1. Trang chủ
  2. » Tất cả

XHH-Truyền-thông-đại-chúng-Nhóm-1

15 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 131,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ta có thể thấy mối quan hệ trong hoạt động truyền thông của con người là quá trình diễn ra theo trình tự thời gian, trong đó bao gồm các yếu tố cơ bản:  Nguồn: Một trong những yếu tố ma

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

MÔN HỌC: XÃ HỘI HỌC TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG VÀ

DƯ LUẬN XÃ HỘI

NHÓM 1

1 LÊ THỊ HOÀI LINH - 19030451- K64 CTXH

2 ĐỖ QUỲNH NHƯ - 19030471- K64 CTXH

3 NGUYỄN HUYỀN TRANG- 19030506- K64 CTXH

4 VŨ THỊ THẢO HIỀN- 19030435- K64 CTXH

5 BÁ HỒNG VÂN- 19030512- K64 CTXH

Trang 2

CHƯƠNG I TRUYỀN THÔNG VÀ TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG

I Khái niệm

1 Khái niệm truyền thông

Ngày nay xã hội ngày càng phát triển, đời sống con người không ngừng nâng cao Con người luôn tạo cho cuộc sống của mình trở nên tiện nghi, đầy

đủ đặc biệt là đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của mình Một trong những nhu cầu đó là trao đổi thông tin, sự ra đời của nhu cầu này đã tạo ra sự phát triển của truyền thông Chính những quan hệ đó, nhu cầu đó là điều kiện duy trì và thúc đẩy sự vận động của xã hội loài người Bởi vì nhờ có sự ra đời của hoạt động giao tiếp này mà con người thiết lập và duy trì được các mối quan hệ xã hội với nhau, hiểu biết lẫn nhau, trao đổi những kinh nghiệm sống, hợp tác với nhau trong lao động sản xuất, chinh phục thiên nhiên, đấu tranh xã hội

Từ đó, truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau Truyền thông còn được hiểu là sản phẩm của con người, là động lực kích thích sự phát triển của xã hội

Cùng với khái niệm truyền thông, người ta còn phân biệt hai dạng thức truyền thông là truyền thông ngoại biên và truyền thông nội biên

Truyền thông ngoại biên là hoạt động trao đổi giữa người này và người khác

thông qua sự tiếp nhận của các giác quan Truyền thông ngoại biên mang tính xã hội, quan hệ hữu cơ với xã hội trong quá trình phát triển

Truyền thông nội biên là quá trình diễn ra trong bản thân một con người

Truyền thông nội biên mang tính nhân chủng, nằm trong cơ chế vận hành chung của tâm- sinh lý con người

Trang 3

Ta có thể thấy mối quan hệ trong hoạt động truyền thông của con người là quá trình diễn ra theo trình tự thời gian, trong đó bao gồm các yếu tố cơ bản:

 Nguồn: Một trong những yếu tố mang đến nguồn thông tin, nội dung

để khởi xướng cho quá trình hình thành truyền thông

 Thông điệp: Đây là một trong những nội dung trao đổi nguồn để truyền đạt đến người tiếp nhận

 Kênh truyền thông: Đây chính là phương tiện, cách thức và con đường

để truyền tải thông điệp từ nguồn đến người tiếp nhận

 Người tiếp nhận: Xác định rõ đối tượng tiếp nhận thông tin, thông điệp khi truyền tải thông tin

 Phản hồi: Đây chính hành động của người tiếp nhận thông tin, thông điệp phản hồi ý kiến bằng chính phát ngôn của cá nhân

 Nhiễu: Đây là một trong những yếu tố làm loãng thông tin trong quá trình truyền thông

Có 3 loại nhiễu thông tin, đó là: nhiễu vật lí, nhiễu ngữ nghĩa và nhiễu thực dụng

-Nhiễu vật lí: Nguyên nhân gây ra loại nhiễu này là do sự cố kĩ thuật, hoặc do môi trường khi truyền thông tin Để khắc phục nhiễu vật kí chỉ có thể sử dụng các biện pháp kĩ thuật

-Nhiễu ngữ nghĩa: Nguyên nhân gây ra loại nhiễu nà là do các hiện tượng ngôn ngữ (như từ đồng âm dị nghĩa hoặc từ đồng âm khác nghĩa), do khái niệm vòng quanh hoặc khái niệm chưa thống nhất, do lỗi văn phạm

-Nhiễu thực dụng: Nguyên nhân gây ra loại nhiễu này là do người truyền thông tin và người nhận thông tin bị chi phối bởi các quan hệ xã hội hay bởi lợi ích kinh tế Đây là nguyên nhân thường xuyên nhưng rất khó khắc phục Để hạn chế nhiễu thực

Trang 4

dụng, khi xây dựng hệ thống thông tin cần phải sử dụng nhiều biện pháp đồng bộ như giáo dục, tổ chức, hành chính, kinh tế Ngoài ra, các yếu tố gây nhiễu bao gồm:

- Sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa

- Môi trường truyền thông tin không tốt Ví dụ như tiếng ồn, thời tiết

Ngoài việc hiểu rõ khái niệm truyền thông là gì thì hiện nay phương tiện truyền thông có rất đa dạng để thực hiện công tác đưa thông tin đến gần với mọi người bao gồm như: báo chí, website, truyền hình, phát thanh,… Đứng đầu phương tiện truyền thông hiện nay thông qua mạng Internet đặc biệt là truyền thông xã hội (Social Media), cụ thể như: Yahoo, Twitter, Facebook,… Theo như thống kê thì mạng xã hội chiếm tới hơn 40% số lượng người tham gia sử dụng phương tiện này

Phương tiện truyền thông truyền hình là phương tiện truyền thông nắm vai trò quan trọng Trong đó, báo chí chính là phương tiện truyền thông phổ biến hiện nay bên cạnh đó còn có một số phương tiện khác như: phát thanh, băng đĩa, sách, điện ảnh, quảng cáo,…

Truyền thông có nhiều lợi ích rõ rệt hỗ trợ con người phát triển có ảnh

hưởng mọi mặt trong cuộc sống con người Bên cạnh đó, truyền thông có sức mạnh lan tỏa mạnh và nhanh tới cộng đồng Từ định nghĩa về truyền thông có thể thấy đây chính là sự liên kết của con người với con người thông qua mọi loại hình truyền thông tạo gắn kết bền chặt và sâu rộng

2 Khái niệm truyền thông đại chúng

Truyền thông đại chúng theo các nhà nghiên cứu là một thuật ngữ xuất hiện

lần đầu tiên trong Lời nói đầu của Hiến chương Liên hợp quốc về văn hóa, khoa học và giáo dục (UNESCO) năm 1946 Thuật ngữ này ngày càng trở nên thông dụng, khi báo chí và nhất là các phương tiện phát thanh, truyền hình phát triển ngày càng mạnh mẽ và rộng rãi Theo PGS TS.Phạm Thành Hưng, khái niệm truyền thông đại chúng được hiểu như là tổng thể các phương thức và phương tiện thông tin có lượng địa chỉ tiếp nhận lớn và công

Trang 5

nghệ truyền phát hiện đại, tác giả cho rằng: “Truyền thông đại chúng là hoạt động truyền phát và tiếp nhận thông tin có quy mô tác động xã hội rộng rãi, đồng loạt và hiệu quả giao tiếp lớn” Vì phạm vi tác động của truyền thông đại chúng có thể vượt qua khuôn khổ các quốc gia, dân tộc, ảnh hưởng đến

cả khu vực hoặc toàn cầu, do vậy truyền thông đại chúng ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội hiện đại

Theo Herbert Blumer Thì “đại chúng” được hiểu như sau:

Đại chúng bao gồm những người thuộc mọi thành phần xã hội,bất kể nghề nghiệp, trình độ học vấn hay tầng lớp xã hội Nói đến đại chúng là nói đến những cá nhân nặc danh vì nhằm đến một công chúng đông đảo nên truyền thông không thể biết ai là ai, và khi truyền thông tin ấy có thể đến bất cứ ai

và không dành riêng cho một cá nhân hay nhóm người cụ thể như truyền thông cá nhân và truyền thông tập thể Đại chúng thường là những người độc lập ít có sự tương tác hay gắn bó nào Đại chúng không có tổ chức nào hoặc nếu có thì cũng lỏng lẻo Khí nói đến đai chúng người ta thường nghĩ đến số đông mặc dù không có số lượng người cụ thể

Như vậy có thể chốt lại rằng, Truyền thông đại chúng là hoạt động giao tiếp

xã hội rộng rãi, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, là quá trình truyền đạt thông tin đến quảng đại quần chúng

Vào cuối thế kỷ 20, truyền thông đại chúng có thể được phân ra thành 8 ngành công nghiệp: sách, báo in, tạp chí, ghi dữ liệu, phát thanh, điện ảnh, truyền hình và Internet Trong thập niên 2000, một sự phân loại gọi là "seven mass media" (bảy loại hình truyền thông đại chúng) đã trở nên phổ biến Nó bao gồm:

 In ấn từ cuối thế kỷ 15

 Ghi dữ liệu từ cuối thế kỷ 19

 Điện ảnh từ khoảng năm 1900

 Phát thanh từ khoảng năm 1910

Trang 6

 Truyền hình từ khoảng năm 1950

 Internet từ khoảng năm 1990

 Điện thoại di động từ khoảng năm 2000

Để thực hiện truyền thông đại chúng trên phạm vi và quy mô rộng lớn cần

có các phương tiện kĩ thuật tương ứng Trong đó, phương tiện truyền thông

là những phát kiến kĩ thuật hoặc những phát minh mà nhờ vào đó người ta

có thể thực hiện quá trình truyền thông đại chúng, nghĩa là việc tiến hành phổ biến và loan truyền thông tin ra mọi người dân trong xã hội Khoa học

kĩ thuật càng phát triển càng tạo ra những phương tiện kĩ thuật hiện đại hơn,

có sức mạnh hơn cho quá trình hoạt động truyền thông đại chúng Ngày nay, người ta biết đến nhiều loại hình phương tiện kĩ thuật khác nhau tham gia vào các khâu,các loại hình truyền thông đại chúng như:Phim ảnh, Video game, Thu âm và sao chép, Internet, Blog, RSS feeds, Podcast, Di động, Truyền thông in ấn, Sách, Tạp chí, Báo viết/Báo in/Báo giấy, Truyền thông ngoài trời

Truyền thông đại chúng bao gồm nhiều thứ hơn là chỉ tin tức, mặc dù đôi khi

nó bị hiểu nhầm theo cách này Nó có thể được sử dụng cho các mục đích khác nhau:

Vận động chính sách cho cả doanh nghiệp và xã hội Điều này có thể bao gồm quảng cáo, tiếp thị, tuyên truyền, quan hệ công chúng và truyền thông chính trị

Giải trí, theo truyền thống thông qua các buổi biểu diễn diễn xuất, âm nhạc

và các chương trình truyền hình cùng với việc đọc sách nhẹ nhàng; kể từ cuối thế kỷ 20 cũng thông qua trò chơi điện tử và máy tính

Thông báo dịch vụ công cộng và cảnh báo khẩn cấp (có thể được sử dụng như một thiết bị chính trị để tuyên truyền cho công chúng)

II LỊCH SỬ PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG

Hệ thống truyền thông đại chúng đã và đang trở thành một trong những động lực của sự phát triển của xã hội Những tầng lớp dân chúng bình thường hay những nhóm thiểu số vốn trước đây không có quyền phát ngôn, nay có nhiều cơ

Trang 7

hội hơn để lên tiếng Hiện tượng Blog trong những năm gần đây là một bằng chứng sinh động các cá nhân giờ đây ngày càng có điều kiện tiếp cận trực tiếp những thông tin vốn trước đây phải thông qua sự chọn lọc của các nhà báo Khái niệm về truyền thông đại chúng lần đầu tiên được đề cập trong Kỷ nguyên Tiến bộ của những năm 1920, như một phản ứng trước những cơ hội mới cho giới tinh hoa tiếp cận với lượng lớn khán giả thông qua các phương tiện thông tin đại chúng thời đó: báo chí , đài phát thanh và phim ảnh Tuy vây, xuyên suốt chiều dài của lịch

sử, ta vẫn nhận thấy truyền thông đại chúng đã tồn tại từ những kỷ nguyên xa xưa

và trong nhiều hình thức khác nhau tuy còn sơ khai, nhưng vẫn mang lại các hiệu quả truyền thông.

1 Những kỹ thuật truyền thông sơ khai, đơn giản

a) Ngôn ngữ, lời nói

Truyền thông tin bằng ngôn ngữ lời nói là kỹ thuật truyền thông sơ khai nhất nhưng đồng thời lại đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong lịch sử truyền thông của loài người Ngôn ngữ, lời nói hình thành trong quá trình lao động và sinh hoạt bầy đàn của loài người nguyên thủy Bắt đầu là những tín hiệu âm thanh đơn giản trong lao động, sinh hoạt rồi dần dần xuất hiện cả một hệ thống tín hiệu âm thanh được cộng đồng thống nhất sử dụng để giao tiếp – đó là ngôn ngữ lời nói Ngôn ngữ lời nói trở thành một trong số ít các yếu tố quyết định đến việc tiến hóa con người tự nhiên thành con người xã hội và điều kiện sống còn cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Ph.Ăng ghen đã nhấn mạnh trong tác phẩm “Biện chứng tự nhiên”: Trước hết là lao động, sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ;

đó là hai sức mạnh kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến con vượn, làm cho bộ óc

đó dần dần biến thành bộ óc của con người” Nhà xã hội học Mỹ Daniel Lerner, trong một bài đăng trên Tạp chí Bchavioral Science ra tháng 10/1957, cho rằng một trong những điều kiện và đặc điểm của quá trình chuyển đổi từ các xã hội cổ truyền sang các xã hội hiện đại chính là sự chuyển tiếp từ các hệ thống truyền thông truyền miệng sang các hệ thống truyền thông đại chúng Chính bởi vậy, ngôn ngữ lời nói chính là nền tảng cơ bản để truyền thông đại chúng ngày càng phát triển và phổ biến.

b) Kí hiệu

Ngoài lời nói, con người thời nguyên sơ cũng đã biết dùng các ký hiệu khác nhau để truyền tin Đó là những cử chỉ của đầu, mắt, tay, nét mặt thể hiện tình cảm, thái độ trong khi giao tiếp trực tiếp Từ xa xưa, vấn đề truyền tin, liên lạc đã

Trang 8

được đặt ra nhằm giải quyết những nhu cầu tin tức của con người và ngày nay khoa học đã giúp con người thông tin liên lạc thông qua các phương tiện tối tân nhất Có thể nói “Lịch sử truyền tin phát tin gắn liền với lịch sử phát triển con người” Nhiều hình thức truyền thông sơ khai đã được con người cải biến, hoàn thiện và ngày càng phổ biến trong xã hội Chẳng hạn cổ xưa con người dùng : mỏ, trống, tù và, khói, chim câu để nhắn tin Ngày nay người ta dùng các ký hiệu thay chữ để ghép thành câu để thông tin cho nhau có rất nhiều hình thức, đa dạng phong phú : Gửi thư qua bưu điện - điện tín - Điện thoại, Fax, Internet …

c) Chữ viết

Ngôn ngữ âm thanh trong một thời gian rất dài đã trở thành công cụ duy nhất

để con người có thể truyền đạt cho nhau những kinh nghiệm sản xuất và đấu tranh.Tuy nhiên, việc sử dụng ngôn ngữ âm thanh không phải không có những hạn chế nhất định Khi hai người giao tiếp bằng lời, ảnh hưởng của ngôn ngữ âm thanh chỉ có hiệu lực trong một phạm vi nhất định Chính vì vây, sự ra đời của chữ viết

là một bước phát triển lớn trong kỹ thuật truyền thông, chuẩn bị cho một điều kiện quan trọng cho sự ra đời và phát triển của các hình thức truyền thông đại chúng đầu tiên.

Những hệ thống chữ viết đầu tiên không tự xuất hiện Chúng bắt nguồn từ các tập quán cổ xưa của các hệ thống biểu tượng Những hệ thống này không thể coi là chữ viết, nhưng chúng có rất nhiều đặc điểm liên hệ với chữ viết sau này, vì vậy có thể gọi là hệ thống tiền ký tự (nguồn gốc của chữ viết) Chúng là các hệ thống biểu tượng khá dễ nhớ và ghi lại ý, cho phép truyền đạt thông tin nhất định Tuy vậy, chúng không có nội dung ngôn ngữ Những hệ thống này xuất hiện ở đầu thời kỳ

đồ đá mới, khoảng thiên niên kỷ thứ 7 TCN Đáng chú ý có hệ biểu tượng Vinca

có những cải tiến về biểu tượng giản đơn ở đầu thiên niên kỷ 7 TCN, dần tăng tính phức tạp trong thiên niên kỷ tiếp theo và lên đến đỉnh cao là những bản ghi

Tartaria vào thiên niên kỷ 5 TCN Những biểu tượng được xếp theo hàng lối chặt chẽ, giúp chúng ta liên tưởng ngay đến văn bản

Người ta tin rằng hệ thống chữ viết đầu tiên của loài người ra đời cuối thiên niên kỷ III TCN tại vùng Sumer (Lưỡng Hà) ở dạng chữ hình nêm cổ xưa ở Triều đại Ur thứ ba Cùng thời gian đó, những dạng tiền chữ viết Elamite phát triển thành chữ viết Elamite có hàng lối (dạng chữ viết này cho đến nay vẫn chưa giải

Trang 9

mã được).Sự phát triển của chữ viết tượng hình Ai cập song song với những ký tự vùng Lưỡng Hà và không nhất thiết là độc lập với nhau Hệ thống tiền ký tự của người Ai Cập tiến hóa thành những ký tự tượng hình cổ xưa vào khoảng 3.200 năm TCN và phổ biến rộng rãi ở giữa thiên niên kỷ III TCN Ký tự của nền văn minh sông Ấn phát triển trong suốt thiên niên kỷ 3 cả ở dạng tiền chữ viết hoặc dạng chữ viết cổ xưa tuy vậy quá trình phát triển này tiến nhanh hơn khi nền văn minh đi qua giai đoạn đỉnh điểm vào khoảng 1.900 năm TCN.

Hệ thống chữ cái đầu tiên ra đời khoảng cuối thiên niên kỷ thứ II đầu thiên kỷ thứ I TCN.Đây là hệ thống chữ cái không có nguyên âm nên không có khả năng ghi lai đầy đủ các âm của lời nói Bảng chữ cái Hy Lạp ra đời khoảng thế kỷ VIII, thế kỷ VII TCN là hệ thống gồm 24 ký tự được dùng để viết tiếng Hy Lạp Theo nghĩa hẹp đây là bảng chữ cái đầu tiên và lâu đời ghi mỗi nguyên âm và phụ âm bằng một biểu tượng riêng Nó cũng được sử dụng như vậy cho đến ngày nay Những chữ cái này cũng được dùng trong bảng số Hy Lạp từ thế kỷ thứ II trước Công nguyên Hệ thống chữ cái Hy Lạp đã trở thành cơ sở, hình mẫu cho sự hình thành các hệ thống chữ cái trong nhiều ngôn ngữ khác nhau ở phương Tây, trong

dó có hệ thống chữ cái Latinh.

Chữ viết ra đời và phát triển đã tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho sự phát triển các khả năng giao tiếp của con người Chữ viết không chỉ giúp con người tang khả năng ghi nhớ mà còn giúp con người mở rộng không gian và thời gian cho việc truyền thông, đáp ứng kịp thời nhu cầu thông tin giao tiếp ngày càng mở rộng của xã hội Theo nhà xã hội học Daniel Lerner, khi con người biết đọc biết viết, tức là khi thoát ra khỏi tình trạng mù chữ, thì bát đầu có được một khả năng còn quan trọng hơn cả việc biết đọc biết viết Đó là khả năng bước vào “thế giới của những kinh nghiệm gián tiếp”, tức là bước vào một thế giới mà trong đó các kinh nghiệm của người khác đã được tường thuật và ghi chép lại trên chữ viết qua sách vở, báo chí… Mặt khác, cũng chính nhờ đó mà người ta tăng cường được khả năng thấu cảm (empathy), tức là khả năng tự đặt mình vào vị trí của người khác để hiểu được người khác Và chính nhờ có khả năng này mà con người mới có thể sống được với nhau một cách hài hòa trong xã hội Khả năng biết đọc biết viết còn giúp cho con người hình thành được sự linh hoạt về trí tuệ vốn là một thuộc tính đặc trưng của con người trong xã hội hiện đại Chính các phương tiện truyền thông đại chúng là nhân tố góp phần mạnh nhất vào việc rèn luyện khả năng thấu cảm cũng như khả năng linh hoạt trí tuệ, khi chúng giúp cho con người tiếp xúc được với nhiều tư tưởng khác nhau và biết được những vấn đề công cộng của xã hội.

Trang 10

2 Khoa hùng biện

Thiên niên kỷ thứ I TCN khoa hùng biện hay còn gọi là tu từ học ra đời đánh dấu sự xuất hiện của một phương tiện mới trong hoạt động truyền thông Khái niệm hùng biện xuất hiện từ thời Hy Lạp cổ đại từ Calliope - một trong chín cô con gái của Thần vương Zeus và Mnemosyne Cô được xem là nữ thần thi ca truyền cảm hứng cho các thiên sử thi và khả năng hùng biện.

Tác giả Petrach (1304 - 1374), trong một công trình khảo cứu về cổ văn Hy Lạp - La Mã và thời kỳ Phục hưng Ý, đã tập trung nghiên cứu vào ngôn ngữ và truyền thông học Sau khi thông thạo một ngôn ngữ, bước kế tiếp của người theo đuổi môn học này là nhắm đến một "đẳng cấp hùng biện", nghĩa là có khả năng trình bày cách mạch lạc, hùng hồn và trang nhã những ý tưởng và luận cứ sao cho thuyết phục người nghe tin tưởng vào quan điểm của mình Petrach khuyến khích sinh viên học tập những tác giả cổ điển từ thuật dụng ngữ đến kỹ thuật kết hợp cách trình bày rõ ràng, chuẩn xác với những tư tưởng đạo đức Những nhà nhân văn thời kỳ phục hưng quan tâm đến mối quan hệ giữa thuyết trình và các nguyên tắc chính trị, xem đó là công cụ hữu hiệu giúp trình bày và thuyết phục công chúng tin vào các khái niệm, lý luận được đưa ra Trọng tâm của thuyết trình là trang nhã trong phong cách, súc tích và chuẩn xác trong ngôn từ, hợp lý và gây xúc cảm trong luận cứ.

Các hoạt động bào chữa tại tòa án ở Sisile là môi trường đầu tiên cho sự ra đời của khoa hùng biện Corax – một nhà hùng biện người Hy Lạp được cho là người sáng lập truyền thống đầu tiên của sách hướng dẫn về hùng biện pháp lý Corax luôn quan tâm nhu cầu thực tế để có thể nói một cách hiệu quả Ông cho rằng một bài nói tốt thì phải có các phần lập luận khác nhau trong đó mở đầu bằng phần

“khai từ” và kết thúc bằng “kết luận” Năm 63 TCN, Cicero - một triết gia và nhà hùng biện, chính khách, nhà lý luận chính trị La Mã đã lên đến nấc thang danh vọng cao nhất với chức chấp chính quan (có quyền hạn tối thượng, nhiệm kỳ một năm) nhờ vào bài diễn văn chặt chẽ và đầy sức thuyết phục Ngoài ra, thuật hùng biện là một trong những chìa khóa dẫn đến thành công trong sự nghiệp chính trị của các chính khách Marcus Antonius (83 TCN – 30 TCN), một tướng lĩnh và chính khách La Mã, đã đọc một trong những bài diễn văn đáng nhớ nhất trong lịch

sử, được đưa vào vở kịch Julius Caesar của Shakespeare; Shakespeare đã sử dụng lời hiệu triệu của Antonius "Các bạn hữu, cư dân thành La Mã, và toàn thể đồng bào, xin hãy lắng nghe tôi" Các chính khách đương đại từ hai phía đối nghịch nhau như Franklin D Roosevelt, Winston Churchill, Joseph Stalin, Adolf Hitler,

Ngày đăng: 15/10/2021, 23:10

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w