PHÂN TÍCH NHỮNG XU HƯỚNG MỚI TRONG ĐẦU TƯQUỐC TẾ Đối với các quốc gia trên toàn thế giới, trong thời gian qua, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã phát triển nhanh chóng, trở thà
Trang 1PHÂN TÍCH NHỮNG XU HƯỚNG MỚI TRONG ĐẦU TƯ
QUỐC TẾ
Đối với các quốc gia trên toàn thế giới, trong thời gian qua, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã phát triển nhanh chóng, trở thành một bộ phận cấu thành và có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một thành tố quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu và được xem là nguồn lực thiết yếu cho phát triển kinh tế - xã hội
Thu hút FDI từ các tập đoàn đang là xu thế của các quốc gia hiện nay Xu hướng hiện nay trên thế giới cho thấy, đầu tư trên thế giới chủ yếu là vốn từ các công ti đa quốc gia Các công ti đa quốc gia thường được xem như là tổ chức phù hợp tạo điều kiện phát triển hoạt động vay và cho vay quốc tế Những công ti mẹ thường cung cấp vốn cho các công ti con ở nước ngoài, với kì vọng là sẽ thu lại được những khoản lợi nhuận chấp nhận được
Các công ti này có công nghệ tiên tiến và tiềm lực tài chính mạnh, ảnh hường lớn đến nền kinh tế thế giới và chi phối các quan hệ kinh tế quốc tế, làm lợi rất nhiều cho nền kinh tế và các doanh nghiệp của nước sở tại Do đó, định hướng thu hút FDI từ các công ti này là xu thế tất yếu, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển để nâng cao vị thế của mình trong nền kinh tế thế giới
Trong bối cảnh thế giới tiến vào kỷ nguyên của Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, nhiều nước ưu tiên thu hút FDI vào các ngành, lĩnh vực công nghệ cao, tiên tiến, công nghệ thân thiện với môi trường, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; giáo dục và đào tạo, y tế,
du lịch chất lượng cao, dịch vụ tài chính, logistics và các dịch vụ hiện đại khác…
1 Thực trạng đầu tư quốc tế tại Việt Nam
Việt Nam dù đang thu hút hiệu quả đầu tư từ Nhật Bản và Hàn Quốc, nhưng điều quan trọng đối với Việt Nam là phải thu hút nhiều hơn các nhà đầu tư từ châu Âu và Hoa
Kỳ để đa dạng hóa nguồn vốn FDI và tận dụng được đầu tư từ bán cầu Bắc cho các hoạt động mang lại giá trị gia tăng cao hơn và tăng cường giao công nghệ cho khối kinh tế tư nhân trong nước Mặc dù các bên liên quan đều cho rằng Việt Nam chưa đạt hiệu quả tốt trong thu hút FDI từ châu Âu và Hoa Kỳ, nhưng cơ sở dữ liệu của FDI markets không cho thấy như vậy Trái lại, khi so sánh với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực, ngoại trừ Trung Quốc, Việt Nam thu hút hiệu quả FDI từ châu Âu (khi chỉ có Malaysia có kết quả tốt hơn, còn Thái Lan, Philippines, Indonesia đều đứng sau Việt Nam về số lượng dự án đăng kí trong 14 năm qua) Tương tự, đối với FDI từ Hoa Kỳ, trong nhóm các quốc gia tương đương, Philippines thu hút tỉ trọng lớn hơn, sau đó đến Malaysia, nhưng Việt Nam vẫn có kết quả tốt hơn Thái Lan và Indonesia Trung Quốc là điểm đến quan trọng thứ hai trên toàn cầu của cả các nhà đầu tư châu Âu và Hoa Kỳ, là nước thu hút tỉ lệ lớn nhất các dự án FDI trong khu vực
Trang 2Hoạt động FDI ở các nước ASEAN cho thấy xu hướng chuyển dần từ lĩnh vực sản xuất sang lĩnh vực dịch vụ Năm 2017 đánh dấu sự thay đổi mạnh mẽ về cơ cấu đầu tư, theo
đó thương mại bán buôn và bán lẻ đã vượt qua tài chính và sản xuất - vốn là hai ngành có truyền thống thu hút FDI nhiều nhất, để trở thành ngành nghề đứng đầu trong việc hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó, một số hoạt động đầu tư nổi bật khác trong thời gian từ năm 2017 trở lại đây là: chăm sóc sức khỏe, R&D, giáo dục, thương mại điện tử, và đặc biệt là công nghệ tài chính Dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, đây được xem là một xu hướng đầu tư phù hợp, nhằm hướng tới khai thác những thành tựu của khoa học, công nghệ cũng như phát triển, đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển bền vững
Theo dữ liệu của Bộ Thương mại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, 26 FDI của Hoa
Kỳ trong nửa đầu năm 2017 đạt mức 1,78 tỉ USD, chỉ tương đương với một nửa lượng vốn đầu tư cùng kì năm 2016, trong khi Hồng Kông (Trung Quốc) chiếm 52,57 tỉ USD (72,8% dòng vốn FDI của Q1/Q2 năm 2017); Đài Loan (Trung Quốc) chiếm 3,36 tỉ USD (4,5%); Singapore 2,8 tỉ USD; Nhật Bản 1,84 tỉ USD; Hàn Quốc 1,75 tỉ USD; Hà Lan 1,36 tỉ USD; Đức 1,24 tỉ USD; Anh 890 triệu USD
2 Chiến lược đầu tư ra nước ngoài của các công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporation - TNC)
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay chủ yếu được thực hiện bởi các TNC Trong bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi, cộng với ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính chiến lược của TNC cũng có những thay đổi nhất định
Thứ nhẩt, về sự lựa chọn địa điểm đầu tư: những nơi ổn định, an toàn đồng vốn và phát triển năng động sẽ được ưu tiên Dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của thế giới nói chung
và của INC nói riêng hiện nay đang là dòng vốn có lựa chọn kĩ càng về địa điểm đầu tư Các TNC ở những nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới cũng đang phải đối mặt với khó khăn chồng chất của nền kinh tế ở những nước này Vì vậy, những TNC ở đây rất thận trọng chọn lựa địa điểm đầu tư
TNC đang tích cực tận dụng những ưu đãi trong việc thu hút đâu tư nước ngoài ở các nước đang phát triên Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực có nhiều ưu đãi đó Đặc biệt, những nước có ưu đãi thuế, đánh thuế vào lợi nhuận thấp và tự do chuyển lợi nhuận càng thu hút được nhiều TNC Khu vực Nam, Đông và Đông Nam Á sẽ là nơi được chú ý bởi sự hồi phục nhanh sau khủng hoảng kinh tế Đây cũng là khu vực hấp dẫn với các thị trường mới nổi và những cơ hội đầu tư mới được tạo nên do làn sóng tự do hóa kinh tế đang diễn
ra mạnh mẽ Xét về tổng thể, đây là các nước có thu nhập trung bình thấp nên đầu tư sang các nước này TNC sẽ có cơ hội tiếp cận với thị trường rộng lớn, sức mua hàng hóa rất tiềm năng, nguồn lao động rẻ
Trang 3Thứ ba, xu hướng chuyển dịch sang các nước đang phát triển có tăng trưởng kinh tế cao TNC nào cũng chú trọng vào những thị trường có nền tảng hạ tầng và trình độ lao động tốt Các TNC ngày càng quan tâm đến sức mua của thị trường ở nước nhận đầu tư hiện nay xu hướng TNCs đầu tư vào các nền kinh tế đang phát triển tăng lên Nhiều nền kinh tế đang phát triển có sự cải thiện mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng, về trình độ người lao động và có quy mô dân số lớn, đã gây được sự chú ý của các TNC Trung Quốc và Ấn Độ
là hai trường hợp điển hình cho nhận định này, Việt Nam cũng có lợi thế thu hút các TNC lớn do quy mô dân số và sức mua của nền kinh tế có tiềm năng cao nhưng hiện vẫn còn nút thắt về hạ tầng và trình độ người lao động, tình trạng vi phạm luật sở hữu trí tuệ Vì thế, chưa có nhiều TNC lớn đầu tư vào Việt Nam thời gian qua
3 Xu hướng M&A phát triển mạnh và đầu tư vào các lĩnh vực dịch vụ sẽ ngày càng nhiều hơn
Hiện có 2 phương thức đầu tư trực tiếp nước ngoài, đó là: đầu tư xây dựng mới (GF)
và đầu tư thông qua mua lại và sáp nhập (M&A) Nếu như trước đây M&A chỉ thấy ở các quốc gia phát triển thì hiện nay hình thức này đã có mặt ở nhiều quốc gia đang phát triển, đặc biệt ở khu vực châu Á Loại hình đầu tư này ngày càng có xu hướng phát triển mạnh Ngay cả Trung Quốc cũng tích cực tham gia vào xu hướng này nhằm tạo đột phá trong phát triển và chiếm giữ vị trí thống trị về công nghệ, vốn trên thế giới Nhiều doanh nghiệp của Trung Quốc đã mua lại các doanh nghiệp lớn của nước phát triển để thâu tóm công nghệ và chiếm lĩnh một số lĩnh vực Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang trì trệ hiện nay, mặc dù dòng FDI toàn cầu có xu hướng tăng nhưng chủ yếu rơi vào các vụ M&A, hình thức GF còn hạn chế Như vậy, năng lực sản xuất mới do FDI tạo ra trên phạm vi toàn cầu không nhiều
4 Thực trạng Đầu tư quốc tế của Việt Nam
Theo Bộ Kế hoạch và Ðầu tư (KH và ÐT), tính lũy kế đến cuối năm 2019, có 1.321
DA đầu tư ra nước ngoài của các DN Việt Nam còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 20,6 tỷ USD Ðầu tư của các DN Việt Nam xuất hiện ở 78 quốc gia/vùng lãnh thổ của cả năm châu, địa bàn lớn nhất là Lào, Nga, Cam-pu-chia, Vê-nê-xu-ê-la, Mi-an-ma, và đầu tư vào
18 ngành, lĩnh vực chủ yếu
Ðáng lưu ý, hoạt động đầu tư ra nước ngoài năm 2019 hoàn toàn do khu vực kinh tế
tư nhân thực hiện, không có dự án nào của DN nhà nước, trong đó xu hướng cá nhân đầu tư
ra nước ngoài gia tăng Ngày càng có nhiều tập đoàn tư nhân lớn và công ty cổ phần trong nước đầu tư ra nước ngoài ở các nước phát triển nhằm mở rộng thị trường, khẳng định thương hiệu như Tập đoàn Vingroup, Công ty cổ phần Hàng không Vietjet, Thaco, T&T, Vinamilk, FPT,
Ðến nay, có năm DN đầu tư ra nước ngoài có vốn đăng ký vượt một tỷ USD, gồm: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông quân đội, Tập đoàn Cao-su
Trang 4Việt Nam, Công ty cổ phần Tập đoàn Hoàng Anh-Gia Lai, Công ty cổ phần Golf Long Thành
5 Xu hướng vận động của FDI trên thế giới
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Không chỉ kịp thời bổ sung cho nguồn vốn trong nước, FDI còn là kênh trao đổi, chuyển giao công nghệ và kỹ năng tổ chức, quản lý tiên tiến; đồng thời còn mở ra những cơ hội tiếp cận với các thị trường quốc tế Với nhiều quốc gia đang phát triển, FDI đã vượt qua vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA để chiếm tỷ trọng đóng góp lớn nhất trong vốn đầu tư nước ngoài
Xu hướng vận động chung của dòng vốn FDI toàn cầu thời gian qua đã cho thấy nhiều biến đổi phức tạp Nghiên cứu của UNCTAD (2019) về tình hình FDI thế giới giai đoạn từ năm 2007 đến 2018 (inward FDI) đã khái quát một số điểm nổi bật như sau:
Thứ nhất, sau ba lần sụt giảm liên tiếp vào các năm 2017, 2018 và 2019, dòng vốn FDI toàn cầu đã chạm mức thấp nhất kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 Dòng vốn FDI đi vào nhóm nước phát triển chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hầu hết các năm
6 FDI sẽ tiếp tục khó khăn trong năm 2021
Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) vào tháng 6 năm
2020 đã tuyên bố rằng khối lượng FDI sẽ giảm 5–10% vào năm 2021 Đầu tư sẽ phụ thuộc nhiều vào sự phục hồi của Covid-19 Tin tức vào tháng 12 năm 2020 về các nút mới của vi rút đã làm giảm hy vọng rằng tiến bộ trong quá trình phát triển vắc xin sẽ dẫn đến việc quay trở lại 'bình thường' nhanh hơn Nếu các quốc gia quay trở lại tình trạng đóng cửa, các nhà đầu tư sẽ tiếp tục trì hoãn hoặc hủy bỏ các dự án
Một kịch bản tích cực hơn - đặc biệt đối với cộng đồng doanh nghiệp - sẽ là việc tiêm chủng trở nên phổ biến, mặc dù nhiều người làm việc trong ngành sẽ đứng cuối danh sách ưu tiên vắc xin Nếu đúng như vậy, chúng tôi kỳ vọng số lượng các dự án FDI có thể thực sự ổn định vào năm 2021
7 Hướng đi mới trong FDI
Đại dịch đã cung cấp cho các công ty thời gian để đánh giá lại chiến lược của họ và chúng tôi mong đợi sự tập trung mới của các công ty kết hợp phát triển bền vững và các mục tiêu về môi trường, xã hội và quản trị vào kế hoạch FDI của họ
Các quốc gia phục hồi nhanh nhất từ Covid-19 có khả năng nhận thấy dòng vốn FDI tăng lên Mặc dù các điểm đến FDI hàng đầu không có khả năng thay đổi, nhưng chúng ta
có thể thấy một số sắp xếp lại Ví dụ, Trung Quốc đã chứng kiến sự gia tăng dòng vốn FDI vào năm 2020 liên quan đến việc xử lý đại dịch và tăng trưởng GDP của nước này
8 Phục hồi sẽ khác nhau tùy theo lĩnh vực
Trang 5Tác động của Covid-19 đã được cảm nhận trên tất cả các khu vực FDI Tuy nhiên, chúng tôi kỳ vọng một số ngành sẽ phục hồi nhanh hơn các ngành khác Phần mềm và CNTT (bao gồm AI, an ninh mạng, fintech, trò chơi, học máy và phần mềm như một dịch vụ), khoa học đời sống (công nghệ sinh học, sức khỏe điện tử và công nghệ kỹ thuật) và năng lượng tái tạo là ba lĩnh vực cần theo dõi về khả năng phục hồi / tăng trưởng nhanh hơn Một số phân ngành có thể đã thực sự phát triển vào năm 2020 do nhu cầu của người tiêu dùng chuyển sang trực tuyến Các nền tảng truyền thông (như Zoom) và thương mại điện tử (Amazon) đã chứng kiến sự gia tăng nhu cầu đối với các sản phẩm của họ
Ngược lại, FDI vào ngành du lịch (khách sạn và giải trí) được cho là sẽ tiếp tục gặp khó khăn Ngoài ra, FDI sản xuất (đặc biệt là hàng không vũ trụ và ô tô) được dự đoán sẽ phục hồi chậm hơn nhiều
9 Brexit tác động tiêu cực đến mức FDI của Vương quốc Anh nhưng có lợi cho các đối thủ cạnh tranh
Tác động của Brexit được cho là sẽ tác động tiêu cực đến khối lượng FDI vào Vương quốc Anh Chúng tôi đã thấy các công ty chuyển hoạt động sang các khu vực khác của Châu Âu, đặc biệt là trong các ngành liên quan đến tài chính Những người chiến thắng lớn
ở đây dường như là Amsterdam, Dublin, Frankfurt và Luxembourg Các ngành công nghiệp khác cũng sẽ bị ảnh hưởng, với mức độ tác động liên quan đến thỏa thuận rút lui mới được đồng ý của Vương quốc Anh với EU Ví dụ, các nhà sản xuất lo ngại về ý nghĩa của thỏa thuận thương mại đối với họ Bất kỳ mức thuế mới nào sẽ làm tăng chi phí sản xuất có thể dẫn đến việc các công ty phải tìm đến các quốc gia khác
10.Chủ nghĩa bảo hộ và các quy định gia tăng dẫn đến sự phục hồi chậm hơn
Sự phục hồi FDI sau Covid dự kiến sẽ khó khăn hơn so với cuộc suy thoái toàn cầu gần nhất (bắt đầu vào năm 2008) do tập trung vào chủ nghĩa bảo hộ quốc gia Các quốc gia thiết lập các quy định về FDI để bảo vệ an ninh quốc gia của mình
Các mối đe dọa từ các thương vụ mua lại của Trung Quốc là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng chủ nghĩa bảo hộ ở nhiều nước phương Tây
Nhìn chung, đại dịch đã khiến các kế hoạch đầu tư bị đình trệ hoặc chậm lại,
“Covid-19 đã gây ra sự gia tăng chủ nghĩa bảo hộ, với việc nhiều quốc gia đưa ra các sửa đổi tạm thời đối với các quy định của họ để bảo vệ các công ty dễ bị tổn thương khỏi các nhà đầu tư nước ngoài”
11 Xu thế dịch chuyển đầu tư và gợi ý một số giải pháp cho Việt Nam về tiếp nhận dòng vốn FDI mới sau đại dịch Covid - 19.
Trang 6Đại dịch Covid-19 xảy ra đã tạo nên một khoảng hoảng nghiêm trọng chưa từng có, ảnh hưởng tiêu cực đến rất nhiều lĩnh vực của nền kinh tế thế giới nói chung, trong đó có dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI - Forein Direct Investment) Dòng vốn FDI vào Việt Nam cũng không ngoại lệ, trong năm 2020, vốn FDI đăng ký mới giảm 25% so với năm 2019
Đại dịch Covid-19 xảy ra đã tạo nên một khoảng hoảng nghiêm trọng chưa từng có, ảnh hưởng tiêu cực đến rất nhiều lĩnh vực của nền kinh tế thế giới nói chung, trong đó có dòng vốn đầu tư trực tiếp nước Theo báo cáo của UNCTAD (Hội nghị Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển), năm 2020, dòng vốn FDI toàn cầu sụt giảm tới 42% và dự báo sẽ tiếp tục sụt giảm 5-10% trong năm 2021 Báo cáo của UNCTAD nêu rõ nếu FDI toàn cầu bị thu hẹp trong một thời gian dài, hậu quả đối với các nước đang phát triển sẽ hết sức nặng nề
và nghiêm trọng Dòng vốn FDI không chỉ thúc đẩy doanh thu xuất khẩu ở các nước đang phát triển mà còn tạo ra nhiều việc làm, tác động tích cực hơn đến phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển giao công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất
Tại Việt Nam, vốn FDI có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội Do sự tác động tiêu cực từ đại dịch Covid-19, vốn FDI vào Việt Nam năm 2020 đã có sự sụt giảm
12.Thực trạng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu năm 2020 và xu hướng thời gian tới
Đại dịch Covid-19 đã khiến cho dòng vốn giảm mạnh tới 42% trong năm 2020 so với năm 2019[1], từ 1.500 tỷ USD xuống chỉ còn 859 tỷ USD Cần lưu ý rằng, đây là mức thấp nhất kể từ những năm 1990, thấp hơn tới 30% so với giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 - 2009
Các nước phát triển có sự sụt giảm mạnh nhất, giảm tới tới 69%, chỉ còn 229 tỷ USD Trong đó, khu vực Bắc Mỹ giảm tới 46%, chỉ còn 166 tỷ USD Vốn FDI vào Mỹ giảm tới 49% Sự giảm sút vốn đầu tư mới tập trung trong lĩnh vực thương mại bán buôn, các dịch vụ tài chính và chế biến chế tạo
Đồng thời, hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) xuyên quốc gia từ các nhà đầu tư ngoài Mỹ giảm 41% Khu vực châu Âu cũng có sự sụt giảm mạnh về dòng vốn FDI, giảm tới 71% so với năm 2019, thậm chí FDI tại Anh giảm xuống còn bằng 0 Chiều ngược lại, cũng có một số quốc gia châu Âu lại có sự tăng lên đáng kể trong dòng vốn FDI, ví dụ như trường hợp của Thụy Điển (tăng hơn gấp 2 lần từ 12 tỷ USD lên 29 tỷ USD), hay Tây Ban Nha cũng tăng tới 52% so với năm 2019 Vốn FDI vào Úc năm 2020 giảm 46%, xuống còn
22 tỷ USD Trong khi FDI ghi nhận tăng ở một số quốc gia, ví dụ như Israel (tăng từ 18 lên
26 tỷ USD) hay Nhật Bản (tăng từ 15 lên 17 tỷ USD)
Tại các nước đang phát triển, mức giảm vốn FDI năm 2020 chỉ là 12%, xuống còn
616 tỷ USD Tốc độ giảm ở các khu vực là không đồng đều Các nước đang phát triển ở
Trang 7châu Mỹ La Tinh giảm 37%, trong đó ở châu Phi là 18%, các nước đang phát triển ở châu
Á chỉ giảm 4%
Vốn FDI vào Trung Quốc tăng 4%, lên 163 tỷ USD, chủ yếu đầu tư vào công nghiệp công nghệ cao (tăng tới 11%), các hoạt động M&A xuyên quốc gia tăng 63%, chủ yếu trong lĩnh vực công nghệ thông tin và dược phẩm Với sự tăng trưởng này, Trung Quốc đã vượt Mỹ để trở thành nước nhận vốn FDI cao nhất toàn cầu Sở dĩ Trung Quốc vẫn có sự tăng trưởng vốn FDI trong khi FDI có sự sụt giảm mạnh toàn cầu là do Trung Quốc vẫn giữ được mức tăng trưởng dương 2,3%, sớm kiểm soát được dịch bệnh, đồng thời chính phủ Trung Quốc đã thực hiện nhiều các chương trình thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Ấn Độ cũng có mức tăng trưởng dương trong thu hút vốn FDI, tăng tới 13%, chủ yếu trong lĩnh vực kỹ thuật số
Các nước ASEAN có sự giảm tương đối, tới 31% luồng vốn FDI, chỉ còn 107 tỷ USD trong năm 2020 và có sự khác biệt lớn giữa các quốc gia Philippines tăng trưởng dương tới 29% bất chấp sự tác động nặng của dịch bệnh và sự giảm mạnh trong tốc độ tăng trưởng kinh tế Indonesia bị sụt giảm 24% xuống chỉ còn 18 tỷ USD Malaysia trải qua sự sụt giảm trong luồng vốn FDI tồi tệ nhất trong khối ASEAN, giảm tới 68%, lý do đến từ sự bất ổn chính trị và các quy định hạn chế đi lại để ứng phó với đại dịch Thái Lan cũng là nước chịu ảnh hưởng tiền tệ thứ hai trong khối, giảm tới 50% Singapore, là một trung tâm tài chính khu vực, theo truyền thống, là nước được hưởng dòng vốn FDI lớn hơn so với các nước khác trong khu vực, nhưng đại dịch Covid và sự sụt giảm trong các hoạt động kinh tế toàn cầu đã làm FDI vào Singapore co hẹp tới 37%, xuống chỉ còn 58 tỷ USD Sự sụt giảm trong dòng vốn FDI của Singapore chủ yếu đến từ việc giảm 86% trong hoạt động M&A xuyên quốc gia
UNCTAD dự báo rằng tình hình vốn FDI trong năm 2021 sẽ vẫn tiếp tục bị suy giảm
từ 5-10% do sự không chắc chắn trong diễn biến đại dịch Covid, ngoại trừ lĩnh vực công nghệ và chăm sóc sức khỏe
13 Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam từ năm 2018 đến nay
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội Vốn FDI thực hiện bình quân giai đoạn 2016-2019 chiếm trên 23% trong tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội; tỉ trọng bình quân GDP của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2016 - 2019 chiếm 19,8% trong tổng GDP của toàn bộ nền kinh tế; thu hút gần 5 triệu lao động; tạo ra lợi nhuận cao nhất khi chiếm tới trên 42% trong toàn bộ khu vực doanh nghiệp
Trang 8Trong năm 2020, do tác động nghiêm trọng của đại dịch Covid-19 mà dòng vốn FDI vào Việt Nam bị sụt giảm sau khi bùng nổ vào năm 2019 (với tổng số đăng ký lên tới 38,02
tỷ USD) Trong năm 2020, các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 19,98 tỷ USD, bằng 98% so với cùng kỳ năm 2019, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 28,53 tỷ USD, bằng 75% so với cùng kỳ năm 2019 Trong năm 2020, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19 ngành lĩnh vực, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt 13,6 tỷ USD, chiếm 47,7% tổng vốn đầu tư đăng ký
Dòng vốn FDI vào Việt Nam năm 2020 có sự sụt giảm, tuy nhiên, trong năm 2021 được kỳ vọng sẽ gia tăng trở lại Theo số liệu thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam tăng mạnh trong 3 tháng đầu năm 2021 Cụ thể là, tính đến ngày 20/3, tổng số vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 10,13 tỷ USD, tăng 18,5% so với cùng
kỳ năm trước Đây là một con số rất ấn tượng, bởi vì cả năm 2020 tổng vốn FDI của cả nước mới chỉ đạt gần 29 tỷ USD Bên cạnh đó, vốn thực hiện của dự án FDI ước đạt 4,1 tỷ USD, tăng 6,5% so với cùng kỳ (Bảng 1)
Lĩnh vực dẫn đầu trong thu hút FDI vào Việt Nam 3 tháng đầu năm 2021 vẫn là công nghiệp chế biến, chế tạo với tổng vốn đầu tư đạt gần 5 tỷ USD, chiếm gần 50% tổng vốn đầu tư đăng ký Có 56 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư vào Việt Nam trong 3 tháng đầu năm Singapore đứng đầu với tổng vốn đầu tư FDI vào Việt Nam đạt gần 4,6 tỷ USD, chiếm gần 45,6% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam
Trong 3 tháng đầu năm 2021, sự chuyển tiếp giữa Luật Đầu tư 2014 và Luật Đầu tư
2020 đã ảnh hưởng tới tình hình cấp mới, điều chỉnh các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Bên cạnh đó, dịch Covid-19 bùng phát trở lại ở nhiều quốc gia và tại Việt Nam cũng làm ảnh hưởng tới việc đi lại cũng như các quyết định đầu tư mới và mở rộng dự án của các nhà đầu tư Vì vậy, số dự án cấp mới, điều chỉnh vốn cũng như góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục giảm so với cùng kỳ, song mức độ giảm đã được cải thiện
Trang 9Điều đáng mừng, không chỉ là con số ấn tượng mà chính là chất lượng dòng vốn FDI Nhiều dự án đầu tư lớn đã đăng ký đầu tư vào Việt Nam trong những tháng đầu năm
2021, làm giá trị vốn đăng ký mới trung bình trên một dự án tăng lên đến 30,87 triệu USD Các dự án này lại chủ yếu trong lĩnh vực công nghệ cao, trong đó có dự án 270 triệu USD với mục tiêu sản xuất, gia công máy tính bảng và máy tính xách tay tại Bắc Giang của Foxconn, dự án công nghệ tế bào quang điện JA Solar PV Việt Nam, vốn đầu tư 210 triệu USD hay dự án LG Display Hải Phòng tăng vốn thêm 750 triệu USD
14 Những cơ hội và thách thức trong thu hút vốn FDI của Việt Nam hậu đại dịch Covid-19
4.1 Cơ hội trong thu hút vốn FDI
Thứ nhất, Việt Nam là một trong những quốc gia đạt được thành công kép cả trong kiểm soát dịch bệnh và tăng trưởng kinh tế Kiểm soát tốt dịch bệnh đã giúp Việt Nam nhanh chóng khôi phục các hoạt động kinh tế trong nước cũng như thương mại xuyên quốc gia trở thành một điểm cộng rất lớn của Việt Nam trong thu hút vốn FDI Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo bất chấp ảnh hưởng từ đại dịch COVID-19, tăng trưởng kinh tế Việt Nam vẫn
có thể đạt được mức 6,5% nhờ nền tảng vững vàng và những giải pháp quyết liệt cả về kinh
tế và y tế của Chính phủ Trong báo cáo Triển vọng kinh tế châu Á quý 2 năm 2021, Ngân hàng HSBC đã dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2021 là 6,6%, lạm phát được giữ ổn định ở mức 3% Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có triển vọng tăng trưởng tốt ở châu Á Nhận định tương tự đến từ UOB[2], thậm chí mức dự báo tốc độ tăng trưởng còn cao hơn, đến 7,1% trong năm 2021
Theo báo cáo kết quả khảo sát thực trạng của các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư tại nước ngoài được Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) công bố vào tháng 2/2021, có gần 47% doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại Việt Nam cho biết sẽ mở rộng sản xuất
- kinh doanh trong vòng 1-2 năm tới Đáng chú ý, tỷ lệ doanh nghiệp mở rộng chức năng bán hàng và sản xuất hàng hóa thông dụng ở mức cao so với các quốc gia, khu vực khác (khoảng 50%) Ngoài ra, có 16,4% doanh nghiệp cho biết sẽ tăng cường đầu tư thiết bị, đầu
tư mới trong thời gian tới Trước đó, Báo cáo khảo sát tâm lý kinh doanh lần thứ 6 của Hội đồng Kinh doanh EU - ASEAN công bố vào tháng 10/2020 cho thấy, mặc dù có sự sụt giảm
về cảm nhận tích cực đối với môi trường kinh doanh tại ASEAN, song 72% doanh nghiệp
EU khảo sát đang ở Việt Nam cho biết vẫn có kế hoạch mở rộng hoạt động kinh doanh Trong đó, sự hài lòng về cách thức ứng phó với Covid-19 của Chính phủ là một trong những nguyên nhân hàng đầu khiến cộng đồng doanh nghiệp EU tự tin về kế hoạch mở rộng đầu tư tại Việt Nam
Trang 10Thứ hai, khi đại dịch Covid - 19 xảy ra, đã xuất hiện tình trạng “đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu” Để tránh tình trạng này lặp lại, các nước cũng có xu hướng đa dạng hóa địa điểm đầu tư nhằm phân tán rủi, không đầu tư tập trung vào Trung Quốc như trước nữa Trong số các nước được xem xét chuyển hướng đầu tư, Việt Nam có những lợi thế nhất định về mặt
vị trí địa lý, gần với Trung Quốc Vị trí địa lý của Việt Nam không những thuận lợi cho nước ta trong các giao dịch kinh tế quốc tế, mà còn tạo cơ hội cho Việt Nam trở thành trung tâm kết nối của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và kết nối khu vực này với các nền kinh tế ở khu vực phía Tây bán đảo Đông Dương Bên cạnh đó, Việt Nam có nhiều thuận lợi trong giao thương toàn cầu, do có thể xây dựng và phát triển các cảng nước sâu khi sở hữu trên 3.000 km bờ biển Theo kết quả của Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản Jetro vào năm 2020 khảo sát 122 doanh nghiệp, Việt Nam nằm đầu danh sách thu hút đầu tư, với 42,3% doanh nghiệp lựa chọn đầu tư tại Việt Nam, xếp trên Thái Lan (20,6%), Philippines (18,6%) và Indonesia (16,5%)
Thứ ba, Việt Nam có lợi thế nhờ ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) với nhiều đối tác Việt Nam đã đàm phát để ký kết được 15 FTA Trong đó, có 3 hiệp định quan trọng và mới ký gần đây là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
(CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) Để ký kết các hiệp định thương mại này, Việt Nam đã có những thay đổi tích cực trong cải thiện thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh,… và nhờ đó tạo sức hấp dẫn lớn hơn trong thu hút FDI Ngoài ra, nhờ có thuế suất thấp nên sẽ thu hút đầu tư của các nước khác để tận dụng mức thuế suất thấp này Tuy nhiên, đây là lợi thế trong ngắn hạn và Việt Nam cần tận dụng “thời gian vàng” khi các nước trong khối vẫn chưa có FTA với EU để thu hút FDI nhiều hơn Theo nghiên cứu của UOB (2021), Hiệp định thương mại RCEP sẽ chất xúc tác khác cho triển vọng thu hút FDI của khu vực ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng Các nước thành viên của hiệp định RCEP đã thu hút tới 37% dòng vốn FDI toàn cầu vào năm 2020, vượt xa các nhóm khác RCEP cũng được tích hợp sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, chiếm tới 26% khối lượng thương mại của thế giới Ngoài ra, dân số và thu nhập ngày càng tăng của các nước ASEAN là động lực cho đầu tư vào khối này
4.2 Những thách thức trong việc thu hút vốn FDI vào Việt Nam
Bên ngoài nước, các thị trường khác như Ấn Độ, các nước khác trong khối ASEAN cũng đang nổi lên là nơi thu hút FDI, tạo ra sự cạnh tranh thu hút dòng vốn FDI Ấn Độ với ưu thế là một thị trường rộng lớn, chi phí nhân công rẻ, Chính phủ Ấn Độ cũng đưa ra rất nhiều chính sách để thu hút vốn FDI Năm 2020, trong khi đa phần thế giới đều gặp phải