- Dữ liệu tỷ giá hối đoái hiệu lực được thu thập từ hai nguồn, International Financial Statistic từ IMF và Federal Reserve Statistical Release từ trang web của Cục Dự t
Trang 11 GIỚI THIỆU
Những vấn đề liên quan tới mối quan hệ giữa chính sách tài khóa, tài khoản vãng lai và tỷ giá hối đoái thực là mối quan tâm lớn cả về mặt phân tích lý thuyết và thực nghiệm Từ quan điểm lý thuyết, nhiều mô hình đã cho rằng chính sách tài khóa mở rộng sẽ dẫn đến một sự sụt giảm tài khoản vãng lai và làm sụt giảm tỷ giá hối đoái thực (đồng đô la tăng giá) Mối liên hệ này có thể thấy rõ hơn qua những kinh nghiệm của Mỹ về tình trạng thâm hụt kép vào đầu những năm 1980 và những năm 2000 Sự sụt giảm lớn cán cân ngân sách của Mỹ (6% GDP thặng dư vào năm 2000 chuyển thành thâm hụt lớn vào năm 2004) đi kèm với sự thâm hụt lớn của tài khoản vãng lai (lên tới 5% GDP năm 2003 và tình trạng xấu hơn về những năm sau)
Tuy nhiên, không thể chỉ dựa trên một số số liệu thống kê này để quy về một ý tưởng đơn giản về sự lặp đi lặp lại của tình trạng thâm hụt kép và mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ giá hối đoái thực và cán cân ngân sách chính phủ Bởi lẽ, phần lớn tình trạng tồi tệ trong thâm hụt ngân sách chính phủ đầu những năm 1980 có thể là kết quả của cuộc suy thoái kinh tế 1980-1982 Từ năm 1983, tiết kiệm chính phủ được cải thiện trong khi tài khoản vãng lai trở nên tồi tệ hơn từ 1982-1986 chủ yếu vì tỷ lệ đầu tư đã phục hồi trở lại sau sự sụt giảm trước đó trong cuộc suy thoái 1980-1982 Bên cạnh đó, trong giai đoạn 1989-1991, tài khoản vãng lai được cải thiện còn cán cân ngân sách thì lại có xu hướng xấu đi Quan trọng hơn, từ 1992-2000, cán cân ngân sách Mỹ đã được cải thiện rõ rệt từ mức - 5%GDP tới mức thặng dư 2.5% GDP, tuy nhiên thâm hụt tài khoản vãng lai lại gia tăng từ mức 1% GDP lên đến 4.5% GDP Đi kèm với chính sách tài khóa thắt chặt và tình trạng thặng dư ngân sách trong những năm 1990 là một sự sụt giảm tỷ giá hối đoái thực Tuy nhiên từ năm 2002-2004, tỷ giá hối đoái thực lại gia tăng trong khi thâm hụt ngân sách ngày càng trở nên tồi tệ
Vì thế, bài viết nghiên cứu những vấn đề sau để làm rõ mối quan hệ giữa cán cân ngân sách, tài khoản vãng lai và tỷ giá hối đoái thực của Mỹ trong chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi:
- Cung cấp những bằng chứng thực nghiệm dựa trên các loại mô hình VAR để nghiên cứu những tác động của các cú sốc thâm hụt ngân sách lên tài khoản vãng lai và tỷ giá hối đoái thực và cũng xem xét mối quan hệ tổng quát giữa các biến
này Từ đây, hai tác giả đã chỉ ra các cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ đi kèm với sự cải thiện tài khoản vãng lai và sự gia tăng tỷ giá hối đoái thực khi tác nhân chính chi phối sự biến động trái chiều này là một cú sốc về sản lượng, và điều này trái ngược với hầu hết các dự báo của các mô hình lý thuyết
trước đây (sẽ được nêu rõ ở phần sau)
- Trình bày một số kiểm định mở rộng về tính thiết thực của nghiên cứu này
Trang 22 TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
- Các mô hình lý thuyết:
+ Mô hình cân bằng kinh tế tổng quát (General Equilibrium Endownment Economy Models) (Sachs, 1982, mô hình một loại hàng hóa; và Frenkel và Razin, 1996 cho cả hai
mô hình một loại hàng và hai loại hàng hóa) xem xét một nền kinh tế mở quy mô nhỏ với sự tối đa hóa lợi ích cá nhân và không bị hạn chế về tài khoản vốn
+ Những mô hình theo tiêu chuẩn Keynes như mô hình Mundell-Fleming về những sự khác nhau về kỳ vọng hợp lý (Dornbusch, 1976) và các mô hình chu kỳ kinh tế quốc tế thực với hoạt động đầu tư (lý thuyết của Baxter, 1995; Kollmann, 1998; Erceg, Guerrieri và Gust, 2005)
Tất cả những mô hình trên có xu hướng cung cấp những dự báo trong hầu hết các trường hợp về tình trạng thâm hụt kép và mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ giá hối đoái thực và cán cân ngân sách chính phủ Mặc dù những tác động chính xác còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như bản chất của thâm hụt ngân sách chính phủ ví dụ như những cú sốc tiêu dùng chính phủ, hay những cú sốc thuế ròng và tính liên tục của những cú sốc, đặc điểm của mỗi quốc gia, cơ cấu thị trường tài sản quốc tế và những đặc trưng của mô hình
- Các nghiên cứu thực nghiệm khác:
+ Mô hình cấu trúc quy mô lớn dựa trên các phiên bản khác nhau của mô hình Mundell-Fleming-Dorbusch (Bryant, 1988 và Taylor, 1993); Mô hình cân bằng tổng quát ngẫu nhiên động (Baxter, 1995; Kollmann, 1998; Betts và Devereux, 2000; McKibbin và Sachs, 1991) Các mô hình này dựa trên số lượng lớn những giới hạn nhận dạng được ngầm định bởi lý thuyết Vì vậy các chứng cứ này không thể được xem như những chứng cứ thực nghiệm mang dữ liệu định hướng
+ Một số nghiên cứu của Ahmed, 1986-1987 về mối quan hệ trong dài hạn giữa chi tiêu chính phủ và tài khoản vãng lai Họ đã sử dụng phương pháp “phương trình tĩnh đơn nhất” bằng cách sử dụng chuỗi dữ liệu dài hạn với tần số năm bao gồm nhiều chế độ tỷ giá hối đoái Tuy nhiên, những kết quả của các tác giả này có nhiều hạn chế khi không quan tâm tới mối tương tác động giữa các biến và chuỗi dữ liệu mẫu không thuộc một chế độ tỷ giá đồng nhất
+ Một số nghiên cứu sử dụng mô hình VAR trong đó sử dụng tối thiểu số lượng hạn chế nhận diện mà không phụ thuộc vào bất kỳ mô hình lý thuyết nào (ví dụ Claria và Prendergast, 1999; Rogers, 1999) Nhưng các tác giả này chỉ nghiên cứu tác động lên tỷ giá hối đoái thực chỉ với những dữ liệu có tần số thấp
+ Các nghiên cứu chuyên sâu về tác động của cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ lên tài khoản vãng lai và tỷ giá hối đoái thực: Theo đề xuất của Mendoza (1991) và
Trang 3Backus (1992), khi sự gia tăng năng suất liên tục làm tăng mạnh đầu tư, làm tài khoản vãng lai xấu đi thì sẽ gây nên phản ứng ngược với chu kỳ kinh tế của tài khoản vãng lai Ngoài ra còn có các nghiên cứu của King và Rebolo (1999); Corsetti (2006) cho rằng một sự gia tăng năng suất trong lĩnh vực sản xuất có thể làm tăng giá đồng đô hay làm sụt giảm tỷ giá hối đoái thực Những kết quả này gợi ý cho hai tác giả về bổ sung và hoàn thiện mô hình tính toán để có thể giải thích một cách toàn diện hơn các biến động nội sinh của tài khoản vãng lai và thâm hụt ngân sách (đặc biệt là do cú sốc sản lượng) + Các nghiên cứu chuyên sâu về những thành phần của ngân sách chính phủ: Blanchard và Perotti (2002), Edelberg (1999), Ramey và Shapiro (1997), Fatas và Mihov (2001) đã xem xét những tác động của những cú sốc chi tiêu hay mua sắm chính phủ lên tài khoản vãng lai Bằng việc nghiên cứu cẩn thận những chi tiết của hệ thống tài khóa của Mỹ, đã giả định rằng chi tiêu chính phủ là biến ngoại sinh đối với các biến phi chính phủ khác trong hệ thống
+ Trong mô hình kinh tế vĩ mô hiện đại (New Open Economy Macroeconomics -NOEM) gần đây của Obstfeld và Rogoff (1995) và Betts và Devereux (2000), họ cho rằng sự gia tăng chi tiêu thường xuyên của chính phủ có thể liên quan tới sự cải thiện trong tài khoản vãng lai và làm tăng tỷ giá hối đoái thực (không đề cập tới đầu tư trong phân tích) Điều này đặt ra cho hai tác giả Kim và Roubini rằng liệu điều này có phù hợp với những kết quả thực nghiệm của mình
Từ việc nghiên cứu kỹ lưỡng các kết quả trước đây của các mô hình lý thuyết cũng như bằng chứng thực nghiệm mới nhất, hai tác giả đã cố gắng đưa ra những dự báo phù hợp nhất nhằm khắc phục những hạn chế của nghiên cứu trước đây Đồng thời, đây cũng là cơ sở để hỗ trợ hai tác giả có thể củng cố và xây dựng hoàn thiện hơn cho mô hình thực nghiệm của mình trong việc xem xét mối quan hệ nhân quả giữa cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ, tài khoản vãng lai và tỷ giá hối đoái
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Dữ liệu nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm cơ bản về dữ liệu
Để hiểu được biến động đồng thời xảy ra giữa thâm hụt ngân sách chính phủ, tài khoản vãng lai và tỷ giá hối đoái thực, chúng ta cần xem xét những đặc điểm cơ bản của các thành phần nêu trên
Trước tiên, tài khoản vãng lai thường được gọi là đầu tư nước ngoài ròng Nói một cách khái quát, đó là chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư quốc gia, mặc dù những dữ liệu thực tế bao gồm cả những sai số thống kê đáng kể
Tiết kiệm bao gồm tiết kiệm tư nhân và tiết kiệm chính phủ (tiết kiệm chính phủ có thể mang giá trị âm hoặc dương, với tiết kiệm ngân sách chính phủ = thặng dư ngân sách
Trang 4chính phủ hoặc tiết kiệm chính phủ = - thâm hụt ngân sách chính phủ) Tiết kiệm chính phủ lại được chia nhỏ hơn nữa thành lãi ròng và cán cân ngân sách cơ bản của chính phủ (hoặc – thâm hụt cơ bản ngân sách chính phủ) Tức là:
Tài khoản vãng lai = Tiết kiệm – Đầu tư + Sai số thống kê
= Tiết kiệm tư nhân – Thâm hụt cơ bản ngân sách chính phủ
+ Lãi ròng của chính phủ – Đầu tư + Sai số thống kê (1)
3.1.2 Nguồn thu thập dữ liệu
- Toàn bộ dữ liệu được thu thập trong khoảng thời gian từ 1973-2004 của nền kinh tế Mỹ
- Dữ liệu sản lượng, tài khoản vãng lai, cán cân ngân sách và những thành phần của chúng được thu thập từ các bảng National Income and Product Account (NIPA) ở http:// www.bea.gov
- Dữ liệu tỷ giá hối đoái hiệu lực được thu thập từ hai nguồn, International Financial Statistic từ IMF và Federal Reserve Statistical Release từ trang web của Cục Dự trữ Liên
bang Chỉ số tỷ giá thực và danh nghĩa có trọng số mậu dịch so với những đồng tiền chủ chốt ("Major currencies") và so với một nhóm lớn các đối tác thương mại ("Broads")
được thu thập từ Federal Reserve Statistical Release Chỉ số tỷ giá danh nghĩa hiệu lực
được tính dựa trên Unit Labor Cost (chi phí đơn vị lao động) (111 NEUZF…), chỉ số tỷ giá thực hiệu lực được tính dựa vào chi phí đơn vị lao động (111 REUZF…), chỉ số tỷ giá thực hiệu lực dựa trên Unit Labor Cost (11165UM.ZF110) được thu thập từ
International Financial Statistic Trong mô hình cơ bản, sử dụng chỉ số tỷ giá thực có
trọng số thương mại so với những đồng tiền chủ chốt từ các thống kê của Federal Reserve Statistical Release
- Dữ liệu khác như lãi suất, CPI, GDP tiềm năng, và nợ công được thu thập từ FRED Để xây dựng lãi suất thực trong mô hình cơ bản, GDP hàng quý hiệu chỉnh theo tỷ lệ lạm phát được trừ từ lãi suất tín phiếu Kho bạc kỳ hạn 3 tháng Biên lãi suất được xây dựng bằng chênh lệch giữa lãi suất trái phiếu kỳ hạn cố đinh 10 năm và lãi suất tín phiếu kho bạc kỳ hạn 3 tháng Mặt khác, chi tiêu quốc phòng thực được lấy từ CITIBASE
3.2 Mô hình thực nghiệm:
Sau khi phân tích các số liệu thực tế, hai tác giả cho rằng lý do quan trọng giải thích cho sự biến động nghịch chiều giữa tiết kiệm chính phủ và tài khoản vãng lai là do các phản ứng nội sinh của tiết kiệm chính phủ và tài khoản vãng lai gây ra bởi các biến động trong sản lượng Trong đó, cán cân ngân sách chính phủ, đặc biệt là phần thu vào (revenue part) thì thường mang tính chất chu kì, trong khi cả các lý thuyết truyền thống về tài khoản vãng lai và các lý thuyết hiện đại về chu kì kinh doanh quốc tế lại nhận định rằng: tài khoản vãng lai sẽ biến động theo hướng phản chu kỳ khi có sự hiện diện của các
Trang 5cú sốc sản lượng hoặc các cú sốc trong năng suất sản xuất Vì vậy, để nhận dạng những ảnh hưởng của các cú sốc thâm hụt ngân sách lên tài khoản vãng lai, việc quan trọng là phải loại bỏ được những biến động nội sinh của cán cân ngân sách chính phủ và tài khoản vãng lai gây ra bởi sự xuất hiện cú sốc về sản lượng
Trong bài nghiên cứu này, hai tác giả đã sử dụng mô hình tự hồi quy véc tơ cơ cấu VAR (structural VAR model) Vì mô hình này rất hữu ích khi (1) loại bỏ các thành
phần nội sinh của ngân sách chính phủ và tài khoản vãng lai, đồng thời (2) nhận diện những thành phần ngoại sinh của cán cân ngân sách chính phủ
Cấu trúc mô hình này sử dụng thông tin về các biến vĩ mô khác nhau, sự tương tác và mối quan hệ động của chúng để thiết lập các thành phần ngoại sinh của thâm hụt ngân sách chính phủ và để phân tích những tác động từ các cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ mang tính ngoại sinh lên tài khoản vãng lai và tỷ giá hối đoái thực
Lược đồ nhận dạng của mô hình này như sau:
Mô hình cơ bản bao gồm 5 biến, {RGDP, GOV, CUR, RIR, RER} Trong đó:
RGDP: Logarit của GDP thực
GOV: Logarit của ngân sách chính phủ tính theo % so với GDP
CUR: Logarit của tài khoản vãng lai tính theo % so với GDP
RIR: Lãi suất thực kỳ hạn 3 tháng
RER: Logarit của tỷ giá hối đoái thực
Trong mô hình cơ bản, GOV là thâm hụt cơ bản ngân sách chính phủ GOV, CUR và RER là những biến chính cần quan tâm của bài nghiên cứu này RGDP là biến vĩ mô chính yếu đại diện cho tình hình của nền kinh tế Biến RGDP được sử dụng nhằm kiểm soát các thành phần mang tính chu kì của thâm hụt ngân sách chính phủ RIR cũng là biến vĩ mô quan trọng, là căn cứ xác định các tác động của chính sách tài khóa Biến RIR đồng thời cũng liên quan đến chính sách tiền tệ – một trong những yếu tố mà hai tác giả muốn kiểm soát
Mô hình cơ bản này ở các phần sau sẽ được mở rộng để phân tích cụ thể hơn các biến có liên quan
Bên cạnh đó, bài nghiên cứu đặc biệt sử dụng các phương pháp thử nghiệm mở rộng khác, các lược đồ nhận dạng thay thế và những mô hình tổng hợp để kiểm định tính vững chắc của các kết quả chính theo nhiều chiều khác nhau
Ngoài ra còn có phương pháp phân tích phương sai sai số dự báo tổng thể được phát triển bởi cùng tác giả Kim (2006) nhằm tìm ra vai trò thực sự của mỗi cú sốc cơ cấu trong việc giải thích những đặc tính của biến động tổng hợp
Trang 64 NỘI DUNG VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Các thống kê sơ bộ
Theo phương trình (1) ta thấy, khi các yếu tố khác không đổi thì tài khoản vãng lai và tiết kiệm chính phủ có mối tương quan dương hay biến động cùng chiều với nhau Nghĩa là một sự tăng lên trong tiết kiệm chính phủ sẽ làm cải thiện tài khoản vãng lai và ngược lại Đây cũng chính là cơ sở cho luận điểm của các mô hình lý thuyết khi cho rằng tiết kiệm chính phủ và tài khoản vãng lai (hay thâm hụt ngân sách chính phủ và thâm hụt tài khoản vãng lai) biến động “cùng chiều kép” Tuy nhiên, dường như các số liệu thực tế lại không minh chứng cho điều này Hãy cùng xem xét mối quan hệ giữa tiết kiệm chính phủ và tài khoản vãng lai dựa trên bộ số liệu của Mỹ từ năm 1973 đến 2004 qua bài nghiên cứu thực nghiệm của hai tác giả Kim Soyoung và Noriel Roubini
Hình 1: Tài khoản vãng lai và các thành phần trong nó, 1973-2004
“Gov Sav/GDP”, “Sav&SD/GDP”, “CurAcct/GDP”, “Inv/GDP” tương ứng là tỷ lệ giữa
“tiết kiệm chính phủ”, “tiết kiệm quốc gia và sai số thống kê”, “tài khoản vãng lai” và
“đầu tư” so với GDP
Như được thể hiện trên Hình 1, trong những năm đầu thập niên 80 và những năm
2000, tiết kiệm chính phủ và tài khoản vãng lai có xu hướng biến động cùng chiều Tuy nhiên hiện tượng biến động cùng chiều hay thâm hụt kép lại dường như không là xu hướng phổ biến hơn hiện tượng biến động trái chiều kép
Bảng 1 (xem phụ lục 1) cho thấy hệ số tương quan phủ định giữa tài khoản vãng lai và tiết kiệm chính phủ (- 0.11) Hệ số tương quan giữa tiết kiệm cơ bản chính phủ và tài khoản vãng lai âm mạnh hơn (- 0.16) Điều này khẳng định rằng tiết kiệm ngân sách chính phủ và tài khoản vãng lai không biến động cùng chiều
Trang 7Hình 2: Tỷ giá và tiết kiệm chính phủ, 1973-2004
Hình 2 cho thấy đồ thị logarit của tỷ giá thực và danh nghĩa hiệu lực của đồng đô la Mỹ so với đồng tiền của những nước công nghiệp lớn khác, tiết kiệm chính phủ và tiết kiệm cơ bản của chính phủ Tỷ giá hối đoái thực và tỷ giá hối đoái danh nghĩa có mức tương quan cao Tương tự, tiết kiệm cơ bản của chính phủ và tổng tiết kiệm chính phủ cũng có mối tương quan xác định lớn Mối quan hệ của biến động tỷ giá hối đoái thực và ngân sách chính phủ không thể hiện có cùng một mẫu hình Bảng 1 cũng cho thấy hệ số tương quan giữa tỷ giá hối đoái thực và ngân sách chính phủ là (-0.08) và hệ số tương quan giữa tỷ giá hối đoái thực và ngân sách cơ bản của chính phủ là 0.03
Một lý do quan trọng giải thích cho sự biến động nghịch chiều giữa tiết kiệm chính phủ và tài khoản vãng lai là do các phản ứng nội sinh của tiết kiệm chính phủ và tài khoản vãng lai gây ra bởi các biến động trong sản lượng Vì thế thông qua mô hình VAR cấu trúc như đã được đề cập ở trên, hai tác giả tiến hành đánh giá các vấn đề qua những kết quả xuất hiện từ mô hình
4.2 Các kết quả có được từ mô hình VAR
4.2.1 Các kết quả cơ bản
Những xung phản ứng của cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ đối với mỗi cú sốc cơ cấu cho thấy biến động tổng thể của thâm hụt ngân sách chính phủ là từ những cú sốc khác (không phải là cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ) - đặc biệt là từ cú sốc sản lượng, lớn hơn nhiều lần do những biến động gây ra bởi những cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ (Xem hình 3 – Phụ lục 4)
Việc phân tích phương sai sai số dự báo của thâm hụt ngân sách trong Bảng 2 (xem phụ lục 2) cung cấp những bằng chứng rõ hơn cho những kết quả này Phần đóng góp của những cú sốc thâm hụt ngân sách đối với những chuỗi biến động của chính nó là 42.8% ở chuỗi thời gian 4 quý và thấp hơn trong chuỗi thời gian dài hạn Mặt khác đóng góp của cú sốc sản lượng lại nhiều hơn 50% trong mọi khoảng thời gian
Trang 8Phản ứng lại với các cú sốc sản lượng tích cực, thâm hụt ngân sách chính phủ chính phủ giảm trong vài năm Điều này phù hợp với vai trò mang tính tự ổn định và phản ứng mang tính chu kỳ kinh tế của ngân sách chính phủ Phản ứng lại các cú sốc gia tăng sản lượng, tài khoản vãng lai xấu đi, tỷ giá hối đoái thực giảm và lãi suất thực tăng Sự biến động ngược chu kỳ kinh tế của tài khoản vãng lai phù hợp với cả hai mô hình lý thuyết và truyền thống về tài khoản vãng lai
Những xung phản ứng này phù hợp với ý tưởng cho rằng cú sốc sản lượng gây ra mối quan hệ ngược chiều giữa tài khoản vãng lai và thâm hụt ngân sách Đồng thời, phản ứng lại sự gia tăng thâm hụt cơ bản ngân sách chính phủ thì sản lượng tăng liên tục và lãi suất thực tăng Khoảng 50% sự gia tăng thâm hụt ngân sách chính phủ sẽ mất đi trong khoảng thời gian 4 quý, khoảng 75% mất đi trong khoảng thời gian 6 đến 7 quý
Bên cạnh đó, cũng có một sự giải thích ngắn gọn về các xung phản ứng đới với cú sốc lãi suất thực phù hợp với những giải thích về chính sách tiền tệ thắt chặt (một sự gia tăng trong lãi suất thực) đã dẫn tới một sự sụt giảm sản lượng, từ đó làm gia tăng thâm hụt ngân sách và sụt giảm tỷ giá hối đoái thực
4.2.2 Những tác động lên tài khoản vãng lai và tỷ giá hối đoái thực.
Ở phần trước của bài nghiên cứu đã trình bày rõ những kết quả đáng ngạc nhiên khi cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ cải thiện tài khoản vãng lai và làm tăng tỷ giá hối đoái thực Do đó, phần này nghiên cứu sâu hơn tại sao lại có tác động đó và chúng được nhận dạng như thế nào bằng cách phân tích những tác động của chính sách tài khóa này lên các thành phần chi tiết của tài khoản vãng lai và tỷ giá hối đoái thực
Mô hình cơ bản 5 biến ban đầu được mở rộng thêm bằng cách thêm vào 1 biến nữa là CURA - một thành phần của tài khoản vãng lai Từ đây ta có phương trình:
Tài khoản vãng lai = Tiết kiệm khu vực tư - Thâm hụt cơ bản ngân sách chính phủ + Lãi ròng của chính phủ - Đầu tư khu vực tư - Đầu tư công + Sai số thống kê
Dựa vào phương trình này, các biến được sử dụng bao gồm: tiết kiệm khu vực tư, lãi ròng chính phủ, đầu tư khu vực tư và sai số thống kê (tất cả đều tính trên % GDP) như là biến CURA Ngoài ra để suy luận sâu hơn về hành vi tiêu dùng hộ gia đình (khu vực tư), chúng tôi gộp cả biến tiêu dùng như là biến CURA Thứ hai, chúng tôi thay thế tỷ giá hối đoái thực trong mô hình cơ bản bằng tỷ giá hối đoái danh nghĩa trong việc dẫn dắt những biến động tỷ giá hối đoái thực (được so sánh với vai trò của những thay đổi trong mức giá tương đối)
Hình 4 (Xem phụ lục 5) minh họa cho những kết quả này Phản ứng với các cú sốc thâm hụt cơ bản ngân sách chính phủ (tiết kiệm chính phủ giảm), tiết kiệm khu vực tư tăng mạnh để bù đắp cho sự sụt giảm tiết kiệm chính phủ Tuy nhiên, tiết kiệm khu vực
tư tăng ít hơn sự gia tăng trong thâm hụt ngân sách chính phủ Tiêu dùng tăng nhẹ trong ngắn hạn Ngoài ra, các cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ chèn lấn đầu tư của khu vực
Trang 9tư trong ngắn hạn dẫn tới việc việc gia tăng lãi suất thực Việc gia tăng trong của tiết kiệm khu vực tư cộng với sự sụt giảm trong đầu tư khu vực tư lớn hơn sự gia tăng trong thâm hụt ngân sách trong ngắn hạn Các thành phần khác như lãi ròng chính phủ và sai số thống kê không có nhiều thay đổi
Mặt khác ta cũng thấy rằng tỷ giá hối đoái danh nghĩa cũng gia tăng đáng kể Do đó có thể suy luận rắng, tỷ giá hối đoái thực gia tăng theo các cú sốc thâm hụt ngân sách là chủ yếu vì sự gia tăng tỷ giá hối đoái danh nghĩa Cuối cùng sự gia tăng tỷ giá hối đoái thực làm cải thiện tài khoản vãng lai Những kết quả rút ra được từ mô hình thực nghiệm này khác với những dự báo chuẩn của hầu hết các mô hình lý thuyết
4.2.3 Những thành phần của ngân sách chính phủ.
Bằng việc sử dụng mô hình cơ bản để xem xét tác động của các cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ Tuy nhiên, mỗi thành phần của ngân sách chính phủ: cụ thể là chi tiêu và thu nhập – có thể có những tác động khác nhau mặc dù cả hai có thể làm tăng thâm hụt ngân sách chính phủ Trên thực tế, các mô hình phân tích thường dự đoán các hiệu ứng khác nhau của chi tiêu chính phủ và những cú sốc thuế ròng lên tài khoản vãng lai Vì vậy, việc nghiên cứu những tác động của mỗi yếu tố riêng biệt có thể giúp hiểu được những kết quả nói trên của “sự biến động trái chiều”
Trước tiên, hai tác giả đã xem xét tác động của cú sốc chi tiêu hay mua sắm của chính phủ, bằng việc nghiên cứu cẩn thận những chi tiết của hệ thống tài khóa của Mỹ Trong đó, giả định rằng chi tiêu chính phủ là biến ngoại sinh đối với các biến phi chính phủ khác trong hệ thống và để nhất quán với các nghiên cứu trước đây khi sử dụng giá trị thực của chi tiêu chính phủ thay cho tỷ lệ chi tiêu chính phủ trên GDP, hai tác giả đã thực hiện xây dựng mô hình 5 biến {GOV, RGDP,RIR,RER} với GOV là log của chi tiêu thực của chính phủ
Thứ hai, bài nghiên cứu này xem xét tác động của các cú sốc chuyển nhượng ròng (hay cú sốc thuế ròng âm) Như trong mô hình cơ bản, giả định rằng chuyển nhượng ròng chịu tác động bởi RGDP tức là {RGDP,GOV,CUR,RIR,RER}, sử dụng tỷ số chuyển nhượng ròng/GDP
Những kết quả về tác động của cú sốc chuyển nhượng ròng là giống với các cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ, mặc dù là yếu hơn đôi chút (xem hai cột đầu tiên Hình 5 – Phụ lục 6) Sự gia tăng chuyển nhượng ròng của chính phủ đã tạm thời cải thiện tài khoản vãng lai và làm tăng tỷ giá hối đoái thực Kết quả một lần nữa giống như mô hình cơ bản, tiêu dùng tăng nhẹ nhưng chỉ là tạm thời, tiết kiệm khu vực tư gia tăng đủ để bù đắp thâm hụt ngân sách trong khi đầu tư giảm
Đồng thời, ta thấy hai cột cuối cùng của Hình 5, chiều hướng tác động của cú sốc chi tiêu chính phủ đối với tỷ giá hối đoái thực và tài khoản vãng lai là giống với các cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ nhưng tác động mạnh hơn, đặc biệt là trong dài hạn Sự gia
Trang 10tăng chi tiêu của chính phủ đã cải thiện tài khoản vãng lai và làm gia tăng tỷ giá hối đoái thực một cách liên tục và đáng kể Các khoản tiết kiệm khu vực tư gia tăng một cách khiêm tốn trong khi đầu tư khu vực tư giảm một cách liên tục và đáng kể Cả hai tác động này góp phần cải thiện tài khoản vãng lai
So với các nghiên cứu trước đây đã được đề cập ở trên, có hai trường hợp đặc biệt:
+ Trong đó có một cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ có thế cải thiện tài khoản vãng
lai Đầu tiên, Baxter (1995) chi ra rằng cú sốc về thuế có thể cải thiện tài khoản vãng lai Vì lúc đó, mọi người làm việc nhiều hơn, kiếm được thu nhập nhiều hơn, việc cắt giảm thuế suất tạm thời sẽ làm gia tăng tiết kiệm tư nhân nhiều hơn sụt giảm trong tiết kiệm công Nhưng kết quả thực nghiệm từ việc giảm thuế suất tạm thời đã cho thấy rằng đầu tư giảm và sự gia tăng trong tiết kiệm khu vực tư là không đủ bù đắp cho sụt giảm tiết kiệm chính phủ
+ Thứ hai, trong mô hình kinh tế vĩ mô hiện đại, (New Open Economy Macroeconomics-NOEM) gầy đây của Obsfeld và Rogoff (1995) và Betts và Devercux (2000a) cho rằng sự gia tăng chi tiêu thường xuyên của chính phủ có thể liên quan tới sự cải thiện trong tài khoản vãng lai Sự gia tăng chi tiêu chính phủ có thể làm tăng tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực nguyên nhân là do trong một nền kinh tế mở chính sách tài kháo mở rộng sẽ làm tăng lãi suất thực, dẫn đến giảm tiêu dung cá nhân Theo mô hình này sự gia tăng chi tiêu chính phủ cải thiện tài khỏan vãng lai và tăng tỷ giá hối đoái thực Tuy nhiên kết quả thực nghiệm không phù hợp với lý thuyết của mô hình này Tiết kiệm cá nhân và tổng tiết kiệm tăng rất ít, sự sụt giảm trong tiêu dùng cá nhân là lý do chính cho sự gia tăng tỷ giá hối đóai danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực trong mô hình lý thuyết, nhưng việc giảm sút tiêu dùng là quá ít để giải thích tỷ giá hối đoái tăng mạnh trong kết quả thực nghiệm
Tóm lại, từ kết quả thực nghiệm, các cú sốc chi tiêu và chuyển nhượng ròng chính phủ làm cải thiện tài khoản vãng lai và làm tăng tỷ giá hối đoái thực, phù hợp với các kết quả ban đầu về cú sốc thâm hụt ngân sách chính phủ Đồng thời giảm sút trong đầu tư và gia tăng tiết kiệm tư nhân đã đóng góp vào sự cải thiện tài khoản vãng lai Các mô hình phân tích đang tồn tại không thể giải thích những kết quả này dễ dàng
4.2.4 Phân tích biến động kết hợp
Trong phần này tác giả sử dụng phương pháp phân tích phương sai sai số dự báo tổng thể để xác định vai trò của các cú sốc cấu trúc trong việc giải thích các biến động kết hợp và trả lời cho hai câu hỏi:
- Những loại cú sốc cấu trúc nào có thể gây ra thâm hụt kép, hay biến động trái chiều kép
- Sự đóng góp của từng cú sốc vào dãy biến động kết hợp giữa thâm hụt ngân sách chính phủ, tài khoản vãng lai và tỷ giá thực