1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH THÔNG TIN bất cân XỨNG và NHỮNG vấn đề ẢNH HƯỞNG đến THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

53 833 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Thông Tin Bất Cân Xứng và Những Vấn Đề Ảnh Hưởng Đến Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam
Trường học Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế chứng khoán
Thể loại Nghiên cứu
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 713 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ tình hình biến động của thị trường chứng khoán TP.HCMtrong thời gian qua và để đánh giá được hiệu quả đầu tư trên thị trường chứngkhoán của các nhà đầu tư, một trong những y

Trang 1

Mục lục

LỜI MỞ ĐẦU 4

Chương I : Lý luận chung về thị trường chứng khoán, thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức 5

1 Tổng quan về thị trường chứng khoán : 5

1.1 Khái niệm : 5

1.2 Chức năng, cơ cấu và nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán: .5 1.2.1 Chức năng : 6

1.2.2 Cơ cấu của thị trường chứng khoán : 7

1.2.3 Các nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán : 8

1.3 Các thành phần tham gia trên thị trường chứng khoán : 10

2.1 Khái niệm về thông tin không cân xứng: 11

2.2 Cân bằng thị trường trong trường hợp không cân xứng về thông tin ………12

2.2.1 Cân bằng thị trường trong điều kiện thông tin đầy đủ 14

2.2.1.1 Cân bằng chung 14

2.2.1.2 Cân bằng riêng 15

2.2.2 Cân bằng thị trường trong điều kiện thông tin không cân xứng ……….17

2.2.2.1 Cân bằng chung 18

2.2.2.2 Cân bằng riêng 19

3 Lựa chọn đối nghịch 21

3.1 Khái niệm 21

3.2 Sự hình thành lựa chọn đối nghịch 21

4 Rủi ro đạo đức 24

4.1 Khái niệm 24

4.2 Nguyên nhân xuất hiện rủi ro đạo đức 25

Trang 2

5 Tác động của thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức đối với nền kinh tế 285.1 Tác động của thông tin không cân xứng và lựa chọn đối nghịch 285.2 Tác động của rủi ro đạo đức 30

Chương II: Vấn đề thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trên thị trường chứng khoán Việt Nam 32

1 Tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam từ khi thành lập đến nay 321.1 Tổng quan tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam: 321.2 Tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán trong hai năm gần đây 371.2.1 Thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2007 371.2.3 Thị trường chứng khoán trong 4 tháng đầu năm 2009 40

2 Những dấu hiệu về thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trên thị trường chứng khoán Việt Nam 422.1 Những hạn chế trong việc công bố thông tin và quản lý công bố thông tin là nguyên nhân xuất hiện thông tin không cân xứng 422.2 Chênh lệch giữa giá phát hành lần đầu (hoặc giá khi phát hành thêm) vớigiá giao dịch thị trường của chứng khoán 442.3 Giá cả cổ phiếu và chỉ số VN-Index không phản ánh đúng tình hình sản xuất kinh doanh của các công ty niêm yết và thực tế giao dịch thị trường : 45

3 Những tác động của vấn đề thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch

và rủi ro đạo đức đến hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam 47Lựa chọn bất lợi 48

Chương III:Đề xuất phương hướng giải quyết vấn đề thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trên thị trường chứng khoán Việt Nam 49

1 Nâng cao vốn pháp định của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán: 49

Trang 3

2 Tăng cường sự điều hành của chính phủ để làm tăng thông tin trên thị trường

chứng khoán 50

3 Cần phải có những qui định rõ ràng về thời gian, nội dung và chất lượng các thông tin công bố trên thị trường 50

4 Tăng cường các biện pháp xử phạt đối với các hành vi sai phạm trong việc công bố thông tin 50

Kết luận 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Tài liệu internet 53

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦUTrong các giao dịch tài chính nói chung và chứng khoán nói riêng, thông tingiữ vai trò thiết yếu Nhân tố quan trọng quyết định quy mô, hình thức và hiệu quảcủa mỗi giao dịch chính là mức độ cân xứng về thông tin giữa các bên liên quan.Xét trên tầm vĩ mô, nếu các bên tham gia của bất kỳ giao dịch tài chính nào trongnền kinh tế đều có đầy đủ thông tin quá khứ, hiện tại và tương lai liên quan đến giaodịch thì đồng vốn trong nền kinh tế luôn đến được các dự án đầu tư hiệu quả nhất.Thị trường tài chính khi đó thực hiện tốt nhất chức năng huy động và phân bổ vốncho nền kinh tế

Xuất phát từ tình hình biến động của thị trường chứng khoán TP.HCMtrong thời gian qua và để đánh giá được hiệu quả đầu tư trên thị trường chứngkhoán của các nhà đầu tư, một trong những yếu tố chính làm cho tình hình thịtrường chứng khoán biến động và ảnh hưởng chính đến hiệu quả đầu tư của cácnhà đầu tư là vấn để thông tin bất cân xứng Cho nên mục tiêu nghiên cứu củaluận văn này là xác định mức độ thông tin bất cân xứng giữa nhà đầu tư vàcông ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, xem xét yếu tố nào tác độngmạnh đến vấn đề thông tin bất cân xứng hiện nay và đề ra các gợi ý chính sáchnhằm làm giảm mức độ thông tin bất cân xứng để nhà đầu tư đầu tư hiệu quả hơn

Trang 5

Chương I : Lý luận chung về thị trường chứng khoán, thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch

Theo giáo trình thị trường chứng khoán của trường đại học Kinh Tế TP.HồChí Minh : thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường vốn dài hạn, thựchiện cơ chế chuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành, qua đó thực hiệnchức năng của thị trường tài chính là cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho nềnkinh tế

Thị trường chứng khoán là một thị trường có tổ chức nơi các chứng khoánđược mua bán theo những nguyên tắc nhất định (theo Longman Dictionary ofBusiness English, 1985 – nguyên văn: ”Securities market is an organized marketwhere securities are bought and sold under fixed rules”)

Nghị định 48/CP ngày 11/7/1998 quy định: “Thị trường giao dịch tập trung

là địa điểm hoặc hệ thống thông tin, tại đó các chứng khoán được mua, bán hoặc lànơi tham khảo để thực hiện các giao dịch chứng khoán”

Khái niệm thị trường chứng khoán là một khái niệm có tính lịch sử nên trongthực tế, thuật ngữ thị trường chứng khoán thường có cách hiểu sát thực hơn và cóthể có rất nhiều nội dung mới

1.2 Chức năng, cơ cấu và nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán:

Trang 6

1.2.1 Chức năng :

Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế

Khi nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ry phát hành, số tiền nhàn rỗicủa họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộngsản xuất xã hội Bằng cáh hỗ trợ các hoạt đọng đàu tư củ công ty, thị trường chứngkhoán đã có những tác động quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốcdân Thông qua thị trường chứng khoán, chính phủ và chính quyền địa phương cũnghuy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tằngkinh tế, phục vụ các nhu cầu vhung của xã hội

Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng

Thị trường chứng khoán cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tưlành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú Các loại chứng khoán trên thị trườngrất khác nhau về thời hạn, tính chất và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựachọn cho loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình Chính

vì vậy, thị trường chứng khoán góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia

Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán

Nhờ có thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứngkhoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn Khảnăng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với nhàđầu tư Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư Thị trườngchứng khoán hoạt động càng năng động và hiệu quả thì càng có khả năng nâng caotính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường

Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp

Thông qua giá chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánhmột cách tổng hợp và kịp thời, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của cácdoanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường

Trang 7

cạnh tranh lành mạnh nhằng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụngcông nghệ mới, cải tiến sản phẩm.

Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô.

Các dấu hiệu của thị trường chứng khoán phản ánh động thái của nền kinh tếmột cách nhạy bén và chính xác Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tưđang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng, và ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ chothấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Vì thế, thị trường chứng khoán được gọi

là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thựchiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua thị trường chứng khoán, Chính phủ cóthể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp ngân sách và quản

lý lạm phát Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháptác động vào thị trường chứng khoán nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự pháttriển cân đối của nền kinh tế

1.2.2 Cơ cấu của thị trường chứng khoán :

Có nhiều căn cứ phân loại thị trường chứng khoán nhưng phổ biến và quantrọng nhất là căn cứ vào sự luân chuyển các nguồn vốn, theo đó thị trường chứngkhoán được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

Thị trường sơ cấp

Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành.Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thôngqua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành do đó đây là nơi duy nhấtđem lại vốn đầu tư cho tổ chức phát hành Việc mua bán trên thị trường sơ cấpthường diễn ra giữa các ngân hàng, công ty phát hành, và các tập đoàn tài chínhlớn… giá chứng khoán trên thị trường sơ cấp do tổ chức phát hành ấn định vàthường được in ngay trên chứng khoán Như vậy, có thể thấy rằng, thị trường sơ cấpđóng vai trò chứng khoán hoá các nguồn vốn cần huy động đồng thời chu chuyểnvốn từ nơi thừa vốn tới nơi cần vốn và chuyển nó thành vốn dài hạn

Trang 8

Thị trường thứ cấp

Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trênthị trường sơ cấp Thị trường thứ cấp đóng vai trò đảm bảo tính thanh khoản chocác chứng khoán đã phát hành và có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, trên thị trường thứ cấp, các khoản tiền thu được từ việc bán chứngkhoán thuộc về các nhà đầu tư và các nhà kinh doanh chứng khoán chứ không phảinhà phát hành Nói cách khác, các luồng vốn không chảy vào những người pháthành chứng khoán mà vận chuyển giữa những người đầu tư chứng khoán trên thịtrường Thị trường thứ cấp là một bộ phận quan trọng của thị trường chứng khoán,gắn bó chặt chẽ với thị trường sơ cấp

Thứ hai, giao dịch trên thị trường thứ cấp thể hiện nguyên tắc cạnh tranh tự

do, giá chứng khoán trên thị trường thứ cấp do quan hệ cung cầu quyết định

Thứ ba, thị trường thứ cấp là thị trường hoạt động liên tục, các nhà đầu tư cóthể mua và bán các chứng khoán nhiều lần trên thị trường này

Ngoài cách phân loại trên, có thể phân loại thị trường chứng khoán theo tínhchất tập trung của thị trường, theo đó thị trường chứng khoán bao gồm Sở giao dịchchứng khoán (thị trường tập trung) và thị trường OTC (thị trường phi tập trung) Tại

sở giao dịch, các giao dịch được tập trung tại một địa điểm, các lệnh được chuyểnđến sàn giao dịch và tham gia vào quá trình khớp lệnh để hình thành giá giao dịch.Trên thị trường OTC, các giao dịch (cả sơ cấp và thứ cấp) được tiến hành qua mạnglưới các công ty chứng khoán phân tán khắp quốc gia và được nối với nhau bằngmạng máy tính Giá cả hình thành theo phương thức thoả thuận

1.2.3 Các nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán :

Nguyên tắc cạnh tranh đấu giá

Theo nguyên tắc này, giá cả trên thị trường chứng khoán phản ánh quan hệcung cầu về chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty Trênthị trường sơ cấp, các tổ chức phát hành cạnh tranh nhau để bán chứng khoán của

Trang 9

mình cho nhà đầu tư, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn các chứng khoán theo cácmục tiêu của riêng mình Trên thị trường thứ cấp, các nhà đầu tư cũng cạnh tranh tự

do để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất và giá cả được hình thành theophương thức đấu giá Nguyên tắc này dựa trên mối quan hệ cung cầu trên thị trường

Nguyên tắc công khai

Chứng khoán là các hàng hóa trừu tượng, người đầu tư không thể kiểm tratrực tiếp được các chứng khoán như các hàng hóa thông thường mà phải dựa trên cơ

sở các thông tin có liên quan Vì vậy thị trường chứng khoán phải được xây dựngtrên cơ sở hệ thống công bố thông tin tốt Theo Luật định, các bên phát hành chứngkhoán có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực và kịp thời những thông tin có liênquan đến tổ chức phát hành, tới đợt phát hành Công bố thông tin được tiến hànhkhi phát hành lần đầu cũng như theo các chế độ thường xuyên và đột xuất, thôngqua các phương tiện thông tin đại chúng, Sở giao dịch chứng khoán, các công tychứng khoán và các tổ chức có liên quan khác

Nguyên tắc này nhằm đảm bảo lợi ích cho tất cả những người tham gia thịtrường Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều phải tuân thủnhững quy định chung, được bình đẳng trong việc chi sẻ thông tin và trong việcgánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những quy định đó

Nguyên tắc trung gian

Theo nguyên tắc này, trên thị trường chứng khoán, các giao dịch được thựchiện thông qua tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán Trên thị trường sơcấp, các nhà đầu tư thường không mua trực tiếp của tổ chức phát hành mà mua từcác nhà bảo lãnh phát hành Trên thị trường thứ cấp, thông qua các nghiệp vụ môigiới, kinh doanh các công ty chứng khoán mua bán chứng khoán giúp các kháchhàng, hoặc kết nối các khách hàng với nhau thông qua việc thực hiện các giao dịchmua bán chứng khoán trên tài khoản của mình

Nguyên tắc tập trung

Trang 10

Thị trường chứng khoán phải hoạt động trên nguyên tắc tập trung Các giaodịch chứng khoán chỉ diễn ra trên sở giao dịch và trên thị trường OTC, có sự kiểmtra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức tự quản Hàng hóa của thịtrường chứng khoán là các sản phẩm tài chính cao cấp nên việc giao dịch đòi hỏi thịtrường phải có những cơ sở vật chất nhất định chứ không thể diễn ra một cách tuỳtiện

1.3 Các thành phần tham gia trên thị trường chứng khoán :

Theo giáotrinh thị trường chứng khoán (2005) thành phần tham gia thịtrường chứng khoán có 6 thành phần như sau: Các doanh nghiệp, các nhà đầu tưriêng lẻ, các tổ chức tài chính, nhà môi giới kinh doanh chứng khoán, người tổchức thị trường và Nhà nước

Các doanh nghiệp: tham gia thị trường với tư cách là chủ thể tạo ra

hàng húa để cung cấp cho thị trường Các doanh nghiệp này cũng có thể được gọi

là các công ty niêm yết hay nhà phát hành theo cách gọi thông thường Ngoàichức năng chính tạo ra hàng hóa (cổ phiếu) để huy động vốn, các doanh nghiệpcũng có thể mua đi bán lại các chứng khoán do các công ty khác phát hành

Nhà đầu tư riêng lẻ và các tổ chức tài chính: hai thành phần này ta có

thể gọi chung là nhà đầu tư Trong đó nhà đầu tư riêng lẻ là những người cóvốn nhỏ nhàn rỗi tạm thời, tham gia mua bán trên thị trường chứng khoán vớimục đích kiếm lời Các tổ chức tài chính bao gồm công ty đầu tư quản lý quỹ,công ty bảo hiểm, công ty tài chính, ngân hàng, các công ty chứng khoán…thamgia thị trường cả tư cách người mua và người bán Thông thường các tổ chứctài chính có thời gian đầu tư và khối lượng giao dịch trên thị trường dài và lớnhơn nhà đầu tư riêng lẻ Tuy nhiên, số lượng các tổ chức trên thị trường thì rất ít

so với số lượng nhà đầu tư riêng lẻ

Nhà môi giới kinh doanh chứng khoán: có thể là tổ chức hoặc cá nhân.

Đa phần các hoạt động môi giới hiện nay là những công ty chứng khoán Ngoàinghiệp vụ môi giới các công ty này có thể thực hiện nhiều chức năng khác như

Trang 11

Người tổ chức thị trường: chiếm vai trò chủ yếu của người tổ chức

thị trường là các Trung tâm giao dịch chứng khoán hay Sở giao dịch chứng khoán.Các Trung tâm, Sở này cung cấp địa điểm và phương tiện để thực hiện việcmua bán chứng khoán cho các chủ thể tham gia giao dịch, điều hành thị trường

để các giao dịch diễn ra công bằng và minh bạch Ngoài các Trung tâm và Sởgiao dịch, Trung tâm lưu ký, công ty dịch vụ máy tính chứng khoán, cũng cóchức năng không kém phần quan trọng làm cho thị trường hoạt động hiệu quả

Nhà nước : góp phần đảm bảo cho thị trường hoạt động theo đúng các

qui định của pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của người đầu tư, đảmbảo thị trường hoạt động bền vững và hiệu quả Ngoài ra Nhà nước cũng có thểtham gia thị trường với tư cách là nhà phát hành Đó là thông qua Chính phủhoặc các chính quyền địa phương phát hành các trái phiếu nhằm huy độngvốn trên thị trường chứng khoán để vay nợ hoặc tài trợ các dự án công Nhà nướccũng có thể bán hoặc mua các chứng khoán của các doanh nghiệp nhằm kiểmsoát quyền chi phối các doanh nghiệp theo mục đích

2.Thông tin không cân xứng :

2.1 Khái niệm về thông tin không cân xứng:

Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có nhiều thông tinhơn một bên khác Điển hình là người bán biết nhiều về sản phẩm hơn đốivới người mua hoặc ngược lại (Trang từ điển Wikipedia)

‘Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên đối tác nắm giữ thông tin cònbên khác thì không biết đích thực mức độ thông tin ở mức nào đó’ (NguyễnTrọng Hoài, 2006)

Thông tin bất cân xứng trên thị trường chứng khoán xảy ra khi một hoặcnhiều nhà đầu tư sở hữu được thông tin riêng (Kyle, 1985 trích trong Ravi,2005) hoặc có nhiều thông tin đại chúng hơn về một công ty (Kim và Verrecchia,

1994 và 1997 trích trong Ravi, 2005)

Trang 12

Có thể định nghĩa khái niệm thông tin không cân xứng theo nhiều cách khácnhau Tuy nhiên mọi trường hợp không cân xứng về thông tin đều có ba đặc điểm

cơ bản sau:

Thứ nhất, có sự khác biệt về thông tin giữa các bên tham gia giao dịch Thứ hai, có nhiều trở ngại trong việc chuyển thông tin giữa hai bên

Thứ ba, trong hai bên có một bên có thông tin chính xác hơn

2.2 Cân bằng thị trường trong trường hợp không cân xứng về thông tin

Trên các thị trường tài chính nói chung và thị trường bảo hiểm nói riêng,hiện tượng thông tin không cân xứng luôn đi kèm và có mối quan hệ mật thiết vớivấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức Trên thị trường bảo hiểm, lựa chọnđối nghịch phát sinh do các công ty bảo hiểm không thể phân loại một cách triệt đểmức độ rủi ro của những người tham gia bảo hiểm Sau khi mua bảo hiểm, ngườiđược bảo hiểm không có động lực để hạn chế rủi ro Những rủi ro như vậy gọi là rủi

ro đạo đức và người chịu rủi ro này không ai khác chính là công ty bảo hiểm.Nghiên cứu sắp trình bày dưới đây giả thiết rằng các cá nhân tham gia bảo hiểmkhông có khả năng phân phối rủi ro

Những nghiên cứu trên thị trường bảo hiểm thân thể và xe hơi của một sốnhà kinh tế học trên thế giới đã đi đến đến kết luận rằng lựa chọn đối nghịch khiếnnhững người có rủi ro thấp không muốn tham gia bảo hiểm đồng thời tạo ra hiệntượng chuyển thu nhập từ những người có mức rủi ro thấp sang những người cómức rủi ro cao

Để xác định cân bằng thị trường trong điều kiện thông tin không cân xứngtrên thị trường bảo hiểm, trước tiên cần xem xét quá trình đạt đến cân bằng trên thịtrường cạnh tranh hoàn hảo bằng cách sử dụng lý thuyết cung-cầu thị trường

Giả sử một cá nhân X muốn mua một hợp đồng bảo hiểm để ổn định thu

nhập trước các rủi ro Để đơn giản ta giả thiết có hai khả năng xảy ra: có tổn thất và

Trang 13

không có tổn thất Giả sử tiếp rằng X muốn tối đa hoá thu nhập Nếu không có hợp

đồng bảo hiểm, anh ta sẽ có tổng thu nhập kỳ vọng là:

V(a,i,p) = (1 – p)U(m – a) + pU(m – d – a + i) (2)

Giả sử rằng X là người không thích mạo hiểm, khi đó U luôn giảm (tức làU’(x) < 0) đồng thời đồ thị của U là một đường cong lõm (do đó V cũng là mộtđường cong lõm) Trong các hợp đồng bảo hiểm, X sẽ chọn hợp đồng có V cực đại

Giả sử tiếp rằng thu nhập từ các hợp đồng bảo hiểm của công ty bảo hiểmphụ thuộc vào các biến ngẫu nhiên Do vậy, khi bán được hợp đồng bảo hiểm, công

ty xẽ thu được (1 - p)a và phải trả p(i - a) khi tổn thất xảy ra Lợi nhuận của công tylà:

 (a,i,p) = (1 - p)a - p(i - a) (3)

Trên thị trường cạnh tranh hoàn hảo, lợi nhuận của công ty bằng 0 nên:

Trang 14

Tức là: (1 - p)a -p(i - a) = 0

hay a - pi = 0

Phương trỡnh (2) và phương trỡnh (4) thể hiện đường cầu và cung bảo hiểm

Sự tương tỏc giữa cung và cầu bảo hiểm được thể hiện trờn trục m10m2, trong đú m1

và m2 thể hiện thu nhập trong hai trường hợp tương ứng: khụng cú tổn thất và cú

tổn thất.

2.2.1 Cõn bằng thị trường trong điều kiện thụng tin đầy đủ.

Trờn thị trường bảo hiểm cạnh tranh hoàn hảo, cú hai kiểu cõn bằng là cõnbằng chung và cõn bằng riờng Cõn bằng chung xảy ra khi thị trường cú một loạikhỏch hàng đồng nhất về mức độ rủi ro, cụng ty bảo hiểm chỉ cần định giỏ một loạihợp đồng bảo hiểm Trong trường hợp cõn bằng riờng, thị trường cú nhiều nhúmkhỏch hàng khỏc nhau về mức độ rủi ro Khi đú, cụng ty bảo hiểm bỏn cỏc hợp đồngbảo hiểm ở cỏc mức giỏ khỏc nhau cho từng đối tượng khỏch hàng cú độ rủi ro phựhợp Thị trường đạt đến cõn bằng tại nhiều điểm ứng với từng loại khỏch hàng

điều kiện thông tin đầy đủ và

một mức rủi ro

O

Trang 15

Hình 1.1 biểu diễn điểm cân bằng chung của thị trường bảo hiểm cạnh tranh

hoàn hảo với một loại khách hàng đồng nhất và 1 tỷ lệ xác suất xảy ra rủi ro,

trong điều kiện thông tin đầy đủ Trục hoành m1 và trục tung m2 biểu diễn thu nhậptrong hai trường hợp tương ứng: không có tổn thất và có tổn thất Đường cong U thểhiện tập hợp các điểm kết hợp thu nhập của người mua bảo hiểm trong hai trườnghợp trên, phụ thuộc vào a, i và d, chính là đường cầu bảo hiểm Đường thẳng OTbiểu diễn các tập hợp điểm có kết hợp thu nhập bằng nhau dù tổn thất có xảy ra haykhông Đường thẳng EF là đồ thị của phương trình (4) biểu diễn các kết hợp thunhập của công ty bảo hiểm và chính là đường cung bảo hiểm Độ dốc của đường EFđược xác định bằng tỷ lệ 1p p Độ dốc của đường U được xác định bằng tỷ lệ thay

thế cận biên của thu nhập trong hai trường hợp m1 và m2, tức là bằng

)(

)(2

1

'

'

m U

m U

Thị trường đạt tới trạng thái cân bằng khi độ dốc của đường cầu U bằng độdốc của đường cung EF Giả X có điểm kết hợp thu nhập ban đầu tại E Tại điểm

này X sẽ có thu nhập m nếu tổn thất không xảy ra và m - d nếu tổn thất xảy ra Để

hạn chế rủi ro, X mua một hợp đồng bảo hiểm dọc theo đường EF Trong số cáchợp đồng bảo hiểm, hợp đồng tại điểm K tối đa hoá thu nhập kỳ vọng của anh ta.Hợp đồng tại K là một hợp đồng bảo hiểm toàn bộ rủi ro và cân bằng thu nhập của

X trong cả hai trường hợp có hay không có tổn thất Tại điểm cân bằng, hợp đồngđược mua bán trong điều kiện cả hai bên đều biết rõ về nhau Vì vậy K chính làđiểm cân bằng trong điều kiện thông tin đầy đủ, lúc này người bảo hiểm không cólãi ( = 0)

Trang 16

Vẫn với các giả thiết như phần trên ta thấy:

Các hợp đồng bảo hiểm có rủi ro thấp được thể hiện trên đường EF, có độdốc là (1 – pL)/pL Các hợp đồng bảo hiểm có rủi ro cao được tập hợp trên đường

EH, có độ dốc bằng (1 – pH)/pH

Trong trường hợp này, độ dốc và độ lõm của đường cầu ứng với mỗi nhómkhách hàng phụ thuộc vào mức tổn thất khi rủi ro xảy ra (d) và đặc điểm rủi ro (tuỳtheo từng đặc điểm rủi ro mà công ty bảo hiểm đưa ra mức phí a và mức bồi thường

i phù hợp) Gọi hai đường này tương ứng là UL và UH

Vì công ty bảo hiểm biết rõ xác suất xảy ra rủi ro của hai nhóm khách hàngnên họ sẽ đưa ra hai loại hợp đồng bảo hiểm tương ứng với hai mức rủi ro Tại điểmcân bằng, cả hai nhóm khách hàng đều được bảo hiểm toàn bộ rủi ro và ở một mứcgiá cả công bằng

2.2.2 Cân bằng thị trường trong điều kiện thông tin không cân xứng

Nhà kinh tế học Akerlof, trong nghiên cứu về thông tin không cân xứng năm

1970 đã đưa ra những vấn đề phát sinh trên thị trường bảo hiểm thân thể khi ngườiđược bảo hiểm biết rõ tình trạng sức khoẻ của mình còn công ty bảo hiểm không

Trang 17

biết đến điều đó Ông đưa ra một ví dụ trong đó công ty bảo hiểm không thể phânloại khách hàng theo mức độ rủi ro và định giá các hợp đồng bảo hiểm ở một mứctrung bình Trong điều kiện đó, chỉ những người có mức rủi ro cao hơn mức trungbình mới muốn mua bảo hiểm Điều này khiến công ty bảo hiểm bị lỗ và do đó, phíbảo hiểm phải được tăng lên để đảm bảo cho công ty hoà vốn Tiếp tục, trong sốnhững người mua bảo hiểm trước đây, chỉ những người có mức rủi ro cao hơn mứctrung bình mới mua bảo hiểm ở mức giá mới cao hơn Quá trình tương tự diễn raliên tục cho đến khi chỉ những người có mức rủi ro rất cao mới sãn sàng mua bảohiểm ở một mức phí bảo hiểm cũng rất cao

Năm 1976, nghiên cứu của hai nhà kinh tế học Rothschild và Stiglitz đã giảithích sự đạt đến cân bằng trên thị trường bảo hiểm trong điều kiện thông tin khôngcân xứng xảy ra giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm Với sự thiếu hụt vềthông tin, thị trường này sẽ có hai kiểu cân bằng: cân bằng chung (PoolingEquilibrium) và cân bằng riêng (Seperating Equilibrium) Trong trường hợp cânbằng chung, công ty bảo hiểm không thể phân loại khách hàng theo mức độ rủi ronên phí bảo hiểm được xác định ở mức trung bình Các hợp đồng bảo hiểm đượcbán với cùng một mức giá cho mọi nhóm khách hàng Tình trạng này sẽ dẫn đếnkiểu thị trường trong mô hình của nhà kinh tế học Akerlof như đã trình bày trênđây Trong trường hợp cân bằng riêng, các hợp đồng bảo hiểm được bán ở mức giáphù hợp với từng loại rủi ro Khi đó những người tham gia bảo hiểm sẽ tự phân loạimình theo đặc điểm của rủi ro thông qua việc lựa chọn hợp đồng bảo hiểm

2.2.2.1 Cân bằng chung

Trang 18

Hình 1.3 biểu diễn một ví dụ về cân bằng chung trong trường hợp có thôngtin không cân xứng Trong phân tích trước, ta đã giả thiết rằng có hai nhóm kháchhàng tham gia bảo hiểm LR và HR với xác suất xảy ro rủi ro tương ứng là pL và pH

(pL < pH) Đường EF biểu diễn đường cung các hợp đồng bảo hiểm cho khách hàng

có rủi ro thấp với độ dốc là (1 - pL)/ pL còn các hợp đồng cho khách hàng có rủi rocao tập trung thành đường EH với độ dốc (1 – pH)/pH Độ dốc và hình dạng của cácđường cầu phụ thuộc vào đặc điểm rủi ro (đặc trưng bởi mức tổn thất d) và thái độcủa người được bảo hiểm đối với rủi ro (thể hiện qua việc lựa chọn các hợp đồngbảo hiểm ở các mức a và i khác nhau) Giả sử hai đường cầu này tương ứng là UL và

UH Do các giá trị UL và UH là những thông tin không được cáo bạch nên các điểmcân bằng A, B (điểm bảo hiểm tốt nhất các rủi ro) là không thể đạt được Nguyênnhân là do các công ty bảo hiểm không biết rõ ai là người có pH và ai là người có pL

nên không thể ngăn cản những người có pH mua hợp đồng A, điểm đảm bảo an toàncao hơn

Trang 19

Mặt khác, cũng do không phân loại được khách hàng nên công ty bảo hiểmđịnh giá hợp đồng ở mức trung bình, thể hiện bằng đường EG Kết quả là trongtrường hợp cân bằng chung những người có rủi ro cao sẽ mua hợp đồng B’ và người

có rủi ro thấp sẽ mua hợp đồng A’ So với phạm vi bảo hiểm toàn bộ rủi ro thì ởphạm vi bảo hiểm này những người có rủi ro cao đã mua rẻ hơn và những người córủi ro thấp đã mua đắt hơn Như vậy, người có rủi ro cao được bảo hiểm nhiều hơn(over-insured) trong khi người có rủi ro thấp được bảo hiểm ít hơn (under-insured)

F

Xét một thị trường tương tự như đã trình bày trong hình 1.3 Tuy nhiên công

ty bảo hiểm chào bán hai loại bảo hiểm ở hai mức giá khác nhau tương ứng với từngmức độ rủi ro Do công ty bảo hiểm không biết xác suất xảy ra rủi ro của kháchhàng nên điểm cân bằng tối ưu A và B không thể đạt được Lúc này khách hàng đềuthích hợp đồng A hơn vì tại đó thu nhập kỳ vọng luôn cao hơn dù tổn thất có xảy ra

Trang 20

hay không Trong trường hợp này, công ty bảo hiểm có thể đưa ra hai loại hợp đồng(tương ứng theo hai đường cung EF và EH) phù hợp với từng loại rủi ro

Vì công ty bảo hiểm không thể tách riêng người có rủi ro cao với người córủi ro thấp nên khi thị trường cân bằng, người có rủi ro cao sẽ mua hợp đồng B vàngười có rủi ro thấp sẽ mua hợp đồng A* Kết quả là khi tồn tại cân bằng riêng thìhợp đồng cho mức rủi ro thấp là giao điểm giữa đường cầu của người có rủi ro caovới đường cung cho người có rủi ro thấp

Những dấu hiệu (gợi ý) của thị trường

Lý thuyết về những dấu hiệu của thị trường cho rằng trong các thị trường bảohiểm tòn tại thông tin không cân xứng, các cá nhân ngầm bộc lộ những thông tinliên quan đến mức độ rủi ro khi họ lựa chọn hợp đồng bảo hiểm Những người córủi ro thấp thường mua hợp đồng bán phần và chọn tỷ lệ khấu trừ cao (nếu rủi roxảy ra, công ty bảo hiểm được khấu trừ một phần tổn thất phải chịu) Trong khi đónhững người có rủi ro cao thường mua bảo hiểm toàn phần

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng sự tự bộc lộ rủi ro này còn phụ thuộc vào một sốyếu tố khác như thái độ của người được bảo hiểm trước rủi ro (muốn tránh rủi ronhiều hay ít) Chẳng hạn, một người tham gia bảo hiểm có thể mua hợp đồng cóphạm vi bảo hiểm cao bởi vì anh ta có xác suất xảy ra rủi ro cao nhưng cũng có thểanh ta là người thích sự an toàn, chắc chắn Tuy nhiên, nếu giả thiết hai yếu tố nàykhông đổi thì người nào mua bảo hiểm có phạm vi lớn hơn, người đó thường cómức tổn thất cao hơn khi rủi ro xảy ra

Như vậy, trên thị trường bảo hiểm có thông tin không cân xứng sẽ tồn tạimột trong hai kiểu cân bằng Nếu người bảo hiểm không thể phân loại được kháchhàng theo mức độ rủi ro, thị trường sẽ đạt được cân bằng chung theo đó dựa trênmức độ rủi ro trung bình, người bảo hiểm cung cấp một loại hợp đồng duy nhất chotất cả khách hàng Vì vậy, trong số những người mua hợp đồng bảo hiểm, người cómức rủi ro cao hơn mức trung bình sẽ mua hợp đồng toàn bộ rủi ro và do đó họ

Trang 21

hiểm vượt mức so với số tiền bỏ ra (over-insure) Những người có mức rủi ro thấphơn trung bình sẽ phải trả giá cao hơn so với mức bảo hiểm giành được

Trong trường hợp người bảo hiểm phân loại được khách hàng, họ sẽ chàobán các hợp đồng bảo hiểm khác nhau với mức giá khách nhau Khi đó thị trường sẽđạt đến cân bằng riêng Trong điều kiện cân bằng này, những nhóm khách hàngkhác nhau sẽ đạt được cân bằng ở những vị trí khác nhau mà tại đó, thu nhập của họđược tối đa hoá trong cả hai trường hợp: có tổn thất và không có tổn thất Đươngnhiên, sự phân loại khách hàng không thể triệt để nên sẽ vẫn có những khách hàngđược bảo hiểm vượt mức và những khách hàng được bảo hiểm thấp hơn so với sốtiền bảo hiểm

3 Lựa chọn đối nghịch

3.1 Khái niệm

Lựa chọn đối nghịch là vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra trước khidiễn ra cuộc giao dịch Trên các thị trường tín dụng, lựa chọn đối nghịch xảy ra khinhững người đi vay có nhiều khả năng tạo ra một kết cục không mong muốn lạichính là những người tích cực đi tìm vay nhất và do vậy, trong số những người đivay họ sẽ là người dễ được lựa chọn nhất Trên thị trường chứng khoán, lựa chọnđối nghịch xuất hiện khi nhà đầu tư không biết thông tin về các loại cổ phiếu củacác công ty khác nhau do đó có thể mua phải cổ phiếu của một công ty hoạt độngkém, rủi ro cao Vấn đề lựa chọn đối nghịch cũng xuất hiện trong nhiều hoạt độngkhác của nền kinh tế Nói một cách tổng quát, lựa chọn đối nghịch là những quyếtđịnh sai lầm của một bên tham gia giao dịch mà nguyên nhân là do thông tin khôngcân xứng

Để hiểu rõ hơn về khái niệm lựa chọn đối nghịch và những tác động của nóđến nền kinh tế, ta nghiên cứu sự hình thành của lựa chọn đối nghịch như sẽ trìnhbày dưới đây

3.2 Sự hình thành lựa chọn đối nghịch

Trang 22

Dựa trên nghiên cứu của nhà kinh tế học G AKERLOF năm 1970 có tựa đề:

“The market for ‘lemons’ Quality Uncertainty and the Market Mechanism”, tôi xintrình bày một cách tổng quát về sự hình thành lựa chọn đối nghịch như sau:

Lựa chọn đối nghịch là hiện tượng xảy ra trên bất kỳ thị trường nào xuất hiệnthông tin không cân xứng Do không có đủ thông tin liên quan đến giao dịch nênmột trong các bên tham gia giao dịch sẽ đưa ra những quyết định sai lầm Trongphần này, ta giả có hai bên tham gia giao dịch, người bán S và người mua B cùngtham gia trên một thị trường trao đổi sản phẩm A bất kỳ Trên thị trường, có haimức chất lượng đối với sản phẩm A: chất lượng tốt (AH) và chất lượng kém (AL).Người bán và người mua đánh giá trị giá của hai loại chất lượng này như sau:

Loại chất lượng Trị giá

Trường hợp 1: Cả người bán và người mua đều biết rõ chất lượng từng loại

Trong trường hợp này, cả hai nhóm sản phẩm A sẽ được bán trên thị trường

ở mức giá do quan hệ cung cầu và sự thoả thuận của các bên quyết định Sản phẩm

có chất lượng tốt, AH sẽ được bán ở mức giá nằm giữa PH1 và PH2 còn sản phẩm cóchất lượng kém sẽ được trao đổi ở mức gí nằm giữa PL1 và PL2

Trường hợp 2: Cả người bán và người mua không biết về chất lượng từng

loại sản phẩm

Khi đó sự trao đổi xẽ diễn ra trên cơ sở kỳ vọng giá trị của từng loại hànghoá Giả sử người bán và người mua đều biết rõ tỷ lệ sản phẩm có chát lượng xấu và

Trang 23

tốt trong nền kinh tế, tương ứng là  và 1 -  Vậy kỳ vọng giá trị của người bánEVS và của người mua EVB là:

EVS =  PL1 + (1 - )PH1

EVB =  PL2 + (1 - )PH2

Trong trường hợp này, việc mua bán sẽ diễn ra ở mức giá P thoả mãn: EVS <

P < EVB tuỳ theo quan hệ cung cầu và sự thoả thuận của các bên tham gia

Trường hợp 3: Người bán biết rõ từng loại chất lương còn người mua thì không:

Lựa chọn đói nghịch

Giả sử người mua đưa ra mức giá P* thoả mãn: PL2 < P* < PH1 Khi đó:

* Những người bán AH sẽ từ chối mức giá trên vì khi đó họ sẽ bị lỗ một khoảntrị giá: PH1 – P*

* Những người bán sản phẩm AL sẽ chấp nhận mức giá trên vì như thế họ sẽ lãi:P* - PL1 Tuy nhiên người mua sẽ bị lỗ: P* - PL2 Như đã giả thiết, xác suất xuất hiện

AL là  nên trng trường hợp này người mua luôn bị lỗ một khoản trị giá: P(P*

-PL2 ) Trong trường hợp này người mua đã thực hiện một lựa chọn đối nghịch.Nguyên nhân của vấn đề này là do người bán biết rõ chất lượng của sản phẩm trongkhi người mua không biết điều đó Kết quả là người bán sẵn sàng bán ở mức giá cólợi và không bao giờ bán ở mức giá bất lợi cho anh ta Lựa chọn đối nghịch chỉ xảy

ra trong trường hợp người bán có thông tin tốt hơn người mua Ngay cả khi hai bênđều không biết về chất lượng sản phẩm thì lựa chọn đối nghịch cũng không xảy ra.Đương nhiên người bán luôn biết rõ về sản phẩm hơn người mua nên ít có trườnghợp thứ tư là : người mua có thông tin tốt hơn người bán

Phân tích trên đây dựa trên giả thiết rằng người mua đưa ra mức giá P* thoảmãn: PL2 < P* < PH1 Tuy nhiên thực tế người mua có thể đưa ra các mức giá sau:

 P < PL1: Khi đó thị trường không có sản phẩm được trao đổi

Trang 24

 PL1 < P < PH1: Chỉ người bán sản phẩm kém chất lượng AL mới chấp nhậnmức giá này, kết quả lừ trên thị trường chỉ xuất hiện AL Khi đó thị trường sẽ đạtđược cân bằng riêng, nơi chỉ những sản phẩm AL được trao đổi Lúc này EVB =

(PL2 – P), do đó nếu P càng gần PH1 thì EVB càng nhỏ, người mua thiệt nhiều hơn

 Nếu P > PH1: Cả người bán AL và AH đều chấp nhân giá này Trên thị trườngxuất hiện hàng hoá với hai loại chất lượng và thị trường đạt được cân bằng chung.Khi đó:

Tuy nhiên EVB không phải là một căn cứ chắc chắn để xác định giá cả hợp

lý vì nếu người mua đánh giá sản phẩm quá cao (PL2 và PH2 lớn hơn) thì EVB tăng

Do vậy người mua cần thu thập thêm thông tin để xác định giá tốt hơn

4 Rủi ro đạo đức

4.1 Khái niệm

Rủi ro đạo đức là hậu quả của thông tin không cân xứng Khác với lựa chọnđối nghịch, rủi ro đạo đức suất hiện sau cuộc giao dịch khi một bên thực hiện nhữnghành động ẩn giấu và có ảnh hưởng đến lợi ích của phía đối tác Có nhiều cách địnhnghĩa về rủi ro đạo đức:

- Rủi ro đạo đức là một xu hướng theo đó người được bảo hiểm ít nỗ lựchơn trong việc bảo vệ hàng hoá trước hư hại và mất cắp

- Rủi ro đạo đức là tình trạng một bên tham gia thị trường không thể giámsát hoạt động của phía bên kia Vì lý do này, rủi ro đạo đức còn được gọi là vấn đề

Trang 25

- Rủi ro đạo đức là một cách gọi khác của hành động ẩn giấu theo đó ngườiđược thông tin có thể thực hiện những hành động “sai trái”.

- Rủi ro đạo đức phát sinh khi những người sở hữu thông tin riêng thựchiện những hành động có ảnh hưởng đối lập đến xác suất đưa đến những hậu quảxấu (McTaggart, Findlay & Parkin (1992) trang 440)

Qua các khái niệm trên có thể thấy khái niệm rủi ro đạo đức có những đặcđiểm chính sau đây:

Thứ nhất, có sự xuất hiện của hành động ẩn giấu (hidden action) Một bêntham gia giao dịch (ví dụ công ty bảo hiểm) không thể giám sát hành động của phíabên kia (người được bảo hiểm)

Thứ hai, bên có hành động ẩn giấu, dù vô tình hay cố ý, sẽ làm tăng xác suấtxảy ra hậu quả xấu

Trong thực tế, vấn đề rủi ro đạo đức xuất hiện trong rất nhiều hiện tượngkinh tế chẳng hạn:

- Người được bảo hiểm giảm bớt động lực trong việc bảo vệ đối tượngbảo hiểm khiến xác suất xảy ra rủi ro tăng lên

- Người vay vốn thực hiện những hoạt động đầu tư có độ rủi ro cao dẫnđến nguy cơ không hoàn trả được vốn cho người cho vay…

Mặc dù xuất hiện trong nhiều hiện tượng kinh tế nhưng về bản chất, rủi rođạo đức tồn tại trên cơ sở thông tin không cân xứng Để khảo sát chi tiết hơn, tanghiên cứu nguyên nhân xuất hiện rủi ro đạo đức

4.2 Nguyên nhân xuất hiện rủi ro đạo đức

Rủi ro đạo đức có nguyên nhân sâu xa là thông tin không cân xứng Để phântích một cách cụ thể và chi tiết sự xuất hiện rủi ro đạo đức và các chi phí liên quan,

ta nghiên cứu một thị trường bảo hiểm với các giả định như đã trình bày trong phần

2

Trang 26

Giả sử thêm rằng, các hợp đồng bảo hiểm được cung cấp bởi các công ty bảohiểm hoạt động trên một thị trường cạnh tranh và không có chi phí quản lý Xácsuất xảy ra rủi ro (p) của tổn thất (d) là các biến ngoại sinh (trên hệ trục m1Om2) vàphụ thuộc vào mức chi phí (a) bỏ ra nhằm bảo vệ đối tượng bảo hiểm của ngườitham gia bảo hiểm (X) Gọi mức chi phí này là a1 và a0 (a1>a0).

Đặt a0 = 0, khi đó, xác suất xảy ra rủi ro khi a = 0 là p0, và khi a = a1 là p1 Đểđảm bảo rằng khi bỏ ra chi phí a1 X sẽ hạn chế rủi ro tốt hơn khi bỏ ra a0 thì:

Khi X chọn a0 = 0, đường hoà vốn của công ty bảo hiểm là B0M0

Đường ngân sách của X khi a0 = 0 là B’M0 và khi a = a1 là B1M1

Ngày đăng: 07/01/2014, 11:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Cân bằng thị tr  ờng trong - PHÂN TÍCH THÔNG TIN bất cân XỨNG và NHỮNG vấn đề ẢNH HƯỞNG đến THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Hình 1.1 Cân bằng thị tr ờng trong (Trang 14)
Hình 1.2: Cân bằng thị tr  ờng trong - PHÂN TÍCH THÔNG TIN bất cân XỨNG và NHỮNG vấn đề ẢNH HƯỞNG đến THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Hình 1.2 Cân bằng thị tr ờng trong (Trang 16)
Hình 1.3: Cân bằng chung trong điều  kiện thông tin không cân xứng và - PHÂN TÍCH THÔNG TIN bất cân XỨNG và NHỮNG vấn đề ẢNH HƯỞNG đến THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Hình 1.3 Cân bằng chung trong điều kiện thông tin không cân xứng và (Trang 18)
Hình 1.4 biều diễn trường hợp cân bằng riêng trên thị trường bảo hiểm có thông tin không cân xứng - PHÂN TÍCH THÔNG TIN bất cân XỨNG và NHỮNG vấn đề ẢNH HƯỞNG đến THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Hình 1.4 biều diễn trường hợp cân bằng riêng trên thị trường bảo hiểm có thông tin không cân xứng (Trang 19)
Hình 2.1: Chỉ số VNIndex từ  28/07/2000 - 25/06/2001 - PHÂN TÍCH THÔNG TIN bất cân XỨNG và NHỮNG vấn đề ẢNH HƯỞNG đến THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Hình 2.1 Chỉ số VNIndex từ 28/07/2000 - 25/06/2001 (Trang 32)
Hình 2.2: Chỉ số VNIndex từ  25/06/2001 - 23/10/2003 - PHÂN TÍCH THÔNG TIN bất cân XỨNG và NHỮNG vấn đề ẢNH HƯỞNG đến THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Hình 2.2 Chỉ số VNIndex từ 25/06/2001 - 23/10/2003 (Trang 33)
Hình 2.3: Chỉ số VNIndex từ  23/10/2003 - 25/04/2006 - PHÂN TÍCH THÔNG TIN bất cân XỨNG và NHỮNG vấn đề ẢNH HƯỞNG đến THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Hình 2.3 Chỉ số VNIndex từ 23/10/2003 - 25/04/2006 (Trang 35)
Hình 2.4: Chỉ số VNIndex từ  25/04/2006 - 13/03/2007 - PHÂN TÍCH THÔNG TIN bất cân XỨNG và NHỮNG vấn đề ẢNH HƯỞNG đến THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Hình 2.4 Chỉ số VNIndex từ 25/04/2006 - 13/03/2007 (Trang 35)
Hình 2.6 Biểu đồ chỉ số VN-Index trong năm 2008 - PHÂN TÍCH THÔNG TIN bất cân XỨNG và NHỮNG vấn đề ẢNH HƯỞNG đến THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Hình 2.6 Biểu đồ chỉ số VN-Index trong năm 2008 (Trang 38)
Hình 2.5 Biểu đồ VN-Index trong năm 2007 - PHÂN TÍCH THÔNG TIN bất cân XỨNG và NHỮNG vấn đề ẢNH HƯỞNG đến THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Hình 2.5 Biểu đồ VN-Index trong năm 2007 (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w