Khi làm bài họcsinh biết nhận xét, đánh giá, bình luận vấn đề, hiểu đúng đắn những khái niệm,thuật ngữ văn học, đây là những tri thức khái quát rất quan trọng, bởi lẽ dạy vănkhông chỉ dừ
Trang 1TÊN ĐỀ TÀI:
“ VẬN DỤNG KIẾN THỨC LÍ LUẬN VĂN HỌC VÀO VIỆC ĐỌC HIỂU
VĂN BẢN VÀ LÀM VĂN”
Trang 2quan niệm: “Văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có,
để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối, tàn ác, vừa làm cho lòng người đọc thêm trong sạch và phong phú hơn” Hay M.L.Kalinine cũng đã từng khẳng định: “Văn học làm cho con người thêm phong phú, tạo khả năng cho con người lớn lên, hiểu được con người nhiều hơn.” Văn học đã trở thành công cụ để giáo dục
con người, cải tạo xã hội rất mạnh mẽ, nó là thứ vũ khí tư tưởng rất sắc bén có tácdụng to lớn, sâu rộng và bền bỉ mà lịch sử loài người từ trước đến nay đã xác nhận
Môn Ngữ văn ngoài “dạy sống, dạy người, dạy mở mang trí tuệ”, còn cónhiệm vụ cung cấp cho học sinh những hiểu biết một cách có hệ thống về lí luậnvăn học Bởi lí luận văn học là một bộ môn khoa học nghiên cứu văn học Nó cónhiệm vụ nghiên cứu bản chất, chức năng, xã hội- thẩm mĩ và quy luật phát triểncủa sáng tác văn học Nhờ kiến thức lí luận mà học sinh có thể hiểu đúng, hiểu sâuhơn về tác phẩm văn chương, nhận thức đúng vấn đề nghị luận Khi làm bài họcsinh biết nhận xét, đánh giá, bình luận vấn đề, hiểu đúng đắn những khái niệm,thuật ngữ văn học, đây là những tri thức khái quát rất quan trọng, bởi lẽ dạy vănkhông chỉ dừng lại ở chỗ giúp người học cảm thụ được vẻ đẹp của từng tác phẩmvăn chương cụ thể, mặt khác góp phần trang bị cho các em những kiến thức công
cụ để có thể tự mình tiếp nhận văn học một cách có lý luận, tiếp nhận văn học mộtcách văn học và có thể vận dụng vào các bài làm văn một cách có hiệu quả Muốnvậy, không thể không trang bị cho học sinh một vốn liếng lí luận cần thiết
Trang 3Tri thức lí luận văn học là tri thức công cụ, tri thức phương pháp, là kiếnthức siêu kiến thức, giúp cho việc đọc văn có phương pháp, phù hợp với bản chấtđặc trưng của văn học, đồng thời giúp phân tích, lí giải tác phẩm văn chương mộtcách đầy đủ và sâu sắc Nếu không, những kiến thức mà học sinh có được cũng chỉ
là những kiến thức vụn vặt, cảm tính, mang tính tư liệu Mục đích cuối cùng và caonhất của dạy học trong nhà trường hiện đại là phát triển toàn diện học sinh Mụcđích của dạy đọc hiểu văn bản và làm văn là rèn luyện và phát triển khả năng tựhọc, tự đọc và tạo lập văn bản ở các em
Tri thức lí luận văn học góp phần nâng cao trình độ trong tiếp nhận văn học,củng cố và mở rộng vốn văn hóa đọc cũng như phát triển năng lực, kĩ năng đọc văncho học sinh Như vậy, lí luận văn học trong nhà trường phổ thông giữ một vị tríquan trọng vì đó là những kiến thức cơ bản nhất về lí thuyết để cung cấp bước đầucho học sinh tìm hiểu, tiếp xúc với từng tác phẩm văn chương cụ thể Nó được xemnhư là những kiến thức nhập môn có tính chất mở đường hướng dẫn cho học sinh
đi sâu vào bản thể từng tác phẩm và nâng cao cảm thụ thẩm mĩ
Thực tế những năm học gần đây, Bộ Giáo dục đã thực hiện chương trìnhgiảm tải, tích cực đổi mới phương pháp dạy học trong đó có môn Ngữ Văn THPT.Giáo viên có điều kiện trong việc cung cấp kiến thức lí luận văn học trong các giờđọc hiểu văn bản và thực hành làm văn Song một thực tế cho thấy rằng việc đưanhững kiến thức lí luận vào trong chương trình giảng dạy môn Ngữ Văn còn ít, tiếtthực hành còn hạn chế Học sinh thì còn xa lạ vì chưa hiểu đúng về bản chất củaviệc tiếp nhận các tác phẩm văn chương là từ việc hiểu các kiến thức lí luận vănhọc Vì vậy trong các bài viết thực hành của học sinh, phần lí luận văn học còn bỏngỏ hoặc hiểu chưa sâu, chưa đúng các khái niệm, thuật ngữ văn học.Thêm vào đó,trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay, có những tác phẩm được đưa vàotrong chương trình đòi hỏi học sinh phải được trang bị những hiểu biết về lí luậnvăn học thì mới có thể giải mã, phát hiện, khám phá những nét đặc sắc của nó Cho
Trang 4nên, bản thân còn khá lúng túng trong việc tiếp cận và tìm ra phương pháp thíchhợp để tổ chức quá trình cảm thụ, tiếp nhận cho học sinh.
Xuất phát từ những yêu cầu đó, là một giáo viên dạy môn Ngữ Văn và bảnthân cũng ý thức được rằng muốn cho các em cảm thụ tốt những tác phẩm vănchương và thực hành tốt trong các bài làm văn thì cần trang bị cho các em kiếnthức lí luận văn học làm nền tảng Là một giáo viên trực tiếp đứng lớp tôi luônmong muốn học sinh của mình vừa được trang bị kiến thức đầy đủ, vừa có kĩ năng
vận dụng những kiến thức đó vào thực tế Vì vậy tôi mạnh dạn chọn đề tài “Vận dụng kiến thức lí luận văn học vào việc đọc hiểu văn bản và làm văn.” mà bản thân
tôi nhận thấy có hiệu quả trong quá trình tiến hành
- Các đơn vị kiến thức được trình bày cụ thể, có tính ứng dụng cao, sát thực
tế giúp giáo viên và học sinh dễ hiểu, dễ vận dụng
3 Đối tượng nghiên cứu:
- Sáng kiến kinh nghiệm“Vận dụng kiến thức lí luận văn học vào việc đọc hiểu văn bản và làm văn.” Tập trung nghiên cứu kiến thức lí luận văn học về mặt lý
thuyết và áp dụng vào việc đọc hiểu văn bản và làm văn nghị luận văn học ở đơn vịnơi tôi đang công tác trong những năm qua đã được tiến hành
- Nghiên cứu được tiến hành trên các lớp tương đương nhau về học lực Đó
là các em học sinh lớp 10, 11, 12 (2018- 2019) và các em học sinh lớp 10,11,12 năm học (2019- 2020) của trường THPT nơi tôi đang công tác
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: nghiên cứu kiến thức lí luận về văn học
để nắm được đặc trưng và cách thức dạy học
Trang 5- Phương pháp điều tra và khảo sát: Khảo sát sách giáo khoa, sách giáo
viên, sách tham khảo; các bài viết, bài phân tích của một số nhà giáo, nhà nghiên cứu
về các tác phẩm được học trong chương trình ngữ văn ở trường phổ thông
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Dùng để xử lý các tư liệu và ý kiến
nghiên cứu của các nhà giáo, nhà phê bình, nghiên cứu nhằm làm rõ các quan điểmtrong việc giảng dạy
- Phương pháp quan sát: Nhằm chính xác hóa và phong phú thêm các số
liệu đã thu được bằng cách quan sát việc học tập của học sinh trong giờ học
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
II CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Quan niệm về lí luận văn học
Lý luận văn học là một bộ môn của khoa nghiên cứu văn học có nhiệm vụnghiên cứu bản chất, chức năng xã hội và thẩm mỹ, quy luật phát triển của sáng tácvăn học, có tác dụng xác định phương pháp luận và phương pháp phân tích vănhọc
Các vấn đề của lý luận văn học gồm có ba nhóm : Lý thuyết về các đặc trưngphản ánh đời sống hiện thực bằng hình tượng nghệ thuật, lý thuyết về cấu trúc củatác phẩm văn học và lý thuyết về quá trình văn học Nhóm thứ nhất gồm các khái
niệm : tính hình tượng, tính nghệ thuật, lý tưởng thẩm mỹ, thế giới quan và phương pháp sáng tác, tính nhân dân, tính giai cấp, tính đảng, các nguyên tắc đánh giá sáng
tác văn học nói chung Nhóm thứ hai gồm các khái niệm : nội dung và hình thức
văn học như đề tài, chủ đề, cảm hứng chủ đạo, tư tưởng, tính cách, nhân vật, kết cấu, cốt truyện, các vấn đề phong cách văn học, luật thơ và thi pháp học lý thuyết Nhóm thứ ba gồm các khái niệm : phong cách, phương pháp sáng tác, trào lưu, dòng, khuynh hướng văn học, các thể loại văn học, cuối cùng là quá trình văn học
Trang 62 Mục tiêu, nguyên tắc vận dụng kiến thức lí luận văn học vào việc đọc hiểu văn bản và làm văn
a Mục tiêu:
Trang bị cho học sinh những kiến thức về lí luận văn học và thấy được sựcần thiết của việc vận dụng kiến thức lí luận văn học vào việc đọc hiểu văn bản vàlàm văn trong nhà trường Trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những kĩ năng đểcảm thụ tác phẩm văn chương một cách sâu sắc, đồng thời tạo thói quen vận dụngkiến thức lí luận văn học vào việc làm văn một cách tích cực có hiệu quả
b Nguyên tắc:
Việc vận dụng kiến thức lí luận văn học vào đọc hiểu văn bản và làm vănkhông thể hình thành ngày một, ngày hai mà phải qua một quá trình từ nhận thứcđến hình thành kĩ năng, mà điều này không phải bất kì học sinh nào cũng làm được
vì vậy cần có sự nổ lực, khéo léo từ phía người dạy và người học
3 Nội dung vận dụng kiến thức lí luận văn học vào đọc hiểu văn bản và làm văn:
Mục tiêu đổi mới giáo dục của Đảng và Nhà nước ta trong thời kì đổi mớinhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học đồng thời hài hòa đức, trí, thể,mĩ; dạy chữ, dạy người, dạy nghề Vậy nên không chỉ riêng môn Ngữ Văn mà tất
cả các môn học khác phải xem đây là mục tiêu hướng đến của môn học mình Vậndụng kiến thức đã học để thực hành, ứng dụng là một trong những nội dung cầnthiết được lồng ghép vào trong các tiết học, nhằm tạo điều kiện cho học sinh pháttriển toàn diện Tuy nhiên đây không phải là lồng ghép, tích hợp thêm mà đượcxem là một phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, để cho học sinh có cơ hội thựchành, trải nghiệm trong quá trình học tập
III CƠ SỞ THỰC TIỄN
Qua khảo sát chương trình Ngữ Văn của cấp THPT thì tôi nhận thấy rằng,trong chương trình có sự xuất hiện nhiều tác phẩm ở nhiều thể loại, mà việc tổ chứcquá trình đọc hiểu không hề đơn giản, nhiều tác phẩm có nhiều cách tiếp cận, khai
Trang 7thác khác nhau Vì thế, bản thân giáo viên cũng như học sinh cần được trang bịnhững tri thức về lí luận văn học và biết cách vận dụng những tri thức này vào quátrình tiếp nhận thì mới có thể lĩnh hội được cái hay, cái đẹp của tác phẩm Việcphân tích các tác phẩm này sẽ có ý nghĩa mở ra hướng tiếp cận, khám phá cho họcsinh trong quá trình đọc hiểu các văn bản khác Từ đó, trang bị cho học sinh nhữngkiến thức công cụ nhằm nâng cao, hoàn thiện phương pháp đọc hiểu tác phẩm ở các
em Điều đó có nghĩa là cần tích cực hình thành cho học sinh một cách đọc đốithoại, đọc đồng sáng tạo để học sinh có thể cảm nhận và phân tích tác phẩm mộtcách chủ động Để các em đến với văn học và tìm hiểu giá trị của các tác phẩm vănchương không chỉ đơn thuần bằng những rung động cảm tính mà thực sự khám phátác phẩm một cách có khoa học, có lý luận Đây là một đòi hỏi mang tính chất bắtbuộc trong yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học đọc văn ở nhà trường phổ thôngtrong giai đoạn hiện nay
Tuy nhiên, về phía giáo viên vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức trongquá trình thực hiện.Vừa phải đảm bảo nội dung kiến thức về lí luận văn học, vừakhéo léo để hướng các em nhận thức được những kĩ năng để vận dụng bài làm vănthực hành, mặc dù đã có nhiều giáo viên tích cực thực hiện nhưng kết quả thu đượckhông như mong muốn
Hơn thế, một số giáo viên một mặt ý thức được tầm quan trọng của việc vậndụng kiến thức lí luận văn học vào đọc hiểu văn bản và làm văn , nhưng chưa đầu
tư thật thỏa đáng các tiết dạy lí luận văn học trong chương trình, để từ đó tích hợpđọc hiểu và làm văn, kiến thức được giáo viên cung cấp còn hời hợt, học sinhkhông nắm chắc, từ đó việc vận dụng không hiệu quả
Tâm lý chung của học sinh khi hắc tới lí luận văn học là rất ngại vì đây làvùng kiến thức vốn khô khan và trừu tượng nên đa số học sinh không có hứng thútiếp cận và vận dụng lí luận văn học trong chương trình, để từ đó tích hợp đọc hiểu
và làm văn
Trang 8Hầu hết học sinh hiện nay ở các tiết học, các em chỉ chú trọng đến việc nắmkiến thức trọng tâm của các bài đọc hiểu văn bản thầy cô truyền dạy trên lớp (cóthể vì áp lực thi cử), còn các kĩ năng vận dụng thì số ít học sinh quan tâm nên việcvận dụng lí luận văn học trong chương trình, để từ đó tích hợp đọc hiểu và làm vănchưa nhuần nhuyễn, chưa hợp lí.
Đặc biệt, với xu hướng học lệch, học theo ban, chọn ngành nghề theo khốihiện nay tạo ra rất nhiều bất cập trong việc lựa chọn môn học Các môn xã hội có
xu hướng bị coi nhẹ Môn Ngữ văn cũng không nằm ngoài xu hướng ấy Nhiều họcsinh cho rằng Ngữ văn là môn khoa học xã hội, tính ứng dụng không cao, khôngthiết thực với cuộc sống, công việc Từ đó, dẫn đến tình trạng chán học văn, hoặchọc mang tính đối phó
IV NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Những kiến thức lí luận cần cung cấp cho học sinh trong quá trình đọc hiểu văn bản.
Lí luận văn học là công cụ về lí thuyết để trang bị cho học sinh những hiểubiết cơ bản về bản chất của văn học, cấu trúc loại hình của tác phẩm, đặc trưng củacác thể loại văn học Từ những hiểu biết này, học sinh được trang bị lối tiếp cận tácphẩm theo đúng đặc trưng thể loại của nó, tìm đúng kênh giao tiếp trong quá trìnhcảm thụ tác phẩm văn chương Những tri thức lí luận văn học cung cấp cho họcsinh “chìa khoá” để đọc hiểu tác phẩm Vì vậy, trước khi cho các em nắm nội dungtác phẩm giáo viên cần cung cấp những kiến thức lí luận cơ bản để các em dễ dàngtiếp nhận một cách sâu sắc hơn, khoa học hơn những tác phẩm văn chương
1.1 Những hiểu biết về một số thể loại văn học Trong giới hạn của đề tài, chỉ đề
cập đến một số khái niệm cơ bản giúp cho các em hiểu về đặc trưng thể loại, để từ
đó dễ dàng tiếp cận và hiểu sâu sắc hơn các tác phẩm văn học
a Thơ trữ tình:
Thuật ngữ dùng chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình Trong đó, những cảmxúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng của đời
Trang 9sống được thể hiện một cách trực tiếp Tính chất cái thể hóa của cảm nghĩ và tínhchất chủ quan hóa của sự thể hiện là những dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình Làtiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạpcủa thế giới nội tâm, từ các cung bậc của tác phẩm cho tới những chính kiến, những
tư tưởng triết học (Từ điển Thuật ngữ văn học)
Bản chất của thơ là thể hiện cảm xúc bằng phương pháp trữ tình, thơ khôngchỉ diễn tả những rung cảm ngọt ngào, trữ tình mà còn phơi bày hiện thực trần trụi,giản dị, mộc mạc Mỗi rung động của nhà thơ là cảm xúc mãnh liệt dồn tụ trên đầubút, song những rung động đó phụ thuộc vào thế giới quan, nhân sinh quan của mỗinhà thơ
Ở trường phổ thông hiện nay, hiện tượng học sinh ít hiểu biết về thơ, ít yêuthơ không phải là điều hiếm gặp Thậm chí với nhiều em, thế giới thơ hoàn toàn làmột thế giới xa lạ Để tìm được con đường đưa thơ đến với học sinh dù là thơ cổđiển hay hiện đại thì mỗi giáo viên cần trang bị cho học sinh một số kiến thức líluận văn học cơ bản:
- Giảng thơ chủ yếu là giảng hình tượng thơ, là qua hình thức để giảng nộidung, là thông qua việc phân tích các yếu tố về loại thể, kết cấu, ngôn ngữ để làmsống dậy hình tượng với tất cả vẻ đẹp, chiều sâu của nó
- Tìm hiểu về hình tượng cái tôi trữ tình trong thơ Nếu trong thơ trung đại,thường không có sự hiện diện trực tiếp của cái tôi chủ thể trữ tình thì trong thơ hiệnđại, cái tôi của chủ thể trữ tình thường công khai và có ý thức mạnh mẽ tự biểuhiện, không chỉ xúc cảm, quan niệm về thế giới mà còn cả những điều thầm kínriêng tư nhất Điều này có nghĩa là phải tìm cho được cách kết cấu của bài thơ
“Mỗi tác phẩm là một cấu trúc bao gồm nhiều yếu tố, nhiều bộ phận, thành phầnphức tạp Toàn bộ những yếu tố, thành phần đó sắp xếp, gắn với nhau theo mộtkiểu gọi là kết cấu của tác phẩm” Kết cấu chi phối việc tổ chức mọi yếu tố của bàithơ như: ngôn từ, chất liệu, hình ảnh, hình tượng, giọng điệu, cảm xúc, ý tưởng,nhưng yếu tố cơ bản quy định nên kết cấu của bài thơ chính là mạch diễn biến của
Trang 10cảm xúc và ý tưởng Kết cấu bộc lộ tài năng và tính sáng tạo của người nghệ sĩ,đồng thời phản ánh được quy luật vận động và phát triển của đời sống Ngôn ngữ làchất liệu để người nghệ sĩ vẽ nên bức tranh đời sống và truyền đạt những thôngđiệp tư tưởng–thẩm mĩ đến người đọc Ngôn từ tác phẩm chính là chiếc cầu nốigiữa nhà văn và người đọc Như vậy, ngôn ngữ chính là công cụ, chất liệu cơ bảncủa văn học, được chọn lọc, rèn giũa qua lao động nghệ thuật của người nghệ sĩ.Ngôn ngữ là một trong những yếu tố quan trọng thể hiện các tính sáng tạo, phongcách, tài năng của người cầm bút.
b Khái niệm về truyện: Truyện - tự sự là phương thức tái hiện đời sống, bên cạnh
hai phương thức khác là trữ tình và kịch được dùng làm cơ sở để phân loại các tácphẩm văn học Truyện là phương thức phản ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố
và hành vi con người làm cho tác phẩm tự sự trở thành một câu chuyện về ai đóhay về cái gì đó Cho nên tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện cốt truyệnđược khắc họa nhờ một hệ thống chi tiết nghệ thuật phong phú, đa dạng, bao gồmchi tiết, sự kiện, xung đột, chi tiết nội tâm, ngoại hình của nhân vật, chi tiết tínhcách đời sống, văn hóa, lịch sử, lại còn có cả những chi tiết liên tưởng, tưởngtượng, hoang đường mà không nghệ thuật nào tái hiện được (Từ điển Thuật ngữvăn học) Về hình thái biểu hiện của văn xuôi là tiếng nói đi sát với đời sống hằngngày, là tiếng nói tự nhiên giàu chất liệu và sức sống hiện thực
Kí là thể loại in đậm dấu ấn hình tượng tác giả Người viết kí không ẩn mình
mà trực tiếp viết ra những gì mình chứng kiến, quan sát Cái tôi tác giả kể, thôngtin, miêu tả hoặc dẫn dắt người đọc tiếp cận cuộc sống, con người Ngôn ngữ kí chủ
Trang 11yếu là ngôn ngữ của tác giả Là thể loại nhanh nhạy, kí phản ánh kịp thời nhữngvấn đề sôi bỏng của đời sống, nên ngôn ngữ kí gần với ngôn ngữ đời thường Cấutrúc tác phẩm kí thường theo trục tuyến thời gian, cảm xúc, sự kiện Thể loại kí cónhững thể cơ bản sau: bút kí, sử kí, phóng sự, tuỳ bút, kí sự, hồi kí, nhật kí (Từđiển Thuật ngữ văn học)
Mục đích của hoạt động này giúp các em hiểu đúng về đặc trưng về thể loại
tư duy, sáng tạo hơn trong khi tiếp nhận kiến thức từ tác phẩm, không thụ độngđóng khuôn kiến thức sách vở Bởi người đọc, người tiếp nhận cũng là người đồngsáng tạo
1.2 Các nhóm lý thuyết về các đặc trưng phản ánh đời sống hiện thực bằng hình tượng nghệ thuật, về cấu trúc của tác phẩm văn học và lý thuyết về quá trình văn học.
1.2.1 Quan điểm sáng tác:
Nhà văn nào cũng có quan điểm sáng tác nhưng để tạo thành một hệ thống quan điểm có giá trị ổn định, nhất quán thì không phải nhà văn nào cũng làm được.
Đối với phần kiến thức này tôi cung cấp thêm cho học sinh trong quá trình
dạy tiết đọc hiểu văn bản ở một số tác giả, tác phẩm trong chương trình như: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu; Hồ Chí Minh; Nam Cao;….
a Định nghĩa:
Quan điểm sáng tác là chỗ đứng, điểm nhìn của nhà văn trong quá trình
sáng tác, được phản ánh qua tác phẩm văn học Nói cách khác là lập trường tưtưởng, thái độ của nhà văn đối với hiện thực được thể hiện thông qua thế giới nghệthuật trong tác phẩm văn học
Trang 12c Ví dụ:
- Quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh:
+ Văn học là vũ khí lợi hại phục vụ sự nghiệp cách mạng, nhà văn là người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận văn hoá tư tưởng
+ Văn học phải có tính chân thật, tính dân tộc.
+ Cách viết: xuất phát từ mục đích viết và đối tượng tiếp nhận để xác định nội dung và hình thức viết.
- Quan điểm sáng tác của Nam Cao:
+ Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay, làm theo vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương phải khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có.( Đời Thừa ) Văn chương là phải sáng tạo, khám phá; là lĩnh vực của cái độc
đáo
+ “ Nghệ thuật không cần là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối Nghệ thuật chỉ có thể là những tiếng đau khổ kia thốt lên từ những kiếp lầm than”(Trăng sáng) Nghệ thuật phải gắn bó với hiện thực đời sống, phản ánh hiện
thực
+ “ Văn chương phải làm cho người gần người hơn”, “ phải là những tác phẩm không biên giới” Văn chương phải chứa đựng tư tưởng nhân đạo.
1.2.2 Phong cách nghệ thuật:
a Định nghĩa: Là những nét riêng, có tính hệ thống, tương đối ổn định được thể
hiện trong sáng tác của một nhà văn, nhà thơ
b Đặc điểm:
- Thiên về hình thức nghệ thuật
- Có sự thống nhất và vận động trong quá trình sáng tác c Vai trò:
- Là một trong những điều kiện quan trọng để đánh giá vị trí, tài năng của nghệ sĩ Một nhà văn lớn phải là nhà văn có phong cách
- Thể hiện bản chất của văn chương: Văn chương là hoạt động sáng tạo