1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG của các CHÍNH SÁCH TIỀN tệ đến HOẠT ĐỘNG tín DỤNG của các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAMẢNH HƯỞNG của các CHÍNH SÁCH TIỀN tệ đến HOẠT ĐỘNG tín DỤNG của các NGÂN

63 2,2K 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Ảnh Hưởng Của Các Chính Sách Tiền Tệ Đến Hoạt Động Tín Dụng Của Các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam
Tác giả Phạm Minh Hoàng
Người hướng dẫn GVHD: Nguyễn Thị Liên Hoa
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài chính ngân hàng
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 749 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng hợp những phương thức mà qua đó ngân hàng trung ương tạo ra các biến động về tiền tệ nói trên hợp thànhchính sách tiền tệ Như vậy chúng ta có thể hiểu, chính sách tiền tệ là tổng hò

Trang 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Một số khái niệm cơ bản về các chính sách tiền tệ

1.1.1 Khái niệm về chính sách tiền tệ

Như chúng ta đã biết, trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, nếu khốilượng tiền tệ trong lưu thông thay đổi, thì giá trị đại diện của các đơn vị tiền tệthay đổi Từ đó, giá cả hàng hóa, giá trị tài sản và thu nhập của nhân dân, cũngnhư thu nhập quốc dân thay đổi Do vậy, bằng cách tạo ra các biến động về tiền tệ,ngân hàng trung ương có thể hướng dẫn những biến động nhất định trong đời sống

và hoạt động kinh tế của quốc gia, của cộng đồng Tổng hợp những phương thức

mà qua đó ngân hàng trung ương tạo ra các biến động về tiền tệ nói trên hợp thànhchính sách tiền tệ

Như vậy chúng ta có thể hiểu, chính sách tiền tệ là tổng hòa những phươngthức mà ngân hàng trung ương thông qua các hoạt động của mình tác động đếnkhối lượng tiền trong lưu thông, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội củađất nước trong một thời kỳ nhất định Nó là một bộ phận quan trọng trong hệthống các chính sách kinh tế - tài chính vĩ mô của chính phủ

1.1.2 Mục tiêu của chính sách tiền tệ :

Mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ là tăng trưởng kinh tế, tạo công

ăn việc làm và kiểm soát lạm phát

a Phát triển kinh tế, gia tăng sản lượng :

Sự tác động vào quá trình phát triển kinh tế, gia tăng sản lượng do nhiềuyếu tố khác nhau và rất phức tạp Nhưng có 1 điều chắc chắn là muốn kinh tế tăngtrưởng thì nhất thiết phải thực hiện tái sản xuất mở rộng trên cơ sở khai thác triệt

để các nguồn vốn tiềm năng trong và ngoài nước

Trang 2

Trong việc thực hiện mục tiêu này vai trò của ngân hàng là rất quan trọng.Với chức năng là trung tâm tín dụng, dưới sự chỉ đạo của ngân hàng trung ươngthông qua chính sách tiền tệ, các ngân hàng sẽ huy động một cách triệt để cácnguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội, trên cơ sở đó phân phối lại cho các đơn

vị kinh tế sử dụng để bổ sung thêm một bộ phận tài nguyên trong và ngoài nướcvào phát triển kinh tế

b Tạo công ăn việc làm :

Trong nền kinh tế thị trường, khi sức lao động trở thành hàng hóa thì hiệntượng thất nghiệp là một hiện tượng tất yếu xảy ra Do vậy tạo công ăn việc làm làmột yêu cầu bức thiết và thường trực của các quốc gia

Việc làm nhiều hay ít, tăng hay giảm, nói chung chủ yếu phụ thuộc vào tìnhhình tăng trưởng kinh tế Khi nền kinh tế được mở rộng và phát triển thì việc làmđược tạo ra nhiều hơn, thất nghiệp giảm, và ngược lại Tuy nhiên cũng cần phảilưu ý rằng khi tăng trưởng kinh tế đạt được do kết quả của việc cải tiến kỹ thuật thìviệc làm có thể không tăng mà còn giảm

Vai trò của ngân hàng trung ương khi thực hiện mục tiêu này là phải vậndụng các công cụ của mình góp phần tăng cường đầu tư mở rộng sản xuất – kinhdoanh Mặt khác phải tham gia tích cực vào việc chống suy thoái kinh tế theo chu

kỳ, tạo ra sự tăng trưởng kinh tế ổn định, vững chắc nhằm mục đích khống chế tỷ

lệ thất nghiệp không vượt quá tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, tạo ra 1 lượng công ănviệc làm cao

Trang 3

ra Mà một nền kinh tế chỉ có thể tăng trưởng được trong một môi trường ổn định

về tiền tệ - giá cả Trong điều kiện đó ngân hàng trung ương phải luôn coi kiểmsoát lạm phát là một trong những mục tiêu của chính sách tiền tệ

Thường thì lạm phát vừa phải là mục tiêu phấn đấu của các ngân hàng trungương trong vấn đề kiểm soát lạm phát Vì theo kết quả nghiên cứu được công bốnăm 1960 của nhà kinh tế học người Mỹ, A.W Philips, thì lạm phát và thất nghiệp

tỷ lệ nghịch với nhau Cụ thể cứ giảm 1% lạm phát thì tỷ lệ thất nghiệp tăng 2%,mặt khác, mức lạm phát quá thấp thì kinh tế dễ rơi vào tình trạng suy thoái Màtăng trưởng kinh tế, khống chế tỷ lệ thất nghiệp và kiểm soát lạm phát đều là mụctiêu cần đạt đến của chính sách tiền tệ

Rõ ràng sự phối hợp của ba mục tiêu: tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việclàm và kiểm soát lạm phát là rất quan trọng Bởi vì, không phải cùng một lúc mà

cả ba mục tiêu đó đều có thể thực hiện được mà không có sự mâu thuẫn với nhau

Do vậy, khi đặt ra các mục tiêu cho chính sách tiền tệ, cần có sự dung hòa Cụ thể

là phải tùy lúc, tùy thời, tùy điều kiện cụ thể mà sắp xếp thứ tự ưu tiên Muốn vậy,ngân hàng trung ương phải luôn nắm bắt được thực tế diễn biến của quá trình thựchiện các mục tiêu, nhằm điều chỉnh chúng khi có sự thay đổi bằng những giải phápthích hợp

1.1.3 Những công cụ để thực thi chính sách tiền tệ :

a Dự trữ bắt buộc :

Dự trữ bắt buộc là phần tiền gửi mà các ngân hàng trung gian phải đưa vào

dự trữ theo luật định Mức dự trữ bắt buộc cao hay thấp phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữbắt buộc – do ngân hàng trung ương quy định – cao hay thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc

là tỷ lệ phần trăm trên lượng tiền gửi mà ngân hàng trung gian huy động được,phải để dưới dạng dự trữ Như vậy mỗi ngân hàng chỉ được cho vay số tiền còn lạisau khi đã trừ phần dự trữ bắt buộc Qua đó với việc tăng hoặc giảm tỷ lệ dự trữ

Trang 4

bắt buộc, ngân hàng trung ương có thể hạn chế hoặc bành trướng khối tiền tệ mà

hệ thống ngân hàng có khả năng cung ứng cho nền kinh tế

Một cách khái quát, khi ngân hàng trung ương tăng hoặc giảm tỷ lệ dự trữbắt buộc thì ngân hàng trung ương có thể làm giảm hoặc tăng hệ số tạo tiền củangân hàng trung gian, và kết quả là khối tín dụng mà các ngân hàng trung gian cóthể cung ứng cho nền kinh tế giảm hoặc tăng Nhìn chung, dự trữ bắt buộc là công

cụ mang tính chất hành chính của ngân hàng trung ương, nhằm điều tiết mức cungtiền tệ của ngân hàng trung gian cho nền kinh tế, thông qua hệ số tạo tiền

Ưu điểm của việc sử dụng dự trữ bắt buộc để kiểm soát cung tiền tệ là nó

có thể tác động đến tất cả các ngân hàng như nhau và tác động một cách đầyquyền lực Mặt khác chỉ cần một sự thay đổi nhỏ của tỷ lệ dự trữ bắt buộc thì tácđộng của nó đến khối tiền tệ là rất lớn Tuy nhiên ưu điểm vừa nêu cũng có mặttrái của nó Đó là khi ngân hàng trung ương muốn thay đổi cung tiền tệ ở biên độnhỏ, nó khó có thể thực hiện được nếu sử dụng công cụ này Bên cạnh đó việcthay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ ảnh hưởng đến khả năng thu doanh lợi của cácngân hàng thương mại Hơn nữa nếu thường xuyên thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộccũng sẽ gây ra tình trạng thiếu ổn định cho các ngân hàng thương mại và làm choviệc quản lý khả năng thanh khoản của các ngân hàng này khó khăn hơn Do đó,một sự gia tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đòi hỏi ngân hàng trung ương phải nghiêncứu trước sức chịu đựng của các ngân hàng trung gian, cũng như phải để cho cácngân hàng trung gian một thời gian đủ để tăng khoản dự trữ lên mức bắt buộc mới

b Lãi suất:

Lãi suất là giá cả của quyền sử dụng vốn, việc thay đổi lãi suất sẽ kéo theo

sự biến đổi của chi phí tín dụng, từ đó tác động đến việc thu hẹp hay mở rộng khốilượng tín dụng trong nền kinh tế Do đó lãi suất là một trong những công cụ chủ

Trang 5

phát triển của thị trường tài chính, ngân hàng trung ương có thể sử dụng công cụlãi suất để điều hành chính sách tiền tệ theo các chính sách sau:

Ngân hàng trung ương kiểm soát trực tiếp lãi suất thị trường bằng cách quyđịnh các loại lãi suất sau:

 Lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay theo từng kỳ hạn

 Sàn lãi suất tiền gửi và trần lãi suất cho vay để tạo nên khunglãi suất giới hạn

 Công bố lãi suất cơ bản cộng với biên độ giao dịch…

Ngân hàng trung ương áp dụng chính sách tự do hóa để lãi suất tự hìnhthành theo cơ chế thị trường Và để can thiệp vào lãi suất thị trường, ngân hàngtrung ương có thể gián tiếp can thiệp thông qua các chính sách:

 Công bố lãi suất cơ bản để hướng dẫn lãi suất thị trường

 Sử dụng công cụ lãi suất tái cấp vốn và kết hợp với lãi suất thịtrường mở để can thiệp và điều chỉnh lãi suất thị trường

Thực hiện chính sách tự do hóa lãi suất đòi hỏi nền kinh tế cần có nhữngđiều kiện cơ bản nhất định:

 Môi trường kinh tế vĩ mô ổn định

 Hành lang pháp lý ổn định, hoàn chỉnh và đồng bộ

 Hệ thống ngân hàng hoạt động hữu hiệu, có sức cạnh tranhcao

 Thị trường tài chính vận hành có hiệu quả

 Các nguồn lực trong nước được phân phối và sử dụng hợp lýTrong xu thế hội nhập, việc thực hiện chính sách tự do hóa lãi suất là cầnthiết, song cần tiến hành một cách thận trọng, cân nhắc kỹ càng, tránh nóng vội để

có thể loại bỏ những tác động tiêu cực của nó đối với nền kinh tế

Trang 6

Có thể nói lãi suất vừa là đối tượng quản lý vừa là công cụ quan trọng củachính sách tiền tệ Lãi suất nếu được sử dụng đúng đắn và phù hợp với những điềukiện, tình hình kinh tế trong từng thời kỳ nhất định sẽ có tác dụng trực tiếp đếnkiểm soát lạm phát, kích thích tiết kiệm và đầu tư phát triển, nó cũng ảnh hưởngđến những thay đổi của tỷ giá hối đoái trong mối quan hệ với cán cân thanh toánquốc tế Ngược lại, nếu sử dụng nó cứng nhắc, không phù hợp với điều kiện thực

tế của nền kinh tế, lãi suất lại trở thành vật kiềm hãm, trói buộc nền kinh tế

c Thị trường mở :

Công cụ thị trường mở phản ánh việc ngân hàng trung ương mua hoặc bánnhững chứng từ có giá trên thị trường tài chính công cộng, nhằm đạt đến mục tiêuđiều chỉnh lượng tiền trong lưu thông Các chứng từ có giá mà các ngân hàngtrung ương thường sử dụng để tiến hành nghiệp vụ thị trường mở là các chứngkhoán kho bạc, bởi vì thị trường của những chứng khoán này rất linh hoạt và códung lượng kinh doanh lớn

Khi ngân hàng trung ương đem chứng khoán ra thị trường mở bán nó sẽ thuđược tiền mặt và séc về Điều này có nghĩa là khối lượng tiền mặt cung ứng cholưu thông giảm, làm giảm khả năng cung ứng tín dụng của các ngân hàng trunggian, và như thế cung ứng tiền trong nền kinh tế bị thắt chặt hơn Bên cạnh đó,việc ngân hàng trung ương bán chứng khoán ra thị trường mở sẽ làm tăng cungchứng khoán, trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, giá chứng khoán này sẽ

hạ, và do vậy, lãi suất của chứng khoán tăng lên Lãi suất của chứng khoán tăngbuộc các ngân hàng trung gian phải tăng lãi suất ngân hàng lên theo để tránh tìnhtrạng công chúng rút tiền ra khỏi ngân hàng đem đầu tư vào chứng khoán, nghĩa làgián tiếp thắt chặt thêm khối tiền tệ

Ngược lại, khi ngân hàng trung ương đem tiền mặt hoặc séc mua chứng

Trang 7

ngân hàng thương mại tăng lên Mặt khác, việc ngân hàng trung ương mua chứngkhoán sẽ làm tăng cầu về chứng khoán, trong điều kiện các nhân tố khác khôngđổi, giá chứng khoán sẽ tăng, dẫn đến lãi suất chứng khoán giảm, và đến lượt lãisuất ngân hàng giảm, kích thích doanh nghiệp đi vay, nghĩa là một cách bànhtrướng khối tiền tệ.

Với cách vận hành như trên, nghiệp vụ thị trường mở có một số ưu điểmhơn so với các công cụ khác của chính sách tiền tệ Cụ thể:

 Ngân hàng trung ương có thể chủ động tiến hành mà khôngphải phụ thuộc vào nhu cầu của các ngân hàng trung gian

 Nghiệp vụ này tương đối linh hoạt và chính xác, có thể sửdụng ở bất kỳ mức độ nào Nếu mong muốn của ngân hàng trung ương

là thay đổi dự trữ của các ngân hàng ở biên độ lớn, nó sẽ mua hoặc bánnhiều chứng khoán Và ngược lại, muốn thay đổi dự trữ của các ngânhàng trung gian ở biên độ nhỏ, ngân hàng trung ương sẽ thực hiện mua

và bán một ít chứng khoán thôi

 Nghiệp vụ thị trường mở dễ dàng được đảo ngược lại khi cómột sai lầm xảy ra trong lúc tiến hành Giả sử ngân hàng trung ươngthấy rằng cung ứng tiền tệ tăng quá nhanh do nó mua trên thị trường mởquá nhiều, thì nó có thể sửa chữa ngay lập tức bằng cách tiến hànhnghiệp vụ bán trên thị trường mở, và ngược lại

 Nghiệp vụ thị trường mở có thể được hoàn thành nhanhchóng, không gây nên những chậm trễ về mặt hành chính

Tuy nhiên, để phát huy hết hiệu quả của công cụ này, đòi hỏi hầu hết tiềnlưu thông phải nằm ở tài khoản của ngân hàng, nghĩa là phải có sự phát triển caocủa cơ chế thanh toán không dùng tiền mặt Mặt khác, phải có một thị trường tàichính phát triển Vì vậy công cụ này được sử dụng thường xuyên nhất, hiệu quả

Trang 8

nhất đối với ngân hàng trung ương của các nước công nghiệp phát triển – nơi cócông nghệ ngân hàng tiên tiến và thị trường tài chính hoàn chỉnh Còn đối với cácnước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, việc sử dụng công cụ này chưa manglại hiệu quả cao.

d Tỷ giá hối đoái :

Tỷ giá hối đoái là đại lượng biểu thị mối tương quan về mặt giá trị giữa haiđồng tiền Nói cách khác, tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước nàyđược biểu hiện bằng một số lượng đơn vị tiền tệ nước khác

Sự biến đổi của tỷ giá hối đoái có tác động mạnh mẽ đến mọi hoạt độngkinh tế, từ hoạt động xuất nhập khẩu đến sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trongnước qua biến đổi của giá cả hàng hóa Do vậy, tỷ giá hối đoái là một công cụ đểngân hàng trung ương thực thi chính sách tiền tệ của mình Tuy nhiên, khi vậndụng công cụ này, không phải là việc ngân hàng trung ương đẩy tỷ giá lên cao haykéo tỷ giá xuống thấp, mà là ổn định tỷ giá ở một mức độ nào đó được coi là hợp

lý, phù hợp với đặc điểm, điều kiện thực tế của đất nước trong từng giai đoạn, đểtác động chung cuộc của nó đối với nền kinh tế là tốt nhất

Khi vận hành công cụ tỷ giá hối đoái, ngân hàng trung ương có thể ấn định

tỷ giá cố định, hoặc thả nổi tỷ giá theo quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trườngngoại hối Giữa hai thái cực: tỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi hoàn toàn, còn cónhiều tỷ giá khác như: tỷ giá cố định nhưng di động khi cần thiết, tỷ giá thả nổi cóquản lý

Tỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi hoàn toàn đều có những nhược điểm cơbản Cụ thể, cung cầu ngoại hối biến đổi không ngừng, do vậy, nếu ngân hàngtrung ương ấn định một mức tỷ giá cố định, thì có nghĩa là ngân hàng trung ương

đã vi phạm một trong những quy luật kinh tế khách quan (quy luật cung – cầu)

Trang 9

trạng thăng trầm của tỷ giá hối đoái tất yếu xảy ra, và kéo theo nó là sự thăng trầmcủa nền kinh tế.

Tỷ giá cố định nhưng di động khi cần thiết là tỷ giá do ngân hàng trungương ấn định, nhưng tùy theo tình hình, tỷ giá đó có thể được ấn định lại cho sátvới thực tế Cách vận hành này chỉ có hiệu quả khi tình hình ngoại hối biến đổichậm Còn trường hợp tình hình ngoại hối biến đổi thường xuyên thì một sự chậmtrễ trong thay đổi tỷ giá ấn định thường mang đến thiệt hại cho các ngành hoạtđộng kinh tế trong nước

Tỷ giá thả nổi có quản lý là tỷ giá được hình thành trên cơ sở quan hệ cung– cầu ngoại hối, nhưng khi cần thiết, ngân hàng trung ương có thể can thiệp bằngnhững biện pháp thích hợp, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tác động vào quan hệcung - cầu ngoại tệ, từ đó có thể ổn định được tỷ giá

Biện pháp chủ yếu mà các ngân hàng trung ương thường sử dụng để canthiệp vào cung – cầu ngoại tệ là sử dụng dự trữ ngoại hối và quỹ bình ổn hối đoái

Cụ thể là khi tỷ giá hối đoái tăng cao, ngân hàng trung ương tung ngoại tệ bán, làmcho khả năng cung ngoại tệ trên thị trường tăng lên, trong điều kiện các nhân tốkhác không đổi, tỷ giá sẽ từ từ giảm xuống Ngược lại khi tỷ giá hối đoái giảm,ngân hàng trung ương sẽ mua vào ngoại tệ, làm cho cầu ngoại tệ tăng lên, trongđiều kiện các nhân tố khác không đổi, tỷ giá hối đoái sẽ từ từ tăng lên Tuy nhiêncũng cần lưu ý là, việc ngân hàng trung ương bán hoặc mua ngoại tệ cũng sẽ ảnhhưởng làm cho khối tiền tệ giảm hoặc tăng Do đó nếu ngân hàng trung ươngkhông muốn điều này xảy ra, thì nó có thể thực hiện nghiệp vụ thị trường mở đểtrung hòa ảnh hưởng nói trên, nhất là trong trường hợp ảnh hưởng đó làm trầmtrọng thêm áp lực lạm phát Mặt khác, để áp dụng được biện pháp này hiệu quả,đòi hỏi khối lượng dự trữ ngoại hối phải đủ lớn Do đó, đối với các nước đang pháttriển, việc áp dụng biện pháp này có những hạn chế

Trang 10

e Hạn mức tín dụng :

Bằng công cụ hạn mức tín dụng, ngân hàng trung ương quy định cho cácngân hàng trung gian một hạn mức tăng tín dụng tối đa Như vậy biện pháp nàycho phép ngân hàng trung ương ấn định trước khối lượng tín dụng phải cung cấpcho nền kinh tế trong một thời gian nhất định Đây là một biện pháp mạnh, có hiệulực đáng kể Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, cung cầu tín dụng luôn biếnđộng không ngừng Do đó, công cụ này ít được sử dụng

1.2 Tổng quan về ngân hàng thương mại :

1.2.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty xínghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sửdụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán vàcung ứng các dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên

Ngân hàng thương mại là một loại ngân hàng có số lượng lớn và phổ biếntrong nền kinh tế

Luật tín dụng do Quốc hội khóa X thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1997định nghĩa “ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thựchiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác liên quan”

1.2.2 Chức năng của các ngân hàng thương mại trên thị trường tài chính :

a Trung gian tín dụng :

Trung gian tín dụng là chức năng cơ bản và quan trọng nhất của ngân hàngthương mại, nó không những cho thấy bản chất của ngân hàng thương mại mà còncho thấy nhiệm vụ chính yếu của ngân hàng thương mại Trong chức năng trung

Trang 11

trung, huy động các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế (baogồm tiền tiết kiệm của các tầng lớp dân cư, vốn bằng tiền của các đơn vị, tổ chứckinh tế,…) biến nó thành nguồn vốn tín dụng để cho vay (cấp tín dụng) đáp ứngnhu cầu vốn kinh doanh và vốn đầu tư cho các ngành kinh tế và nhu cầu vốn tiêudùng của xã hội

Chức năng trung gian tín dụng các ngân hàng thương mại thực hiện cácnhiệm vụ sau:

 Nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn của các đơn vị kinh tế,các tổ chức cá nhân và cá nhân bằng đồng tiền trong nước và ngoại tệ

 Nhận tiền gửi tiết kiệm của các tổ chức cá nhân

 Phát hành kỳ phiếu và trái phiếu ngân hàng để huy động vốntrong xã hội

 Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đối với các tổ chứckinh tế và cá nhân

 Chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá đối với các đơn

Trang 12

 Đối với người vay: họ sẽ thỏa mãn được nhu cầu về vốn đểkinh doanh, chi tiêu, thanh toán mà không phải tiêu tốn nhiều chi phí về sứclực, thời gian cho việc tìm kiếm nơi cung ứng vốn tiện lợi, chắc chắn vàhợp pháp.

 Đối với bản thân ngân hàng: ngân hàng sẽ tìm kiếm đượckhoản lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặchoa hồng môi giới Đây là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển củangân hàng thương mại

b Trung gian thanh toán:

Đây là chức năng quan trọng, không những thể hiện khá rõ bản chất củangân hàng thương mại mà còn cho thấy tính “đặc biệt” trong hoạt động của ngânhàng thương mại

Ngân hàng thương mại đứng ra làm trung gian để thực hiện các khoản giaodịch thanh toán giữa các khách hàng, giữa người mua và người bán…để hoàn tấtcác quan hệ kinh tế thương mại giữa họ với nhau

Nhiệm vụ cụ thể của chức năng trung gian thanh toán:

 Mở khóa tài khoản tiền gửi giao dịch cho các tổ chức và cánhân: tất cả các đơn vị kinh tế, các tổ chức cá nhân nếu có nhu cầu đều cóquyền mở tái khoản và giao dịch tại bất kỳ ngân hàng thương mại nào màmình cảm thấy an tâm và tiện lợi, còn đối với các ngân hàng thương mại cónghĩa vụ đáp ứng nhu cầu mở tài khoản và giao dịch của khách hàng nếu họtuân thủ đúng các quy định về việc mở, sử dụng tài khoản giao dịch tạingân hàng Chức năng thanh toán của ngân hàng chỉ được thực hiện thuậnlợi khi các khách hàng tham gia có tài khoản giao dịch tại ngân hàng Dovậy, thủ tục mở tài khoản phải chặt chẽ nhưng đơn giản, đảm bảo bí mật, an

Trang 13

 Quản lý và cung cấp các phương tiện thanh toán cho kháchhàng: thanh toán qua ngân hàng là phương thức thanh toán không dùng tiềnmặt, nó được thực hiện qua việc phản ánh trên sổ sách của ngân hàng Do

đó, các chứng từ dùng làm căn cứ hạch toán vào sổ sách phải chuẩn xác dongân hàng cung cấp và kiểm soát, có như vậy mới đảm bảo cho quá trìnhthanh toán được nhanh chóng, an toàn và chính xác Vì vậy ngân hàng sẽthiết kế và cung cấp cho khách hàng các phương tiện thanh toán khác nhaunhư: giấy chuyển tiền, ủy nhiệm chi, séc, thư tín dụng Những phương tiệnnày vừa đáp ứng nhu cầu quản lý và kiểm soát chặt chẽ, đồng thời đáp ứngyêu cầu linh hoạt, tiện lợi và dễ sử dụng

 Tổ chức và kiểm soát quy trình thanh toán giữa các kháchhàng: để đảm bảo yêu cầu thanh toán nhanh chóng, chính xác, an toàn vàtiện lợi, ngân hàng phải tổ chức kiểm soát quy trình thanh toán giữa cáckhách hàng Tùy theo từng phương thức thanh toán sẽ có những quy trìnhkhác nhau, khách hàng cảm nhận được những tiện ích và ưu điểm của từngphương thức để lựa chọn cho từng giao dịch thanh toán thích hợp

1.3 Hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại:

1.3.1 Khái niệm:

a Khái niệm về tín dụng:

Tín dụng là một phạm trù kinh tế, ra đời và tồn tại qua nhiều hình thái kinh

tế xã hội Từ tín dụng có nguồn gốc từ tiếng Latin là creditium có nghĩa là sự tintưởng, tín nhiệm, dựa trên sự tín nhiệm đó sẽ thực hiện các quan hệ vay mượn mộtlượng giá trị biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc vật chất trong một thời gian nhấtđịnh, ngay cả những giá trị vô hình như tiếng tăm, uy tín để đảm bảo, bảo lãnh cho

sự vận động của một lượng giá trị nào đó Vì vậy nếu ta nghiên cứu tín dụng từphía các quan hệ kinh tế vi mô thì tín dụng là sự vay mượn giữa hai chủ thể kinh tế

Trang 14

giữa người đi vay và người cho vay, trên cơ sở thỏa thuận về thời hạn nợ, mức lãi

cụ thể Còn nếu chúng ta nhìn trên giác độ kinh tế vĩ mô thì tín dụng là sự vậnđộng vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu

Người cho vay trên cơ sở tín nhiệm người đi vay, đó là sự hoàn trả đúnghạn của giá trị tín dụng (cả vốn gốc lẫn lãi) sẽ chuyển giao một lượng giá trị tíndụng cho người đi vay Niềm tin ấy có thể được thực hiện trọn vẹn, chỉ khi nàoquá trình vận động ngược chiều của một lượng giá trị tiền tệ từ người đi vay trở vềngười cho vay, tức quay trở về điểm xuất phát ban đầu Niềm tin sẽ không đượcthực hiện trọn vẹn hoặc không được thực hiện khi khoản vay không được hoàn trảhoặc hoàn trả sai hẹn Từ đó có thể đưa ra khái niệm tổng quát về tín dụng như sau: “ tín dụng là một phạm trù kinh tế chỉ mối quan hệ vay mượn dựa trên nguyêntắc có hoàn trả cả vốn gốc và lãi sau một thời gian nhất định “

b Khái niệm về tín dụng ngân hàng:

Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng, các tổchức tín dụng với bên kia là các pháp nhân hoặc thể nhân trong nền kinh tế quốcdân

Trong nền kinh tế thị trường ngân hàng đóng vai trò là một tổ chức tàichính trung gian, quan hệ tín dụng ngân hàng được thể hiện qua hai khâu:

 Khâu huy động vốn: ngân hàng là một chủ thể đi vay, huyđộng khai thác các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng để hình thànhnên nguồn vốn cho vay Hoạt động này được thực hiện dưới hình thức ngânhàng huy động tiền gửi từ các cá nhân, doanh nghiệp, vay mượn qua cáchợp đồng hoặc dưới hình thức phát hành trái phiếu, kỳ phiếu ngân hàng trênthị trường

 Khâu cho vay: trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngân

Trang 15

cầu về vốn trong nền kinh tế Đối tượng cho vay chủ yếu là các doanhnghiệp, các tổ chúc kinh tế với mục đích sử dụng vốn tín dụng cho các hoạtđộng sản xuất kinh doanh.

1.3.2 Đặc điểm

a Đặc điểm của tín dụng:

Mặc dù quan hệ tín dụng được biểu hiện qua các phương thức rất đa dạng

và phong phú, nhưng nó vẫn mang ba đặc trưng cơ bản sau:

 Chỉ làm thay đổi quyền sử dụng, không làm thay đổi quyền

b Đặc điểm của tín dụng ngân hàng:

 Về hình thức biểu hiện: hoạt động của tín dụng ngân hàngđược thực hiện dưới hình thái tiền tệ gồm tiền mặt và bút tệ Do đặc tính vềlĩnh vực ngành nghề kinh doanh, để tập trung được lượng vốn lớn từ nhiềuchủ thể, cũng như phân phối đáp ứng nhu cầu về vốn cho các chủ thể kịpthời và đầy đủ, ngân hàng vận dụng vốn dưới hình thái tiền tệ để phục vụcho hoạt động kinh doanh của mình

 Chủ thể trong quan hệ tín dụng ngân hàng: ngân hàng thươngmại, các tổ chức tín dụng đóng vai trò là chủ thể trung tâm Ngân hàng vừathực hiện vai trò là chủ thể đi vay trong khâu huy động, vừa thực hiện vaitrò là chủ thể cho vay trong khâu phân phối cho vay

 Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàngkhông hoàn toàn phù hợp với quy mô phát triển của sản xuất và lưu thông

Trang 16

hàng hóa: xuất phát từ đặc điểm tín dụng ngân hàng được cấp dưới hìnhthái tiền tệ có thể đáp ứng các nhu cầu khác nhau ngoài nhu cầu sản xuất vàlưu thông hàng hóa, giá trị của món tín dụng có thể không đồng nhất vớigiá trị mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh trong từng giai đoạn phát triểnkinh tế.

 Trong nền kinh tế thị trường tín dụng ngân hàng trở thànhloại hình tín dụng phổ biến, đáp ứng mọi nhu cầu bổ sung vốn của nền kinh

tế Tín dụng ngân hàng không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn để dự trữvật tư hàng hóa, trang trải chi phí sản xuất, thanh toán các khoản nợ mà còntham gia cấp vốn đầu tư trung, dài hạn, đáp ứng các nhu cầu về đầu tư xâydựng cơ sở hạ tầng, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mua sắm tài sản cố định…Ngoài ra tín dụng ngân hàng còn đáp ứng một phần nhu cầu tiêu dùng cánhân

1.3.3 Phân loại tín dụng:

Tín dụng hoạt động rất đa dạng và phong phú Trong quản lý, để phân tíchđánh giá các hoạt động tín dụng làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách tàichính – tiền tệ, các nhà kinh tế thường dựa trên các chiêu thức sau đây để phânloại

a Căn cứ vào yếu tố thời hạn tín dụng:

Tín dụng bao gồm ba loại:

 Tín dụng ngắn hạn: tín dụng ngắn hạn có thời hạn dưới 1năm, thường đáp ứng nhu cầu bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệphoặc phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng bức thiết của dân cư

 Tín dụng trung hạn: tín dụng trung hạn có thời hạn từ 1-5năm Loại tín dụng này được sử dụng để bổ sung vốn mua sắm tài sản cố

Trang 17

định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình có quy

mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh

 Tín dụng dài hạn: tín dụng dài hạn là loại tín dụng có thời hạntrên 5 năm Tín dụng dài hạn được sử dụng để hỗ trợ vốn xây dựng cơ bản,đầu tư xây dựng các công trình có quy mô lớn, kỹ thuật và công nghệ hiệnđại có thời gian hoàn vốn lâu dài

b Căn cứ vào yếu tố đối tượng của tín dụng: tín dụng được chia làm 2 loại

 Tín dụng vốn lưu động: tín dụng vốn lưu động được thể hiệndưới hình thức cho vay để bổ sung vốn lưu động cho các tổ chức kinh tế

 Tín dụng cố định: là loại tín dụng được cấp để bổ sung vốn cốđịnh hình thành nên tài sản cố định, cãi tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xâydựng các công trình mới

c Căn cứ vào yếu tố mục đích sử dụng vốn:

 Tín dụng sản xuất lưu thông hàng hóa: là loại tín dụng đượccấp cho các chủ thể kinh doanh nhằm hỗ trợ vốn để mở rộng hoạt động sảnxuất và lưu thông hàng hóa

 Tín dụng tiêu dùng: là loại hình tín dụng đáp ứng các nhu cầutiêu dùng của cá nhân

d Căn cứ vào yếu tố chủ thể tham gia vào quan hệ tín dụng :

 Tín dụng thương mại: là loại hình tín dụng được thiết lập giữacác doanh nghiệp , tổ chức sản xuất kinh doanh với nhau Nó được biểuhiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa, dịch vụ

 Tín dụng ngân hàng: là loại tín dụng trong đó chủ thể trọngtâm là ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chínhtrung gian khác Các tổ chức này sẽ thực hiện huy động vốn và sau đó sử

Trang 18

dụng phần vốn này cấp tín dụng cho vay cho các cá nhân, các tổ chức kinh

tế xã hội

 Tín dụng nhà nước: tín dụng nhà nước do nhà nước thực hiệnnhằm đảm bảo thực hiện các chính sách phát triển kinh tế xã hội của nhànước

Trang 19

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM

2.1 Các chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong giai đoạn 2007 – 2008

2.1.1 Bối cảnh nền kinh tế trong giai đoạn 2007 – 2008:

Năm 2007:

Năm 2007 là năm đầu tiên Việt Nam trở thành thành viên chính thức củaWTO, thời gian một năm là quá ngắn để nhìn nhận và đánh giá đầy đủ tác độngcủa hội nhập tới tiến trình cải cách nền kinh tế Việt Nam Những thuận lợi và khókhăn mà nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt trong năm 2007 là tương đối rõ, dòngvốn đầu tư nước ngoài vào nhiều nhưng khả năng hấp thụ vốn còn hạn chế, hiệuquả sử dụng vốn còn thấp Tuy nhiên, cùng với các cam kết cải cách mạnh mẽ đãgóp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2007 đạt mức 8,48% cao hơn mức8,2% của năm 2006 và là mức cao nhất trong vòng 11 năm qua

Mức tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là 12,63%, cao hơn mức 6,6% của năm

2006, lạm phát bình quân cũng tăng từ 7,45% lên 8,3% Trong 10 nhóm hàng hóacủa rổ CPI thì có 7 nhóm hàng có mức tăng cao hơn cùng kỳ, lần lượt là nhómlương thực thực phẩm, nhà ở vật liệu xây dựng, hàng hóa dịch vụ khác, phươngtiện đi lại và bưu điện, đồ uống – thuốc lá, may mặc giày dép mũ nón, dược phẩm

y tế, còn ba nhóm hàng là thiết bị đồ dùng gia đình, văn hóa thể thao giải trí vàgiáo dục có mức tăng thấp hơn cùng kỳ Năm 2007 có thể thấy, trong cấu thànhCPI, thì chỉ số giá lương thực thực phẩm và CPI loại trừ lương thực thực phẩmđều có mức tăng cao hơn cùng kỳ Điều này cho thấy tác động của cú sốc bêncung và sức ép bên cầu đều tăng cao Tuy nhiên, nhóm lương thực thực phẩmchiếm khoảng 65% mức tăng của lạm phát nên vẫn là động lực chủ yếu tác độnglàm lạm phát tăng cao

Trang 20

Nguyên nhân chủ yếu tác động làm lạm phát tăng mạnh là do:

 Tác động bất lợi của kinh tế toàn cầu, nhất là sự tăng giámạnh của các mặt hàng thiết yếu, như dầu thô, lương thực, thép…Trongđiều kiện mức độ mở của nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế lớn thể hiện

ở nhập khẩu chiếm tới 80% GDP, nền kinh tế đôla hóa và khoảng 70%hàng xuất khẩu là có nguyên liệu từ hàng nhập khẩu thì việc giá thế giớităng sẽ tác động vào giá cả trong nước

 Trong nước thời tiết diễn biến không thuận lợi, cùng với dịchbệnh trong chăn nuôi, trồng trọt Thiên tai hoành hành, cộng với chi phí sảnxuất đầu vào tăng cao gây ảnh hưởng bất lợi đến sản xuất nông nghiệp làmgiảm lượng cung lương thực, thực phẩm

 Mở cửa thị trường tài chính tạo cơ hội tăng vốn cho đầu tưphát triển, nhưng cũng làm tăng khối tiền trong nền kinh tế, đẩy tín dụngcủa hệ thống ngân hàng lên cao và áp lực VND lên giá Đây là tình trạngphổ biến của hầu hết các quốc gia khi mở cửa thị trường tài chính Để ổnđịnh tỷ giá, tăng dự trữ ngoại tệ, ngân hàng nhà nước đã cung tiền đồng đểmua ngoại tệ, đồng thời hút tiền về thông qua các công cụ chính sách tiền

tệ, nhưng do tình trạng đô la hóa còn hiện hữu ở Việt Nam nên tổngphương tiện thanh toán và tín dụng vẫn tăng cao, gây áp lực lạm phát

 Các chính sách quản lý vĩ mô để kiểm soát lạm phát chưađồng bộ dẫn đến nhiều dự án đầu tư kém hiệu quả, chi tiêu công còn lớn

 Nhu cầu mở rộng sản xuất để tăng khả năng cạnh tranh doanhnghiệp làm cho tín dụng tăng có tác động tích cực cho tăng trưởng kinh tế,nhưng hiệu quả đầu tư chưa cao gây áp lực tăng giá

Trang 21

Năm 2008:

Kinh tế-xã hội nước ta năm 2008 diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới

và trong nước có nhiều biến động phức tạp, khó lường Giá dầu thô và giá nhiềuloại nguyên liệu, hàng hoá khác trên thị trường thế giới tăng mạnh trong nhữngtháng giữa năm kéo theo sự tăng giá ở mức cao của hầu hết các mặt hàng trongnước; lạm phát xảy ra tại nhiều nước trên thế giới; khủng hoảng tài chính toàn cầudẫn đến một số nền kinh tế lớn suy thoái, kinh tế thế giới suy giảm; thiên tai, dịchbệnh đối với cây trồng vật nuôi xảy ra liên tiếp trên địa bàn cả nước gây ảnhhưởng lớn đến sản xuất và đời sống dân cư

Trước tình hình đó, Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ đã khẩn trươngxem xét tình hình và ban hành nhiều văn bản chỉ đạo liên quan đến phát triển kinhtế-xã hội năm 2008 của đất nước như: Kết luận số 22/KL-TW ngày 04/4/2008 của

Bộ Chính Trị; Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 17/4/2008 của Chính phủ đề ra 8nhóm giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh

xã hội và tăng trưởng bền vững; Kết luận số 25/KL-TW ngày 05/8/2008 của BộChính trị về tình hình kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm 2008 và các giải pháp chủyếu trong 6 tháng cuối năm nhằm thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch kinh tế-xãhội năm 2008; Nghị quyết số 20/2008/QH12 của Quốc hội về một số vấn đề kinhtế-xã hội năm 2008 trong tình hình mới

Nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, quyết liệt của Đảng, Quốc hội, Chínhphủ; sự nỗ lực cố gắng và chủ động khắc phục khó khăn của các Bộ, Ngành, địaphương, các tập đoàn, doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất và của toàn dân nên kinhtế-xã hội nước ta năm 2008 từng bước vượt qua khó khăn, thách thức, kinh tế cóbước tăng trưởng khá, lạm phát được kiềm chế, an sinh xã hội được bảo đảm,nhiều vấn đế xã hội bức xúc đã tiếp tục được giải quyết có hiệu quả

Trang 22

Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2008 theo giá so sánh 1994 ước tínhtăng 6,23% so với năm 2007, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng3,79%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,33%; khu vực dịch vụ tăng 7,2%.Trong 6,23% tăng trưởng chung của nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp vàthuỷ sản đóng góp 0,68 điểm phần trăm; công nghiệp, xây dựng đóng góp 2,65điểm phần trăm và dịch vụ đóng góp 2,9 điểm phần trăm Tốc độ tăng tổng sảnphẩm trong nước năm nay tuy thấp hơn tốc độ tăng 8,48% của năm 2007 và mụctiêu kế hoạch điều chỉnh là tăng 7,0%, nhưng trong bối cảnh tài chính thế giớikhủng hoảng, kinh tế của nhiều nước suy giảm mà nền kinh tế nước ta vẫn đạt tốc

độ tăng tương đối cao như trên là một cố gắng rất lớn

Bảng 1: Tổng sản phẩm trong nước năm 2008 theo giá so sánh 1994

Tốc độ tăng so vớinăm trước (%)

Đóng góp củamỗi khu vực vàotăng trưởng 2008(Điểm phầntrăm)

Trang 23

Xét theo ngành kinh tế, mức tăng của khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷsản năm 2008 cao hơn mức tăng năm 2007 và 2006, chủ yếu do sản xuất nôngnghiệp được mùa, sản lượng lúa cả năm tăng 2,7 triệu tấn so với năm 2007 và làmức tăng cao nhất trong vòng 11 năm trở lại đây Tăng trưởng khu vực côngnghiệp và xây dựng năm nay đạt mức thấp hơn mức tăng của năm 2007, chủ yếu

do sản xuất của ngành công nghiệp khai thác giảm nhiều so với năm trước (giá trịtăng thêm giảm 3,8%); công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng 63,5% trong tổng giátrị tăng thêm công nghiệp nhưng giá trị tăng thêm chỉ tăng 10%, thấp hơn mứctăng 12,8% của năm 2007; đặc biệt giá trị tăng thêm của ngành xây dựng năm naykhông tăng, trong khi năm 2007 ngành này tăng ở mức 12% Hoạt động của khuvực dịch vụ tuy ổn định hơn so với khu vực công nghiệp và xây dựng nhưng giá trịtăng thêm vẫn tăng thấp hơn mức tăng 8,7% của năm trước

Xét theo các yếu tố sử dụng GDP năm 2008 thì tốc độ tăng của tích luỹ tàisản cố định, tiêu dùng cuối cùng và xuất khẩu theo giá so sánh 1994 đều giảm sovới mức tăng của năm 2007 Tốc độ tăng tích lũy tài sản cố định năm 2008 giảmmạnh, từ mức 24,4% của năm 2007 xuống còn 4,1% Tốc độ tăng tiêu dùng cuốicùng năm 2008 giảm cả ở khu vực nhà nước và hộ gia đình so với tốc độ tăng củanăm 2007, trong đó tiêu dùng cuối cùng của khu vực nhà nước giảm từ 8,9% năm

2007 xuống 7,5% năm 2008; tốc độ tăng tiêu dùng của khu vực hộ gia đình giảm

từ 10,7% xuống còn 8% Xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ năm 2008 theo giá sosánh tăng thấp so với năm 2007, chỉ ở mức 5,6% So với GDP, xuất khẩu hàng hoá

và dịch vụ bằng 69,5% và nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ bằng 84% Điều này chothấy kinh tế Việt Nam hiện đang là nền kinh tế có độ mở lớn và tốc độ mở nhanh,

do đó dễ bị ảnh hưởng từ những biến động của thị trường thế giới

GDP tính theo giá thực tế năm 2008 tăng cao; với mức tăng trưởng và tănggiá khác nhau ở ba khu vực nên cơ cấu kinh tế năm 2008 tăng ở khu vực nông,

Trang 24

lâm nghiệp và thuỷ sản và giảm ở khu vực công nghiệp, xây dựng Tuy nhiên, xuhướng này chỉ là tạm thời trong bối cảnh đặc biệt của năm 2008 với sự tăng chậmlại của khu vực công nghiệp, xây dựng và giá nông lâm thuỷ sản tăng cao Tỷtrọng khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 21,99% GDP; khu vực côngnghiệp và xây dựng chiếm 39,91%; khu vực dịch vụ chiếm 38,1%.

Giá tiêu dùng

Giá tiêu dùng tháng 12 năm 2008 so với tháng trước giảm 0,68%, trong đócác nhóm hàng hoá và dịch vụ có giá giảm là: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm0,13%, trong đó lương thực giảm 2,36%; nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 2,36%;phương tiện đi lại, bưu điện giảm 6,77% Giá các nhóm hàng hóa và dịch vụ kháctăng nhẹ: May mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,01%; đồ uống và thuốc lá tăng0,68%; văn hoá, thể thao, giải trí tăng 0,66%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng0,6%; dược phẩm, y tế tăng 0,35%; giáo dục tăng 0,17%

Giá tiêu dùng năm 2008 nhìn chung tăng khá cao và diễn biến phức tạp,khác thường so với xu hướng giá tiêu dùng các năm trước Giá tăng cao ngay từquý I và liên tục tăng lên trong quý II, quý III, nhưng các tháng quý IV liên tụcgiảm (so với tháng trước, tháng 10 giảm 0,19%; tháng 11 giảm 0,76%, tháng 12giảm 0,68%) nên giá tiêu dùng tháng 12 năm 2008 so với tháng 12 năm 2007 tăng19,89% và chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm tăng 22,97%

Mặc dù giá tiêu dùng năm 2008 tăng khá cao, nhưng xu hướng diễn biếntheo chiều hướng tích cực vào các tháng cuối năm là do: Kết quả thực hiện đồng

bộ 8 nhóm giải pháp nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm ansinh xã hội và tăng trưởng bền vững, trong đó ưu tiên mục tiêu kiềm chế lạm phátvới giải pháp thắt chặt tiền tệ là nguyên nhân cơ bản giữ cho lạm phát thấp hơn20% Điều này cũng khẳng định những giải pháp mà Chính phủ đề ra là hoàn toàn

Trang 25

10 năm 2008; Giá dầu thô và giá nhiều loại nguyên liệu hàng hoá khác trên thịtrường thế giới nước ta nhập khẩu với khối lượng lớn cũng đã giảm mạnh vàonhững tháng cuối năm, tạo thuận lợi cho giảm giá đầu vào của sản xuất trongnước; Tình hình sản xuất trong nước những tháng cuối năm cũng đã bớt khó khănhơn, do tiếp cận các nguồn vốn và mức độ giải ngân khá hơn.

Giá vàng tháng 12/2008 so với tháng trước tăng 0,78%; so với tháng 12năm 2007 tăng 6,83% Giá vàng bình quân năm 2008 so với năm 2007 tăng31,93% Giá đô la Mỹ tháng 12/2008 so với tháng trước tăng 1,14%; so với cùng

kỳ năm trước tăng 6,31% Giá đô la Mỹ bình quân năm 2008 so với năm 2007tăng 2,35%

2.1.2 Các chính sách tiền tệ trong giai đoạn 2007 – 2008

a Các chính sách tiền tệ:

Nội dung quan trọng nhất của chính sách tiền tệ là việc cung ứng tiền chonền kinh tế Việc cung ứng tiền có thể thông qua con đường tín dụng, cũng có thểthông qua hoạt động của thị trường mở (mua bán giấy tờ có giá), thị trường hốiđoái (mua bán ngoại tệ) và để điều tiết mức cung tiền, ngân hàng trung ương cácnước sử dụng các công cụ khác nhau như lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc…

Chính vì thế mà chính sách tiền tệ tác động đến nền kinh tế là một điều hiểnnhiên, bởi nó sinh ra là để điều tiết tiền tệ, mà sự vận động của tiền tệ trong nềnkinh tế lại như máu lưu thông trong cơ thể con người Không khó khăn nếu muốnchứng minh vấn đề này, nhất là trong giai đoạn gần đây – chính phản ứng của thịtrường đối với những thay đổi của chính sách tiền tệ sẽ là biểu hiện rõ nhất vềnhững tác động của chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế

Giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2007, để đạt mục tiêu tăng trưởng – mụctiêu được xếp hàng đầu trong nhiều năm liền, chính sách tiền tệ đã được nới lỏngliên tục theo hướng: lãi suất ổn định (từ ngày 01/12/2005 – 01/02/2008, lãi suất cơ

Trang 26

bản luôn giữ ở mức 8,25%/ năm), tỷ giá cũng ổn định nhưng tín dụng thì mở rộng.Trong thời gian 10 năm, từ năm 1998 đến hết năm 2007, bình quân tốc độ tăngtrưởng tín dụng hằng năm đạt khoảng 25%, riêng năm 2007, con số này đạt kỷ lục(cao nhất trong 10 năm) là 37,8% Bên cạnh hoạt động tín dụng, tiền còn được đưavào lưu thông qua đường chi tiêu ngân sách, thu mua ngoại tệ… Vì vậy, đã đẩytổng phương tiện thanh toán của mỗi năm tăng thêm hơn ¼ số tiền của năm trước(từ 1996 đến hết năm 2007 tổng phương tiện thanh toán tăng thêm bình quân là26,2%, riêng năm 2007 con số này là 37%) trong khi bình quân mỗi năm GDP chỉtăng lên khoảng 7,2% (GDP từ năm 1997 đến hết năm 2007 tăng bình quân năm là7,2%) Suốt khoảng thời gian dài, khoảng cách giữa tốc độ tăng tổng phương tiệnthanh toán và tốc độ tăng GDP luôn ở mức trên dưới 20%, mà trong đó, tốc độtăng tổng phương tiện thanh toán luôn ở biên độ cao hơn so với GDP Qua đó chothấy, cũng trong suốt thời gian ấy, rất nhiều tiền đã được đưa vào lưu thông nhưng

đã không tạo ra một lượng GDP tương ứng Mà có lẽ thị trường bất động sản, thịtrường chứng khoán trong những năm qua đã trở thành kênh dẫn cho lượng tiền đó

và vì thế, cho đến khi hai thị trường này bị thắt lại, lượng tiền thừa thực sự pháthuy tác dụng – nếu không lạm phát mới là hiện tượng lạ

Hình 1: Tốc độ tăng cung tiền và GDP của 3 nước, lấy mốc năm 2004 là 100%, cung tiền đo bằng M2

Nguồn: Ngân hàng nhà nước

Trang 27

Hai quý đầu của năm 2008, cùng với những bất ổn trên thị trường tài chínhthế giới, tình hình kinh tế trong nước cũng diễn biến hết sức phức tạp Giá cả tăngcao, cộng với sự dồn tích khá lâu về lượng tiền thừa đã làm cho thị trường hànghóa Việt Nam có hiện tượng “bốc hỏa” về giá…So với tháng 12 năm 2007, giátiêu dùng tăng 17,18%, mức cao nhất so với nhiều năm trở lại đây Trong đó đángquan tâm nhất là hai nhóm hàng lương thực và thực phẩm: lương thực tăng59,44%, thực phẩm tăng 21,83%, đã góp phần đẩy chỉ số lạm phát bình quân 6tháng đầu năm 2008 lên mức 2,86%/tháng Đến cuối tháng 6, chỉ số lạm phát tuy

có tăng chậm lại nhưng vẫn ở mức cao nhất so với tháng 6 của nhiều năm trước(2,14%)

Thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, ba công cụ: lãi suất, dự trữ bắt buộc

và thị trường mở được sử dụng đồng thời cùng với những quy định siết chặt thịtrường chứng khoán, thị trường bất động sản…đã tác động mạnh đến thị trường

Và phản ứng của thị trường cũng thật mạnh mẽ: các hoạt động cho vay gần như cocụm lại, lãi suất tăng vọt, luồng tiền gửi trở nên bất ổn, thị trường bất động sảnđang trong cơn sốt bỗng đóng băng và trở nên lạnh giá, thị trường vàng như conngựa bất kham, giá cả hàng hóa thì tăng vọt…Chính sách tiền tệ đã bộc lộ sứcmạnh của nó

Những dấu mốc đáng ghi nhớ trong việc sử dụng các công cụ để điều hànhchính sách tiền tệ trong giai đoạn 2007 – 2008, đặc biệt là những tháng đầu năm

2008, khi nền kinh tế gặp nhiều bất ổn:

Trang 28

buộc đối với tổ chức tín dụng, mở màn cho một đợt thay đổi liên tục trong năm2008.

Bảng 2: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong năm 2008

Tỷ lệ dự

Ngày thực hiện

Nguồn : Ngân hàng nhà nước

Hình 2: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong năm 2008

Trang 29

Nguồn: Ngân hàng nhà nước

+ Lãi suất cơ bản :

Theo quyết định 305/QĐ – NHNN ngày 30/01/2008, lãi suất cơ bản sau 25tháng giữ ổn định ở mức 8,25%/năm tăng lên 0,5%/năm, chuyển sang mức 8,75%/năm, mở đầu cho những biến động lớn của lãi suất trong năm 2008, sau đây lànhững diễn biến chính:

Bảng 3 : Lãi suất cơ bản trong năm 2008

Lãi suất cơ bản

Trang 30

+ Lãi suất trả cho dự trữ bắt buộc:

Bảng 4 : Lãi suất trả cho dự trữ bắt buộc trong năm 2008

Lãi suất trả cho dự trữ bắt

Ngày thực hiện

Trang 31

ngày 29/08/085%

Nguồn: Ngân hàng nhà nước

Hình 4: Lãi suất trả cho dự trữ bắt buộc trong năm 2008

Lãi suất trả cho dự trữ bắt buộc (năm)

21/10/2008 5/12/2008

22/12/2008

Lãi suất trả cho

dự trữ bắt buộc

Nguồn: Ngân hàng nhà nước

Ngày đăng: 07/01/2014, 11:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Tốc độ tăng cung tiền và GDP của 3 nước, lấy mốc năm 2004 là 100%, cung tiền đo bằng M2 - PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG của các CHÍNH SÁCH TIỀN tệ đến HOẠT ĐỘNG tín DỤNG của các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAMẢNH HƯỞNG của các CHÍNH SÁCH TIỀN tệ đến HOẠT ĐỘNG tín DỤNG của các NGÂN
Hình 1 Tốc độ tăng cung tiền và GDP của 3 nước, lấy mốc năm 2004 là 100%, cung tiền đo bằng M2 (Trang 26)
Bảng 2: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong năm 2008 - PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG của các CHÍNH SÁCH TIỀN tệ đến HOẠT ĐỘNG tín DỤNG của các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAMẢNH HƯỞNG của các CHÍNH SÁCH TIỀN tệ đến HOẠT ĐỘNG tín DỤNG của các NGÂN
Bảng 2 Tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong năm 2008 (Trang 28)
Bảng 3 : Lãi suất cơ bản trong năm 2008 - PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG của các CHÍNH SÁCH TIỀN tệ đến HOẠT ĐỘNG tín DỤNG của các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAMẢNH HƯỞNG của các CHÍNH SÁCH TIỀN tệ đến HOẠT ĐỘNG tín DỤNG của các NGÂN
Bảng 3 Lãi suất cơ bản trong năm 2008 (Trang 29)
Bảng 4 : Lãi suất trả cho dự trữ bắt buộc trong năm 2008 - PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG của các CHÍNH SÁCH TIỀN tệ đến HOẠT ĐỘNG tín DỤNG của các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAMẢNH HƯỞNG của các CHÍNH SÁCH TIỀN tệ đến HOẠT ĐỘNG tín DỤNG của các NGÂN
Bảng 4 Lãi suất trả cho dự trữ bắt buộc trong năm 2008 (Trang 30)
Hình 4: Lãi suất trả cho dự trữ bắt buộc trong năm 2008 - PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG của các CHÍNH SÁCH TIỀN tệ đến HOẠT ĐỘNG tín DỤNG của các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAMẢNH HƯỞNG của các CHÍNH SÁCH TIỀN tệ đến HOẠT ĐỘNG tín DỤNG của các NGÂN
Hình 4 Lãi suất trả cho dự trữ bắt buộc trong năm 2008 (Trang 31)
Hình 6: Tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và dư nợ tín dụng - PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG của các CHÍNH SÁCH TIỀN tệ đến HOẠT ĐỘNG tín DỤNG của các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAMẢNH HƯỞNG của các CHÍNH SÁCH TIỀN tệ đến HOẠT ĐỘNG tín DỤNG của các NGÂN
Hình 6 Tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và dư nợ tín dụng (Trang 39)
Bảng 5: Dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới của IMF, Citi (%) - PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG của các CHÍNH SÁCH TIỀN tệ đến HOẠT ĐỘNG tín DỤNG của các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAMẢNH HƯỞNG của các CHÍNH SÁCH TIỀN tệ đến HOẠT ĐỘNG tín DỤNG của các NGÂN
Bảng 5 Dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới của IMF, Citi (%) (Trang 48)
Bảng 6: Giá hàng hoá và dự báo Đơn vị: % thay đổi - PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG của các CHÍNH SÁCH TIỀN tệ đến HOẠT ĐỘNG tín DỤNG của các NGÂN HÀNG THƯƠNG mại VIỆT NAMẢNH HƯỞNG của các CHÍNH SÁCH TIỀN tệ đến HOẠT ĐỘNG tín DỤNG của các NGÂN
Bảng 6 Giá hàng hoá và dự báo Đơn vị: % thay đổi (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w