Ở Việt Nam trong một thời gian dài, chúng ta mới chỉ quan tâm nghiên cứu về thành phần loài bọ xít bắt mồi, vai trò của một số loài quan trọng cùng với các đặc điểm sinh học, sinh thái
Trang 1
NGUYỄN DUY HỒNG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN BỌ XÍT BẮT MỒI
VÀ KHẢ NĂNG LỢI DỤNG HAI LOÀI Coranus fuscipennis Reuter VÀ Coranus spiniscutis Reuter TRONG QUẢN LÝ TỔNG HỢP SÂU HẠI ĐẬU RAU TẠI VÙNG HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và những kết quả nghiên cứu trong luận
án này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một luận án nào
Tôi cũng xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận án đều đã được chỉ
rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Tác giả luận án
Nguyễn Duy Hồng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận án này, tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo trong Bộ môn Côn trùng, Khoa nông học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, các cán bộ thuộc Phòng Côn trùng học thực nghiệm, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã giúp đỡ tận tình, đóng góp những ý kiến quý báu, đồng thời cảm ơn sự hỗ trợ của đề tài cấp viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
mã số: VAST 08.01/11-12 đã hỗ trợ tạo điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ cho đề tài nghiên cứu
Đặc biệt tôi xin cảm ơn GS.TS Hà Quang Hùng và TS Trương Xuân Lam đã giành nhiều thời gian, trí tuệ, tận tình hướng dẫn trực tiếp trong suốt quá trình nghiên cứu khoa học để hoàn thành luận án này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa Nông học, Viện Đào tạo sau đại học, Ban Giám hiệu, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội; Ban Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT Hà Nội đã giúp đỡ tôi rất nhiều về cơ sở vật chất, các điều kiện thực hiện đề tài và thủ tục hành chính để bảo vệ luận án
Tôi xin cảm ơn các cán bộ KS Hà Thị Bảy Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật, KS Lê Thị Công, KS Nguyễn Văn Vinh, KS Nguyễn Thị Thuận, KS Nguyễn Thị Phương, các Trạm Bảo vệ thực vật huyện Hoài Đức, Phúc Thọ, Ba Vì, các xã thuộc huyện Hoài Đức, Mê Linh, Hoàng Mai, Hà Đông, Ba Vì, Phúc Thọ, Gia Lâm, các đồng nghiệp trong và ngoài cơ quan đã giúp đỡ tôi nuôi côn trùng, điều tra thu thập số liệu và đóng góp những ý kiến
bổ ích trong quá trình thực hiện luận án
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Tác giả luận án
Nguyễn Duy Hồng
Trang 4MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
2.1 Ý nghĩa khoa học 4
2.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
3 Mục đích và yêu cầu của đề tài 4
3.1 Mục đích của đề tài 4
3.2 Yêu cầu của đề tài 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Những đóng góp mới của đề tài 6
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 7
1.2 Tổng quan tài liệu 10
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 10
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 21
Chương 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 36
2.2 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 36
Trang 52.2.1 Vật liệu nghiên cứu 36
2.2.2 Dụng cụ nghiên cứu 37
2.3 Nội dung nghiên cứu 37
2.4 Phương pháp nghiên cứu 38
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu ngoài đồng ruộng 38
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 42
2.4.3 Phương pháp làm mẫu vật, bảo quản và định loại 46
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 47
2.4.5 Các công thức tính toán 47
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 51
3.1 Thành phần các loài bọ xít bắt mồi trên sinh quần ruộng đậu rau 51
3.1.1 Thành phần các loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau 51
3.1.2 Tỷ lệ bắt gặp các loài thuộc nhóm bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau và trên một số cây trồng khác 53
3.1.3 Mức độ phổ biến của các loài thuộc nhóm bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau tại điểm nghiên cứu 54
3.2 Đặc điểm hình thái của hai loài bọ xít bắt mồi thuộc giống Coranus 57
3.2.1 Đặc điểm hình thái của loài Coranus fuscipennis Reuter 57
3.2.2 Đặc điểm hình thái của loài Coranus spiniscutis Reuter 63
3.3 Đặc điểm sinh học của hai loài bọ xít bắt mồi thuộc giống Coranus 68
3.3.1 Đặc điểm sinh học của loài Coranus fuscipennis Reuter, 1881 68
3.3.2 Đặc điểm sinh học của loài Coranus spiniscutis Reuter, 1881 77
3.4 Diễn biến mật độ của hai loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau năm 2010 và 2011 87
3.4.1 Diễn biến mật độ của hai loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu đũa tại Hoài Đức, Hà Nội 87
3.4.2 Diễn biến mật độ của hai loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu trạch ở Hoài Đức, Hà Nội năm 2010 - 2011 92
Trang 63.4.3 Mối quan hệ giữa hai loài bọ xít bắt mồi với sâu hại trên đậu đũa 96
3.4.4 Ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái tới hai loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau 104
3.5 Đề xuất phương pháp nhân nuôi, bảo vệ, sử dụng loài Coranus fuscipennis trong phòng trừ sâu hại đậu rau 112
3.5.1 Khả năng nhân nuôi loài C fuscipennis trong phòng thí nghiệm 112
3.5.2 Đề xuất phương pháp lợi dụng, bảo vệ và sử dụng loài
C fuscipennis và các loài bọ xít bắt mồi trong hạn chế sâu hại đậu rau 118
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 123
Kết luận 123
Kiến nghị 125
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 126
TÀI LIỆU THAM KHẢO 127
PHỤ LỤC 139
Trang 7STT Tên bảng Trang
3.1 Thành phần các loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau tại vùng Hà Nội,
năm 2009-2011 51 3.2 Mức độ phổ biến của các loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu đũa tại
Hà Nội, năm 2009 - 2011 56 3.3 Kích thước của trứng và các tuổi thiếu trùng loài C fuscipennis
(Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật năm 2010) 59 3.4 Các chỉ tiêu hình thái của trưởng thành đực loài C fuscipennis
(Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật năm 2010) 61 3.5 Kích thước của trứng và các tuổi thiếu trùng loài C spiniscutis
(Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật năm 2010) 64 3.6 Các chỉ tiêu hình thái của trưởng thành đực loài C spiniscutis
(Viện Sinh thái & Tài nguyên sinh vật năm 2010) 66 3.7 Thời gian phát dục và tỷ lệ nở của trứng loài C fuscipennis (Phòng
Côn trùng học thực nghiệm, Viện Sinh thái & TNSV, 2010) 68 3.8 Thời gian phát dục của thiếu trùng loài C fuscipennis (Phòng Côn
trùng học thực nghiệm, Viện Sinh thái & TNSV, 2010) 70 3.9 Thời gian tiền đẻ trứng, số lượng trứng đẻ và thời gian sống của
trưởng thành loài C fuscipennis (Phòng Côn trùng học thực
nghiệm, Viện Sinh thái & TNSV, 2010) 72 3.10 Vòng đời của loài C fuscipennis (Phòng Côn trùng học thực
nghiệm, Viện Sinh thái & TNSV, 2010) 73 3.11 Khả năng ăn mồi của thiếu trùng loài C fuscipennis (Phòng Côn
trùng học thực nghiệm, Viện Sinh thái & TNSV, 2010) 75 3.12 Khả năng ăn mồi giai đoạn tiền đẻ trứng của trưởng thành cái loài
C fuscipennis (Phòng Côn trùng học thực nghiệm, Viện Sinh thái
& TNSV, 2010) 76
Trang 8Côn trùng học thực nghiệm, Viện Sinh thái & TNSV, 2010) 78 3.14 Thời gian phát dục của thiếu trùng loài C spiniscutis (Phòng Côn
trùng học thực nghiệm, Viện Sinh thái & TNSV, 2010) 80 3.15 Thời gian tiền đẻ trứng, số lượng trứng đẻ và thời gian sống của
trưởng thành loài C spiniscutis (Phòng Côn trùng học thực
nghiệm, Viện Sinh thái & TNSV, 2010) 81 3.16 Vòng đời của loài C spiniscutis (Phòng Côn trùng học thực
nghiệm, Viện Sinh thái & TNSV, 2010) 82 3.17 Khả năng ăn mồi sâu non ngài gạo C cephalonica của thiếu trùng
loài C spiniscutis (Phòng Côn trùng học thực nghiệm, Viện Sinh
thái & TNSV, 2010) 843.18 Khả năng ăn mồi của trưởng thành C spiniscutis (Phòng Côn
trùng học thực nghiệm, Viện Sinh thái & TNSV, 2010) 85 3.19 Thời gian phát dục ở các pha của thế hệ thứ hai loài
Coranus fuscipennis (Nhiệt độ: 20,4 - 30,1o
C; ẩm độ: 71 - 83%) (Phòng Côn trùng học thực nghiệm, Viện Sinh thái & TNSV, 2010) 113 3.20 Số lượng cá thể loài Coranus fuscipennis nuôi được từ một cặp
sau hai thế hệ nuôi bằng sâu non ngài gạo Corcyra cephalonica
(Phòng Côn trùng học thực nghiệm, Viện Sinh thái & TNSV, 2010) 114 3.21 Khả năng ăn mồi của các tuổi thiếu trùng thế hệ thứ hai loài
Coranus fuscipennis (Phòng Côn trùng học thực nghiệm, Viện
Sinh thái & TNSV, 2010) 1163.22 Thời gian sống và khả năng ăn sâu non ngài gạo Corcyra
cephalonica của trưởng thành thế hệ 2 loài Coranus fuscipennis
(Phòng Côn trùng học thực nghiệm, Viện Sinh thái & TNSV, 2010) 117
Trang 9STT Tên hình Trang
3.1 Tỷ lệ bắt gặp các loài thuộc nhóm bọ xít bắt mồi trên một số cây
trồng ở vùng Hà Nội năm 2010 54
3.2 Đặc điểm hình thái của trứng và thiếu trùng loài C fuscipennis 60
3.3 Trưởng thành và hình thái ngoài cơ quan sinh dục của loài
Coranus fuscipennis 62
3.4 Đặc điểm hình thái của trứng và thiếu trùng loài C spiniscutis 65
3.5 Trưởng thành và hình thái ngoài cơ quan sinh dục của loài
C spiniscutis Reuter 67
3.6 Diễn biến mật độ của tập hợp BXBM và hai loài C fuscipennis và C spiniscutis trên cây đậu đũa tại Hoài Đức, Hà Nội năm 2010 88
3.7 Tương quan mật độ giữa tập hợp các loài BXBM với loài
C fuscipennis trên cây đậu đũa tại Hoài Đức, Hà Nội năm 2010 89
3.8 Diễn biến mật độ của loài C fuscipennis ở các thời vụ trên cây đậu đũa tại Hoài Đức, Hà Nội năm 2010 90
3.9 Diễn biến mật độ của tập hợp các loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu trạch tại Hoài Đức, Hà Nội năm 2010 93
3.10 Tương quan mật độ giữa tập hợp các loài BXBM với loài
C fuscipennis trên cây đậu trạch tại Hoài Đức, Hà Nội năm 2010 94
3.11 Diễn biến mật độ của loài C fuscipennis ở các thời vụ
trên cây đậu trạch tại Hoài Đức, Hà Nội năm 2010 - 2011 95
3.12 Diễn biến mật độ của tập hợp các loài bọ xít bắt mồi và tập hợp sâu hại bộ cánh vảy trên đậu đũa tại Hoài Đức, Hà Nội năm 2010 97
3.13 Tương quan mật độ giữa tập hợp các loài bọ xít bắt mồi với tập hợp sâu hại bộ cánh vẩy ở các thời vụ trên cây đậu đũa tại Hoài Đức, Hà Nội năm 2010 98
Trang 10đậu O indicata trên cây đậu đũa tại Hoài Đức, Hà Nội năm 2010 100
3.15 Tương quan mật độ giữa loài C fuscipennis với sâu cuốn lá
O indicata ở các thời vụ trên cây đậu đũa tại Hoài Đức, Hà Nội năm 2010 102
3.16 Diễn biến mật độ loài C fuscipennis và sâu đục quả đậu
M vitrata trên cây đậu đũa tại Hoài Đức, Hà Nội năm 2010 104
3.17 Ảnh hưởng của thuốc hóa học đến tỷ lệ chết của loài
C fuscipennis (Phòng Sinh thái Côn trùng, ĐHNNHN, 2011) 105
3.18 Ảnh hưởng của số lần phun thuốc hóa học đến mật độ tập hợp BXBM tại Tiền Phong, Mê Linh, Hà Nội năm 2011 107
3.19 Ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng cây đậu đũa và đậu trạch đến mật độ của tập hợp BXBM tại Hoài Đức, Hà Nội năm 2010 - 2011 108
3.20 Ảnh hưởng của thời vụ gieo trồng đậu đũa và đậu trạch đến mật độ loài C fuscipennis tại Hoài Đức, Hà Nội năm 2010 - 2011 109
3.21 Mật độ của loài C fuscipennis trên đậu đũa trong và ngoài nhà lưới tại Lĩnh Nam, Hoàng Mai, Hà Nội năm 2010 110
3.22 Mật độ của loài C fuscipennis trên cây đậu đũa và cải bắp trong nhà lưới tại Lĩnh Nam, Hoàng Mai, Hà Nội năm 2010 111
3.23 Vai trò của loài C fuscipennis trong hạn chế sâu hại trên cây đậu đũa vụ muộn tại Hoài Đức, Hà Nội năm 2011 119
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây đậu rau là nguồn thực phẩm quan trọng không thể thiếu được trong đời sống hàng ngày của mỗi gia đình, chúng cung cấp các chất như: Canxi, Kali, Vitamin B6, Magie,…và nhiều loại Vitamin giúp nâng cao sức khỏe và tăng sự đề kháng của con người Các chủng loại rau nói chung, đậu rau nói riêng còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị Theo Cục Trồng trọt, Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn (2009) [6] diện tích trồng rau của cả nước là 735.335 héc ta, năng suất đạt 161,6 tạ/ha và sản lượng là 11,86 triệu tấn/năm Trong các chủng loại rau thì đậu rau có một vai trò rất quan trọng Hiện nay ở Việt Nam có rất nhiều loại đậu rau được trồng gồm: đậu Hà Lan, đậu cove, đậu đũa, đậu ván, đậu rồng, đậu ngọt, đậu trạch, Chúng là những loại cây trồng mang lại giá trị kinh tế cao cho người nông dân và được gieo trồng quanh năm ở tất cả các vùng chuyên canh rau Tuy nhiên, giống như các loại cây trồng khác, việc sản xuất cây đậu rau còn gặp rất nhiều rủi ro do sự tấn công gây hại của nhiều loài dịch hại, trong đó các loài sâu, bệnh chính thường xuất hiện phát sinh gây hại ở tất cả các vùng trồng đậu rau ở mọi thời vụ gieo trồng Chúng làm giảm năng suất, giá trị thương phẩm và chất lượng của cây đậu rau
Để phòng chống dịch hại bảo vệ cây đậu rau ở vùng Hà Nội, biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) đã được người nông dân áp dụng khá mạnh, song nhu cầu sử dụng hóa chất, phân bón và các chất điều tiết sinh trưởng vẫn không ngừng gia tăng và trở thành một thói quen của họ trong công tác bảo vệ cây rau Việc gia tăng quá mức số lần sử dụng thuốc trừ sâu hoá học không chỉ tiêu diệt các loài sâu hại, mà còn làm nhiều loài sâu hại chủ yếu tăng tính kháng thuốc; một số loài sâu hại thứ yếu gia tăng số lượng và trở thành loài hại chủ yếu, bên cạnh đó thuốc hóa học còn làm suy giảm tài nguyên thiên
Trang 12địch của dịch hại trong tự nhiên Nhiều loài côn trùng bắt mồi, côn trùng ký sinh trước đây là loài thiên địch phổ biến có vai trò tích cực trong điều hòa số lượng sâu hại chính trên rau, đến nay hoặc là biến mất hoặc chỉ xuất hiện với
số lượng và tần suất rất thấp không còn phát huy vai trò hạn chế sâu hại, chẳng hạn các loài thuộc nhóm bọ xít bắt mồi, bọ rùa và bọ cánh cứng bắt mồi khác Nhiều loài côn trùng bắt mồi có sống sót sau khi phun thuốc hóa học, khả năng sinh sản, tuổi thọ và tập tính bắt mồi của chúng còn bị ảnh hưởng nghiêm trọng Thêm vào đó sự đô thị hóa ngày càng tăng đã biến nhiều diện tích trồng cây rau trong đó có cây đậu rau thành nhà ở, đường giao thông, nhà máy sản xuất công nghiệp Điều này làm cho nơi trú ngụ, trốn tránh cũng như nguồn cung cấp thức ăn cho các loài côn trùng bắt mồi ngày càng bị thu hẹp Dẫn đến không chỉ mất cân bằng sinh thái tăng, mà còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính đa dạng sinh học nhóm côn trùng bắt mồi
Distant (1910) [51] cho rằng trong nhóm côn trùng bắt mồi sâu hại đậu rau, các loài bọ xít bắt mồi (BXBM) thuộc bộ Heteroptera được biết là những loài thiên địch quan trọng trên nhiều cây trồng nông nghiệp Nhóm bọ xít bắt mồi chủ yếu phải kể đến các loài thuộc họ bọ xít ăn sâu Reduviidae, họ bọ xít
giả ăn sâu Nabidae, các loài thuộc phân họ Asopinae (họ bọ xít năm cạnh Pentatomidae) như: loài Andrallus spinidens, các loài thuộc giống
Cantheconidea , loài bọ xít Orius sauteri (họ bọ xít hoa Anthocoridae) và loài
bọ xít mù xanh Cyrtorhinus livipennis (họ bọ xít mù Miridae) Ở Việt Nam
trong một thời gian dài, chúng ta mới chỉ quan tâm nghiên cứu về thành phần loài bọ xít bắt mồi, vai trò của một số loài quan trọng cùng với các đặc điểm sinh học, sinh thái của chúng trên cây đậu tương, cây ngô, cây rau họ hoa thập
tự, còn ít quan tâm nghiên cứu trên cây đậu rau Mặt khác vấn đề sản xuất rau
an toàn nói chung, cây đậu rau nói riêng đang là mối quan tâm hàng đầu của nhiều vùng sản xuất rau trong cả nước đặc biệt vùng trồng rau ở Hà Nội và phụ cận
Trang 13Việt Nam đã gia nhập AFTA và WTO, thách thức lớn nhất trong thời gian này là chúng ta cần sản xuất và xuất khẩu rau an toàn đáp ứng nhu cầu cao ở trong nước và thị trường thế giới Trong mục tiêu phát triển nông nghiệp hàng hoá bền vững, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và thân thiện
với môi trường đến năm 2015 và định hướng đến 2020 của Việt Nam chỉ rõ tất cả những vùng sản xuất rau an toàn, trong đó cây đậu rau phải được sản xuất theo tiêu chuẩn GAP nhằm cung cấp các sản phẩm rau an toàn, đồng thời phát triển bền vững vành đai xanh cũng như tạo vùng trồng rau an toàn cho các đô thị ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng (dẫn theo Báo cáo sản xuất rau
an toàn ở Hà Nội của Sở NN & PTNT (2010) [29] Chính vì vậy, biện pháp sinh học phòng chống sâu hại chính trên đậu rau đang được quan tâm đặc biệt Để sử dụng các loài bọ xít bắt mồi một cách có hiệu quả trong quản lý tổng hợp sâu hại đậu rau, ngoài việc duy trì, lợi dụng và bảo vệ chúng trên cánh đồng chúng ta cần có những nghiên cứu đầy đủ hơn về đa dạng thành phần loài, xác định đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài phổ biến, cũng như kỹ thuật nhân nuôi hàng loạt loài có ý nghĩa và thử nghiệm chúng trong biện pháp sinh học phòng chống sâu hại trên đồng ruộng Làm được điều này không chỉ giúp tạo cơ sở khoa học đề xuất những biện pháp tốt nhất nhằm bảo
vệ, duy trì và lợi dụng tập hợp các loài thiên địch trong đó có nhóm bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau, mà còn kịp thời bổ sung số lượng thiếu hụt của chúng khi bị tác động bởi yếu tố môi trường, nhất là sự tác động của con người, góp phần bảo tồn nguồn gen hữu ích của các loài bọ xít bắt mồi quan trọng Xuất phát từ yêu cầu của khoa học, thực tiễn sản xuất đậu rau an toàn, chúng tôi thực
hiện đề tài: "Nghiên cứu thành phần bọ xít bắt mồi và khả lợi dụng hai loài
Coranus fuscipennis Reuter và Coranus spiniscutis Reuter trong quản lý tổng
hợp sâu hại đậu rau tại vùng Hà Nội"
Trang 142 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1 Ý nghĩa khoa học
- Xác định thành phần loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau, góp phần
bổ sung vào danh mục các loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau ở Việt Nam
- Bổ sung những dẫn liệu khoa học về đặc điểm hình thái, sinh học,
sinh thái học, vai trò của hai loài bọ xít bắt mồi (Coranus fuscipennis Reuter
và Coranus spiniscutis Reuter) trong hệ sinh thái đồng trồng đậu rau, giúp người trồng rau có nhận thức về chúng một cách hợp lý
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đề xuất phương pháp nhân nuôi hai loài bọ xít bắt mồi phổ biến
Coranus fuscipennis Reuter và Coranus spiniscutis Reuter nhằm sử dụng chúng trong phòng chống sâu hại chính trên cây đậu rau ở Hà Nội
- Xác định mối quan hệ giữa các loài bọ xít bắt mồi phổ biến và vật mồi của chúng trên cây đậu rau, giúp người trồng rau nhận biết vai trò của hai loài
bọ xít bắt mồi
- Cung cấp tài liệu khoa học cho nông dân, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý ở địa phương nhận biết, bảo vệ và lợi dụng các loài bọ xít bắt mồi để phòng chống sâu hại đậu rau trong quá trình sản xuất rau an toàn
3 Mục đích và yêu cầu của đề tài
3.1 Mục đích của đề tài
Trên cơ sở xác định thành phần loài bọ xít bắt mồi (BXBM) thuộc bộ Cánh khác Heteroptera trên cây đậu rau, đặc điểm hình thái, sinh học, sinh
thái học của hai loài bọ xít bắt mồi Coranus fuscipennis Reuter và Coranus
spiniscutis Reuter, đề xuất khả năng bảo vệ, lợi dụng chúng trong quản lý tổng hợp sâu hại chủ yếu (bộ cánh vảy Lepidoptera) trên đậu rau, góp phần sản xuất đậu rau an toàn và bảo vệ môi trường
Trang 153.2 Yêu cầu của đề tài
- Xác định được thành phần loài của các loài bọ xít bắt mồi (BXBM ) thuộc bộ Heteroptera trên cây đậu rau tại Hà Nội
- Xác định được đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái học của hai loài
BXBM phổ biến Coranus fuscipennis Reuter và Coranus spiniscutis Reuter
và vai trò của chúng trong việc điều hoà số lượng sâu hại chính thuộc bộ Lepidoptera trên cây đậu rau
- Có kết quả điều tra diễn biến mật độ của Coranus fuscipennis Reuter
và Coranus spiniscutis Reuter và vật mồi của chúng (sâu hại chủ yếu thuộc bộ Lepidoptera) trên cây đậu rau dưới ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái (thời vụ gieo trồng, số lần phun thuốc và trồng rau trong nhà lưới) tại Hà Nội
- Đề xuất được phương pháp nhân nuôi, bảo vệ, lợi dụng hai loài BXBM
Coranus fuscipennis Reuter và Coranus spiniscutis Reuter trong quản lý tổng
hợp sâu hại chủ yếu trên cây đậu rau
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những loài bọ xít bắt mồi thuộc bộ Heteroptera;
- Các loài sâu hại chủ yếu thuộc bộ cánh vẩy Lepidoptera là vật mồi của BXBM
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Điều tra, thu thập xác định thành phần loài, mức độ phổ biến, tần suất xuất hiện, vị trí số lượng của các loài bọ xít bắt mồi thuộc bộ Heteroptera trên cây đậu rau
Xác định đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái, vai trò của hai loài bọ
xít bắt mồi Coranus fuscipennis Reuter và Coranus spiniscutis Reuter, mối
quan hệ giữa loài BXBM phổ biến với vật mồi của chúng (sâu hại chủ yếu
Trang 16thuộc bộ Lepidoptera) trên cây đậu rau dưới ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái
Đề xuất phương pháp nhân nuôi và lợi dụng hai loài bọ xít bắt mồi phổ biến phòng chống một số loài sâu chính hại đậu rau trong điều kiện thực nghiệm
5 Những đóng góp mới của đề tài
- Đề tài là công trình đầu tiên nghiên cứu tương đối đầy đủ về thành phần loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau ở vùng Hà Nội và ghi nhận mới hai loài cho khu hệ côn trùng bắt mồi trên sinh quần cây đậu rau ở Việt Nam gồm:
Campylomma chinensis Schuh và loài Proboscidocoris varicornis Jakovlev,
ghi nhận mới một loài Deraeocoris punctulatus Fallen vào danh mục bọ xít
bắt mồi trên cây đậu rau ở vùng nghiên cứu
- Cung cấp một số dẫn liệu mới về đặc điểm sinh học, sinh thái học của
hai loài bọ xít bắt mồi Coranus fuscipennis Reuter và Coranus spiniscutis
Reuter thuộc họ Reduviidae
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Số lượng cá thể của những loài côn trùng bắt mồi, côn trùng ký sinh trong tự nhiên là tài nguyên vô giá, dưới những điều kiện cho phép chúng luôn có vai trò hạn chế tối đa số lượng sâu hại Theo Vũ Quang Côn và ctv (2001) [3] bảo vệ, phát triển và lợi dụng các thế năng sinh học của chúng trên
cơ sở điều hoà sinh quần đồng ruộng còn lớn hơn rất nhiều lần những quần thể được nhân nuôi và thả ra từ các phòng thí nghiệm sinh học
Trương Xuân Lam và ctv (2004) [18] cho rằng trong những loài thiên địch của sâu hại cây trồng nói chung, sâu hại đậu rau nói riêng các loài côn trùng bắt mồi trong đó phải kể đến nhóm bọ xít bắt mồi giữ vai trò quan trọng Vật mồi của các loài bọ xít bắt mồi là nhiều loại côn trùng gây hại trên các cây trồng nông nghiệp, công nghiệp và lâm nghiệp quan trọng thuộc bộ Cánh phấn (Lepidoptera), bộ Cánh khác (Heteroptera), bộ Cánh thẳng (Othoptera)
Ở Việt Nam trên nhiều loại cây trồng đặc biệt cây rau sự tăng nhanh
cả về mức độ và phạm vi gây hại có liên quan với việc áp dụng các khoa học kỹ thuật tiến bộ, như sử dụng giống mới, mở rộng canh tác, sử dụng phân bón và đặc biệt việc lạm dụng thuốc hóa học trừ sâu Trong đó cây đậu rau là loại cây trồng thể hiện rõ nhất, dễ nhìn thấy và tác động tới sức khỏe con người, vật nuôi trực tiếp, nhanh nhất Việc phòng trừ sâu hại trên cây đậu rau bằng biện pháp phun thuốc hóa học chỉ có tác dụng nhìn thấy sâu hại chết ngay, tuy nhiên nó sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng Xu hướng chính trong bảo vệ thực vật là quản lý tổng hợp dịch hại cây trồng (IPM) mà việc sử dụng biện pháp sinh
Trang 18học thay thế biện pháp sử dụng thuốc hoá học trừ sâu hại là then chốt, trong đó những hướng đang được ưu tiên, quan tâm và ứng dụng rộng rãi
là bảo vệ, duy trì và lợi dụng các loài thiên địch, đồng thời nghiên cứu các biện pháp để nhân nuôi thả chúng ra ngoài đồng ruộng
Vũ Quang Côn và ctv (1994) [2] chỉ rõ đến nay Việt Nam đã có một số thành công trong nghiên cứu ứng dụng và nhân thả một số loài côn trùng bắt mồi trong việc phòng trừ sâu hại một số loại cây trồng, như sử dụng bọ xít bắt
mồi (Orius sauteri) phòng trừ bọ trĩ hại dưa chuột, lợi dụng bọ xít hoa bắt mồi
Cantheconidea furcellata phòng trừ sâu hại trên cây bông đay
Trương Xuân Lam và ctv (2004) [18], Vũ Quang Côn và ctv (2007) [5]
cho rằng nghiên cứu và lợi dụng các loài bọ xít cổ ngỗng Sycanus falleni và
Sycanus croceovittatus phòng trừ một số loài sâu hại chính trên cây bông và đậu tương ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam Tuy nhiên, những nghiên cứu này, nhất là nghiên cứu về nhân thả một số loài côn trùng bắt mồi trên cây đậu rau còn chưa được quan tâm đúng mức, ngoại trừ một số nghiên cứu về sinh học, sinh thái và vai trò của một số loài bọ rùa bắt mồi trong việc phòng trừ rệp muội trên rau họ hoa thập tự
Cây đậu rau là cây thực phẩm quan trọng trong đời sống con người và càng ngày chứng tỏ là cây trồng có giá trị không chỉ trong vai trò là thức ăn
mà còn có giá trị bổ dưỡng, điều hòa cơ thể con người Chính vì vậy, đậu rau
đã được trồng rộng rãi ở rất nhiều nơi trong cả nước nói chung và Hà Nội nói riêng Ở Hà Nội đang hình thành các vùng sản xuất tập trung với quy mô lớn nhiều loại cây trồng trong đó có vùng trồng rau Theo Sở NN&PTNT Hà Nội năm 2010 [29] có nhiều vùng sản xuất rau tập trung đang nhân rộng và phát triển ở Ðông Anh, Gia Lâm, Mê Linh, Hoài Đức, Những năm gần đây cây đậu rau thường xuyên bị một số loài sâu hại chính tấn công gây hại từ đầu vụ
Trang 19đến cuối vụ, đã gây nên những tổn thất nặng nề cho vùng trồng đậu rau, một
số nơi năng suất chỉ còn đạt 8-10 tạ/ha, có lúc đã gây ra hiện tượng thiếu đậu rau cung cấp cho thành phố Hà Nội và các vùng phụ cận
Bùi Sĩ Doanh và ctv (1995) [7] cho rằng để bảo vệ cây đậu rau và tăng năng suất, hiện nay ở các vùng trồng cây đậu rau ở Hà Nội, biện pháp được
sử dụng phổ biến nhất để trừ các loài sâu hại là sử dụng thuốc hóa học Do thời gian sinh trưởng của cây không dài, sâu hại nhiều nên người dân trồng rau ở Hà Nội đã sử dụng nhiều loại thuốc hóa học có tính độc hại cao, có loại không rõ nguồn gốc với số lần phun thuốc từ 8-10 lần/vụ đậu rau, khoảng cách giữa các lần phun 5-7 ngày Chính vì vậy, ảnh hưởng của thuốc hóa học đã và đang để lại rất nhiều hậu quả trực tiếp cho người tiêu dùng, hơn thế thuốc còn xâm nhập vào đất, nước, tồn dư trong sản phẩm gây lên những ảnh hưởng lâu dài, phá vỡ cân bằng sinh thái và tiêu diệt nhiều loài côn trùng có ích trên đồng ruộng, con người bị tổn hại sức khoẻ thông qua nhiễm độc do hít thở và do nông sản nhiễm độc
Theo Con Vu Quang et al., (2001) [48] cho đến nay việc thương mại hoá của các loại thuốc trừ sâu sinh học được sản xuất từ các tác nhân bản địa hầu như chưa được phát triển, ngoại trừ một số thuốc như NPV, BT được sản xuất và tiêu thụ ở mức độ thấp Ngoài những cản trở trên, sự thiếu các nguồn đầu tư chủ chốt là nguyên nhân rất căn bản Vì vậy, chúng ta phải tìm
ra những biện pháp bảo vệ cây đậu rau nhưng hạn chế thấp nhất sự gây ô nhiễm môi trường, giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật mà vẫn đem lại hiệu quả kinh tế cao
Nguyễn Văn Cảm (1994) [1] cho rằng một trong những biện pháp luôn
luôn được áp dụng đó là biện pháp sinh học, muốn thực hiện được biện pháp này cần điều tra, nghiên cứu các loài thiên địch trong tự nhiên, đặc biệt các loài côn trùng bắt mồi có vị trí rất quan trọng Như chúng ta đã biết biện pháp
Trang 20sinh học phòng chống sâu hại trước hết dựa vào việc sử dụng các loài thiên địch có sẵn trong mỗi hệ sinh thái nông nghiệp
Trương Xuân Lam và ctv (2004) [18] cho thấy trong những năm qua, chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) trên các cây trồng như: cây lúa, cây bông, cây đậu tương, cây ngô, cây lạc và cây rau (chủ yếu cây rau họ hoa thập tự) đã được áp dụng, tuy nhiên việc điều tra các loài côn trùng bắt mồi trong đó có các loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau chưa được tiến hành một cách có hệ thống
Muốn phát triển biện pháp sinh học để phòng chống sâu hại đạt hiệu quả chúng ta cần xác định thành phần thiên địch của chúng, xác định đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài thiên địch có ý nghĩa, đặc biệt các loài bắt mồi sâu hại trên các cây trồng trong hệ sinh thái đồng ruộng ở nước ta, đặc biệt nhóm loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau ở Hà Nội là rất cần thiết Chúng không những góp phần duy trì tính đa dạng sinh học, sự cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường sinh thái mà còn giảm thiểu số lần phun thuốc hóa học ở các vùng trồng rau, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra những sản phẩm đậu rau an toàn cung cấp cho Thủ đô Hà Nội và vùng phụ cận
1.2 Tổng quan tài liệu
1.2.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
1.2.1.1 Nghiên cứu về thành phần loài của BXBM thuộc bộ Heteroptera
Trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển việc định danh thiên địch nói chung các loài bắt mồi sâu hại nói riêng do các chuyên gia phân loại tiến hành nên công việc có phần thuận lợi Các kết quả nghiên cứu về loài bọ xít bắt mồi (BXBM) phải kể đến những công trình nghiên cứu về thành phần loài có liên quan tới khu hệ BXBM ở vùng Đông Phương - Ấn
Độ và các nước lân cận với Việt Nam mà điển hình là những nghiên cứu
Trang 21của các tác giả Ấn Độ như Distant (1904, 1910) [50, 51] đã mô tả và phân loại hình thái 422 loài bọ xít bắt mồi, trong đó 322 loài thuộc họ bọ xít ăn sâu Reduviidae
Ở Đông Dương, Vitalis (1919) [84] đã công bố 14 loài BXBM bao gồm
họ Reduviidae có 11 loài thuộc 9 giống, họ Nabidae có 1 loài, họ
Pentatomidae có 2 loài thuộc giống Cazira và Dalpada
Dẫn theo Price (1975) [78] ở Trung Quốc cho đến năm 1971, đã ghi nhận được 820 loài côn trùng bắt mồi trong đó có gần 200 loài thuộc nhóm bọ xít bắt mồi
Livingstone et al., (1992, 1998) [65, 66] đã xây dựng khóa định loại cho phân họ và các giống của họ Reduviidae ở miền nam Ấn Độ, tác giả cũng
đã mô tả 82 loài thuộc họ bọ xít ăn sâu họ Reduviidae và mô tả chi tiết hình thái của một số loài thuộc giống ghi nhận mới
Masaaki (1993) [69] chỉ rõ trong 126 loài bọ xít trên cánh đồng ghi nhận được ở Nhật bản, có 72 loài bọ xít bắt mồi được minh họa bằng hình ảnh
và mô tả một số con mồi của chúng
Murugan and Livingstone., (1995) [72] xây dựng khóa định loại đến loài của 65 loài bọ xít bắt mồi thuộc 8 họ và một số giống cũng đã được mô tả chi tiết và minh họa bằng hình ảnh Tác giả đã mô tả 7 giống ghi nhận mới cho khu vực nghiên cứu
Randall et al., (1995) [80] đã thống kê các loài bọ xít ăn sâu Reduviidae trên thế giới cho rằng có khoảng 6500 loài thuộc 930 giống trong 22 phân họ Ishikawa and Tomokuni., (2004) [57] nghiên cứu mô tả chi tiết và
công bố cho khoa học giống mới Cosmosycanus
Yu Jin yong et al., (2004) [89] đã mô tả và ghi nhân 1 giống mới
Duriocoris Miller thu thập ở Trung Quốc và mô tả một loài mới cho khoa học
Trang 22Yonglin Han et al., (2005) [88] cho rằng các loài thuộc giống
Duriocoris Miller ở Trung Quốc được nghiên cứu, trong đó 2 loài được ghi nhận, mô tả, minh họa và xây dựng khoá định loại cho 2 loài của giống
này Loài Duriocoris geniculatus đã được mô tả lại như một loài mới
Ping Zhao et al., (2006 b) [77] đã phát hiện loài Maldonadocoris
annulipes Zhao, Yuan & Cai là loài mới thuộc phân họ Harpactorinae ở Trung Quốc và mô tả, minh họa với mẫu chuẩn được lưu giữ ở bảo tàng côn trùng học của trường Đại Học Nông Nghiệp Bắc Kinh, Trung Quốc
Ping Zhao et al., (2006 a) [76] loài Platerus pilcheri Distant được công bố lần đầu tiên ở Trung Quốc năm 1903 và mô tả, minh họa với một khoá định loại xây dựng cho giống này
Các công trình nghiên cứu về thành phần loài của bọ xít bắt mồi ở một
số nước khác trên thế giới cũng đã được nhiều tác giả nghiên cứu như: China and Miler., (1955) [47] đã ghi nhận 56 loài bọ xít ăn sâu thuộc họ Reduviidae
ở Anh và xây dựng khóa định tên cho các loài này
Ishikawa Tadashi et al., (2005) [58] công bố 6 loài bọ xít bắt mồi thuộc
họ Reduviidae lần đầu tiên phát hiện ở Nhật Bản đó là: Ploiaria zhengi Cai & Yiliyar, 2002 (Emesinae), Peirates atromaculatus (Stồl, 1871) (Peiratinae),
Caunus noctulus Hsiao, 1977, Oncocephalus impudicus Reuter, 1882, Sastrapada robustoides P V Putshkov, 1987 (Stenopodainae) và Coranus spiniscutis Reuter, 1881 (Harpactorinae)
1.2.1.2 Nghiên cứu các đặc điểm hình thái và sinh học của một số các loài
BXBM
Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của các loài BXBM đầu tiên phải kể đến nghiên cứu của Distant (1910) [51] mô tả hình thái của 322 loài
thuộc họ bọ xít ăn sâu Reduviidae, trong đó trưởng thành của 2 loài Coranus
fuscipennis Reuter, Coranus spiniscutis Reuter được mô tả chi tiết
Trang 23Miller (1956) [71] đã đưa ra một số dẫn liệu về đặc điểm hình thái pha trưởng thành của 41 loài bọ xít bắt mồi thuộc họ bọ xít ăn sâu Reduviidae, 4 loài thuộc họ bọ xít giả ăn sâu Nabidae, 1 loài thuộc họ bọ xít đo nước Hydrometridae Đồng thời chỉ rõ hình thái trứng của các loài này, tác giả đã xây dựng khóa định loại cho 24 loài bọ xít bắt mồi thuộc họ Reduviidae Hình thái của thiếu trùng từ tuổi 1 đến tuổi 4 của 7 loài bọ xít thuộc họ này cũng đã được tác giả mô tả (Dẫn theo Trương Xuân Lam, 2002a) [16]
Vennison and Ambrose., (1990) [83] cho thấy các loài BXBM thuộc
họ Reduviidae thường đẻ trứng tập trung, cấu tạo như hình giỏ cua với nắp giỏ có tua vươn ra Dựa vào hình thái trứng, tác giả cũng đã xây dựng khóa định loại cho các loài thuộc 3 giống trong đó có các loài thuộc giống
Coranus
Iman et al., (1986) [56] nghiên cứu về đặc điểm sinh học của một số
loài BXBM trong đó có hai loài thuộc giống Coranus (Coranus fuscipennis Reuter và Coranus spiniscutis Reuter) cho thấy trong điều kiện phòng thí nghiệm nhiệt độ 26 - 30oC và độ ẩm 82,67 ± 2% giai đoạn thiếu trùng của hai loài bọ xít này phát dục khoảng từ 30-35 ngày với thức ăn là một số loài sâu hại thuộc bộ cánh vẩy trên đậu tương và ngô
Singh et al., (1989) [82] nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của loài
bọ xít nâu viền trắng (BXNVT) Andrallus spinidens Fabricius Andrallus
spinidens (Asopinae: Pentatomidae) cho rằng vật mồi để nuôi loài bọ xít bắt
mồi này là sâu hại đậu tương Rivula sp Trong điều kiện nhiệt độ 24 - 30o
C,
ẩm độ 75 - 80% phòng thí nghiệm tại Macthya (Banglades) vòng đời của loài
bọ xít nâu A spinidens từ khi trứng nở đến khi trưởng thành đẻ trứng tương
ứng là 32 và 40 ngày
Trang 24Rao et al., (2006) [79] cho rằng thời gian phát dục của trứng BXNVT trong điều kiện phòng thí nghiệm ở Ấn độ là 5,8 ngày; thiếu trùng tuổi 1, 2 là 3,2 ngày; tuổi 3 là 4,4 ngày; tuổi 4 là 4,2 ngày và tuổi 5 là 4,6 ngày, vòng đời của BXNVT là 24,2 ngày
Gupta et al., (2004) [53] khi nuôi Andrallus spinidens ở điều kiện phòng thí nghiệm với nhiệt độ 30 ± 2oC, ẩm độ 70% cho thấy BXNVT đẻ từ 4 đến 8 ổ trứng, số trứng/ổ giao động từ 16 đến 71 quả, trung bình 41,2 trứng/ổ
Javadi et al., (2005) [61] cho biết với thức ăn là loài sâu hại Chilo
suppressalis trong điều kiện phòng thí nghiệm nhiệt độ 23,18 ± 1oC, ẩm độ
92,57 ± 2% một con cái của loài Andrallus spinidens đẻ 241,66 ± 30,40
quả trứng
Singh et al., (1989) [82] chỉ rõ một BXNVT cái đẻ 288 - 562 quả trứng gồm 5 - 9 ổ, trung bình 34 - 87 quả trứng/ổ
Theo Hideo Uematse (2006) [54] nuôi BXNVT ở nhiệt độ là 25°C,
nuôi theo nhóm 10 cá thể/hộp và thức ăn là ấu trùng tuổi 3 đến tuổi 5 của sâu
khoang Spodoptera litura Kết quả cho thấy cứ 2 - 3 ngày BXNVT lại đẻ tiếp
1 ổ trứng, trung bình có 75,4 quả trứng/ổ và tổng số 499 trứng/1 con cái Như vậy với nhiệt độ nuôi khác nhau, con mồi và số cá thể/hộp nuôi khác nhau, sức sinh sản của BXNVT nói riêng và BXBM nói chung khác nhau
Amaral Filho et al., (1995) [44] đã nghiên cứu vòng đời của loài bọ xít
bắt mồi Apiomerus lanipes trong điều kiện phòng thí nghiệm ở Brazil (nhiệt
độ 26,25oC, ẩm độ 77,07%) Kết quả cho thấy, vòng đời của loài bọ xít bắt
mồi này trung bình 294,85 ngày, thời gian phát dục ở giai đoạn thiếu trùng trung bình 260,02 ngày với thức ăn là trưởng thành của loài ruồi dấm
Drosophilla sp và loài Ceratitis capitata
Trang 25Gupta et al., ( 2004) [53] nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của
loài bọ xít ăn sâu Zygogramma bicolorata cho thấy trong điều kiện phòng
thí nghiệm (nhiệt độ 26oC, ẩm độ 78%) vòng đời của loài bọ xít bắt mồi
này trung bình 184,85 ngày, thời gian phát dục ở giai đoạn thiếu trùng trung bình 86,02 ngày với thức ăn là sâu non của một số loài sâu hại và
trưởng thành của của loài ruồi dấm Ceratitis capitata
Theo Rao et al., (2006) [79] thời gian giao phối của BXNVT ở điều kiện phòng thí nghiệm (Ấn Độ) là 1h25 phút (85 phút) Thời gian từ giao phối đến đẻ trứng là 1 đến 3 ngày
Javadi et al., (2005) [61] cho rằng ở điều kiện phòng thí nghiệm (có nhiệt độ 23,18 ± 1oC, độ ẩm 92,57 ± 2%), thời gian giao phối trung bình của 1 cặp BXNVT là 160 ± 14,73 phút
Ở Ấn Độ, Vennison et al., (1990) [83] khi nghiên cứu ảnh hưởng của việc ghép đôi lên sự sinh sản và thời gian phát dục của trứng loài bọ xít bắt
mồi Coranus spiniscutis Reuter trong điều kiện phòng thí nghiệm có nhiệt độ
30 - 35oC, ẩm độ 75 - 85% với vật mồi là loài sâu xanh Helicoverpa
armigera Kết quả cho thấy khi 1 con cái được ghép đôi với 3 đến 4 con đực khác tuổi có thời gian đẻ trứng ngắn hơn so với thời gian đẻ trứng của một con cái được ghép đôi với một con đực cùng tuổi, nhưng thời gian phát dục của trứng và thiếu trùng lại dài ngày hơn
Maria et al., (1999) [68] nghiên cứu về loài bọ xít bắt mồi Supputius
cincticeps (Stal) (Heteroptera: Pentatomidae) đã xác định được nhiệt độ khởi điểm phát dục và tổng nhiệt hữu hiệu của pha trứng, thiếu trùng và vòng đời của cá thể đực là 10,7; 11,0; 12oC và 84,6; 410,7; 440,1 độ ngày; tương ứng đối với cá thể cái là 10,0; 12,0; 8,9oC và 88,2; 440,1; 643,1 độ ngày
Geetha et al., (1992) [52] khi nghiên cứu một số đặc điểm sinh học
của loài bọ xít mù xanh bắt mồi Cyrtorhinus lividipennis (Reuter) trong
Trang 26phòng thí nghiệm tại trường Nông nghiệp Na Du (Ấn Độ) cho thấy khi
nuôi loài bọ xít bắt mồi này với thức ăn là trứng của ngài gạo Corcyra
cephalonica và trứng của rầy nâu Nilaparvata lugens, rầy lưng trắng
Sogatella furcifera, rầy xanh đuôi đen Nephotettix sp thì tỷ lệ sống sót ở
giai đoạn thiếu trùng tương ứng là 62,3%, 66,7%, 53,0% và 31,3% Thiếu trùng của loài bọ xít này trải qua 5 tuổi và thời gian phát dục ở
giai đoạn thiếu trùng với thức ăn là trứng của rầy nâu Nilaparvata lugens
là 12,3 ngày
1.2.1.3 Nghiên cứu tập tính bắt mồi, phổ thức ăn và khả năng tiêu thụ vật
mồi của một số loài bọ xít bắt mồi
Singh et al., (1989) [82] cho thấy khi nuôi BXNVT bằng thức ăn là ấu
trùng loài Rivula sp gây hại trên đậu tương, thiếu trùng tuổi 1 không ăn mồi, tuổi 2 và 3 có sức ăn trung bình 1,13 và 1,86 ấu trùng/ngày, tuổi 4 và 5 tương ứng 2,26 và 7,06 con/ngày, 1 cá thể trưởng thành ăn 4,46 ấu trùng/ngày; 1 cặp trưởng thành trung bình ăn 11,42 ấu trùng/ngày trong thời gian đẻ trứng
Theo Pati et al., (1986) [74] trong nhóm côn trùng bắt mồi của 3 loài
sâu cắn gié Mythimna spp hại lúa ở Ấn Độ phải kể đến loài bọ xít nâu viền trắng Andrallus spinidens (Fabr.) Loài bọ xít bắt mồi này ăn cả sâu non,
nhộng của sâu cắn gié; chúng là loài BXBM có vai trò quan trọng trong việc kìm hãm số lượng của nhóm sâu hại này trên lúa
David et al., (2006) [49] chỉ rõ phổ thức ăn của BXNVT: cả trưởng
thành và thiếu trùng đều ăn ấu trùng của các loài sâu như: Spodoptera litura,
Semiothisa pervolgata, Anticarsia irrorata, Eurema hecabe, Catopsilia pyranthe, Helicoverpa armigera và Pelopidas mathias
Theo Hideo Uematse (2006) [54] khi nuôi theo nhóm 10 thiếu trùng BXNVT/hộp nuôi trung bình ăn 4 - 8 ấu trùng sâu khoang từ tuổi 3 đến tuổi
Trang 275 (tương ứng với trọng lượng thức ăn là 450 - 550 mg/ngày) thấy rằng bọ xít
nâu viền trắng Andrallus spinidens là nhân tố sinh học có tiềm năng trên lúa
ở Ấn Độ, Malaysia và Iran
Jafar Mohaghegh et al.,(2007) [59] cho rằng cả thiếu trùng và trưởng
thành của loài Andrallus spinidens đều ăn ấu trùng của nhiều loài sâu bộ cánh vảy như: Naranga aenescens Moore, Helicoverpa armigera (Hubner)
và Chilo suppressalis (Walker) trên nhiều loại cây trồng khác nhau ở phía Bắc Iran
Vennison et al., (1990) [83] khi nghiên cứu khả năng tiêu thụ vật mồi
của loài bọ xít bắt mồi Coranus spiniscutis Reuter trong điều kiện phòng thí
nghiệm có nhiệt độ 30 - 35oC, ẩm độ 75 - 85% với vật mồi là loài sâu xanh
Helicoverpa armigera ở Ấn Độ Nghiên cứu cho thấy một con trưởng thành
cái có khả năng tiêu thụ vật mồi trong 1 ngày từ 1-2 cá thể của sâu non sâu
xanh Helicoverpa armigera
Khoo (1990) [62] cho rằng nhân nuôi loài bọ xít bắt mồi thuộc giống
Sycanus và đã sử dụng thành công trong việc thả loài bọ xít ăn sâu Sycanus
collaris được nhân nuôi trong phòng để phòng chống một số loài sâu hại trên rau, đậu tương và ngô trên cánh đồng Malaysia thu được hiệu quả phòng trừ cao Tác giả cũng khuyến cáo khi mật độ sâu hại không cao có thể thả từ 70-
90 cá thể bọ xít bắt mồi/500m2trên cánh đồng trồng rau có thể kìm hãm được mật độ của một số loài sâu hại trên rau
Jame (1994) [60] chỉ rõ khả năng tiêu thụ con mồi của loài BXBM
Pristhesancus plagipennis (họ Reduviidae) ở Autralia trong các điều kiện nhiệt độ 22,5o
C; 25oC và 30oC (vật mồi nuôi gồm trưởng thành loài ruồi
dấm Drosophila sp ấu trùng mọt bột Tribolium castaneum, sâu mọt
Tenebrio molitor , thiếu trùng loài Biprorulus bibax và loài bọ xít xanh
Nezara viridula) khá tốt Trung bình mỗi cá thể của loài BXBM này từ
Trang 28khi nở cho đến khi phát dục thành con trưởng thành tiêu thụ hết 153,9 con mồi (nhiệt độ: 22,5oC), 127,6 con mồi (nhiệt độ: 25oC) và 117,3 con mồi (nhiệt độ: 30oC) Mỗi ngày một cá thể của loài này tiêu thụ trung bình 2,5 con mồi (nhiệt độ 30o
C) 2,0 con mồi (nhiệt độ 25oC) và 1,3 con mồi (nhiệt độ 22,5o
C)
Ambrose et al., (1994) [45] nghiên cứu khả năng ăn mồi của loài
BXBM Acathaspis siva (họ Reduviidae) đối với hai vật mồi là loài
Camponotus compressus và loài Dittopternis venusta cho thấy: lượng thức
ăn tiêu thụ được có mối quan hệ với mật độ con mồi Hai loài BXBM
Rhinoceis marginatus và Acanthaspis pedestris ở các tuổi khác nhau đều có vai trò quan trọng trong việc khống chế mật độ của hai loài côn trùng hại lạc, khả năng ăn mồi của hai loài BXBM này phụ thuộc vào mật độ và tuổi
của loài sâu khoang hại lạc S.litura và loài mối hại lạc O assmuthi Với vật mồi ưa thích nhất của hai loài bọ xít Rhinoceis marginatus và Acanthaspis
pedestris là sâu khoang 3 ngày tuổi, sau đó đến sâu khoang 4 ngày tuổi và
5 ngày tuổi
Gupta et al., (2004) [53] khi nghiên cứu tập tính tấn công con mồi của
bọ xít nâu viền trắng (BXNVT) cho biết cả con trưởng thành và thiếu trùng đều giơ vòi chích hút ra khi gặp được con mồi và cố gắng châm vòi để tiêm enzim vào cơ thể con mồi làm cho chúng bị tê liệt và chết từ từ Thời gian một con trưởng thành của BXNVT đưa vòi hút ra và châm vào cơ thể vật chủ
sâu non tuổi 3 của loài Z bicolorata là 18 - 24 giây Thời gian ăn một con mồi sâu non tuổi 3 của loài Z bicolorata là 33 - 47 phút, tổng thời gian để
tiếp xúc và chích hút một con mồi của BXNVT là 45 - 62 phút Sau khi ăn xong chúng thả xác con mồi ra và bò chậm chạp đi chỗ khác, nếu chưa no chúng sẽ tiếp tục tìm mồi
Trang 291.2.1.4 Nghiên cứu biến động số lượng và ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái
đến mật độ của một số loài BXBM
Ooi et al., (1994) [73] nghiên cứu biến động số lượng của loài bọ xít mù
xanh Cyrtorhinus lividipennis với vật mồi của nó loài rầy nâu Nephotettix
lugens là tương quan chặt (r=0,8) Hơn nữa tác giả còn nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức phun thuốc 1 lần và công thức phun thuốc 3 lần lên
mật độ của loài bọ xít mù xanh Cyrtorhinus lividipennis và vật mồi của nó là
các loài sâu hại (rầy nâu, rầy xanh và rầy lưng trắng) cho thấy công thức phun thuốc 3 lần đã làm giảm số lượng của loài bọ xít bắt mồi này và phá vỡ mối tương quan số lượng với vật mồi
Yeargan et al., (1996) [87] khi nghiên cứu ảnh hưởng của việc chiếu
sáng đến thời gian phát dục và đình dục của loài bọ xít bắt mồi Nabis
americoferus và Nabis roseipennis tại phòng thí nghiệm của Mỹ cho biết hai loài bọ xít bắt mồi này là hai loài phổ biến trong hệ sinh thái nông nghiệp và chúng thường qua đông ở giai đoạn trưởng thành Ở nhiệt độ
24oC giới hạn chiếu sáng đình dục của hai loài này là 13,5-14 giờ chiếu sáng mỗi ngày Khi chuyển từ trạng thái không đình dục sang trạng thái
đình dục ở lứa thứ 5 có 87,5% loài Nabis roseipennis và 78,4% loài Nabis
americoferus không sinh sản so với các loài bọ xít khác, quá trình này thường đạt 100%
Theo Waage (1992) [85] có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến sự mẫn cảm của thiên địch đối với thuốc trừ sâu và việc đánh giá ảnh hưởng của thuốc hóa học đối với thiên địch là một khía cạnh quan trọng để định hướng
sử dụng thuốc hợp lý Sử dụng thuốc hóa học trong phòng trừ sâu hại không những gây ô nhiễm môi trường mà còn ảnh hưởng xấu thậm trí tiêu diệt nhiều loài thiên địch của sâu hại
Trang 30Iman et al.,(1986) [56] cho rằng nhiều loại thuốc (Fenvalerate, Permethrin, Cypermethrin, Deltamethrin, Diethquinalphion, Azinphosmethyl, Methomyl) có độ độc cao đối với thiên địch đặc biệt là côn trùng ký sinh
1.2.1.5 Các nghiên cứu về vai trò và sử dụng các loài BXBM
Li Yongxi et al., (1988) [64] cho thấy vai trò quan trọng của các loài
bọ xít bắt mồi, chúng ăn cả ấu trùng, nhộng của nhiều loài sâu hại và có vai trò quan trọng trong việc kìm hãm số lượng của nhóm sâu hại trên lúa ở Guang xi
Khoo (1990) [62] khi nghiên cứu nhân nuôi loài bọ xít bắt mồi thuộc
giống Sycanus và đã sử dụng thành công trong việc thả loài bọ xít ăn sâu
Sycanus collaris được nhân nuôi trong phòng để phòng chống một số loài sâu hại trên rau, đậu tương và ngô trên cánh đồng Malaysia thu được hiệu quả phòng trừ cao Tác giả cũng khuyến cáo khi mật độ sâu hại không cao có thể thả từ 70-90 cá thể bọ xít bắt mồi/500m2 trên cánh đồng trồng rau có thể kìm hãm được mật độ của một số loài sâu hại trên rau
Maria et al., (1999) [67] chỉ rõ cần phải bảo tồn vai trò diệt sâu của các loại bọ xít bắt mồi trên cánh đồng trong đó phải kể đến vai trò của các loài thuộc họ bọ xít ăn sâu Reduviidae Sử dụng tối thiểu thuốc trừ sâu và trồng xen canh gối vụ nhiều loại cây trồng trên hệ sinh thái nông nghiệp cũng làm tăng vai trò của các loài BXBM trên cánh đồng
Shi Zuhua (1998) [81] cho thấy các giai đoạn phát triển trong việc sử
dụng các loài bọ xít bắt mồi, đặc biệt là các loài Acanthaspis pedestris trong
việc phòng trừ mối hại công trình và đê điều ở Trung Quốc
David et al., (2006) [49] xác định vai trò đấu tranh sinh học của các loài xít bắt mồi trong đó phải kể đến vai trò của các loài thuộc giống
Coranus và Sycanus với sâu hại chính trên đậu tương và bông
Trang 311.2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
1.2.2.1 Nghiên cứu về thành phần loài các loài bọ xít bắt mồi
Ở Việt Nam việc nghiên cứu thành phần loài côn trùng bắt mồi trên các cây trồng đã được thực hiện trong nhiều năm qua trên một số cây trồng như ngô, đậu tương, bông và rau họ thập tự Tuy nhiên, những nghiên cứu
có tính chất hệ thống về nhóm bọ xít bắt mồi trên cây đậu rau ít được quan tâm tới Mặt khác ở nước ta có rất ít chuyên gia phân loại côn trùng nói chung, côn trùng bắt mồi nói riêng, nguồn tài liệu để định loại cũng rất hạn hẹp, điều này cản trở công việc điều tra, xác định thành phần thiên địch của sâu hại cây trồng
Ủy ban khoa học Nhà nước (1981) [35] chỉ rõ kết quả điều tra cơ bản động vật miền Bắc Việt Nam năm 1981 đã thu thập được 81 loài BXBM thuộc 6 họ trên các cây trồng, trong đó đã xác định được tên 53 loài còn 28 loài chưa xác định được tên Họ bọ xít ăn sâu Reduviidae có số loài nhiều nhất (71 loài), tiếp theo là họ bọ xít năm cạnh Pentatomidae có 6 loài Các
họ còn lại gồm: họ bọ xít đỏ Pyrhocoridae có 1 loài (giống Antilochus), họ
bọ xít mù Miridae có 1 loài (giống Cyrtorhinus), họ bọ xít dài Lygaeidae có
1 loài (giống Geocoris) và họ bọ xít đo nước Hydrometridae có 1 loài (thuộc giống Hydrometra)
Theo Viện Bảo vệ thực vật (1976) [36] trong kết quả điều tra côn
trùng miền Bắc của Việt Nam đã thu thập, xác định được loài Deraeocoris
punctulatus Fallen thuộc họ Miridae, bộ Hemiptera trên cây khoai lang Trong khi đó, theo Viện Bảo vệ thực vật (1999) [37] trong kết quả điều tra côn trùng và bệnh cây ở các tỉnh miền Nam 1977 – 1978 không thu thập, xác
định được loài Deraeocoris punctulatus Fallen này
Trang 32Vũ Quang Côn và ctv (1994) [2] đã thu thập và xác định tên 10 loài BXBM thuộc 3 họ Họ bọ xít ăn sâu Reduviidae có 5 loài, họ Pentatomidae
có 4 loài và họ bọ xít đỏ Pyrrhocoridae có 1 loài trên bông tại Tô Hiệu (Sơn La)
Phạm Văn Lầm (1997) [24] cho biết trong 40 loài côn trùng bắt mồi (thuộc 6 họ) của sâu hại cây lúa ở Hà Nội và vùng phụ cận, nhóm BXBM
có 9 loài (chiếm 22,5%) Trong đó họ bọ xít ăn sâu Reduviidae có 3 loài,
họ bọ xít năm cạnh Pentatomidae có 2 loài, họ bọ xít mù Miridae, họ bọ xít giả ăn sâu Nabidae, họ bọ xít đỏ Pyrrhocoridae và họ bọ xít dài Lygaeidae mỗi họ có 1 loài
Hung Ha Quang et al., (1999) [55] đã ghi nhận được 5 loài BXBM thuộc họ Pentatomidae và họ Reduviidae trên lúa tại Gia Lâm, Hà Nội
Chien Tran Đinh (1999) [46] đã xác định được 11 loài BXBM thuộc 4 họ: 7 loài thuộc họ bọ xít ăn sâu Reduviidae, 2 loài thuộc họ bọ xít năm cạnh Pentatomidae, 1 loài thuộc họ bọ xít dài Lygaeidae và một loài thuộc họ bọ xít
mù Miridae trên cây đâụ tương ở Hà Nội và vùng phụ cận
Masaaki Tomokuni et al., (2003) [70] ghi nhận 5 loài thuộc họ
Reduviidae thuộc giống Pygolampis ở Việt Nam, đó là: P angusta Hsiao,
1977, P foeda Stal, 1859, P rufescens Hsiao, 1977, P simulipes Hsiao, 1977
và một loài chưa được mô tả Loài cuối được mô tả như một loài mới dưới cái
tên Pygolampis tuberosa Những sự mô tả về chuẩn loại của 4 loài mới biết và một khoá định loại cho những loài ở Việt Nam được công bố Ở đây trưởng
thành cái của loài P angusta và trưởng thành đực của loài P rufescens lần đầu
tiên được mô tả Bốn giống và loài thuộc họ Reduviidae thuộc họ phụ Peiratina
ở Việt Nam được công nhận và định loại Trong đó những loài: Ectomocoris
yunnanensis Ren, Periates atromaculatus (Stồl), Sirthenea flavipes (Stal) và giống Sirthenea Spinola được công bố lần đầu tiên ở Việt Nam
Trang 33Wanzhi Cai et al., 2004) [86] chỉ rõ l loài Peirates yayeyamae Matsumura được công nhận như một synonym của E elegans (Fabricius) Loài mới Sirthenea nigra Cai & Tomokuni màu đen cũng được mô tả
Theo Ishikawa Tadashi et al., (2004) [57] Parendochus gracilis là
một loài mới thuộc họ phụ Harpactorine thuộc giống bọ xít bắt mồi
Parendochus được mô tả ở Việt Nam như thành viên thứ hai của giống này
Bốn loài thuộc giống Epidatus Stal ở Việt Nam được công nhận và định tên Loài Epidatus sexspinus Hsiao và Epidatus longispinus Hsiao được công bố
lần đầu tiên ở Việt Nam Loài mới Epidatus bachmanensis Truong, Zhao &
Cai được mô tả
Lam Truong Xuan et al., (2006) [63] cho rằng cấu tạo ngoài của lưng, đầu và mảnh lưng trước, bộ phận sinh dục đực và những đặc điểm hình thái đặc
trưng của những loài mới Epidatus bachmanensis Truong, Zhao được minh
họa bằng hình ảnh
Đặng Đức Khương (2005) [14] xác định có 19 loài bọ xít đỏ (Pyrrhocoridae - Heteroptera) thuộc 10 giống ở nước ta, trong đó bổ sung thêm
7 loài và 3 giống cho khu hệ côn trùng ở Việt Nam Họ Pyrrhocoridae chỉ có 2 phân họ là Larginae và Pyrrhocorinae ở Việt Nam, trong đó tác giả nghi nhận
loài Antilochus conquebertii Fabr là loài bọ xít bắt mồi được ghi nhận chủ yếu trên cây bông
Mai Phú Quý và ctv (2008) [28] cho rằng cơ sở dữ liệu (vị trí phân loại, đặc điểm hình thái, sinh học, sự phân bố và mẫu vật sử dụng trong nghiên cứu) của 7 loài bọ xít bắt mồi thuộc họ phụ Asopinae được công bố và ghi nhận ở Việt Nam
Đặng Đức Khương và ctv (2008) [15] trong nghiên cứu về thành phần loài họ bọ xít của bộ Cánh khác (Heteroptera) ở vườn quốc gia Xuân Sơn (Phú Thọ) đã ghi nhận 127 loài bọ xít thuộc 73 giống của 9 họ, trong đó các
Trang 34loài BXBM thuộc họ Reduviidae có 28 loài, 15 giống chiếm 22% tổng số loài
bọ xít đã giám định
Hà Quang Hùng (1996) [9] đã ghi nhận loài bọ xít bắt mồi Andrallus
spinidens (Fabr.) (họ Pentatomidae) là loài bọ xít bắt mồi có triển vọng và vật mồi chủ yếu của nó là sâu non của các loài sâu hại khoai lang
Theo Hồ Thị Thu Giang (2002) [8] đã ghi nhận 77 loài thiên địch trên sinh quần rau họ hoa thập tự, trong đó có 60 loài bắt mồi (48 loài côn trùng,
12 loài nhện lớn bắt mồi và 17 loài ký sinh) Côn trùng bắt mồi khá đa dạng thuộc nhiều bộ khác nhau, bộ cánh cứng (Coleoptera) có 36 loài, thuộc 4 họ,
họ bọ chân chạy có 19 loài, họ bọ rùa 11 loài, họ bọ cánh cộc 4 loài Bộ hai cánh (Diptera) có 3 loài thuộc họ Syrphidae và bộ cánh nửa (Hemiptera) có 4 loài thuộc 2 họ Reduviidae và Anthocoridae Tần xuất bắt gặp của các nhóm bắt mồi này trên đồng ruộng rất thấp, thức ăn chủ yếu của chúng là sâu non bộ cánh vảy
Các kết quả nghiên cứu cho thấy thành phần côn trùng bắt mồi của sâu hại rau rất phong phú, tuy nhiên việc nghiên cứu đánh giá vai trò của các loài thiên địch còn tản mạn và chưa được hệ thống, nhất là các nghiên cứu
về thành phần loài BXBM trên cây đậu rau còn ít được quan tâm Hơn nữa, các nghiên cứu hầu như tập trung về thành phần loài, mô tả một số đặc điểm sinh học, sinh thái của chúng ở khu vực phía Bắc và phía Nam Ở khu vực phía Bắc, đặc biệt Hà Nội hầu như chưa có công trình nghiên cứu về các loài
bọ xít bắt mồi trên sinh quần ruộng đậu rau
Theo Phạm Văn Lầm, (2011) [25] 215 loài bắt mồi đã xác định tên khoa học thuộc 12 bộ của lớp côn trùng và lớp hình nhện Bộ cánh cứng (Coleoptera) có số loài đã xác định tên khoa học nhiều nhất với 78 loài (chiếm 36,3% tổng số loài bắt mồi đã định danh) Đứng thứ hai là bộ nhện
Trang 35lớn (Araneae) với 59 loài (chiếm 27,4%) Đứng thứ ba là bộ cánh nửa (Hemiptera) với 32 loài (chiếm 14,9% tổng số) Tác giả đã nêu rõ tên khoa học của loài bắt mồi và tên khoa học của con mồi trong kết quả định danh thiên địch của sâu hại thu được trên một số cây trồng chính trong giai đoạn
1981 – 2002 ở Việt Nam Cũng theo Phạm Văn Lầm (2011) [25] những nghiên cứu về thành phần thiên địch của sâu hại nói chung và trên các cây đậu ăn quả, đậu tương nói riêng ở nước ta còn chưa nhiều Trong thời gian
từ 2001 – 2006 mới có một số nghiên cứu về thiên địch của sâu hại trên cây đậu đũa, đậu tương, lạc, mới thu thập và định danh được 7 loài bọ xít bắt mồi trên cây đậu tương và lạc
Theo Lam Trương Xuan et al., (2006) [63] trong thành phần loài của nhóm bọ xít bắt mồi thuộc họ Reduviidae (Heteroptera) ở huyện Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh đã ghi nhận 28 loài bọ xít bắt mồi thuộc họ Reduviidae thuộc 15
giống Trong đó ghi nhận mới cho khu hệ côn trùng Việt Nam 4 loài gồm:
Sirthenea dimidiate Horvath, Lestomerus sp., Peirates leturoides Wolff và Ectomocoris biguttulus Stal
Trương Xuân Lam (2005) [19] cho rằng 12 loài bọ xít ăn sâu thuộc phân
họ Peirarinae (Hemiptera: Reduviidae) được ghi nhận và xây dựng khoá định
loại 3 loài bao gồm Sirthenea dimidiate Horvath, Peirates leturoides Wolff và
Ectomocoris biguttulus Stal được ghi nhận lần đầu tiên ở Việt Nam
1.2.2.2 Nghiên cứu các đặc điểm hình thái và sinh học của một số các loài
BXBM
Ở Việt Nam cũng đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu đặc điểm sinh học của một số loài bọ xít bắt mồi Nghiên cứu đầu tiên phải kể đến là
nghiên cứu về loài bọ xít bắt mồi Eocanthecona furcellata (họ
Pentatomidae) đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu đặc điểm sinh
Trang 36học, sinh thái trong điều kiện phòng thí nghiệm và đạt được các kết quả tương đối đầy đủ
Vũ Quang Côn và ctv (1994) [2] chỉ rõ khi nuôi loài bọ xít hoa bắt mồi (một nguồn là loài nhập nội từ Thái Lan và một nguồn là loài nội địa) với thức ăn sâu khoang kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian phát dục của các pha thay đổi tùy theo thời gian thí nghiệm trong năm, kéo dài hơn ở mùa đông và ngắn hơn ở mùa hè Trứng của loài bọ xít này phát dục từ 4,8 – 20,3 ngày, thiếu trùng có 5 tuổi, thiếu trùng tuổi 1, 2 chỉ uống nước và bắt đầu từ tuổi 3 mới ăn mồi Thời gian phát dục của giai đoạn thiếu trùng từ 14,1 – 33,8 ngày Thiếu trùng tuổi 5 vũ hóa thành trưởng thành thường giao phối sau 3,7 – 8,1 ngày Một bọ xít bắt mồi cái có thể đẻ từ 132,3 – 191,9 quả trứng và tuổi thọ của chúng có thể đạt 56,2 ngày trong mùa đông và 15,4 – 21,3 ngày ở mùa hè và mùa thu Thời gian phát dục từ trứng đến trưởng thành của loài bọ xít này trung bình 20,3 – 59,1 ngày
Phạm Văn Lầm và ctv (1994) [23] cho rằng nuôi loài bọ xít hoa bắt mồi trong điều kiện nhiệt độ từ 26,1 – 29,4oC, ẩm độ từ 72 - 85% cho thấy vòng đời của loài bọ xít này từ 22 – 31 ngày (giai đoạn trứng 5 -7 ngày, thiếu trùng 11-20 ngày, từ lột xác thành trưởng thành đến đẻ trứng 5-7 ngày)
Nguyễn Xuân Thành (1996) [31] chỉ rõ bọ xít hoa bắt mồi trưởng thành cái đẻ 1 - 9 ổ trứng, trung bình đẻ được 175,4 quả trứng Mỗi cá thể bọ xít bắt mồi ở các tuổi có thể ăn tới 37,09 con sâu khoang, trung bình ăn hết từ 2 - 3 con/ngày
Trương Xuân Lam (2002a) [16] cho rằng nuôi sinh học loài BXNVT ở điều kiện phòng thí nghiệm (nhiệt độ 28,5 - 30oC, ẩm độ 79 - 82%) cho biết
số trứng trung bình của 1 trưởng thành cái đẻ 397,58 ± 12,92 quả, số ổ trứng
Trang 37trung bình/trưởng thành cái 4,18 ± 0,10 ổ, số trứng trung bình của 1 ổ 96,91 ± 4,63 quả
Trương Xuân Lam (2002b) [17] khi nghiên cứu loài bọ xít bắt mồi cổ
ngỗng đen Sycanus croceovittatus Dohrn (Heteroptera, Reduviidae) cho rằng trứng của loài bọ xít bắt mồi Sycanus croceovittatus phát triển từ 14 -
19 ngày (trung bình 16,13 ngày); thời gian phát triển trung bình của thiếu trùng tuổi 1 là 6,68 ngày; tuổi 2 là 8,24 ngày; tuổi 3 là 10,11 ngày; tuổi 4 là 10,93 ngày; tuổi 5 là 13,27 ngày; tỷ lệ sống trong quá trình nuôi trung bình đạt được là 69,62 %
Trương Xuân Lam (2002b) [17] khi nghiên cứu loài bọ xít bắt mồi cổ
ngỗng đỏ Sycanus falleni Stồl cho thấy trong điều kiện phòng thí nghiệm
(nhiệt độ 28,5 - 30oC, ẩm độ 79 - 82%) sau khi đạt đến tuổi 5 thiếu trùng
của loài Sycanus falleni lột xác thành con trưởng thành, trưởng thành cái
bắt đầu đẻ trứng sau đó 8 - 18 ngày Một trưởng thành cái có thể đẻ từ 71 -
406 quả (trung bình: 173,77 ± 10,75 quả) trong suốt thời gian sống Trứng
của loài Sycanus falleni phát triển từ 15 - 21 ngày (trung bình: 18,27 ± 0,52
ngày) thì nở và đạt tỷ lệ nở từ 68,38 – 80,51 % (trung bình: 73.,8 ± 1,01%)
Thiếu trùng của Sycanus falleni có 5 tuổi Kích thước trung bình của thiếu
trùng tuổi 1 là 2,79 ± 0,02 mm, tuổi 2 là 3,75 ± 0,01 mm, tuổi 3 là 5,81 ± 0,03 mm, tuổi 4 là 10,55 ± 0,06 mm và tuổi 5 là 14,11 ± 0,18 mm Thời gian phát dục trung bình của thiếu trùng tuổi 1 là 6,39 ± 0,44 ngày, tuổi 2
là 8,01 ± 0,42 ngày, tuổi 3 là 9,85 ± 0,41 ngày, tuổi 4 là 10,89 ± 0,56 ngày
và tuổi 5 là 13,64 ± 0,62 ngày Vòng đời của Sycanus falleni từ 61 - 89
ngày (trung bình: 79,09 ± 3,05 ngày)
Trương Xuân Lam (2002b) [17] khi nghiên cứu về đặc điểm sinh học,
sinh thái của loài Sycanus falleni Stal (Heteroptera, Reduviidae,
Harpactorinae) cho thấy, ở điều kiện phòng thí nghiệm có nhiệt độ và ẩm độ
Trang 38giao động 28,5 - 30o
C, 79 - 82%, tỷ lệ nở trung bình của trứng là 94,31 ± 3,34%, thời gian phát dục trung bình của pha trứng là 6,37 ± 0,24 ngày, thiếu trùng là 18,53 ± 0,75 ngày, từ lần lột xác cuối cùng đến khi đẻ trứng 9,26 ±
0,21 ngày, vòng đời bọ xít nâu C.fuscipennis 34,16 ± 1,20 ngày
Hà Quang Hùng và ctv (2002) [10] chỉ rõ đã nghiên cứu vòng đời của O
sauteri là 21,58 ± 0,26 ngày trên vật mồi bọ trĩ Thrips palmi và 23,08 ± 0,26 ngày trên vật mồi trứng ngài gạo C cephalonica
Hà Thanh Hương và ctv (2005) [11] cho rằng trong điều kiện phòng thí nghiệm (nhiệt độ trung bình 27,5oC và ẩm độ trung bình 85,5%), vòng đời của
bọ xít bắt mồi X flavipes nuôi bằng sâu non tuổi 1 - 3 của T castaneum kéo
dài trung bình 21,85 ngày Khả năng ăn trung bình của một cặp trưởng thành
X flavipes đối với trứng của T castaneum ở 30oC (16,86 trứng) cao hơn so với ở 25oC (12,48 trứng), còn đối với pha sâu non tuổi 6 -7, nhộng và trưởng
thành mới vũ hóa của T castaneum là như nhau ở 2 điều kiện nhiệt độ 25o
C
và 30oC Ở cả 2 nhiệt độ (25oC và ở 30oC) khả năng khống chế của trưởng
thành bọ xít X flavipes đối với các pha phát dục của T castaneum chủ yếu là
ở pha trứng và pha sâu non, còn ở pha nhộng và trưởng thành mới vũ hóa hạn chế hơn Cả thiếu trùng và trưởng thành bọ xít bắt mồi đều có khả năng khống
chế số lượng trứng của T castaneum tăng dần theo thời gian phát dục Khả năng trung bình của một đời bọ xít bắt mồi X flavipes đối với pha trứng của mọt bột đỏ T castaneum ở 30oC (6,86 trứng/ngày, tổng số trung bình 446,20 trứng/đời) cao hơn so với ở 25oC (5,66 trứng/ngày, tổng số trung bình 368,2 trứng/đời)
Theo Dương Minh Tú và ctv (2005) [34] thời gian phát dục của bọ xít
bắt mồi (Xylocoris flavipes Reuter) nuôi bằng sâu non mọt gạo ở 25o
C và
30oC, độ ẩm tương đối của không khí 70% ở pha trứng là 4,5 - 5,2 ngày; bọ
Trang 39xít non là 16,1 - 18,9 ngày; thời gian tiền đẻ trứng là 3,5 - 4,2 ngày; vòng
đời là 24,0 - 28,3 ngày; thời gian sống của trưởng thành là 57,5 - 61,6 ngày
và đời là 81,6 - 89,9 ngày Hiệu quả phòng trừ bằng bọ xít bắt mồi
(X flavipes) đạt cao nhất ở công thức thả 30 bọ xít trưởng thành với mọt
gạo là 42,48%, với mọt đục hạt nhỏ là 44,57% tại thời điểm 60 ngày sau
khi thả bọ xít
Nguyễn Thị Thanh và ctv (2011) [30] cho rằng ở điều kiện nhiệt độ
28oC, ẩm độ 73% sức sinh sản của Andrallus spinidens cao nhất, trung bình
345,83 quả trứng/cặp Khi nhiệt độ, ẩm độ tăng lên 31oC, 82%, hoặc giảm
xuống 25oC, 75% sức sinh sản của Andrallus spinidens giảm (274,00 ± 6,21
và 299,00 ± 6,56 quả trứng/cặp) Khi nuôi nhiệt độ 35oC, ẩm độ 87%, sức
sinh sản của Andrallus spinidens thấp nhất (97 ± 11,58 quả trứng/cặp)
1.2.2.3 Nghiên cứu phổ thức ăn và khả năng tiêu thụ con mồi của một số
loài bọ xít bắt mồi
Hà Quang Hùng và ctv (2002) [10] cho thấy loài bọ xít bắt mồi Orius
sauteri là một loài côn trùng bắt mồi có ý nghĩa trong điều hoà số lượng bọ
trĩ Thrips palmi hại khoai tây ở vùng Hà Nội và phụ cận Trứng ngài gạo
Corcyra cephalonica được coi là ký chủ phụ tốt để nhân nuôi hàng loạt bọ
xít O sauteri trở thành tác nhân trong biện pháp sinh học phòng trừ bọ trĩ
Thrips palmi hại khoai tây Khả năng ăn vật mồi bọ trĩ Thrips palmi đạt
35,02 ± 2,24 con/ngày, vật mồi ngài gạo C cephalonica đạt 32,44 ± 1,96
trứng/ngày
Trương Xuân Lam (2002a) [16] khi nghiên cứu về khả năng ăn mồi của
BXNVT cho thấy chúng có sức ăn lớn hơn so với kết quả của nghiên cứu này,
cụ thể như sau: vật mồi là sâu non sâu khoang tuổi 1, 2 thiếu trùng BXNVT
ăn từ 3 - 6 con/ngày (trung bình 3,92 ± 0,32 con/ngày), trưởng thành ăn 8,13
Trang 40± 1,08 con/ngày Vật mồi sâu non sâu khoang tuổi 3 thiếu trùng ăn 2 - 3 con/ngày (trung bình 2,83 ± 0,26 con/ngày), trưởng thành ăn 6,27 ± 1,04
con/ngày Vật mồi sâu non sâu đo Plusia sp tuổi 2, 3 thiếu trùng ăn 3,76 ±
0,27 con/ngày, trưởng thành ăn 10,89 ± 1,12 con/ngày
Hà Thanh Hương và ctv (2005) [11] cho rằng khả năng ăn trung bình của
một cặp trưởng thành của loài BXBM X flavipes đối với trứng của T
castaneum ở 30oC (16,86 trứng) cao hơn so với ở 25oC (12,48 trứng), còn đối
với pha sâu non tuổi 6 -7, nhộng và trưởng thành mới vũ hóa của T
castaneum như nhau ở hai điều kiện nhiệt độ 25o
C và 30oC Ở cả hai nhiệt độ (25oC và ở 30oC) khả năng khống chế của trưởng thành bọ xít X flavipes đối với các pha phát dục của T castaneum chủ yếu ở pha trứng và pha sâu non,
còn ở pha nhộng và trưởng thành mới vũ hóa hạn chế hơn
Trương Xuân Lam (2008) [20] chỉ rõ trong điều kiện thí nghiệm (nhiệt
độ từ 28,5o
C - 30oC và ẩm độ từ 79% - 82%) hai loài bọ xít ăn sâu Sycanus
falleni và Sycanus croceovittatus được nuôi bằng sâu khoang Spodoptera
litura cho thấy: trung bình 1 ngày loài S falleni pha thiếu trùng ăn từ 3 - 8 con, pha trưởng thành ăn từ 8 - 14 con; loài S croceovittatus trung bình 1
ngày pha thiếu trùng ăn từ 2 - 9 con, pha trưởng thành ăn từ 9 - 13 con Khi
nuôi bằng ngài gạo Corcyra cephalonica cho thấy: trung bình 1 ngày loài S
falleni pha thiếu trùng ăn trung bình 7,04 con/ngày, pha trưởng thành ăn trung
bình 16,01 con/ngày; loài S croceovittatus pha thiếu trùng ăn trung bình 6,67 con/ngày, pha trưởng thành ăn trung bình 15,05 con/ngày Ở thế hệ thứ nhất
với thức ăn ngài gạo từ 6 cá thể cái của loài S falleni ban đầu đã sinh sản và
phát triển thành 234 cá thể trưởng thành với tỉ lệ giới tính (cái : đực) là 1 : 1,4
và tỷ lệ sống sót đạt 53,91% Ở thế hệ thứ hai với 8 cá thể trưởng thành cái
ban đầu, loài S falleni đã sinh sản và phát triển thành 211 cá thể trưởng thành
và tỷ lệ giới tính (cái : đực) là 1 : 1,6 với tỷ lệ sống sót đạt 44,51%