1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài frankinella intonsa trybon và biện pháp phòng trừ ở nghệ an

172 1,6K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài Frankliniella intonsa Trybom và biện pháp phòng trừ ở Nghệ An
Tác giả NCS. Nguyễn Đức Thắng
Người hướng dẫn GS.TS. Hà Quang Hùng
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Bảo vệ thực vật
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 172
Dung lượng 3,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.3.3 Những nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học 2.3.1 Điều tra xác định thành phần bọ trĩ hại lạc và thành phần 2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái học của loài

Trang 2

L AM OA

Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi, các số liệu, hình ảnh, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và ch-a đ-ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án này đã đ-ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận án đều đ-ợc ghi rõ nguồn gốc

Tác giả luận án

NCS Nguyễn Đức Thắng

Trang 3

L ẢM Ơ

Đề hoàn thành luận văn, chúng tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp

đỡ tận tình của Giáo sư Tiến sĩ Hà Quang Hùng, bộ Môn Côn trùng, khoa Nông học trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo cùng tập thể cán bộ công nhân viên Viện Đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong học tập và hoàn thành luận án đúng tiến độ

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Nông Học, Bộ môn Côn trùng, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã trực tiếp hay gián tiếp giúp đỡ về chuyên môn, cơ sở vật chất trong việc triển khai các thí nghiệm nghiên cứu và góp ý cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Thanh tra Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ban lãnh đạo Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung Bộ, Ban Giám đốc Cục Bảo vệ thực vật, ban Giám đốc Trung tâm Giám định Kiểm dịch thực vật và tập thể cán bộ công nhân viên thuộc các đơn vị đặc biệt Tiến sĩ Hà Thanh Hương, Tiến sĩ Dương Minh Tú, Thạc sĩ Hoàng Kim Thoa đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án

Ngoài ra, chúng tôi cũng nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán

bộ công nhân viên tại Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung Bộ, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội và các bạn bè, sinh viên thực tập tốt nghiệp để tôi hoàn thành bản luận án này

Chúng tôi xin ghi nhận những ý kiến giúp đỡ, trao đổi của các thầy co, các nhà khoa học trong và ngoài nước và các đồng nghiệp trong quá trình thực hiện đề tài luận án

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với cha, mẹ, vợ, con trai và bạn bè thân thiết đã hết lòng động viên, giúp đỡ rất nhiều cả về tinh thần và vật chất cho tôi hoàn thành chương trình học tập và luận án nghiên cứu đề tài này

Hà nội, ngày 14 tháng 8 năm 2012

Tác giả luận án NCS Nguyễn Đức Thắng

Trang 4

ơ 1 ỔNG QUAN TÀI LI U V Ơ SỞ KHOA H C CỦA

1.2.3 Những nghiên cứu về đặc tính sinh vật học, sinh thái học của

Trang 5

1.3.3 Những nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học

2.3.1 Điều tra xác định thành phần bọ trĩ hại lạc và thành phần

2.3.2 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh thái học của loài bọ trĩ

2.3.3 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài bọ trĩ

2.3.4 Điều tra diễn biến mật độ loài Frankliniella intonsa dưới ảnh

2.3.5 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của

Trang 6

2.3.6 Nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng trừ bọ trĩ Frankliniella

intonsa Trybom theo hướng quản lý tổng hợp đạt hiệu quả

ơ 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 56

3.1 Kết quả nghiên cứu về thành phần loài, phạm vi ký chủ, tác hại

3.1.2 Bảng định loại pha trưởng thành cái các loài bọ trĩ hại lạc tại

3.2.2 Vòng đời và thời gian phát dục của bọ trĩ Frankliniella intonsa

Trang 7

3.3.5 Ảnh hưởng của biện pháp luân canh đến mật độ của bọ trĩ

3.3.6 Hiệu lực của một số loại thuốc trừ sâu đối với bọ trĩ 90 3.4 Khả năng sử dụng thiên địch để phòng trừ bọ trĩ F.intonsa hại

3.4.1 Thành phần thiên địch của bọ trĩ hại lạc tại Nghệ An 92

3.4.2 Đặc điểm hình thái của loài thiên địch bọ trĩ F.intonsa trên

3.5 Biện pháp phòng chống bọ trĩ hại lạc theo hướng quản lý tổng hợp 107

Danh mục các công trình khoa học đã công bố liên quan đến luận án 124

Trang 8

DANH MỤ BẢ

1.1 Loài bọ trĩ là vectơ truyền bệnh chết chồi cho lạc ở các nước 8

3.2 Thành phần loài bọ trĩ hại lạc đã ghi nhận được ở Việt Nam 583.3 Kích thước cơ thể các pha phát dục của bọ trĩ Frankliniella

3.4 Thành phần cây ký chủ và mức độ gây hại của bọ trĩ F intonsa

3.5 Thời gian phát dục của bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom

3.6 Ảnh hưởng của thời vụ giống lạc L14 đến diễn biến mật độ bọ trĩ

3.7 Ảnh hưởng của các công thức luân canh đến diễn biến mật độ

3.8 Hiệu lực của một số loại thuốc trừ sâu đối với bọ trĩ tổng số

(Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp Bắc Trung Bộ năm 2010) 913.9 Hiệu lực của một số loại thuốc trừ sâu đối với bọ trĩ hại lạc

3.10 Thành phần thiên địch của bọ trĩ hại lạc năm 2008 - 2010 tại

3.11 Kích thước các pha phát dục của bọ xít nâu nhỏ bắt mồi

Orius sauteri Poppius (Viện KHKTNN Bắc Trung Bộ, 2009) 95

Trang 9

3.12 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến thời gian phát dục của bọ xít nâu

nhỏ bắt mồi Orius sauteri nuôi trên vật mồi là trứng ngài gạo

3.13 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến thời gian phát dục của bọ xít nâu

nhỏ bắt mồi Orius sauteri nuôi trên vật mồi là trứng nhện đỏ

3.14 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến thời gian phát dục của bọ xít nâu

nhỏ bắt mồi Orius sauteri nuôi trên vật mồi là bọ trĩ non

3.15 Khả năng đẻ trứng của bọ xít nâu nhỏ bắt mồi (Orius sauteri) cái

3.16 Khả năng ăn bọ trĩ F intonsa của bọ xít nâu nhỏ bắt mồi O.sauteri

3.17 Mật độ F intonsa trên giống lạc L14 ở ruộng không có nylon

làm hàng rào và ruộng có nylon làm hàng rào tại Nghi Lộc,

3.18 Mật độ F intonsa trên giống lạc L14 ở ruộng tưới nước dạng rãnh

và ruộng tưới nước dạng phun mưa tại Nghi Lộc, Nghệ An, 2010 110

3.19 Diễn biến mật độ F intonsa và O sauteri trên ruộng thả bọ xít nâu

nhỏ bắt mồi O sauteri và không thả thêm bọ xít nâu nhỏ bắt mồi

O sauteri trong vụ Xuân 2010 tại Viện KHKTNN Bắc Trung bộ 111

3.20 Diễn biến mật độ F intonsa và O sauteri trên ruộng thả bọ xít

nâu nhỏ bắt mồi O sauteri và không thả thêm bọ xít nâu nhỏ bắt mồi O sauteri trong vụ Xuân 2010 tại Nghi Lộc, Nghệ An 1133.21 Năng suất và yếu tố cấu thành năng suất lạc xuân 2010 tại Nghị

Lộc, Nghệ An trong việc sử dụng bọ xít nâu nhỏ bắt mồi O

Trang 10

3.22 Hiệu quả sử dụng bọ xít nâu nhỏ bắt mồi trong phòng chống bọ

3.23 Diễn biến mật độ F intonsa trên 2 mô hình canh tác khác nhau

3.24 Diễn biến mật độ O sauteri trên 2 mô hình tại Nghi Lộc, Nghệ

Trang 11

DA MỤ Ì H

Trang 12

3.15 Ảnh hưởng của giống lạc đến diễn biến mật độ bọ trĩ F intonsa

3.16 Ảnh hưởng của giống lạc đến diễn biến mật độ bọ trĩ F intonsa

3.17 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số hại lạc tại Nghi Lộc - Nghệ An

3.18 Diễn biến mật độ bọ trĩ F.intonsa trên ba chân đất khác nhau

3.19 Diễn biến mật độ bọ trĩ trên ruộng cao và ruộng trũng tại Viện

3.29 Thời gian phát dục của bọ xít nâu nhỏ bắt mồi Orius sauteri ở

các điều kiện thức ăn khác nhau, nhiệt độ 250C và ẩm độ 70%

3.30 Thời gian phát dục của bọ xít nâu nhỏ bắt mồi Orius sauteri ở

các điều kiện thức ăn khác nhau, nhiệt độ 300C và ẩm độ 70%

3.31 Diễn biến mật độ F intonsa trên giống lạc L14 có chế độ luân

Trang 13

MỞ ẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây lạc (Arachis hypogaea Linnaeus) là cây công nghiệp ngắn ngày,

cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao, đồng thời là cây cải tạo đất tốt Chính vì vậy nhu cầu sản xuất lạc trên thế giới và Việt nam ngày càng tăng Nghệ An

là tỉnh có diện tích trồng lạc lớn nhất vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải Miền Trung với 21,9 nghìn ha [15]

Hiện nay sản xuất lạc ở Nghệ An và nhiều vùng trồng lạc ở nước ta còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, rủi do làm ảnh hưởng đến năng xuất, phẩm chất lạc; trong đó vấn đề trở vấn đề trở ngại nhất là làm thế nào phát hiện sâu hại nói chung, bọ trĩ nói riêng, nẵm vững đặc điểm sinh học, sinh thái của loài sâu hại chính, từ đó đề xuất biện phát phòng trừ sâu hại lạc một cách hợp lý

Thực tế cho thấy sản xuất lạc vụ xuân ở Nghệ An và những vùng trồng lạc ở nước ta khi phòng chống bọ trĩ lạc người sản xuất mới sử dụng biện pjaps hóa học là chủ yếu song vẫn khó kiểm soát được sự phát sinh gây hại của bọ trĩ, đồng thời lại giết chết nhiều loại thiên địch của chúng, tăng tính quen và chống thuốc hóa học của bọ trĩ Số lần phun thuốc đầu vụ có xu hướng tăng lên và làm tăng nguy cơ bùng phát các loài sâu hại khác Điều này đi ngược lại với quan điểm IPM Sau thời gian sử dụng thuốc bảo vệ thực vật liên tục, thiếu hiểu biết, con người đã làm cho nhiều loại thiên địch của sâu hại nói chung, bọ trĩ nói riêng bị chết, sâu hại được tự do phát sinh, phát triển mạnh tạo lên những vụ dịch nghiêm trọng, khó lường Điều này cho thấy con người

đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loài sâu, nhện hại bùng phát gây thành dịch trong đó có bọ trĩ

Bọ trĩ (Bộ Thysanoptera) là côn trùng nhỏ bé, mảnh mai với đôi cánh

Trang 14

tua (từ tiếng Hy Lạp thysanos (rìa) + pteron (cánh)) Bọ trĩ gây hại trên nhiều loài cây trồng bao gồm hơn 50 loài cây trồng thuộc 20 họ khác nhau (Wang and Y.I Chu., 1986) [85] Những cây trồng thường được thông báo là bị hại nặng như: lạc, ớt, khoai tây, thuốc lá, lạc, cây họ cà và cây họ đậu Bọ trĩ là dịch hại chủ yếu trên lá của dưa hấu, lạc dưa chuột và ớt ở Hawaii Cho đến nay khoảng 5.000 loài bọ trĩ đã được mô tả

Theo Inoue et.al., (2001) [51] Bên cạnh sự gây hại trực tiếp trên cây

trồng, bọ trĩ còn tạo ra các vết thương làm tăng khả năng nhiễm bệnh của cây, đặc biệt chúng là môi giới truyền bệnh virut từ cây này sang cây khác

Ở Việt nam nghiên cứu về loài bọ trĩ hại cây trồng nói chung, cây lạc nói riêng còn rất hạn chế, cho đến nay mới chỉ có một vài công trình nghiên cứu về bọ trĩ hại cây trồng như: (Phạm Thị Vượng, 1998 [16]; (Hà Quang Hùng, 2000 [5]) Yorn Try (2008) [17], Hà Quang Dũng (2008) [4] Hơn nữa những nghiên cứu này chỉ dừng ở điều tra cơ bản như xác định thành phần, bước đầu tìm hiểu về đặc điểm sinh học sinh thái của một số loài bọ trĩ chính gây hại đậu rau, bông, cây có múi

Xuất phát từ thực tiễn sản xuất lạc hiện nay, việc nghiên cứu thành phần, đặc tính sinh học, sinh thái của loài bọ trĩ chính, từ đó đề xuất biện pháp phòng chống bọ trĩ có hiệu quả theo hướng quản lý tổng hợp sâu hại lạc, đặc biệt ứng dụng biện pháp sinh học là rất cần thiết Chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên

địch của chúng, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài Frankliniella intonsa Trybom và biện pháp phòng trừ ở Nghệ An”

2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

2.1 Mục đích của đề tài

Trên cơ sở xác định thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng, đặc điểm sinh học, sinh thái của bọ trĩ chính hại lạc tại Nghệ An và vai trò

Trang 15

của loài thiên địch có ý nghĩa trong điều hòa số lượng bọ trĩ hại lạc, từ đó đề xuất biện pháp phòng trừ bọ trĩ theo hướng quản lý tổng hợp (IPM) tại Nghệ

An đạt hiệu quả kinh tế, thân thiên với môi trường

2.2 Yêu cầu của đề tài

- Điều tra xác định thành phần bọ trĩ hại lạc và thành phần thiên địch của chúng tại Nghệ An

- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học của loài bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom hại lạc tại Nghệ An

- Điều tra diễn biến số lượng loài Frankliniella intonsa Trybom dưới

ảnh hưởng của một số điều kiện sinh thái tại Nghệ An

- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của loài bọ xít nâu nhỏ bắt

mồi Orius sauteri Poppius ăn thịt bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom tại

Nghệ An

- Nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng trừ bọ trĩ Frankliniella intonsa

Trybom theo hướng quản lý tổng hợp đạt hiệu quả kinh tế, thân thiện môi trường

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học

- Cung cấp dẫn liệu khoa học khá đầy đủ về thành phần bọ trĩ hại lạc

Bổ sung 2 loài bọ trĩ vào thành phần loài sâu hại lạc ở Việt Nam

- Bổ sung dữ liệu về đặc điểm sinh học, sinh thái học, phạm vi ký chủ

của loài bọ trĩ F intonsa hại lạc và các yếu tố ảnh hưởng đến diễn biến số

lượng của chúng, làm cơ sở phát hiện kịp thời sự gây hại của bọ trĩ trên lạc và các loài thiên địch của chúng

- Là tài liệu tham khảo cho sinh viên, cán bộ nghiên cứu ở Trường Đại học, Viện nghiên cứu, cho cán bộ kỹ thuật bảo vệ thực vật về bọ trĩ hại lạc

Trang 16

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Nhận biết được các loài bọ trĩ hại lạc, tình hình gây hại và phát sinh

của loài bọ trĩ F intonsa trên cây lạc ở Nghệ An và vùng phụ cận

- Phát hiện kịp thời các loài thiên địch của bọ trĩ F intonsa hại lạc và vai

trò của loài có ý nghĩa trong điều hòa số lượng bọ trĩ

- Đề xuất biện pháp quản lý tổng hợp phòng chống bọ trĩ F intonsa hại

lạc ở Nghệ An và thực hiện mô hình phòng chống chúng đạt hiệu quả kinh tế, thân thiện với môi trường

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các loài bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng tại Nghệ An

- Nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của bọ trĩ chính hại lạc và loài thiên địch có ý nghĩa

- Nghiên cứu biện pháp quản lý tổng hợp bọ trĩ F intonsa hại lạc ở Nghệ An

5 Điểm mới của luận án

- Xác định được 9 loài bọ trĩ hại cây lạc tại Nghệ An trong đó ghi nhận

mới 2 loài bọ trĩ Megalurothrips sjostedi và Haplothrips gowdeyi

- Cung cấp nhiều dẫn liệu khoa học mới về đặc điểm sinh học, sinh thái của bọ trĩ Franklinella intonsa và bọ xít bắt mồi Orius sauteri

- Bước đầu xây dựng và đề xuất quy trình quản lý tổng hợp (IPM) cho

bọ trĩ hại trên cây lạc tại Nghệ An

Trang 17

ơ 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đề tài

Ở Việt Nam trong những năm gần đây, Bọ trĩ (Thrips) đã trở thành sâu

hại nguy hiểm trên nhiều loại cây trồng, bởi lẽ tuy cơ thể nhỏ bé nhưng bọ trĩ

có khả năng phát tán dũa hút dịch của lá, nụ hoa và quả non gây thành những dịch hại làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất, phẩm chất cây trồng; gián tiếp là véc - tơ truyền bệnh virus, vi khuẩns cho cây Để phòng chống chúng, người nông dân mới chỉ sử dụng biện pháp hóa học một cách liên tục thiếu hiểu biết đã dẫn đến hiện tượng bọ trĩ quen và kháng thuốc, đồng thời tiêu diệt hầu hết các loài thiên địch của bọ trĩ - một lực lượng sinh vật có ích quan trọng góp phần điều hòa số lượng quần thể bọ trĩ trong mỗi hệ sinh thái nông nghiệp, điều đó dẫn đến sự bùng phát số lượng của một số loài bọ trĩ chủ yếu

Hiện nay ở nước ta những nghiên cứu về loài bọ trĩ hại cây trồng nói chung, cây lạc nói riêng còn rất hạn chế, cho đến nay mới chỉ có một vài công trình nghiên cứu về bọ trĩ hại cây trồng như: (Phạm Thị Vượng, 1998 [16]; (Hà Quang Hùng, 2000 [5]); Yorn Try (2008) [17], Hà Quang Dũng (2008) [4] Hơn nữa những nghiên cứu này chỉ dừng ở điều tra cơ bản như xác định thành phần, bước đầu tìm hiểu về đặc điểm sinh học sinh thái của một

số loài bọ trĩ chính gây hại đậu rau, bông, cây có múi Do đó đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề nêu trên để góp phần tăng sự hiểu biết về khả năng ứng dụng các biện pháp phòng chống đối tượng này phục vụ phát triển sản xuất các vùng trồng lạc ở Nghệ An nói riêng và nước ta nói chung

Trang 18

1.2 Những nghiên cứu về bọ trĩ ở nước ngoài

1.2.1 Những nghiên cứu về thành phần loài bọ trĩ

Mound L.A.(1997) [65], chỉ rõ hầu hết các loài bọ trĩ gây hại trong bộ cánh tơ tập trung trong họ Thripidae với khoảng 1.700 loài, phân bố khắp thế

giới Các loài bọ trĩ là dịch hại trên cây trồng thuộc 2 giống Thrips và Liothrips là những giống lớn nhất trong bộ cánh tơ Trong đó số loài của mỗi giống là: Thrips khoảng 275 loài, Liothrips khoảng 255 loài, Haplothrips khoảng 230 loài và Franklinella khoảng 175 loài

Theo Chen W.S and F.I Chang (1987) [32], đã tìm thấy 156 loài bọ trĩ ở Đài Loan trong đó có 70 loài gây hại trên cây trồng Riêng trên cây rau (Wang C.L 1989) [86] cho rằng có 27 loài bọ trĩ

Theo Bryan P B (1975) [29], cho rằng có khoảng 600 loài bọ trĩ đã được tìm thấy ở Bắc Mỹ Liliana V.O (1985) [59] phát hiện ở Rumani có khoảng

203 loài, Pelikans J (1985) [69] chỉ rõ ở Mongolia có 84 loài, tại Úc đã phát hiện được 422 loài thuộc bộ cánh tơ; trong đó có 8 loài mới phát hiện là

Frankniella williamsi, Stenchaetothrips biformis, Thrips tabaci và Frankniella schultzei là những loài gây hại ở đầu vụ Forrester N.W and A.G.L Wilson, (1988) [38] và Thrips tabaci và Frankniella schultzei là những loài phổ biến

nhất, Wilson L.J and L.R Bauer (1993) [89]

Tại Ấn Độ, nhiều công trình nghiên cứu chỉ rõ có tới 82 loài bọ trĩ chủ yếu gây hại trên 76 loại cây trồng khác nhau Các nhà khoa học đã phát hiện

bọ trĩ Thrips flavus có mặt và gây hại trên 70 loại cây trồng thuộc 26 họ thực

vật khác nhau (dẫn theo Phạm Thị Vượng, 1998) [16] Công trình nghiên cứu

của Ananthakrishan T.N (1984) [21] nêu rõ bọ trĩ Scitothrips dorsalis gây

hại nghiêm trọng trên lạc làm thất thu năng suất trung bình 29,3%, gián tiếp

bọ trĩ còn trở thành vectơ truyền bệnh vius cho lạc và một số cây trồng khác

Theo Hua et al., (1997) [49], khi nghiên cứu về các loài bọ trĩ chủ yếu

Trang 19

hại cây hoa ở phía nam Đài Loan, đã xác định trên hoa hồng có 7 loài bọ trĩ

đó là: Haplothrips chinensis Priesner, Rhipiphorothrips cruentatus Hood, Franklniella intonsa Trybom, Microcephalothrips abdominalis Crawford, Scirtothrips dorsalis Hood, Thrips hawaiinensis Morgan và Thrips tabaci Linderman Trên hoa cúc có 5 loài bọ trĩ, bao gồm: F intonsa, M abdominalis, T hawaiiensis và T tabaci và T palmi Chu Y.I (1987) [35]

Theo Wang C.L and Y.I Chu 1986)[85] cho thấy bọ trĩ gây hại trên nhiều loài cây trồng bao gồm hơn 50 loài cây trồng thuộc 20 họ khác nhau Những cây trồng thường được thông báo là bị hại nặng như: lạc, ớt, khoai tây, thuốc lá, lạc, cây họ cà và cây họ đậu Bọ trĩ là dịch hại chủ yếu trên lá của dưa hấu, lạc, dưa chuột và ớt ở Hawaii

Khi điều tra thành phần bọ trĩ hại trên lạc tại ICRISAT, Ranga Rao G.V and J.A Wightman (1993) [71] cho biết có tới 3 loài bọ trĩ là sâu hại chủ yếu cho lạc, tỷ lệ giữa các loài ở các giai đoạn sinh trưởng như sau:

- Giai đoạn trước nở hoa, và nở hoa loài Frankliniella intonsa chiếm

ưu thế tới 72% số bọ trĩ, loài Scirtothips dorsalis chiếm hàng thứ 2 tới 23%, sau đó là loài Frankliniella schultzei chiếm 5%

- Sau giai đoạn nở hoa, loài Scirtothips dorsalis chiếm 93%, Frankliniella intonsa chiếm 6%, Frankliniella schultzei chiếm 1%

Năm 1949, bệnh chết chồi lần đầu tiên được ghi nhận ở Ấn Độ Cho tới cuối năm 1960 người ta mới thấy rõ vai trò gây hại kinh tế của bệnh này với 100% diện tích lạc bị bệnh ở hầu hết các vùng trồng lạc của Ấn Độ (Ranga Rao and J.A Wightman (1993) [71] Trong các nghiên cứu khác, các tác giả đều cho biết, bọ trĩ được coi là một trong các vectơ nguy hiểm, truyền nhiều bệnh virus cho cây trồng Bailey S.F (1935) [25]; Amin P.W (1980) [18]

Trên cây lạc, Amin P.W and J.M Palmer (1985) [19] đã công bố kết

quả phân loại 4 loài bọ trĩ hại lạc tại Ấn Độ là: Frankliniella intonsa,

Trang 20

Scirtothrips dorsalis, Megalurothrip usitatus và Caliothrips indicus Sau đó tác giả Palmer et al., (1990) [68] đã phát hiện thêm 5 loài bọ trĩ nữa đó là Megalurothrip usitatus, Scirtothrips aurantti, Scirtothrips oligochaetus, Thrips palmi, Thrips setosus hại trên cây lạc ở Châu Á, Nam Phi, Malawi, ấn

Độ, Úc, New Zealand, New Guinea, Nhật Bản và Triều Tiên

Bả 1.1 L à b trĩ là ve tơ truyề bệ ết ồ lạ ở á

(Nguồn: Ranga Rao et al.,, 1993) [81]

Ananthakrishan, (1984) [20] cho biết trong các loài bọ trĩ hại có 5 loài gây

hại trên lạc là: Caliothrips impurus (Priesner), Frankliniella intonsa (Trybom), Frankliniella schultzei (Trybom) và Hydatothrips ramaswamiahi (Karny)

1.2.2 Tình hình gây hại của bọ trĩ

Thrips palmi và Frankliniella intonsa (Trybom), phân bố khắp vùng

Châu Á - Thái Bình Dương Những cây trồng thường bị chúng gây hại nghiêm trọng là: lạc, hạt tiêu, khoai tây, thuốc lá, dưa chuột, dưa hấu, bí ngô, đậu trắng, đậu răng ngựa, đậu đũa, đậu xanh, đậu tương, hoa cúc, bông, hoa anh thảo, thược dược, bầu hoa lan, vừng, khoai lang… Bên có mặt trên hên

50 loài cây thuộc hơn 50 họ thực vật Wang C.L and Y.I Chu (1986) [85]

Loài bọ trĩ Frankliniella occidentalis hại trên hoa hồng, hoa cẩm chướng,

hoa cúc Người ta cũng phát hiện thấy bọ trĩ là véc tơ quan trọng truyền bệnh virus

Trang 21

(TSWV) trên cây ớt ở Malaysia (dẫn theo Hà Quang Hùng và cộng sự (2005) [7]) Tại Thổ Nhĩ Kỳ, Atakan E and A Faruk (2001) [24] qua điều tra sơ bộ

thiệt hại do Franklniella intonsa gây ra trên cây bông ở bang Cukurova, số

lượng lớn bọ trĩ tấn công vào hoa (350 con/hoa) có thể gây rụng quả non khoảng 70% và lên tới 80-90% (mật độ đạt 101-150 con/hoa)

Những công trình nghiên cứu về bọ trĩ hại cây trồng ở Thái Lan cho thấy trên rau họ hoa thập tự thường ít bị bọ trĩ gây hại hơn những loại rau lấy quả như cà chua, mướp, lạc, ớt Những loại bọ trĩ chính hại rau ở Thái Lan

gồm, Frankliniella intonsa (Trybom), Scirtotprips dorsalis, Thrips parvispinus, Thrips tabaci, Haplothrips floricola và Thrips flavus (dẫn theo

Hà Quang Hùng và cộng sự (2005) [7])

Ở Đông Nam Á loài bọ trĩ Thrips palmi phát hiện như một loài mới bởi

Karny vào 1925 sau khi ông thu mẫu loài bọ trĩ này gây hại trên cây thuốc ở

Sumatra-Indonesia, sau đó Dammerman 1929 cũng đã chỉ ra rằng Thrips palmi

là loài bọ trĩ phổ biến nhất trên đảo Java và Sumatra ở Indonesia Tỷ lệ nhiễm hại trên các cây trồng khác và vụ dịch của loài bọ trĩ này chưa được thông báo ở

các nước Đông Nam châu Á, cho đến tận khi công bố về vụ dịch của Thrips palmi trên dưa hấu xuất hiện ở Philippines vào năm 1977, vài năm sau đó Nidena (1980) đã thông báo vụ dịch của loài bọ trĩ Thrips palmi gây hại trên

80% cây dưa hấu ở miền trung đảo Luzon và laguna Philippines Sichmutterer

1978 đã thông báo vụ dịch của bọ trĩ Thrips palmi xuất hiện trên cây bông ở một

số vùng trồng bông của Philippines vào năm 1978 Tới năm 1983 Thrips palmi

vẫn là sâu hại nguy hiểm trên bông ở nước này Theo Wanjboonkong năm 1981

nêu rõ Thrips palmi đó trở thành sâu hại trên cây bông và gây thành dịch trên

một số diện tích trồng bông ở Thái Lan vào năm 1978 và 1979 (dẫn theo Hà

Quang Hùng và cộng sự (2005) [7]

Theo Wang C.L and Y.I Chu (1986) [85] chỉ rõ bọ trĩ gây hại trên nhiều loài cây trồng bao gồm hơn 50 loài cây trồng thuộc 20 họ khác nhau

Trang 22

Những cây trồng thường được thông báo bị hại nặng như: lạc, ớt, khoai tây, thuốc lá, lạc, cây họ cà và cây họ đậu Bọ trĩ là dịch hại chủ yếu trên lá của

dưa hấu, lạc dưa chuột và ớt ở Hawaii

Ananthakrishnan T.N (1984) [20] đã liệt kê danh sách 82 loài bọ trĩ quan trọng, hại trên 76 loài cây trồng khác nhau, trong đó có nhiều loài đa thực, hại trên cây họ đậu và các cây có dầu trong đó có cây lạc

Ở Đài Loan theo công bố của Chen L.S (1987) [31] có tới 156 loài bọ trĩ được phát hiện trên những cây trồng khác nhau, trong số đó có 70 loài gây hại và chỉ có 11 loài là phổ biến, thường xuyên xuất hiện

Nghiên cứu phổ ký chủ của giống Frankliniella của Mau R.F.L and J.L

Martin (1993) [64] cho biết chúng có mặt trên 500 loài cây thuộc 50 họ thực vật, trong đó có nhiều loài cây trồng nông nghiệp và hoa cây cảnh Các cây trồng bị tấn công bởi bọ trĩ gồm có: cây họ đậu, ớt, dưa chuột, lạc, rau diếp,

hành, cà chua và dưa hấu Robert et al., (1990) [75], sau đó lan rộng tới quần đảo

Canary, Bournier J P 1987 [31]

Đối với cây lạc, kết quả nghiên cứu tại vùng Hyderabad, Ấn Độ trong

vụ khô 1980-1981 và 1982 - 1983 cho biết năng suất lạc quả giảm 17 %, năng suất chất xanh giảm 30% do bọ trĩ gây ra (Ranga Rao G.V and J.A Wightman (1993) [71] Tuy nhiên mức độ thiệt hại còn tuỳ thuộc vào tình trạng cây trồng, giống, điều kiện thời tiết, Theo Ananthakrishnan T N

(1969) [20] tại một số vùng lạc ở Ấn Độ loài Scirtothrips dorsalis, Frankliniella intonsa làm giảm năng suất lạc quả 29% Trong một nghiên

cứu khác của Ranga Rao G.V and J.A Wightman (1993) [71] về nhóm sâu chích hút hại trên lạc cho thấy, nhờ phòng trừ bọ trĩ khi mật độ cao tại giai đoạn cây con bằng thuốc nội hấp làm cho năng suất lạc tăng từ 17 - 40 % Còn tác giả Smith J.W and C.S Barfield (1982) [80] nhờ phòng trừ được bọ trĩ gây hại mà lạc tại Brazil tăng năng suất từ 35 - 50 %

Trang 23

Theo Chang (1987) [30] khi nghiên cứu về bọ trĩ trên các cây có củ, cây

họ đậu và cây ngũ cốc, để đưa ra bảng liệt kê các loài bọ trĩ quan trọng và chỉ

ra rằng bọ trĩ là dịch hại nguy hiểm, là vectơ truyền bệnh vi khuẩn, nấm và virus cho cây trồng

Theo Inoue et al., (2001) [51], virut TSWV được truyền bởi 6 loài bọ trĩ:

F occidentalis, F intonsa, T tabaci, T setosus, T palmi và T hawaiinensis,

do chúng có khả năng tích luỹ protein N của TSWV trong cơ thể

Những bệnh chết chồi do virus lan truyền rộng rãi ở nhiều quốc gia

trồng lạc trên thế giới mà cho đến nay người ta biết là do bọ trĩ truyền bệnh

Ghanekar et al., (1978) [41] cho biết, loài bọ trĩ Scitorthrip dorsalis là vectơ

lan truyền bệnh Sau đó Amin, P.W (1980) [18] thông báo vectơ truyền bệnh

gồm cả loài Scitorthrips dorsalis và Frankliniella schultzei, Frankliniella intonsa gây nên, nhưng loài Scirtothrips dorsalis có khả năng truyền bệnh ít hơn loài Frankliniella schultzei Tới những năm sau thì Palmer et al., (1990) [68] đã phát hiện ra loài Thrips palmi là đối tượng chính truyền bệnh chết

chồi lạc Điều này Syed, (1996) [82] kiểm chứng trên các loài bọ trĩ:

Scirtothrips dorsalis, Frankliniella schultzei, Frankliniella intonsa và Thrips palmi Bọ trĩ được xem là dịch hại nguy hiểm bởi sự có mặt và gây hại của

chúng buộc người dân phải phun thuốc hoá học mà lẽ ra không cần thiết phải phòng trừ Hậu quả của nó là làm bùng phát dịch hại khác do mất cân bằng

sinh học (Lynch et al., 1986) [61]; Ranga Rao G.V and T.G Shanower

(1998) [73]

* Triệu chứng gây hại của bọ trĩ

Có 60% loài bọ trĩ hại hoa và lá; 40% loài bọ trĩ chỉ ăn nấm; một vài loài bọ trĩ bắt mồi

Trang 24

Triệu chứng gây hại của bọ

Bọ trĩ gây hại hạt cỏ dại

Triệu chứng bọ trĩ hại Citrus

Triệu chứng gây hại

của Thrips palmi trên cà của bọ trĩ trên bông lúa mạch Triệu chứng gây hại

Hình 1.1 Một số hình ảnh triệu chứng gây hại của bọ trĩ

(Nguồn Laurence A Mound và Hà Thanh Hương)

Trang 25

1.2.3 Những nghiên cứu về đặc tính sinh vật học, sinh thái học của bọ trĩ

Theo Heming, 1993 [46]; Kirk, 1995 [54]) bọ trĩ dũa hút cây cỏ, phấn hoa và các lạp lục, thu hoạch từ các lớp biểu bì bên ngoài các tế bào thịt lá Theo Lewis, 1973 [57] bọ trĩ còn gây hại chồi và đỉnh sinh trưởng Chúng thường dũa hút dọc theo gân lá và cánh hoa

Khi nghiên cứu đặc tính sinh học của bọ trĩ, Bournier (1987) [27] Thời gian phát dục của trứng thay đổi từ vài ngày đến vài tuần tuỳ theo điều kiện thời tiết và khí hậu (3-20 ngày) Sâu non có 2 tuổi, sâu non tuổi 1 lột xác sang tuổi 2 sau vài ngày (3 hoặc 4 ngày phụ thuộc vào điều kiện khí hậu) Sau 5-

12 ngày sự hoá nhộng có thể xảy ra ở đỉnh sinh trưởng hoặc trong các khe nhỏ ở trên cây, tại đó kén được tạo thành (họ Aelothripidae) hoặc bằng cách rơi xuống đất và hoá nhộng trong đất ở độ sâu khoảng 2-25 cm tuỳ thuộc vào loại đất Thời gian từ tiền nhộng chuyển sang nhộng khoảng 1-3 ngày và cũng sau một khoảng thời gian 1-3 ngày nhộng hoá trưởng thành (bộ phụ Terebrantia) hoặc chuyển sang giai đoạn nhộng thứ hai (bộ phụ Tululifera)

Bọ trĩ trưởng thành có thể sống từ 8-25 ngày

Theo Mau R.F.L and J.L Martin (1993) [64], và Chen et al., (1987)

[32], quần thể bọ trĩ đạt cao nhất trong các tháng mùa xuân và mùa hè, giảm vào mùa mưa và mùa đông Biến động số lượng của chúng chịu ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, khí hậu đặc biệt là nhiệt độ và lượng mưa, điều kiện

ẩm ướt kéo dài không thuận lợi cho sự phát triển của chúng

Chiu (1987) [34], các loài bọ trĩ rất mẫn cảm với sự thay đổi của môi trường và chỉ có thể phát sinh, phát triển dưới những điều kiện khí hậu đặc thù Theo Martin J.L and R.F.L Mau (1992) [62]; Lipa (1999) [60], vòng đời

của Thrips palmi kéo dài 17 - 27 ngày ở nhiệt độ 19 - 220

C

Mật độ bọ trĩ trên các cây trồng hàng năm phụ thuộc vào nguồn bọ trĩ trên các cây ký chủ phụ Mật độ bọ trĩ trên các cây trồng ngắn ngày phụ

Trang 26

thuộc nhiều vào số lượng con cái trưởng thành qua đông trong từng vụ Gilbert (1990) [42]

Theo Ananthakrishnan (1984) [21], Thời gian vòng đời một số loài bọ

trĩ hại cây trồng trong đó có cây lạc như sau: Frankliniella schultzei: trứng 2 -

4 ngày, thời gian tuổi 1 từ 1,5 - 3 ngày, thời gian tuổi 2 từ 3 - 5 ngày, thời gian tiền nhộng và nhộng từ 3,5 - 5 ngày, thời gian từ trứng đến trưởng thành

từ 9 - 6 ngày Scirtothrips dorsalis: trứng 4 - 7 ngày, thời gian tuổi 1 từ 2 - 4

ngày, thời gian tuổi 2 từ 3 - 6 ngày, thời gian tiền nhộng và nhộng từ 3 - 6 ngày, thời gian từ trứng đến trưởng thành từ 2 - 3 ngày

Với những loài bọ trĩ hại lạc khác như: Frankliniella schultzei, Scirtothrips dorsalis và Caliothrips indicus Amin et al., (1985) [19] cũng đã

công bố các kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học Giai đoạn trứng của bọ

trĩ Frankliniella schultzei, Frankliniella intonsa và Scirtothrips dorsalis từ 6

- 8 ngày Thời kỳ sâu non 6 - 7 ngày, tiền nhộng và nhộng 2 - 4 ngày Loài

Caliothrips indicus có giai đoạn trứng dài hơn từ 7 - 10 ngày và bọ trĩ trưởng thành có khả năng sinh sản cao hơn các loài Frankliniella schultzei, Frankliniella intonsa và Scirtothrips dorsalis

Theo Ananthakrishnan (1984) [29], Kết quả nghiên cứu về thời gian

vòng đời một số loài bọ trĩ hại cây trồng trong đó có cây lạc chỉ rõ: Frankliniella intonsa,: trứng 2 - 4 ngày, thời gian tuổi 1 từ 1,5 - 3 ngày, thời gian tuổi 2 từ 3 -

5 ngày, thời gian tiền nhộng và nhộng từ 3,5 - 5 ngày, thời gian từ trứng đến

trưởng thành từ 9 - 6 ngày Scirtothrips dorsalis: trứng 4 - 7 ngày, thời gian tuổi

1 từ 2 - 4 ngày, thời gian tuổi 2 từ 3 - 6 ngày, thời gian tiền nhộng và nhộng từ 3

- 6 ngày, thời gian từ trứng đến trưởng thành từ 2 - 3 ngày

Nghiên cứu về ảnh hưởng của điều kiện khí hậu, thời tiết tới sự phát sinh và phát triển của bọ trĩ, Mound (1997) [65] cho biết, bọ trĩ thường ít thấy trong điều kiện nhiệt đới ẩm, nhưng khá phổ biến trong những vùng khô ấm

Trang 27

Theo Mau R.F.L and J.L Martin (1993) [64], và Chen W.S and F.I Chang (1987) [32], quần thể bọ trĩ đạt cao nhất trong các tháng mùa xuân và mùa hè, giảm vào mùa mưa và mùa đông Biến động số lượng của chúng chịu ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, khí hậu đặc biệt là nhiệt độ và lượng mưa, điều kiện ẩm ướt kéo dài không thuận lợi cho sự phát triển của chúng

Khi nghiên cứu về đặc điểm sinh thái của bọ trĩ hại lạc, có nhiều tác giả cũng quan tâm tới thành phần loài, thời vụ, thức ăn của chúng Ananthakrishnan (1984) [21] cũng đã tiến hành nghiên cứu mật độ và sự di

cư cũng như ký chủ của một số loài bọ trĩ cho thấy Caliothrips indicus là loài

đa thực, chúng sống trên cỏ hàng năm Khi lạc có hoa thì loài Megalurothrips usitatus và loài Frankliniella intonsa cũng xuất hiện, sau đó nó di cư đến cây Tephorosia purpurea và Indgofera tinctoria Bên cạnh đó loài Frankliniella schultzei và Scirtothrips dorsalis còn hại trên cây thầu dầu và cây bông Loài Frankliniella intonsa ngoài hại lạc còn hại trên cả vừng, loài này có mật độ

cao vào tháng 1 tại ấn Độ nhưng sau đó bỗng nhiên suy giảm quần thể vào tháng 2 Một số loài bọ trĩ có tập tính nghỉ qua đông và qua hè khi nhiệt độ xuống dưới 5oC và tăng cao trên 42o

C

Khi nhiệt độ trong khoảng 25 - 31oC thì mật độ quần thể bọ trĩ tăng và khi nhiệt độ thay đổi trên 31oC thì quần thể giảm nghiêm trọng Trên cây thì các bộ phận non có mật độ bọ trĩ cao hơn các bộ phận già

1.2.4 Những nghiên cứu về thiên địch của bọ trĩ

Các ảnh hưởng của vật bắt mồi, ký sinh và bệnh tới bọ trĩ trong dây truyền sinh học là rất quan trọng và chính các nhân tố này ảnh hưởng lớn đến

mật độ quần thể của bọ trĩ Sau việc nghiên cứu lâu dài và chi tiết về Thrips imaginis, Davison J and H.G Andrewartha (1948) [40] công bố rằng, không

có vật bắt mồi, ký sinh hoặc các bệnh tật quan trọng được theo dõi Kết luận gây sự tranh luận cho rằng, kích thước quần thể của loài này được quyết định

Trang 28

bởi thời tiết và không có sự tham gia của các nhân tố khác, có nghĩa là yếu tố môi sinh hoàn toàn không ảnh hưởng đến quần thể bọ trĩ ảnh hưởng của các tác nhân điều khiển tự nhiên trong ruộng cũng được phát hiện thấy là không đáng kể đối với một số loài bọ trĩ, nhưng điều đó không đúng ở tất cả các loài, trong nhà kính thì các tác nhân sinh học đang trở thành có lợi và càng quan trọng hơn

Trong số các loài thiên địch bắt mồi của bọ trĩ chủ yếu là bọ xít nâu nhỏ bắt mồi thuộc họ Anthocoridae Có khoảng từ 500 đến 600 loài thuộc họ

Anthocoridae phân bố trên thế giới Sathiyanadam et al., (1987) [78] Tất cả

các loài thuộc họ Anthocoridae đều có vòi chích hút vật mồi

Sinh vật bắt mồi chính của bọ trĩ là nhện bắt mồi, bọ xít nâu nhỏ bắt

mồi như giống Orius, sâu non bộ cánh mạch, sâu non bọ rùa, sâu non ruồi bắt

mồi, nhện nhỏ và các bọ trĩ khác Một vài loài được sử dụng rất thành công

để phòng trừ bọ trĩ bằng con đường sinh học Vật bắt mồi thích ăn sâu non tuổi nhỏ của bọ trĩ (di chuyển chậm) hơn giai đoạn trưởng thành (bò nhanh hơn sâu non) Cho dù nhiều báo cáo về vật bắt mồi trên ruộng, nhưng điều này rất khó biết mà không có nghiên cứu về số lượng, về loài vật bắt mồi đặc biệt nào có ảnh hưởng ở mức có ý nghĩa trong việc làm giảm mật độ quần thể của dịch hại Chu kỳ mùa vụ của một số vật bắt mồi có quan hệ mật thiết với vật mồi của chúng Isenhour D.J and N.L Marston (1981) [52], nhưng vật bắt mồi không có ảnh hưởng quá lớn đến mật độ bọ trĩ Việc phòng chống bằng con đường sinh học thành công có thể đòi hỏi mức độ thấp của vật bắt mồi và dịch hại ở mức cân bằng

Bọ trĩ thường được tìm thấy cùng với nhện nhỏ bám thân lên bọ trĩ, nhưng nhện bắt mồi không phải là thiên địch chủ yếu của chúng Nhiều nhện nhỏ phát tán nhờ bám cơ thể chúng với côn trùng bay và sau đó gỡ cơ thể

chúng ra khỏi côn trùng Tuy nhiên, nhện nhỏ Hauptmannia brevicollis

Trang 29

(Erythraeidae) bám cơ thể chúng với bọ trĩ, chủ yếu ở gốc chân và sau 5-6 ngày thì nhả thân ra khỏi bọ trĩ sau đó bọ trĩ bị chết Ở Ukraina, có tới 30-

40% sâu non bọ trĩ Anaphothrips obscurus trên gốc dại cỏ có nhện nhỏ bám vào cơ thể và 63% bọ trĩ Odontothrips phaleratus trên cỏ 3 lá Các loài khác trong giống nhện nhỏ này cũng có thể sống trên cơ thể bọ trĩ Thysanoptera

Haitlinger, (1987) [44]

Một số loài ong sống đơn độc như Spilonema spp., chuyên hoá về tìm

kiếm sâu non bọ trĩ để làm thức ăn cho thế sau của chúng Các tổ được quần

tụ gần nhau và mỗi tổ cần khoảng 50 sâu non bọ trĩ Từ đặc tính này đã góp phần làm giảm số lượng cá thể bọ trĩ

Theo Dyadechko (1977) [37], ở Ukraina đã phát hiện rằng sâu non bọ

trĩ trên cây ngũ cốc bị chết do nấm Beauveria bassiana, sau khi cày bừa gốc

rạ và tỷ lệ chết đạt tới 100% sau khi nấm được cấy lên và phân bố

Kiến, đặc biệt loài Iridomyrmex spp., đôi khi chúng có khả năng cản

trở sự gia tăng số lượng bọ trĩ trên cây, có lẽ chúng tấn công hoặc ăn bọ trĩ (Kirk, 1984) [58], nhưng ảnh hưởng của loài kiến này tới biến động quần thể

bọ trĩ chưa từng nghiên cứu một cách theo số lượng

Theo Bournier (1987) [27], mật độ bọ trĩ được kiểm soát bởi những

loài nào đó hoặc loài bọ trĩ ăn thịt, loài phổ biến nhất Frankliniella occidentalis vespiformis có phổ phân bố rất rộng, săn bắt cả nhện đỏ, ve sầu

nhảy và bọ phấn trắng Các loài ăn thịt khác bao gồm: Scolothrips

acariphagus ở Trung Á Loài bọ trĩ Frankliniella occidentalis là thiên địch của nhện Tetranychus urticae ở Mỹ Trichilo P J and T F Leigh (1986)

[84] Những loài ăn thịt khác thuộc các họ Anthocoridae, Lygaeidae và bộ Neuroptera (đặc biệt họ Chrysopidae), bọ rùa và nhện nhỏ

Theo nhiều tác giả thì thiên địch quan trọng nhất của các loài bọ trĩ là các

loài bọ xít ăn thịt thuộc giống Orius Loài Orius tristicolor là thiên địch chính

Trang 30

của Frankliniella occidentalis, Frankliniella intonsa ở California Waterhouse D.F and Norris, K R (1989) [88] Ở Hawaii, bọ xít Orius persequen, Orius insidiosus và Orius tristcolor là thiên địch của loài Frankliniella occidentalis, nhưng quan trọng nhất là loài Orius persequens Ở Đài Loan, Orius tantilus và Orius strigicolis là những loài thường xuyên bắt gặp trên cây bông, hoa cúc và

ngô Chúng ăn bọ trĩ, rệp, bọ phấn trắng, nhện đỏ và trứng sâu bộ cánh vảy

Trong đó, Orius tantilus có mật độ cao hơn Orius strigieolis (Wang, 1998) [94]

Theo Hoddle (2000)[48], loài bọ trĩ Franklinothrips vespiformis là thiên địch của bọ trĩ hại cây trồng Loài bọ trĩ có 6 chấm Scolothrips sexmaculatus (có 6 chấm ở trên cánh trước) là loài chuyên ăn trứng, sâu non

và trưởng thành nhện 2 chấm và nhện xám, đồng thời cũng là thiên địch của

bọ trĩ Loài bọ trĩ đen săn bọ trĩ Leptothrips sp ăn nhện nhỏ và bọ trĩ Loài bọ trĩ cánh khoang Aeolothrips sp tấn công rất nhiều loài bọ trĩ hại cây trồng và

cả nhện, rệp mềm

Các loài nhện ăn thịt có Euseius hibisci và Euseius tularensis Các loài ong ký sinh ấu trùng bọ trĩ là Thripobius semiluteus và Ceranisus menes Loài ong Megaphragma mymaripene thuộc họ Trichogrammatidae

ký sinh trứng bọ trĩ

Một số loài ký sinh có sâu non tuổi một sống theo kiểu tự do (Planidia) chúng có thể xác định vật chủ và bám vào cơ thể ngoài của vật chủ Chalcidoi planidia, một số loài đã được định loại là họ Eulophidae, thỉnh thoảng xuất hiện trên dịch hại bọ trĩ Beshear, (1974) [26]

Theo Greene I.D and M.P Parrela (1995) [43] Một loạt các loài bọ trĩ

thuộc họ Thripidae, kể cả Frankliniella occidentalis được thông báo, chúng

bị ký sinh bởi loài tuyến trùng Thripinema nicklewoodii

Trên lạc vụ hè Chin-Ling Wang et al., (2003) [33] đánh giá hiệu của

bọ xít nâu nhỏ bắt mồi Orius strigicollis trong phòng chống bọ trĩ Thrips

Trang 31

palmi Thí nghiệm được thực hiện trên cà tìm trồng ở ngoài đồng trong vụ hè

ở Đài Loan Bọ xít nâu nhỏ bắt mồi O strigicollis được thả vào khi cây cao

khoảng 1m Mỗi cây được tỉa bớt số cành và chỉ để lại 3 cành gốc, tổng số lá của mỗi cây khoảng 100 lá Diện tích của vùng thí nghiệm thả bọ xít là 0,1 ha trong khi diện tích phun thuốc là 0,4 ha Giữa hai khu vực thí nghiệm dùng 3 hàng cà tìm để ngăn cách Trong 6 tuần, mỗi tuần thả từ 100 đến 150 sâu non

tuổi 2, về tuổi 3 của bọ xít nâu nhỏ bắt mồi O strigicollis trên mỗi cây Còn

ở khu vực phòng chống bằng thuốc hoá học, phun các loại thuốc như Carbosulfan, Carbofuran, và Dimethoate thời gian và số lần phun được thực theo nông dân Mỗi tuần 20 lá lạc được thu thập để xác định mật độ bọ trĩ và

bọ xít nâu nhỏ bắt mồi Kết quả cho thấy, ở khu thả bọ xít nâu nhỏ bắt mồi O strigicollis mật độ bọ trĩ T palmi giảm dần từ 50 con/lá đến 3 con/lá trong vòng 5 tuần thả Còn ở khu vực phòng chống hoá học, mật độ bọ trĩ T palmi

giảm sau khi phun thuốc, nhưng tăng rất nhanh chỉ trong một thời gian ngắn,

và đó cần phải phun thuốc lần nữa để làm giảm mật độ bọ trĩ Sau 4 tuần mật

bọ trĩ T palmi trên khu phun thuốc cao hơn khu thả bọ xít Ngoài vật mồi bọ trĩ, O strigicollis cũng là tác nhân phòng chống sinh học trên bọ phấn Ở khu

vực phun thuốc, mật độ bọ phấn tăng tới đỉnh cao trong vòng 6 tuần, ngược lại trên khu vực thả bọ xít mật độ bọ phấn giảm dần tới mức thấp nhất

Trên ruộng lạc ở Đài loan, cả O strigicollis và Campylomma chinensis là

thiên địch rất phổ biến thường xuất hiện Ở ruộng lạc mà không phun thuốc, kết

quả điều tra cho thấy mật bọ xít nâu nhỏ bắt mồi O strigicollis thấp hơn rất nhiều

so với mật độ C chinensis Còn trên ruộng thí nghiệm, hiệu quả của sự thả bọ xít nâu nhỏ bắt mồi O strigicollis tăng lên rất đáng kể sau khi thả 3 tuần đầu, đạt

đỉnh cao 0,6 con/lá Mật độ của chúng giảm nhanh vào tuần thứ 6 sau khi thả Cũng theo kết quả nghiên cứu của Chin-Ling Wang et al., (2003) [33] đánh giá

hiệu quả của bọ xít bắt mồi Orius strigicollis trong phòng chống bọ trĩ Thrips palmi Thí nghiệm được thực hiện trên cà tím trồng ở ngoài đồng trong vụ Hè

Trang 32

ở Đài Loan Bọ xít bắt mồi Orius strigicollis được thả vào khi cây cao

khoảng 01 m Mỗi cây được tỉa bớt số cành và chỉ để lại 3 cành gốc, tổng số

lá của mỗi cây khoảng 100 lá Diện tích của vùng thí nghiệm thả bọ xít là 0,1

ha trong khi diện tích phun thuốc là 0,4 ha Giữa hai khu vực thí nghiệm dùng 3 hàng cà tìm để ngăn cách Trong 6 tuần, mỗi tuần thả từ 100 đến 150

sâu non tuổi 2, tuổi 3 của bọ xít bắt mồi Orius strigicollis trên mỗi cây Còn ở

khu vực phòng chống bằng thuốc hoá học, phun các loại thuốc như: Carbosulfan, Carbofuran, và Dimethoate, thời gian và số lần phun được thực hiện theo nông dân Mỗi tuần thu thập 20 lá cà tím để xác định mật độ bọ trĩ

và bọ xít bắt mồi Kết quả cho thấy, ở khu thả bọ xít bắt mồi Orius strigicollis mật độ bọ trĩ T palmi giảm dần từ 50 con/lá đến 3 con/lá trong vòng 5 tuần thả Còn ở khu vực phòng chống hoá học, mật độ bọ trĩ T palmi

giảm sau khi phun thuốc, nhưng tăng rất nhanh chỉ trong một thời gian ngắn, sau đó cần phải phun thuốc lần nữa để làm giảm mật độ bọ trĩ Sau 4 tuần mật

bọ trĩ T palmi trên khu phun thuốc cao hơn khu thả bọ xít

Bọ trĩ là một loài sâu hại quan trọng trên cây có múi ở California được trồng rất lâu đời từ năm 1900 Sâu non và trưởng thành ăn xung quanh đài hoa, quả non và triệu chứng ban đầu phát triển thành đốm hình nhẫn khi quả chín Thuốc Dimethoate được dùng rất phổ biến để phòng chống loài dịch hại này từ năm 1969 đến giữa thập kỳ 80, sử dụng phun lên lá, nhưng

Trang 33

hơn 25 loại thuốc nội hấp đã được sử dụng từ năm 1946 gồm nhóm lân hữu cơ, Carbamates và Pyrethroids Mới đây 40 % thuốc trừ sâu dùng trên cây có múi có tác dụng trực tiếp trừ bọ trĩ

Từ đầu thập kỳ năm 1990, bọ trĩ Frankliniella occidentalis, Frankliniella intonsa là đối tượng chính để nghiên cứu các loại thuốc trong

phòng chống chúng, đặc biệt trong nhà kính Nơi sinh sống trong không gian hẹp và vị trí hoá nhộng trong đất luôn luôn là vấn đề khó khăn trong phòng chống chúng Helyer N.L and P.J Brobyn (1992) [45] đánh giá hiệu lực của

51 loại thuốc tiếp xúc thí nghiệm trên sâu non và kết quả cho hay cả 51 loại đều rất có hiệu quả đối với bọ trĩ, ngoài ra các loại dạng hạt nhỏ và nội hấp cũng rất tốt đối với sâu non, nhộng và trưởng thành trong nhà kính 14 loại thuốc được thí nghiệm có thể tiêu diệt nhiều hơn 75 % sâu non sau 3 ngày, trong đó nhóm lân hữu cơ và Chlorpyrifos là 98,1% và hiệu quả nhất là nhóm Quinalphos là 99,8% Sau đó 14 loại hoá chất này được thử nghiệm với 3 giai đoạn (sâu non, nhộng và trưởng thành), các loại hoá chất như: Chlofenvinphos, Chlorpyrifos, Chlorpyrifosmethyl và Malathion có hiệu quả đối với cả 3 giai đoạn, nhưng giai đoạn nhộng có hiệu quả hơn so với sâu non

và trưởng thành Sau đó cuộc thử nghiệm 24 loại thuốc trừ sâu được thực hiện trong nhà kính sử dụng dưới dạng phun lên lá, phần lớn có hiệu lực nhanh trong vòng một ngày, nhưng trong số đó chỉ có loại thuốc duy nhất (Malathion) có hiệu lực phòng chống tới 2 tuần và được sử dụng rộng rãi ở Vương Quốc Anh, đồng thời loại thuốc nội hấp Carbofuran cũng được sử dụng khá phổ biến

Nhiều loại thuốc trừ sâu cổ truyền đã được đánh giá Các chất điều hoà sinh trưởng ở côn trùng đã được thử nghiệm có hiệu quả nhất định chống bọ trĩ Các hợp chất như: Pyripoxyfen, hocmon trẻ không có ảnh hưởng đến trưởng thành khi sử dụng bằng còn đường phun lên lá, có hiệu quả làm tăng tỷ

Trang 34

lệ chết ở pha nhộng (Nagai, 1990)[67] thử nghiệm trong phòng cho thấy, các chất điều hoà sinh trưởng Flufenoxuron ức chế sự lột xác của sâu non tuổi 1 và quá trình biến thái sâu non tuổi 2 tới nhộng nhưng không ảnh hưởng đến sức sống và sinh sản của con cái; trong điều kiện ngoài đồng hợp chất này ít hiệu quả hơn so với Sulprofos lân hữu cơ Ngược lại, cuộc thử nghiệm khác lại cho thấy các chất điều hoà sinh trưởng như: Flufenoxuron, Chlorfluazuron, Diflubenzuron và Teflubenzuron đều có hiệu quả ngăn cản sự hoá nhộng, nhưng đặc biệt khi sử dụng trên cây trồng trong nhà kính thì Flufenoxuron và Chlorfluazuron có hiệu quả hơn so với các loại thuốc trừ sâu truyền thống như: nhóm lân hữu cơ, Methidathion hoặc Carbamate fenobucarb

Thuốc Abamectin có hiệu quả trong phòng trừ bọ trĩ Scirtothrips citri

nhưng về sau dần mất hiệu lực do xuất hiện tính quen thuốc Thuốc trừ sâu có

nguồn gốc sinh vật Bacillus thuringiensis dạng dầu có hiệu quả phòng chống

bọ trĩ F occidentalis do làm nghẹt thở và hoạt động trực tiếp của vi khuẩn

gây độc Dầu khoáng chộn với thuốc trừ sâu được báo cáo là rất có hiệu quả phòng chống bọ trĩ

Theo Tjosvold S.A and A.D Ali (1995) [83] cho thấy, hoá chất Methyl

bromide chỉ có thể tiêu diệt sâu non bọ trĩ F occidentalis từ 80 đến 90%, bởi vì

một số cá thể vẫn còn sống sót sau một giờ đồng hồ xử lý thuốc (nồng độ 4,49g a.i cho 100 m-3) Và khi dùng nồng độ cao hơn và thời gian xử lý cao hơn không làm tăng cường tỷ chết

Sự sử dụng thuốc trừ sâu quá nhiều đã khiến cho sự kháng của dịch hại

bọ trĩ phát triển mạnh và tiêu diệt các loài kể thù tự nhiên và tăng cường khả năng phân bố của bọ trĩ Thực vậy, chắc hẳn đây là nguyên nhân cơ bản về sự lây lan nhanh chóng của bọ trĩ ở vùng Đông Nam Á và các vùng khác trên thế giới từ năm 1980 Sau khi hàng loạt các loại thuốc hoá học được sử dụng

để phòng chống bọ trĩ và các loại dịch hại khác, thì một loạt các quần thể

Trang 35

kháng thuốc đã tăng lên một cách nhanh chóng và đồng thời thay đổi vùng phân bố và lây lan tới các vùng khác Vào thời điểm hiện nay, loại thuốc mà

vẫn còn có hiệu lực cao trong phòng chống bọ trĩ Thrips palmi, Thrips tabaci

và F.schultzei trên bông là Imidocloprid và Fipronil Hai loại thuốc này có

thể tiếp tục có hiệu lực trong vòng 4 năm tới

Theo Hirose, 1991 [47] ở Thái Lan, Đài Loan và Nhật Bản, thuốc trừ sâu được sử dụng một cách tràn lan, nông dân thường pha trộn từ 2 đến 5 loại thuốc với nhau để phòng chống bọ trĩ

Tại Mỹ, có một số báo cáo về sự kháng thuốc của 12 loài bọ trĩ gây hại trên bông Smith J.W and R.L Sams (1977) [81], cho rằng phun thuốc trực

tiếp phòng chống bọ trĩ Frankliniella intonsa hại lạc ít khi có lãi, hai tác giả

đã ghi nhận và so sánh chi phí bảo vệ thực vật trên lạc trong vòng 3 năm kết quả là không thấy có lãi

b Biện pháp vật lý cơ giới

Cỏ dại và các loài cây trồng khác trong hệ thống sản xuất nông nghiệp đóng vai trò làm suy giảm hoặc tăng lên của quần thể bọ trĩ Sự thay đổi mùa

vụ, vùng sản xuất, cũng là yếu tố tác động lớn đến sự thiết lập hay làm giảm quần thể và mức độ gây hại của chúng

Việc bố trí thời vụ hợp lý giúp ngăn cản sự di chuyển của bọ trĩ từ cây

ký chủ phụ sang cây trồng và hạn chế sự gây hại của chúng Trong thực tế, bọ trĩ không phải là vấn đề đáng lo ngại trong mùa mưa Bởi vì, mưa làm rửa trôi một lượng đáng kể bọ trĩ cũng như côn trùng nhỏ trên cây Mật độ bọ trĩ thường đạt cao nhất vào cuối mùa khô Rueda A and A.M Shelton (1995) [76] Hạn hán kéo dài làm tăng khả năng gây hại của bọ trĩ trên hành Vì vậy, tưới nước hợp lý là một nhân tố quan trọng trong việc giảm thiểu thiệt hại Forrester N.W and A.G.L Wilson (1988) [38] Ở một số nước, như Úc nông dân sử dụng hình thức tưới phụ mưa và luôn đảm bảo đủ nước tưới cho cây

Trang 36

để phòng trừ bọ trĩ Cây bị thiếu nước thường bị bọ trĩ gây hại nặng hơn Bọ trĩ khi di chuyển ở những khoảng cách xa phải nhờ gió, vì vậy những ruộng gieo sau nên bố trí phía trên gió so với các ruộng đã gieo để hạn chế sự lây lan của bọ trĩ vào ruộng mới trồng Rueda A and A.M Shelton (1995) [76]

Việc tiêu huỷ cỏ dại trên đồng ruộng cũng có thể làm giảm mật độ bọ trĩ Vì đây là những chỗ qua đông và tái xâm nhiễm của bọ trĩ (Knepper, 2001) [55] Trên cây hành, việc tiêu huỷ tàn dư cây trồng và các cây ký chủ phụ, xen canh với cây trồng khác không phải là ký chủ của bọ trĩ có tác dụng làm giảm mật độ trên cây trồng chính Mau R.F.L and J.L Martin (1993), [64]; Rueda

A and A.M Shelton (1995) [76] Theo Anon (1992) [22], việc lựa chọn các cây trồng xen có thể ảnh hưởng tới số lượng của bọ trĩ qua đông

Từ thực tế là bọ trĩ có đặc tính dễ bị hấp dẫn bởi màu sắc, người ta đã

đề xuất sử dụng những tấm thảm màu trong phòng trừ bọ trĩ Những nghiên cứu ở Loiuisiana đã chỉ ra rằng loại màng phủ được tráng nhôm có tính phản quang có khả năng làm giảm mật độ bọ trĩ từ 33% đến 68% Quarles and William (1990) [70] Ảnh hưởng của các loại màng phủ màu đen, màng bị bóc lớp tráng bạc và các màn phủ màu ánh bạc đến mật độ bọ trĩ đã được

so sánh trên ruộng dưa chuột Kết quả cho thấy mật độ bọ trĩ tăng 3-4 con cái/ lá trong suốt 25 ngày sau mọc trên cả hai công thức không phủ và phủ màng đen Trên công thức phủ màng không tráng bạc có mật độ thấp hơn với 2 con cái/lá Công thức phủ màng màu ánh bạc cho hiệu quả tốt nhất trong phòng chống bọ trĩ, với mật độ khoảng 0,5 con cái/lá (Chu, 1987) [35] Các loại màng bằng chất dẻo có khả năng hấp thụ tia cực tím được sử dụng để làm các đường bờ trong ruộng có khả năng bảo vệ cây trồng

chống lại bọ trĩ Frankliniella occidentalis, Frankliniella intonsa, bọ phấn

trắng hại khoai lang và rệp bông cũng như các loại bệnh do chúng truyền

(Antignus, Yeheskek et al., 1996) [23]

Trang 37

Sử dụng tấm plastic làm hàng rào bảo vệ hoặc phủ lên mặt luống có tác dụng làm hạn chế mật độ quần thể bọ trĩ và khả năng truyền bệnh virus của

chúng có hiệu quả Theo Yudin et al., (1991) [90] phát hiện thấy rằng, sử dụng

hàng rào cao khoảng 1,5m làm bằng nhôm che bao quanh ruộng rau diếp có thể

làm cản trở 10 % sự di cư của bọ trĩ Frankliniella occidentalis, Frankliniella intonsa từ ruộng bên cạnh Tuy nhiên phương pháp này ít được sử dụng bởi vì

không thể hạn chế được sự lây lan của bệnh virus do chỉ cần sự có mặt của bọ trĩ

ở mức độ thấp cũng có thể truyền bệnh virus đủ gây hại thành dịch

Theo Helyer N.L and P.J Brobyn (1992) [45] Từ đầu năm 1980, biện

pháp phòng chống bọ trĩ Thrips tabaci là biện pháp cơ giới vật lý, dùng tấm

nylon có chất dính đặt ở dưới gốc cây nhằm bẫy sâu non xuống đất hoá nhộng

Theo phương pháp này chỉ đạt hiệu quả cao đối bọ trĩ Thrips tabaci, nhưng không có hiệu quả đối bọ trĩ F Occidentalis bởi vì loài này hoá nhộng trên lá

rất cao so với hoá nhộng dưới đất

c Biện pháp canh tác học

Cơ sở khoa hoặc của IPM là canh tác tốt làm tăng cường sự sinh trưởng của cây nhanh và điều khiển hợp lý thường thường có thể làm giảm sự tấn công của dịch hại bọ trĩ và đôi khi tránh khỏi áp dụng biện pháp hoá học Các biện pháp có lợi, có thể áp dụng lâu dài gồm luân canh cây trồng, canh tác, tưới tiêu, thời gian gieo trồng và thu hoạch, khoảng cách cây và xen canh thích hợp

Biện pháp luân canh có hiệu quả làm hạn chế các loài sống trong đất hoặc trên tàn dư cây trồng

Các giai đoạn phát triển của bọ trĩ tồn tại trong đất rất dễ bị tổn thương

do hoạt động canh tác Hoạt động cày lật sâu khoảng 25 cm tiêu diệt một số loài bọ trĩ hại ngũ cốc do sự cày đất làm đảo ngược sâu non đẫy sức hoặc nhộng thấm sâu vào đất và khi hoá trưởng thành, chúng không thể chui lên mặt đất được đồng thời ở độ sâu đó thì độ ẩm của đất rất cao làm một số

Trang 38

nhộng và sâu non đẫy sức không thể phát triển được và chết Hơn nữa hoạt động cày làm gốc rạ bị chôn sâu vào đất đảm bảo không có mặt bọ trĩ trên mặt đất còn sống sót Biện pháp này có thể làm giảm mật độ quần thể bọ trĩ

Frankliniella intonsa từ 30 đến 60% Các biện pháp canh tác rất phổ biến

thường áp dụng ở Châu Âu và Trung Á là tiến hành đốt gốc rạ trước khi cây làm tiêu diệt sâu non bọ trĩ qua đông trong cuống lá bị thối trên mặt đất Tuy nhiên biện pháp này không có hiệu quả đối với các loài bọ trĩ qua đông sâu trong đất Ở một số nước Tây Âu cấm không cho đốt gốc rạ, mức độ nhiễm

bọ trĩ ngày càng nghiêm trọng hơn Đốt gốc rạ chắc hẳn là một biện pháp phòng chống có hiệu quả hơn đối với bọ trĩ hại trên cỏ, bởi vì nhiều loài bọ

trĩ hại thuộc giống Frankliniella trong gốc rạ thối rữa và cọng nằm rải rác

trên mặt đất (Lewis, 1997) [58]

Các ruộng khô thường rất dễ bị tấn công trực tiếp do bọ trĩ gây hại, nếu tưới tiêu đầy đủ nước rõ ràng làm giảm mức độ gây hại Thí nghiệm cho thấy,

ở ruộng mà tưới tiêu thường xuyên theo quy trình mật độ bọ trĩ thấp hơn hẳn

so với ruộng luôn giữ độ ẩm khô Thí nghiệm như vậy được thực hiện ở Kenya trên cây cà phê cho thấy trên ruộng bị hại rất nặng so với ruộng có mức độ độ ẩm cao Tại vùng khô ráo của Lockyer Valley, Queensland bọ trĩ

Thrips tabaci luôn là vấn đề quan trọng trên cây hành Sự tưới tiêu vừa đảm

bảo cây phát triển nhanh vừa hạn chế được số lượng bọ trĩ một cách đáng kể Thực ra, sự tưới tiêu có thể làm giảm ảnh hưởng có hại đối với loài dịch hại này, nhưng yếu tố có lợi đối với chúng là sự sử dụng thuộc trừ sâu hiện đại dưới điều kiện cánh tác vụ trước

Quyết định thời gian thu hoạch thích hợp cũng có thể giảm bớt sự mất mát năng suất Năng suất lá cỏ có thể đạt cao, nếu tiến hành thả gia súc ăn trước

khi cây ra hoa bởi vì các loài bọ trĩ hại giống Chirothrips chỉ tấn công lên nụ

hoa mà thôi Thu hoạch ngũ cốc sớm có thể làm tăng tỷ lệ chết lứa sâu non tuổi

Trang 39

II bọ trĩ Limothrips spp., nhưng biện pháp này chỉ có ý nghĩa khi thực hiện với

diện tích rộng nếu không thì không có ảnh hưởng đến quần thể lứa sau trong vụ

tiếp theo Sự gây hại của bọ trĩ dontothrips confusus trên cỏ linh lăng phần có

thể ngăn cản được bằng tỉa bớt các lá bị nhiễm bọ trĩ nặng trước khi hoa thụ tinh Các nhân tố khác như kiểu làm luống và khoảng cách trồng đã được xác định là có thể làm giảm mật độ bọ trĩ và sự lan chuyển của bệnh virus trên lạc

Theo Franssen C.J.H and P Huisman (1958) [40].Các giống đậu Hà

Lan để tránh sự nhiễm bọ trĩ Kakothrips pisivorus, phải trồng sớm

Trồng xen canh chỉ có tác dụng làm giảm quần thể bọ trĩ trong tình trạng khô ẩm nhưng một số nghiên cứu mới đây cũng cho hay việc trồng xen

có hiệu quả đối với các vùng có khí hậu ôn đới Ở Ai Cập, xen canh hành và

tỏi với cà chua làm giảm sự gây hại của bọ trĩ Thrips tabaci tới 80%, nhưng

năng suất của cả hai cây lại giảm Ở Anh, khi xen canh giữa hành và cà rốt làm

mức độ nhiễm bọ trĩ Thrips tabaci tới 50% Sự gậy hại do bọ trĩ Thrips tabaci

giảm rõ rệt khi trồng xen một hàng hành và một hàng cà rốt Khi trồng xen cải

bắp với cỏ 3 lá có thể làm mật quần thể bọ trĩ Thrips tabaci gấp 10 lần so với trồng độc canh Ở Kenya, quần thể bọ trĩ Megalurothrips sjostedti và Hydatothrips adolfifrderici trên chồi đậu bò giảm 50% khi trồng xen đậu bò

với cây lúa miến và ngô Ảnh hưởng của việc xen canh làm giảm mật độ dịch hại chắc hẳn do cây cao không thích hợp cho bọ trĩ sinh sống và đồng thời cây che bóng lên cây thấp và hiệu quả khi bọ trĩ di chuyển đến lại gặp phải cây không thích hợp và một số lượng lớn bay sang cây ký chủ khác, tuy nhiên áp dụng biện pháp này làm năng suất đạt được thường thấp và không luôn luôn có

thể tránh khỏi được sự nhiễm của bọ trĩ Mật độ quần thể bọ trĩ Thrips palmi

và Frankliniella intonsa tăng lên khi trồng khoai tây xen với hành tây và tỏi,

cũng tương tự như vậy khi trồng lạc xen với cây đậu triều và đậu xanh (Singh

et al., 1990) [79]

Trang 40

Nghiên cứu của Helenius (1990) [46] cho thấy, mật độ quần thể bọ trĩ

Franliniella tenuicornis trên lúa mạch mà canh tác theo nền hữu cơ cao gần

như gấp 2 lần so với trên lúa mạch canh tác theo hệ thống tập quán

d Biện pháp sinh học

Những nghiên cứu về phòng trừ tự nhiên với bọ trĩ cần phải quan tâm tới các loài bắt mồi, nấm ký sinh và vi sinh vật Các loài bắt mồi của bọ trĩ thuộc các bộ Neuroptera, Coleoptera, Hymenoptera, Dipterate Các loài ký sinh của bọ trĩ gồm các loài ong ký sinh thuộc họ Challedia, Eulophidae, Mymaridae, Trichogramatidae (Ananthakrishnan 1984) [21] Một số loài ăn thịt thuộc bộ Hemiptera có khả năng ăn cả bọ trĩ non và con trưởng thành,

khả năng ăn từ 3-30 con/ngày Loài kiến Azteca chartifox thường được dùng

để phòng trừ bọ trĩ hại cây Cocoa tại Brazin (Ananthakrishnan, 1984) [21]

Cho dù đã có rất nhiều nghiên cứu về thiên địch của bọ trĩ và biện pháp phòng chống bằng con đường sinh học đối với chúng và có một số chương trình đã áp dụng thành công trong nhà kính, nhưng việc áp dụng biện pháp này đối với ruộng ngoài trời chưa được đánh giá cao

Trong các loài thiên địch thì nhện bắt mồi đóng vai trò rất quan trọng trên đồng lạc và đã được đầu tư nghiên cứu khá chi tiết tại Texas trong điều kiện không phun thuốc từ 1981 - 1982 Tổng số 25.000 nhện thu thập được thì thấy rằng chúng thuộc 18 họ và 79 giống Tỷ lệ giữa nhện săn mồi và nhện kéo màng là 10/1 Các nhà khoa học đã liệt kê được danh sách con mồi gồm 220 loài, trong đó nhiều loài là thiên địch của bọ trĩ (Ananthakrishnan, 1984) [21]

e Dùng giống kháng

Nói chung, giống kháng côn trùng hại đóng vai trò rất quan trọng trong chương trình điều khiển dịch hại, nhưng phát triển giống chống dịch hại dể đưa vào chương trình phòng chống tổng hợp IPM đối với bọ trĩ cho đến nay vẫn còn rất xa lạ Hiện này rất nhiều nhà khoa học đang nỗ lực nghiên cứu

Ngày đăng: 07/01/2014, 10:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Một số hình ảnh triệu chứng gây hại của bọ trĩ - Nghiên cứu thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài frankinella intonsa trybon và biện pháp phòng trừ ở nghệ an
Hình 1.1. Một số hình ảnh triệu chứng gây hại của bọ trĩ (Trang 24)
Hình 1.2 Mô hình nuôi cá thể bọ trĩ của Hà Quang Hùng (2005) [7] - Nghiên cứu thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài frankinella intonsa trybon và biện pháp phòng trừ ở nghệ an
Hình 1.2 Mô hình nuôi cá thể bọ trĩ của Hà Quang Hùng (2005) [7] (Trang 53)
Hình 1.3 Mô hình nuôi tập thể bọ trĩ Hà Quang Hùng (2005) [7] - Nghiên cứu thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài frankinella intonsa trybon và biện pháp phòng trừ ở nghệ an
Hình 1.3 Mô hình nuôi tập thể bọ trĩ Hà Quang Hùng (2005) [7] (Trang 54)
Sơ đồ thí nghiệm RCB 3 công thức 3 lần nhắc lại - Nghiên cứu thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài frankinella intonsa trybon và biện pháp phòng trừ ở nghệ an
Sơ đồ th í nghiệm RCB 3 công thức 3 lần nhắc lại (Trang 61)
Hình 3.2 Đặc điểm hình thái của  Frankliniella schultzei  Trybom - Nghiên cứu thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài frankinella intonsa trybon và biện pháp phòng trừ ở nghệ an
Hình 3.2 Đặc điểm hình thái của Frankliniella schultzei Trybom (Trang 77)
Hình 3.4 Đặc điểm hình t á   ủ  Megalurothrips sjostedti Trybom - Nghiên cứu thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài frankinella intonsa trybon và biện pháp phòng trừ ở nghệ an
Hình 3.4 Đặc điểm hình t á ủ Megalurothrips sjostedti Trybom (Trang 81)
Hình 3.5 Đặc điểm hình thái của  Scirtothrips dorsalis  Hood - Nghiên cứu thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài frankinella intonsa trybon và biện pháp phòng trừ ở nghệ an
Hình 3.5 Đặc điểm hình thái của Scirtothrips dorsalis Hood (Trang 82)
Hình 3.6 Đặc điểm hình thái của  Thrips palmi  Karny - Nghiên cứu thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài frankinella intonsa trybon và biện pháp phòng trừ ở nghệ an
Hình 3.6 Đặc điểm hình thái của Thrips palmi Karny (Trang 83)
Hình 3.7 Đặc điểm hình thái của  Thrips tabaci  Lindeman - Nghiên cứu thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài frankinella intonsa trybon và biện pháp phòng trừ ở nghệ an
Hình 3.7 Đặc điểm hình thái của Thrips tabaci Lindeman (Trang 84)
Hình 3.8 Đặc điểm hình thái của  Thrips hawaiiensis  Morgan - Nghiên cứu thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài frankinella intonsa trybon và biện pháp phòng trừ ở nghệ an
Hình 3.8 Đặc điểm hình thái của Thrips hawaiiensis Morgan (Trang 85)
Hình 3.9 Đặc điểm hình thái của  Haplothrips gowdeyi  Franklin - Nghiên cứu thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài frankinella intonsa trybon và biện pháp phòng trừ ở nghệ an
Hình 3.9 Đặc điểm hình thái của Haplothrips gowdeyi Franklin (Trang 86)
Hình 3.11.a Mặt sau lá không bị hại  Hình 3.11.b Mặt sau lá   bị hại bởi  F.intonsa - Nghiên cứu thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài frankinella intonsa trybon và biện pháp phòng trừ ở nghệ an
Hình 3.11.a Mặt sau lá không bị hại Hình 3.11.b Mặt sau lá bị hại bởi F.intonsa (Trang 90)
Hình 3.12.a Hoa không bị hại  Hình 3.12.b Hoa bị gây hại   bởi  F. intonsa - Nghiên cứu thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài frankinella intonsa trybon và biện pháp phòng trừ ở nghệ an
Hình 3.12.a Hoa không bị hại Hình 3.12.b Hoa bị gây hại bởi F. intonsa (Trang 90)
Hình 3.15 Ảnh hưởng của giống lạc đến diễn biến mật độ bọ trĩ  F. intonsa trên hoa tại Nghi Lộc - Nghệ An (năm 2009) - Nghiên cứu thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài frankinella intonsa trybon và biện pháp phòng trừ ở nghệ an
Hình 3.15 Ảnh hưởng của giống lạc đến diễn biến mật độ bọ trĩ F. intonsa trên hoa tại Nghi Lộc - Nghệ An (năm 2009) (Trang 94)
Hình 3.16. Ảnh hưởng của giống lạc đến diễn biến mật độ bọ trĩ  F. intonsa trên lá lạc tại Nghi Lộc - Nghệ An  (năm 2009) - Nghiên cứu thành phần bọ trĩ hại lạc và thiên địch của chúng, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài frankinella intonsa trybon và biện pháp phòng trừ ở nghệ an
Hình 3.16. Ảnh hưởng của giống lạc đến diễn biến mật độ bọ trĩ F. intonsa trên lá lạc tại Nghi Lộc - Nghệ An (năm 2009) (Trang 95)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w