1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển, ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và biện pháp khoanh vỏ đến sự ra hoa, đậu quả và năng suất giống vải chín sớm bình khê tại uông bí

216 769 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển, ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và biện pháp khoanh vỏ đến sự ra hoa, đậu quả và năng suất giống vải chín sớm Bình Khê tại Uông Bí
Tác giả Đào Quang Nghị
Người hướng dẫn GS.TS. Hoàng Minh Tấn
Trường học Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Khoa học cây trồng
Thể loại Luận án tiến sỹ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 216
Dung lượng 6,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOANLuận án Tiến sỹ “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển, ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và biện pháp khoanh vỏ đến khả năng ra hoa, đậu quả và năng suất của giốn

Trang 1

BÌNH KHÊ TẠI UÔNG BÍ, QUẢNG NINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP

HÀ NỘI, 2012

Trang 2

BÌNH KHÊ TẠI UÔNG BÍ, QUẢNG NINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng

Mã số: 62 62 01 10

Người hướng dẫn: GS.TS HOÀNG MINH TẤN

HÀ NỘI, 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Luận án Tiến sỹ “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển, ảnh hưởng

của chất điều hòa sinh trưởng và biện pháp khoanh vỏ đến khả năng ra hoa, đậu quả và năng suất của giống vải chín sớm Bình Khê tại Uông Bí, Quảng Ninh ”,

chuyên ngành Khoa học cây trồng, mã số 62.62.01.10 là công trình nghiên cứu củariêng tôi

Tôi xin cam đoan các số liệu, kết quả trình bày trong Luận án là trung thực

và chưa sử dụng để bảo vệ một học vị nào hoặc chưa từng được ai công bố trong bất

kỳ một công trình nghiên cứu nào

Luận án có sử dụng một số thông tin từ nhiều nguồn tư liệu khác nhau, cácthông tin được trích dẫn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2012

Tác giả Luận án

Đào Quang Nghị

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển, ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và biện pháp khoanh vỏ đến khả năng ra hoa, đậu quả và năng suất của giống vải chín sớm Bình Khê tại Uông Bí, Quảng Ninh” được thực

hiện từ năm 2008 đến 2011 Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được rấtnhiều sự giúp đỡ của các thầy, cô công tác tại Bộ môn Sinh lý thực vật, Trường Đạihọc Nông nghiệp Hà Nội; các đồng nghi ệp là cán bộ nghiên cứu của Viện Nghiêncứu Rau quả, nơi tôi công tác và nhiều cán bộ, xã viên Hợp tác xã Dịch vụ Nôngnghiệp Phong Thái, xã Phương Nam, Thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh

Để bày tỏ lòng biết ơn, tôi xin trân trọng cảm Ban Giám hiệu Trường Đ ạihọc Nông nghiệp Hà Nội, Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Rau quả đã cho tôi cơ hộitham gia khoá đào tạo Tiến sĩ 2008 - 2011

Tôi xin trân trọng cảm ơn GS.TS Hoàng Minh Tấn đã hướng dẫn tôi tận tìnhtrong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận án

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo công tác tại Bộ môn Sinh lý thựcvật, Khoa Nông học, Viện Đào tạo Sau Đại học đã giảng dạy, chỉ bảo, giúp đỡ vàtạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo và tập thể xã viên Hợp tác xã Dịch vụNông nghiệp Phong Thái đã tạo điều kiện về địa bàn triển khai và giúp đỡ tôi trongsuốt quá trình tiến hành các thí nghiệm

Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn các đồng nghiệp, các thế hệ đàn anh

đi trước trong lĩnh vực nghiên cứu cây ăn quả, các anh em, bè bạn và gia đình đãgiúp đỡ, hướng dẫn về chuyên môn, tạo điều kiện về thời gian, vật chất và tinh thầncho tôi trong thời gian học tập và hoàn thành luận án

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2012

Tác giả Luận án

Đào Quang Nghị

Trang 5

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

1.2 Tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ vải trên thế giới và trong nước 111.2.1 Tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ vải trên thế giới 111.2.2 Tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ vải trong nước 141.3 Một số nghiên cứu trên thế giới và trong nước về cây vải 17

1.3.2 Nghiên cứu về đặc điểm thực vật học của vải 19

1.3.5 Nghiên cứu sử dụng chất điều hòa sinh trưởng cho vải 271.3.6 Nghiên cứu về các biện pháp tác động cơ giới 36

Trang 6

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41

2.2.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của

giống vải chín sớm Bình Khê tại Uông Bí, Quảng Ninh 432.2.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng tới

sự phân hóa mầm hoa, ra hoa, đậu quả và sự phát triển quả và hạt

2.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp khoanh vỏ đến quá trình ra

hoa, đậu quả và năng suất vải chín sớm Bình Khê 432.2.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của việc ứng dụng các biện pháp kỹ thuật

tổng hợp đến khả năng ra hoa, đậu quả và năng suất vải chín sớm

2.3.1 Bố trí thí nghiệm và phương pháp bố trí thí nghiệm 442.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp xác định 50

3.1 Điểm sinh trưởng, phát triển của giống vải Bình Khê 543.1.1 Một số yếu tố khí hậu năm 2008 - 2010 tại Uông Bí, Quảng Ninh 543.1.2 Đặc điểm ra lộc và khả năng sinh trưởng các đợt lộc 563.1.3 Đặc điểm sinh trưởng bộ khung tá n của vải Bình Khê 57

3.1.5 Mối quan hệ giữa khả năng sinh trưởng của lộc thu với khả năng

3.1.6 Ảnh hưởng của tỷ lệ C/N trong lá vải đến năng suất giống vải

Trang 7

3.2 Ảnh hưởng của một số chất điều tiết sinh trưởng đến khả năng ra hoa

và hình thành quả của giống vải chín sớm Bình Khê 723.2.1 Ảnh hưởng của một số chất ức chế sinh trưởng (paclobutrazol,

thiourea và ethrel) đến khả năng ra hoa của giống vải bình khê 723.2.2 Ảnh hưởng của một số chất kích thích sinh trưởng đến khả năng

đậu quả, sinh trưởng quả và hạt giống vải chín sớm Bình Khê 853.3 Ảnh hưởng của biện pháp khoanh vỏ đến quá trình ra hoa, đậu quả và

3.3.1 Ảnh hưởng của biện pháp khoanh vỏ đến sự biến đổi tỷ lệ

3.3.2 Ảnh hưởng của biện pháp khoanh vỏ đến khả năng ra hoa vải

3.3.3 Ảnh hưởng của biện pháp khoanh vỏ đến các yếu tố cấu thành

3.4 Ảnh hưởng của việc ứng dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp đếnkhả năng ra hoa, đậu quả và năng suất vải chín sớm bình khê 119

Danh mục các công trình đã công bố có liên quan đến luận án 126

Trang 8

TIBA Trijot benzoic acid

α - NAA α - Naphthalenne acetic acid

2,4,5 T 2,4,5- Triclophenoxyacetic acid

2,4,5 TP 2-(2,4,5 Trichlorophenoxy) propionic acid3,5,6 TPA 3,5,6 - tricloro - 2-pyridyl - oxyacetic acid

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.1 Một số đặc trưng về khí hậu, thời tiết tại Uông Bí - Quảng Ninh năm

3.2 Thời gian phát sinh các đợt lộc qua 3 năm (2008 - 2010) 563.3 Đặc điểm sinh trưởng thân cành của giống vải Bình Khê 583.4 Đặc điểm ra hoa và tỷ lệ đậu quả của vải Bình Khê (Vụ quả năm 2 008

3.5 Động thái nở hoa của vải Bình Khê (số liệu năm 2009) 603.6 Ảnh hưởng của thời gian ra đợt lộc cuối tới khả năng ra hoa của giống

3.7 Tỷ lệ C/N qua các thời kỳ sinh trưởng và năng suất vải Bình Khê 673.8 Ảnh hưởng của PBZ đến khả năng ra hoa và thời gian thu hoạch của

3.9 Ảnh hưởng của PBZ đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

3.10 Ảnh hưởng của PBZ đến sinh trưởng, phát triển của vải Bình Khê

3.11 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất quả 783.12 Ảnh hưởng của PBZ đến chất lượng quả (Số liệu năm 2009) 793.13 Ảnh hưởng của thời điểm xử lý thiourea đến khả năng ra hoa của vải

3.14 Ảnh hưởng của thiourea đến thời gian bật mầm hoa của vải được xử lý

paclobutrazol vụ trước (Số liệu năm 2010 - 2011) 813.15 Ảnh hưởng của nồng độ ethrel đến tình trạng sinh trưởng và khả năng

Trang 10

3.16 Ảnh hưởng của nồng độ ethrel đến các yếu tố cấu thành năng suất và

3.17 Ảnh hưởng tương tác giữa yếu tố nồng độ và thời điểm xử lý GA3 đến

3.18 Ảnh hưởng của GA3 đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

3.19 Ảnh hưởng của α - NAA đến tỷ lệ đậu quả và các yếu tố cấu thành

3.20 Ảnh hưởng của 2,4,5 TP đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng

3.21 Ảnh hưởng của 2,4,5 TP đến các chỉ tiêu chất lượng quả (Số liệu phân

3.22 Ảnh hưởng của 3,5,6 TPA đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng

3.23 Ảnh hưởng của 3,5,6 TPA tới một số chỉ tiêu về quả vải Bình Khê (Số

3.29 Ảnh hưởng của của 3,5,6 TPA phối hợp với GA3 đến một số chỉ tiêu

về phẩm chất và năng suất quả (Số liệu năm 2010) 110

Trang 11

3.30 Ảnh hưởng của biện pháp khoanh vỏ và thời điểm khoanh đến thời

gian liền vết khoanh và tỷ lệ C/N (Số liệu năm 2009) 1133.31 Ảnh hưởng của biện pháp khoanh vỏ đến khả năng ra hoa của giống

3.32 Ảnh hưởng của biện pháp khoanh vỏ đến số lượng hoa và thành phần

3.33 Ảnh hưởng của biện pháp khoanh vỏ và thời điểm khoanh đến các yếu

tố cấu thành năng suất và năng suất (Số liệu năm 2010) 1173.34 Ảnh hưởng của biện pháp tác động đến khả năng ra hoa vải Bình Khê (Vụ

3.35 Ảnh hưởng của các biện pháp tác động đến một số chỉ tiêu về quả và

năng suất vải Bình Khê (Vụ quả 2010 - 2011) 1213.36 Hiệu quả kinh tế đạt được khi phối hợp một số biện pháp tác động

(Tính cho 1 ha tương đương với 300 cây 6 năm tuổi) 122

Trang 12

3.9 Tương quan giữa tỷ lệ C/N giai đoạn phân hóa mầm hoa với năng suất 693.10 Tương quan giữa tỷ lệ C/N thời kỳ rụng quả sinh lý đến năng suất 703.11 Ảnh hưởng của GA3 đến động thái giữ quả của vải Bình Khê 873.12 Ảnh hưởng của α - NAA đến năng suất vải Bình Khê 933.13 Ảnh hưởng của 2,4,5 TP đến khả năng giữ quả qua các giai đoạn 963.14 Ảnh hưởng của 2,4,5 TP đến năng suất vải Bình Khê 983.15 Ảnh hưởng của 3,5,6 TPA và GA3 đến động thái giữ quả 1073.16 Ảnh hưởng của 3,5,6 TPA và GA3 đến động thái tăng trưởng của quả 1083.17 Ảnh hưởng của biện pháp khoanh vỏ đến tỷ lệ C/N trong lá 113

Trang 13

MỞ ĐẦU

Vải (Litchi chinensis Sonn.) là cây ăn quả Á nhiệt đới có giá trị dinh dưỡng

và giá trị kinh tế cao, thuộc vào nhóm cây ăn quả chủ đạo của miền Bắc Việt Nam.Sản lượng vải được xếp sau dứa, chuối, cam, quýt, xoài Về mặt chất lượng, quảvải được đánh giá cao với hương vị thơm ngon, nhiều chất bổ dưỡng, đượ c nhiềungười tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng Ngoài sử dụng ăn tươi, quả vải cònđược chế biến như sấy khô, làm đồ hộp, chế biến nước giải khát, được thị trườngtrong nước và thế giới ưa thích

Theo thống kê của Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)[3] và Trung tâm Phân vùng Kinh tế Nông nghiệp (Viện Quy hoạch và Thiết kế Nôngnghiệp, 2011) [38], năm 2008, diện tích vải ở nước ta khoảng 86.900 ha (chiếm 11,1%diện tích cây ăn quả của cả nước), sản lượng 404.100 tấn Trong đó diện tích cho thuhoạch 80.000 ha với năng suất trung bình 50,51 tạ/ha Đến năm 2010, tổng diện tíchvải của cả nước chỉ còn 79.100 ha trên tổng số 776.300 ha cây ăn quả của cả nước(chiếm 10,2% diện tích cây ăn quả của cả nước) , sản lượng đạt 256.700 tấn

Năm 2010, diện tích vải được trồng nhiều nhất ở các tỉnh như Bắc Giang:35.800 ha, Hải Dương: 13.000 ha, Quảng Ninh: 3.700 ha, Thái Nguyên: 4.400 ha vàVĩnh Phúc: 2.400 ha (diện tích đã được làm tròn số ) Giống trồng tại các vùng chủlực là vải thiều Thanh H à có thời vụ thu hoạch chủ yếu trong tháng 6 đã gây khó khăntrong việc bố trí lao động, thu hoạch, vận chuyển, bảo quản chế biến và tiêu thụ, làmgiảm hiệu quả kinh tế của người trồng vải Chính vì vậy, một số giống vải chín sớmđang mang lại hiệu quả cao cho người sản xuất do sự chênh lêch khá lớn về giá bán

Những năm gần đây các tỉnh có diện tích trồng vải lớn, tập trung nói trên đã

có chủ trương thay thế khoảng 15 - 20% diện tích vải thiều bằng các giống vải sớmđược tuyển chọn Những giống vải chín sớm không những chỉ mang lại hiệu quảkinh tế cao mà còn góp phần rải vụ thu hoạch, giảm thiểu đáng kể sự thất thoát sảnphẩm và sự căng thẳng về lao động do phải thu hoạch vải một cách quá tập trung

Trang 14

Cũng từ hiệu quả kinh tế cao nên việc phát triển vải chí n sớm để đa dạng hóasản phẩm và tạo ra cơ cấu giống một cách hợp lý hơn đã và đang được các địaphương ở các tỉnh trồng vải hưởng ứng tích cực Tuy nhiên, cũng có tâm lý lo ngạiphát sinh từ thực tế khi phát triển các giống vải chín sớm, đó là năng suất, chất lượngvải chín sớm thường không ổn định do các yếu tố kỹ thuật chưa được đáp ứng.

Về mặt chất lượng, hầu hết các giống vải chín sớm thường có vị ngọt, hơichua, cùi mỏng, hạt to hơn hạt vải thiều Thanh Hà, đôi khi mã quả kém hấp dẫn.Tương tự, về năng suất vải chín sớm thường không ổn định và phụ thuộc rất lớn vàođiều kiện thời tiết Có những năm, do thay đổi của điều kiện thời tiết, đặc biệt nhữngnăm mùa đông đến muộn, sự phát sinh lộc đông của vải sớm rất mạnh, cản trở sựphân hóa mầm hoa làm giảm năng suất, chất lượng quả, thậm chí gây mất mùa

Trong các giống vải chín sớm hiện nay, giống vải chín sớm Bình Khê làgiống nổi trội về các đặc tính: chín sớm hơn vải Thiều Thanh Hà từ 20 - 30 ngày,giá bán cao nên hiệu quả mang lại cho người trồng thực sự không nhỏ so với cácgiống vải khác Tuy nhiên, giống vải này còn có những nhược điểm: dễ ra lộc đônglàm giảm khả năng ra hoa, đậu quả và năng suất; hạt to nên tỷ lệ phần ăn đượckhông cao Mặt khác, hiện nay các nghiên cứu kỹ thuật trên giống vải c hín sớmBình Khê vẫn chưa có nhiều , các kỹ thuật tiến bộ còn chưa được áp dụng rộng rãi ,quy trình chăm sóc của người dân còn nhiều điểm lạc hậu so với thực tế sản xuất

Do vậy, năng suất, chất lượng của giống vải này vẫn chưa tương xứng với tiềm

năng của giống Do vậy, song song với quá trình sản xuất, việc “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển, ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và biện

pháp khoanh vỏ đến sự ra hoa, đậu quả và năng suất của giống vải chín sớm Bình Khê tại Uông Bí, Quảng Ninh” sẽ đề xuất một giải pháp kỹ thuật quan trọng

khắc phục nhược điểm cơ bản của giống vải chín sớm, góp phần phát triển giốngvải có tính rải vụ thu hoạch và mang lại hiệu quả kinh tế cao

2.1 Mục đích

Nghiên cứu một số đặc điểm nông sinh học và ảnh hưởng của một số chất

Trang 15

điều hòa sinh trưởng và biện pháp khoanh vỏ đến khả năng ra hoa , hình thành quả,nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất giống vải chín sớm Bìnhkhê tại Uông Bí, Quảng Ninh và các vùng lân cận.

2.2 Yêu cầu

Đánh giá được khả năng sinh trưởng, phát triển của giống vải chín sớm BìnhKhê tại Uông Bí, Quảng ninh Phân tích các ưu điểm cũng như nhưng tồn tại củagiống, từ đó đưa ra những hướng nghiên cứu phát huy ưu điểm và khắc phục nhữngtồn tại của giống nhằm nâng cao năng suất, phẩm chất và làm tăng hiệu quả chongười trồng vải Cụ thể:

- Khái quát được đặc điểm sinh trưởng của cây, các đợt lộc, đặc điểm ra hoa,đậu quả cũng như mối quan hệ giữa khả năng sinh trưởng của lộc, số hoa cái và tỷ

lệ C/N trong lá đến năng suất của vải chín sớm Bình Khê

- Xác định được các công thức sử dụng thiourea, paclobutrazol thích hợp làmtăng khả năng ra hoa của vải Bình Khê

- Xác định được các công thức sử dụng GA3, α - NAA thích hợp đến khảnăng đậu quả và năng suất của giống vải chín sớm Bình Khê

- Xác định các công thức sử dụng 2,4,5 TP; 3,5,6 TPA và GA3 thích hợp làmtăng năng suất, phẩm chất quả vải chín sớm Bình Khê

- Xác định được công thức khoanh vỏ phù hợp cho quá trình tích luỹ, ra hoa,đậu quả và nă ng suất giống vải Bình Khê

3.1 Ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những dẫn liệu khoa học có giátrị về giống vải chín sớm Bình Khê, ảnh hưởng của biện pháp hoá học cũng nhưbiện pháp tác động cơ giới đến quá trình ra hoa, hình thành quả, năng suất và phẩmchất của giống vải này

- Kết quả của đề tài cũng sẽ là tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và ứngdụng trên cây ăn quả nói chung, cây vải nói riêng

Trang 16

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở cho việc ứng dụng các chất điềutiết sinh trưởng tổng hợp, biện pháp cơ giới điều chỉnh quá trình sinh trưởng pháttriển của cây, nhằm cho năng suất cao, phẩm chất tốt, góp phần bổ sung và hoànthiện các biện pháp kỹ thuật vào quy trình thâm canh cây vải tại địa phương

- Giống vải chín sớm Bình Khê có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, thờigian thu hoạch sớm hơn so với vải thiều từ 20 - 30 ngày Tuy nhiên, giống vải nàycòn bộc lộ một số hạn chế: rất dễ ra lộc đông làm ảnh hưởng đến khả năng ra hoa,đậu quả của cây; tỷ lệ hoa cái, hoa lưỡng tính cũng như tỷ lệ đậu quả thấp; hạt todẫn đến tỷ lệ phần ăn được không cao

- Sử dụng các chất ức chế sinh trưởng (retardant) như paclobutrzol (PBZ),thiourea, ethrel đã điều chỉnh được khả năng ra hoa và giữ quả của vải chín sớmBình Khê Do vậy có thể làm tăng khả năng ra hoa, đậu quả và tăng năng suất rõ rệtkhi xử lý các chất này

- Các chất kích thích sinh trưởng như GA3; α - NAA; 2,4,5 TP và ; 3,5,6TPA có ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng giữ quả, sinh trưởng của quả và tăng năngsuất quả của giống vải chín sớm Bình Khê

- Sử dụng biện pháp khoanh vỏ đã làm tăng khả năng ra hoa, tăng tỷ lệ hoacái, tăng tỷ lệ đậu quả và tăng năng suất vải chín sớm Bình Khê

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là giống vải chín sớm Bình Khê ở độ tuổi từ 1 - 10năm, được nhân giống bằng phương pháp chiết cành

5.2 Địa điểm nghiên cứu

Các thí nghiệm được thực hiện tại Uô ng Bí, Quảng Ninh

5.3 Thời gian nghiên cứu

Thời gian thực hiện đề tài: từ năm 2008 năm 2011

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1.1 Nguồn gốc, lịch sử cây vải

Cây vải có tên khoa học là Litchi chinenis Sonn., thuộc họ Bồ hòn Sapindaceae, có nguồn gốc ở miền Nam Trung Quốc, Bắc Việt Nam (Wu, 1998

[121]; Vũ Công Hậu, 1999 [19]) Ở Trung Quốc, những cây hoang dại đã được tìmthấy khá nhiều ở những khu rừng ẩm ướt tới độ cao 1.000m như ở Hải Nam, dưới500m ở những vùng đồi phía Tây và Đông tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, và dưới1.000m ở vùng đồi hoặc thung lũng phía Nam tỉnh Vân Nam (dẫn theo Wu, 1998)[121] Ở Việt Nam, vải hoang dại cũng được tìm thấy ở vùng núi Ba Vì, rừng TamĐảo (Vĩnh Phúc) và Tuyên Hóa (Quảng Bìn h) Vải hoang dại hoàn toàn khác vớihầu hết các giống vải trồng, có nhu cầu lạnh để phân hóa mầm hoa ít khắt khe hơn.Đài hoa có nhiều lông màu nâu (điển hình là loài “Vải lông nâu” hoặc “Hemaoli”),chín sớm hơn vải trồng

Trung Quốc là nước có lịch sử trồng vải lâu nhất thế giới Qua các tài liệu cổ,những hạt được khai quật từ những ngôi mộ cổ và những mẫu vật sống hàng nghìnnăm tuổi đã cho thấy lịch sử trồng vải đã có vào năm 200 trước Công nguyên ở HảiNam, Quảng Đông và Quảng Tây ( dẫn theo Wu, 1998) [121]

Tên “Litchi” hoặc “Li - zhi” trong phiên âm La tinh nghĩa là “rời ra khỏicành” (to be detached from the branch) lần đầu tiên xuất hiện trong một văn bản vàonăm 200 trước Công nguyên Về sau người ta thấy cái tên này còn có nghĩa là “một

sự hư hỏng nhanh của quả và một lần nữa, chúng vẫn được gọi như tên ban đầu.Một tài liệu khác lại nói rằng Litchi nghĩa là sự cắt cành (to cut off the branches), vìngười ta phải cắt những cành nhỏ, cứng để thu hái quả (Xuming Huang và cs, 2005)[123] Theo Ge Hong (dẫn theo Xuming Huang và cs, 2005 [123]), quả á nhiệt đới

và nhiệt đới trong đó có vải và nhãn đã được dâng lên Hoàng Đế bởi những chủvườn ở Nam Trung Quốc sớm hơn năm 200 trước Công nguyên Năm 116 trước

Trang 18

Công nguyên, Hoàng Đế thống trị Quảng Đông đã cho trồng hàng trăm cây vải ởcung điện Sơn Tây Đây là ghi nhận sớm nhất về sự di thực của loài cây trồng này

từ vùng á nhiệt đới sang vùng ôn đới Có một vài sách chuyên khảo đã cung cấp chitiết về những giống trồng, cách chăm sóc cây, phòng trừ sâu, b ệnh, sơ chế sau thuhoạch và sử dụng quả ở Trung Quốc thời cổ Những người trồng vải đã biết chọnhạt từ những cây quả to, cùi dày và đặc biệt đã quan tâm tuyển chọn những cây cóquả hạt lép hoặc dạng lưỡi gà (chicken -tongue) để đưa về trồng Guo Yigong t rongcuốn “Guangzhi” của ông xuất bản vào trước năm 1800 đã ghi chép về 1 trong 4cây trồng được mô tả là có hạt teo lại (shrivelled -seeded) Ở thế kỷ thứ 10 trongcuốn sách “Vải ở Quảng Đông” biên soạn bởi Zheng Xiong đã ghi nhận 22 giống

Cũng theo tài liệu của Xuming Huang và cs (2005) [123], Cai Xiang đã mô

tả 32 giống ở Phúc Kiến, mặc dù một tài liệu sau này đã chỉ ra rằng hầu hết cácgiống đó đã bị mất Sáu mươi năm sau , Cheng Ding đã ghi chép 43 giống bao gồm

17 giống ở Phúc Kiến, 6 giống ở Tứ Xuyê n, 3 giống ở Quảng Tây và 14 giống ởQuảng Đông Số giống ở Quảng Đông tăng lên 58 giống vào năm 1826, bao gồmnhững giống nổi tiếng như ‘Guiwei’, ‘Gualu’, ‘Heiye’, ‘Huaizhi’, ‘Sanyuehong’ và

‘Feizixiao’ Trong cuốn gần đây nhất xuất bản bởi Wu năm 1998 đã ghi nhận 222giống, dòng và được mô tả khá chi tiết về nguồn gốc, đặc điểm hình thái cũng nhưnhững đặc trưng khác biệt của từng giống

Vải được nhân giống bằng hạt từ thế kỷ thứ 10 trước Công nguyên Tuynhiên, đến thế kỷ thứ 4 sau Công nguyên , phương pháp chiết cành mới được sửdụng và đến thế kỷ 16, phương pháp ghép lần đầu tiên mới được ghi nhận(Anonymous, 1978) [48] Sử dụng phương pháp ghép và chiết cành đối với vảiđược mô tả chi tiết lần đầu tiên trong sách của Xu Bo năm 1579 và Deng Qingcainăm 1628 Lịch sử trồng vải có từ lâu đời như vậy, song mãi đến cuối thế kỷ 17việc trồng vải ở Nam Trung Quốc và có thể ở Bắc Việt Nam mới được khẳng định(Tindall, 1994) [119]

Theo Galan Sauco và Menini (1989) [61], vải di thực sang Myanmar, phầnbiên giới với tỉnh Vân Nam Trung Quốc vào cuối thế kỷ 17 Tới Ấn Độ năm 1798

Trang 19

(Singh và Babita, 2002), sau này tới Nepal (Budathuki, 2002) [55] và Bangladesh(Abu Baker Siddiqui, 2002) [47] Vải được nhập nội vào Thái Lan từ Trung Quốclần đầu tiên cách đây 300 năm theo các nhà buôn Đó là những cây gieo từ hạt đượcchọn lọc, thích nghi và cho quả trong điều kiện nhiệt đới ở những vùng trung tâmThái Lan và được xem như là những giống vải vùng thấp hoặc vải nhiệt đới, khôngđòi hỏi nhiệt độ lạnh kéo dài trong thời kỳ phân hóa mầm hoa (Subhadrabandhu,1990) [114] Năm 1890, những người di cư từ Vân Nam đi qua Lào hoặc Myanmartới Chiềng Mai đã mang cành chiết của những giống vải á nhiệt đới tới trồng ở vùngnày Nhiều giống hiện nay vẫn còn mang tên Trung Quốc như “O - Hia”, “HồngHuay” và “Kim Cheng” Tuy nhiên, theo Subhadrabandhu và Yapwattanaphun(2001) [115], người Thái đánh vần và phát âm khác.

Vải nhập nội từ Trung Quốc vào Philippine trước năm 1916 nhưng không cóquả ở vùng vĩ độ thấp (Sotto, 2002 ) [105] Cho tới năm 1931, vẫn không có ghinhận nào về vải ra hoa ở Philippine Vải được đưa sang Australia cùng với nhữngngười di trú Trung Quốc vào khoảng năm 1854 (dẫn theo Menzel và cs, 1988) [79] vànhập nội vào Nam Phi sớm hơn 50 năm (dẫn theo Milne, 1999) [86] Tuy nhiên, theoOosthuizen (1991) [94], những cây vải đầu tiên được nhập nội vào Nam Phi từMauritius vào năm 1875, nhập nội vào Madagascar sau năm 1802 Từ Natal, nhữngcây vải đã lan sang Transvaal Lowveld và những vùng thích hợp không có sương muốikhác Vải được đưa sang Florida năm 1880, nhưng được trồng một cách thương mại thìphải mãi đến năm 1940; vào Hawaii năm 1873 bởi các nhà buôn Trung Quốc vớinhững cây có tên “Afong”, sau này đã xác định là tương tự như giống “Dazao” (dẫntheo Nakasone và Paul, 1998) [91] Vải được nhập nội vào Israel năm 1930 từ 3 nguồn:Nam Phi (“Mauritius”), California (“Floridian”) và Ấn Độ (“Bengal”), nhưng kỹ nghệtrồng vải mang tính thương mại thì phải tới năm 1980 (Goren và cs, 2001) [65]

1.1.2 Phân loại vải

Cây vải thuộc họ Bồ hòn ( Sapindaceae) Đây là một họ lớn có khoảng 125

chi và 1.000 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, đặc biệt là ở

Châu Á và Châu Mỹ Vải: Litchi chinensis Sonn., còn có tên: Euphoria litchi Desf

Trang 20

(Juss), Dimocarpus litchi Willd và Sapindus litchi Roxb, có bộ nhiễm sắc thể 2n

bằng 28, 30 hoặc 32 (Menzel, 1992 [82], 2000 [83]) Theo Leenhouts (1978) [75]

chi vải gồm 3 loài phụ: Litchi chinensis ssp chinensis; L chinensis ssp philippinensis; và L chinensis ssp javensis Loài phụ Philippinensis là loài bản địa của Philippine, còn loài phụ javensis có nguồn gốc ở bán đảo Malaixia và Indonexia

(Menzel, 1991 [81]; Sotto, 2002 [105]) Không có loài nào trong hai loài này được

trồng thương mại Loài được trồng thương mại là loài chinensis có nguồn gốc ở

Nam Trung Quốc

Ở Việt Nam trong họ Bồ hòn đến nay biết được 25 chi, 91 loài phân bố khắp

cả nước Trong họ này có nhiều loài cây ăn quả như vải, nhãn và chôm chôm Câyvải là cây gỗ nhỡ, lá kép lông chim, hoa nhỏ và lưỡng tính, khô ng có cánh hoa, vỏquả mỏng, màu nâu đỏ, mặt ngoài sần sùi, hoa vải có công thức: K5C5A5+5G4 (VõVăn Chi, 1978) [4]

1.1.2.1 Một số giống vải chính trên thế giới

Trên thế giới hiện nay có nhiều giống vải khác nhau, trong đó Trung Quốcđược coi là nơi có nh iều giống vải nhất, khoảng trên 200 giống và dòng Tuy nhiên,chỉ có khoảng 20 giống được phát triển rộng rãi (Chen và Huang, 2000) [58] Ở tỉnhQuảng Đông các giống vải như: Baila, Baitangying, Heiye (Hắc diệp), Fezixiao,Guiwei (Quế vị), Nuomici (Nhu mễ tư) và Huazhi (Hoài chi) được trồng với diệntích khá lớn khoảng hơn 140.000 ha, trong đó giống Guiwei, Nuomici chiếm hơn80% diện tích Tỉnh Phúc Kiến trồng chủ yếu giống vải Lanzhu với diện tíchkhoảng hơn 25.000 ha Phân theo chất lượng các giống vải ở Trung Quốc có hainhóm chính: nhóm khi quả chín, thịt quả thường nhão và ướt còn nhóm kia khi chínthì cùi ráo và khô Phân theo vụ thu hoạch thì có 3 nhóm:

Nhóm chín sớm và cực sớm: giống Sanyuehong, Feizixiao, Edanli, Ziliangxi,các giống này được trồng tập trung chủ yếu ở tỉnh Hải Nam Giống Sanyuehong làgiống chín sớm nhất vào cuối tháng 4

Nhóm chín chính vụ: Khoảng 90% sản xuất vải ở Trung Quốc là giốngchính vụ, gồm các giống: Baila, Baitangying, Heiye, các giống này được trồng

Trang 21

tập trung ở tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Zhanjiang, Maoming vàYangjiang Thời gian thu hoạch nhóm chính vụ kéo dài khoảng 50 ngày, từ cuốitháng 5 đến giữa tháng 7.

Nhóm chín muộn: Guiwei, Nuomici, Huazhi, Feizixiao, Lanzhu, các giốngnày được trồng tập trung ở t ỉnh Quảng Đông, đông nam tỉnh Quảng Tây và tỉnhPhúc Kiến (Ghosh và cs, 2000 [64]; Mitra, 2002 [87], [89]) Giống chín muộnnhất là giống Nanmuye, vào giữa tháng 8 ở tỉnh Tứ Xuyên

Tại Đài Loan, giống vải chủ yếu là giống Heiye (Hắc diệp), chiếm hơn90% tổng diện tích Ngoài ra còn có giống Yuhebao được trồng ở miền Nam vàgiống Feizixiao được trồng ở miền Trung (Anonymous, 2000) [49]

Tại Nam Phi giống vải chủ yếu là Kwaimi (thường được gọi là

“Mauritius” vì có nguồn gốc từ hòn đảo này) chiếm 75% sản xuấ t vải ở NamPhi; tiếp đến là giống McLean -Red, chiếm 16% (Milne, 1999 [86]; Ghosh, 2001[65]) Ấn Độ có khoảng 51 giống, trong đó giống được trồng nhiều là: Shahi,Bombai, Rose Scented, China, Deshi, Calcutia và Mazaffarpur (Chen và Huang,2000) [58]

Giống vải trồng chủ yếu ở Thái Lan là giống Hong Huay, chiếm tới 70%diện tích, sau đó là giống Kom, chiếm 11%, còn lại là các giống khác như O -Hia,Hoài Chi (Huazhi) và Chakrapad (Subhadrabandhu và Yapwattanaphun, 2001,[115]) Giống vải của Thái Lan được c hia làm hai nhóm: nhóm yêu cầu ít chặtchẽ với nhiệt độ lạnh trong mùa đông được trồng ở khu vực trung tâm của TháiLan, nhóm yêu cầu nhiệt độ lạnh chặt chẽ hơn trong mùa đông được trồng ở cáctỉnh phía Bắc (Anupunt, 2003 [50]; Teng, 2003 [117])

Ở Nam Mỹ, chỉ có 2 nước trồng vải là Braxin và Mê -xi-cô Giống chủ yếu trồng

ở Sao Paulo - Braxin là Bengali nhập từ Ấn Độ và ở Mê -xi-cô là Hắc diệp và Kwaimi

do cộng đồng người Hoa đưa đến từ Trung Quốc (Yamanishi và cs, 2001) [125]

Ở Bắc Mỹ (chủ yếu là Mỹ), v ải được trồng ở Florida, chiếm 95% Một số

ít được trồng ở Hawai và California Giống chủ yếu là giống Brewster (Chenzi)

Từ năm 1992 có thêm giống Mauritius (Campbell, 2001 [56], Knight, 2001 [74])

Trang 22

Các giống vải trồng ở Australia chủ yếu là: Kwai May Pi nk, tiếp đến làFeizixiao, Shuidong và Huaizhi Giống địa phương là Salathiel Sản xuất vải ởAustralia tập trung chủ yếu ở bang Queensland: có tới 50% diện tích trồng ởphía Bắc, 40% ở phía Nam Queensland Chỉ 10% diện tích vải được trồng ở BắcNew South Wales (Menzel, 2002) [84].

Israel cũng trồng vải từ năm 1930 với những giống: Mauritius nhập nội từNam Phi, giống Floridian nhập nội từ Mỹ và Bengali nhập nội từ Ấn Độ (Goren

và cs, 2001) [67] Tuy nhiên đến năm 1970, trồng vải ở Israel mới trở thànhngành sản xuất thương mại, với các giống chủ yếu là Mauritius (chiếm 80%) vàFloridian (20%) (Gazit, 2001) [62]

1.1.2.2 Một số giống vải chính ở Việt Nam

Ở Việt Nam, các giống vải được phân theo thời vụ thu hoạch như sau:

Các giống vải chín sớm: các giống có thời gian chín từ 5/5 đến 25/5 hàng

năm Đặc điểm hoa có phủ một lớp lông thưa màu nâu, quả hình tim hoặc trứng,khối lượng quả từ 30 - 40 g Các giống thuộc nhóm này là: vải tu hú, HùngLong, Bình Khê, Yên Hưng, Yên Phú

Các giống vải chín chính vụ : các giống có thời gian chín từ 1/6 đến 25/6

trong điều kiện các tỉnh miền Bắc Chùm hoa có phủ lớp lông màu trắng, khốilượng quả trung bình 25 g, cùi ráo, vị thơm năng suất khá cao Các giống thuộcnhóm này là: thiều Thanh Hà, thiều Phú Hộ

Các giống vải chín muộn: là giống có thời gian chín khoảng từ 30/6 đến

15/7 hàng năm theo điều kiện các tỉnh miền Bắc Chùm hoa có phủ lớp lông màutrắng, khối lượng quả trung bình khoảng 35 g am, phẩm chất khá ngon Tuynhiên ở nước ta hiện nay những nghiên cứu để phân lập nguồn gen của các giốngchín muộn chưa có do vậy các giống chín muộn hiện nay vẫn có thể là các giốngchín chính vụ do sử dụng các biện pháp kỹ thuật mà quả chín muộn hơn Cácgiống vải chín muộn hiện nay có các giống: chín muộn Thanh Hà, chín muộnLục Ngạn (Trần Thế Tục, 2004 [42])

Năm 1991 nước ta nhập nội một số giống vải từ Trung Quốc là các giống:

Trang 23

Heiye (Hắc diệp), Fezixiao (Phi Tử Tiếu), Guiwei (Quế vị), Nuomici (Nhu mễ tư)

và Huazhi (Hoài chi), Kwai May Pink (Tam Nguyệt Hồng) Năm 1991, dự ánVIE86 - 003 đã nhập một số giống từ Australia về Lục Ngạn như: Waichee,Taiso, Salathiel, Kwai May Pink… Qua theo dõi, các giống này đều sinh trưởngkém hơn vải thiều Thanh Hà Năm 1998, huyện Lục Ngạn tiếp tục nhập giốngBạnh Đường Anh và năm 2001, Tổng Cô ng ty Rau quả nhập giống Đại Bi Hồngcũng trồng tại Lục Ngạn, song các giống này sinh trưởng chậm và vẫn đang đượctiếp tục theo dõi

Theo kết quả điều tra của Nguyễn Văn Dũng cs (2005) [10] (tại 13 huyệncủa 7 tỉnh miền Bắc), Việt Nam có tập đoàn vải khá phong phú Đã thu thậpđược 31 giống, trong đó tuyển chọn được 8 giống có khả năng sinh trưởng, pháttriển tốt, có tính chống chịu sâu bệnh khá, năng suất cao và ổn định Hiện nay, 5giống đã được công nhận giống quốc gia là thiều Thanh Hà, Hùng Long, BìnhKhê, Yên Hưng, Yên Phú Trong đó, trừ giống thiều Thanh Hà ra, 4 giống cònlại đều là giống chín sớm

Hiện nay hơn 95% diện tích trồng vải của n ước ta trồng giống vải thiềuThanh Hà, là giống chính vụ [43], [44], chín rất tập trung, gây trở ngại cho chếbiến và tiêu thụ Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả kinh tế của vườn quả, cần

có một cơ cấu giống vải hợp lý với thời gian thu hoạch khác nhau Trong đó,giống chín sớm được tập trung ưu tiên mở rộng diện tích do khả năng tiêu thụ vàgiá bán cao (Vũ Mạnh Hải, 2005) [18]

GIỚI VÀ TRONG NƯỚC

1.2.1 Tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ vải trên thế giới

1.2.1.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ

* Tình hình sản xuất:

Trên thế giới có hơn 20 quốc gia có diện tích trồng vải, các nước này chủ yếuthuộc khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong đó Trung Quốc có diện tích và sảnlượng lớn nhất, khoảng 590.000 ha Sản lượng năm 2003 đạt 1.123.000 tấn, 1.558.400

Trang 24

tấn vào năm 2004 và 1.392.000 tấn vào năm 2005 (Menzel và cs, 2005) [85].

Các nước có diện tích trồng vải lớn tiếp theo là Ấn Độ: 56.200 ha, sản lượng429.000 tấn (Singh và Babita, 2002) [101]; Thái Lan diện tích khoảng 23.000 ha vàsản lượng 81.000 tấn (Sethpakdee, 2002) [99]; Đài Loan: 12.000 ha, sản lượng108.000 tấn (Mitra, 2002) [87] Một số nước có diện tích và sản lượng vải đáng kểnhư: Bangladesh có diện tích 4.800 ha, sản lượng 12.800 tấn; Madagaska: 3.000 ha

và 20.000 tấn; Nepal: 2.380 ha và 14.000 tấn; Nam Phi: 1.500 ha và 8.000 tấn;Australia: 1.500 ha và 5.000 tấn; Florida (Mỹ): 240 ha và 1.000 tấn; Israel: 300 ha

và 2.000 tấn (Menzel và cs, 2005) [85]

* Thị trường tiêu thụ

Hiện nay thị trường tiêu thụ chính của vải là Hồng Kông và Singapore, hainước này nhập khẩu từ 12.000 đến 15.000 tấn vải từ Trung Quốc và Đài Loan vàothời kỳ tháng 6 và tháng 7 Ngoài ra Đài Loan còn xuất khẩu vải sang các thịtrường khác như Canada, Nhật Bản, Philipine, Mỹ Thị trường châu Âu hàng nămtiêu thụ khoảng 20.000 tấn vải tươi Các nước nhập khẩu chủ yếu là Pháp, Đức vàAnh Vải được tiêu thụ mạnh vào thời gian giữa lễ Giáng sinh và năm mới Nướccung cấp vải chính trong thời kỳ này là Madagasca (khoảng 80%), Nam Phi(khoảng 12,6 %) Các nước Australia, Thái Lan và Ấn Độ cũng xuất khẩu vải sangthị trường này vào thời gian tháng 6 - 7 nhưng chỉ vào kh oảng 600 - 700 tấn/năm(Menzel và cs, 2005) [85]

Madagasca xuất khẩu vải nhiều nhất sang thị trường châu Âu, sau đó làNam Mỹ Trung Quốc có diện tích và sản lượng vải lớn nhất, nhưng số lượng vảixuất khẩu trung bình mỗ i năm chỉ khoảng gần 200 tấn [106] Việt Nam đến năm

2004 mới bắt đầu xuất khẩu vải tươi sang thị trường châu Âu với số lượng chỉ vàichục tấn Tuy nhiên đây là một thị trường đầy tiềm năng nếu chúng ta biết tậptrung vào khâu chăm sóc, bảo quản, nâng cao chất lượng vải quả tươi thì hoàntoàn có thể nâng cao được số lượng vải xuất khẩu sang các n ước châu Âu

Các thị trường mới như các nước Ả Rập Xê út, Saudi Arabia, Yemen,Dubai hàng năm cũng nhập khẩu vài trăm tấn vải tươi Tuy nhiên, so với tổng sản

Trang 25

lượng, vải xuất khẩu vẫn chiếm một tỷ lệ rất nhỏ Ngoại trừ Australia là nước xuấtkhẩu khoảng 25 - 30 % tổng sản lượng, còn các nước khác chỉ chiếm từ 0,2 - 5,5%.

Số lượng vải được đóng hộp và bảo quản lạnh khoảng 2.500 tấn ở Trung Quốc, 500tấn ở Đài Loan và được xuất khẩu sang các nước Mỹ, Canada, Hàn Quốc Tuy nhiên,sản phẩm vải đóng hộp thường không được ưa chuộng trên thị trường vì hương vịkém hơn vải tươi, vải bảo quản trong nhiệt độ lạnh cũng gặp khó khăn vì vỏ quảthường bị chuyển màu sau một thời gian ngắn (Menzel và cs, 2005) [85]

1.2.1.2 Chế biến, bảo quản sau thu hoạch

*Chế biến bảo quản sau thu hoạch

Nghiên cứu bảo quản vải sau thu hoạch được nhiều ngày để vận chuyển đi xahoặc kéo dài thời gian cung cấp vải tươi là vấn đề có ý nghĩa kinh tế lớ n Sau thuhoạch từ 2 - 3 ngày vỏ quả vải thường bị chuyển sang màu nâu làm giảm giá trị củasản phẩm Ở Australia, vải được xử lý bằng thuốc chống nấm Benlate ở 50oC, sau

đó bảo quản ở nhiệt độ 5oC Ở Trung Quốc, vải được bảo quản trong túi P.E buộckín để ở nhiệt độ 2 - 4oC Xử lý sau thu hoạch bằng khí SO2 là phương pháp bảoquản vải được lâu nhất hiện nay (Jahiel và cs, 2005 [72]; Shi và Wang, 2000 [100])

Nghiên cứu của Lemmer và cs (2002) [76] cho thấy: khả năng tồn dư của

SO2 sau bảo quản phụ thuộc nhiều vào điều kiện môi trường và sinh lý của quả.Nếu độ ẩm của quả trước khi thu hoạch cao kết hợp với sau thu hoạch một đêm mới

xử lý thì hàm lượng S tồn dư rất cao Vì vậy nếu kết hợp đồng bộ giữa việc thu hái

và bảo quản thì có thể giảm được hàm lượn g S trong vỏ quả

Nghiên cứu kéo dài thời vụ thu hoạch cho vải ở Israel cho thấy: giống vảiMaritius khi được che bớt ánh sáng từ 30 - 50% khoảng một tháng trước khi thuhoạch đã chín muộn hơn so với bìn h thường từ 7 - 10 ngày (Tomer, 2002) [120]

Nghiên cứu phương pháp bảo quản của Xu và cs (2006) [124] cho 3 giốngvải Huaizhi (Hoài Chi), Nuomici (Nhu Mễ Tư) và Guiwei (Quế Vị) ở nhiệt độ 4oCcho thấy: có sự quan hệ chặt chẽ giữa nhiệt độ và khả năng ô xy hóa cũng như sựchuyển hóa giữa các enzym trong tế bào của thịt quả Thay đổi nhiệt độ từ kho bảoquản ra môi trường bên ngoài một cách từ từ sẽ giảm được sự mất màu của quả vải

Trang 26

Kaewchana và cs (2007) [73] cho biết: độ ẩm có liên quan đến sự chuyểnmàu nâu của vỏ quả vải Hong huay Archibal và Bower (2008) [51] đã xử lý vải saukhi thu hoạch bằng cách phân loại và xử lý nấm bệnh, đặt từng lớp ngăn cách tronghộp bằng giấy hút ẩm, sau đó được đóng kín trong túi polyetylen chuyên dụng, bảoquản ở nhiệt độ lạnh từ 1 - 5oC, sau 40 ngày vẫn giữ được màu sắc vỏ quả và hương

vị như lúc mới thu hoạch

1.2.2 Tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ vải trong nước

1.2.2.1 Tình hình sản xuất, tiêu thụ vải ở trong nước

Do cây vải yêu cầu điều kiện lạnh trong thời kỳ phân hóa mầm hoa nên sảnxuất vải hàng hoá được tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc Những tỉnh có diệntích lớn tập trung là: Bắc Giang, Hải Dương, Quảng Ninh, Thái Nguyên và VĩnhPhúc Những năm từ 1993 -1996 vải cũng đã được đưa vào trồng ở Đắc Lắc, tuynhiên diện tích không đáng kể

Sản xuất vải ở miền Bắc nhìn chung thiếu ổn định do không chủ động đượcthị trường tiêu thụ Khi có thị trường tiêu thụ thì người dân đổ xô trồng vải, nhưngkhi khó khăn trong khâu tiêu thụ thì người dân lại phá bỏ trồng cây khác Thời kỳ từnăm 1990 - 2003 là thời kỳ tăng nhanh nhất cả về diện tích và sản lượng Năm 1990,diện tích trồng vải mới có 5000 ha, sản lượng 10.200 tấn, tới năm 2003, diện tích vải

cả nước đã đạt 86.500 ha (tăng 17,3 lần so với năm 1990), sản lượng đạt 158.687 tấn(tăng 15,6 lần so với năm 1990) Từ sau năm 2003, giá vải liên tục giảm thấp, tiêu thụgặp nhiều khó khăn, diện tích trồng vải tăng chậm và có xu hướng giảm, chuyển đổisang cây trồng khác Sau 4 năm, từ 2005 - 2008, diện tích trồng vải giảm 3,4% (từ92.000 ha xuống còn 88.900ha) [3], và đến năm 2010, theo số liệu của Trung tâmPhân vùng Kinh tế Nông nghiệp (Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp) [38],diện tích vải chỉ còn khoảng 79.100 ha với sản lượng 256.700 tấn

Năng suất vải bình quân ở nước ta còn ở mức thấp hơn so với các nước trồ ngvải khác trong khu vực và không ổn định qua các năm, bình quân chỉ đạt 3 - 4tấn/ha Năm 2004, năng suất bình quân hơn 4,5 tấn/ha, liên tiếp năm 2005, 2006 dođiều kiện thời tiết khô hạn kéo dài khi quả non mới đậu đã gây rụng quả hàng loạt,năng suất bình quân cả nước chỉ đạt trên 2 tấn/ha, sản lượng giảm khoảng 40% so

Trang 27

với năm 2004 Năm 2007, năng suất vải đạt hơn 5,5 tấn/ha, đạt sản lượng cao nhấtvới trên 420.000 tấn [3].

Sản phẩm vải quả được tiêu thụ ở dạng quả tươi và dạng đã qua chế biến: sấykhô, đóng hộp, vải nghiền (puree) Quả tươi được tiêu thụ chủ yếu trong nội địa,một phần được xuất khẩu, còn vải đã qua chế biến chủ yếu phục vụ xuất khẩu Hiệnnay, quả vải tiêu thụ tươi chiếm 50 - 55% (trong đó trên 80% được tiêu thụ trongnước), vải sấy khô chiếm 35 - 40%, chế biến đồ hộp khoảng 5 - 10% Hầu hết, sảnphẩm vải sấy khô và một phần vải tươi được xuất sang thị trường Trung Quốc,Hồng Kông, Singapore, Malaysia, Philipine, Nhật và một số nước Châu Âu: Pháp,Đức, Thuỵ Sĩ, Anh, Nga,… Khối lượng xuấ t khẩu năm 2004 khoảng 2.000 tấn vảihộp, giá trị 1,5 triệu USD và 100 tấn vải đông lạnh, giá trị 100 ngàn USD [3]

1.2.2.2 Chế biến, bảo quản sau thu hoạch

Hiện nay bảo quản và chế biến quả vải của nước ta chủ yếu dưới các hìnhthức sau:

- Bảo quản lạnh: Vải sau khi thu hoạch được chở bằng xe lạnh vận chuyển

xa, hoặc được bảo quản trong nhà lạnh, cuối vụ mới bán hoặc xuất khẩu (NguyễnTiến Định, 2005) [15]

Theo Trần Văn Lài (200 6) [23], Bộ môn nghiên cứu bảo quản chế biến, ViệnNghiên cứu Rau quả đã áp dụng phương pháp làm lạnh sơ bộ, sau đó xử lý bằngaxít clohydric (HCl), đóng túi polyetylen có đục lỗ đã bảo quản duy trì được màusắc tự nhiên của vải, tỷ lệ hao hụt thấp, chất lượng cảm quan được đánh giá cao.Quy trình bảo quản này được áp dụng ở Th anh Hà và Lục Ngạn với quy mô 50tấn/lượt cho thấy hiệu quả kinh tế tăng 20% so với bán quả tươi

1.2.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải ở Quảng Ninh.

Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và PTNT Quảng Ninh [28], vải là cây ănquả chủ lực của tỉnh Tuy nhiên, diện tích và sản lượng vải trên địa bàn Quảng Ninhluôn biến động Năm 2009, diện tích vải toàn tỉnh là 3.999,8 ha, sản lượng 8.860,0tấn chiếm 51,5% diện tích cây ăn quả toàn tỉnh và 31% về sản lượng; năm 2010,diện tích giảm xuống còn 3.736,8 ha nhưn g sản lượng lại tăng lên 9.605,0 tấn

Trang 28

Các huyện trồng vải tập trung là Đông Triều (1.833,5 ha), Uông Bí (525,0ha), Yên Hưng (244,2 ha), Hoành Bồ (191,0 ha), Hải Hà (197,0 ha), Đầm Hà (190,2ha), Tiên Yên (146 ha), Móng cái (126,8 ha) Ngoài ra, các huyện như Hạ Long,Cẩm Phả, Bình Liêu, Vân Đồn cũng có trồng vải nhưng diện tích chỉ vài chục ha.

Trong tổng số diện tích vải ở Quảng Ninh, Uông Bí là địa phương có diệntích vải và sản lượng đứng thứ 2 sau Đông Triều Nhìn chung diện tích vải củaUông Bí mấy năm trở lại đây ít thay đổi Năm 2009 và 2010 diện tích đều là 525 hanhưng sản lượng năm 2010 tăng và đạt 1.225 tấn so với năm 2009 chỉ đạt 977,3 tấn.Qua số liệu điều tra, điều đặc biệt là hầu hết các địa phương trồng vải ở Quảng Ninhchỉ trồng giống vải thiều chính vụ ( thu hoạch vào tháng 6), riêng Uông Bí cơ cấugiống vải sớm Bình Khê chiếm tới 14%; có những xã như Phương Nam, diện tíchvải sớm chiếm tới 90% vv… Huyện Yên Hưng cũng có giống vải sớm Yên Hưng,song cơ cấu giống này chiếm tỷ trọng rất ít s o với vải chính vụ của huyện Do tỷ lệvải sớm ở Uông Bí chiếm tỷ lệ đáng kể và giá bán của vải sớm thường gấp 2 lần sovới vải chính vụ, nên hiệu quả thu được từ trồng vải ở Uông Bí thường cao hơn sovới các địa phương khác trong tỉnh

Về tiêu thụ, vải s ản xuất ở Uông Bí chủ yếu vẫn tiêu thụ ở thị trường nội địa.Tuy nhiên, do có tỷ lệ đáng kể giống vải sớm nên sức ép tiêu thụ vải ở Uông Bícũng không quá căng thẳng như những địa phương khác Sản lượng vải sớm hiệnnay vẫn chưa đủ cung cấp cho thị trường trong nước Thường đến vụ vải sớmnhững thương lái đến tận vườn đặt mua và vận chuyển tới những thị trường rất xanhư thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam

Mặc dù sản xuất vải ở Uông Bí đã hình thành một cơ cấu giống chín sớmmột cách tự nhiên, giảm được một phần sức ép về thu hoạch và hiệu quả kinh tế caohơn, song vẫn chưa đủ để giải quyết được những khó khăn trong khâu thu hoạch vàtiêu thụ vải ở Uông Bí Vấn đề đặt ra đối với Uông Bí nói riêng và Quảng ninh nóichung là phải định hình được quy mô sản xuất vải và xây dựng một cơ cấu giốnghợp lý, đồng thời áp dụng các tiến bộ kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng, đảmbảo sản xuất ổn định

Trang 29

1.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC VỀ

CÂY VẢI

1.3.1 Yêu cầu sinh thái của cây vải

Nhiệt độ: nhiệt độ là nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sinh trưởng sinh dưỡng

và sinh thực của cây vải, vùng có nhiệt độ bình quân năm từ 21 -25oC vải phát triểntốt, nhiệt độ 0oC đối với giống chín muộn và 4oC đối với giống chín sớm thì cây vảingừng sinh trưởng

Nhiệt độ lạnh vào thời kỳ phân hóa mầm hoa như là một yếu tố quyết định đến

sự ra hoa của vải Tuy nhiên, nếu thời kỳ lạnh đến muộn khi lộc thu đã thành thục lâuthì cây vải sẽ xuất hiện lộc đông, cũng trong thời kỳ phân hóa hoa nếu nhiệt độ xuốngquá thấp có thể phá hủy thùy hoa và ảnh hưởng đến sự phát triển của hoa (Hieke và

cs, 2002 [69]) Theo Yapwatanaphun (2000) [126], ở Thái Lan các giống vải đượcchia làm hai nhóm: nhóm yêu cầu thời gian có nhiệt độ lạnh vào mùa đông ngắn hơn

và nhóm yêu cầu nhiệt độ lạnh về mùa đông dài hơn

Menzel (1988) [80] nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến tỷ lệ ra hoa trên 7giống vải khác nhau cho thấy: nếu nhiệt độ chênh lệch ngày đêm là 25/20 và 30/25thì cây vải không có hoa Nếu nhiệt độ duy trì ở ngưỡng thấp từ 15/1 0 cho đến lúc nởhoa thì số lượng chùm hoa đạt cao nhất, trong thời kỳ này nếu nhiệt độ ngày đêmtăng dần tỷ lệ hoa đực sẽ tăng và một số chùm hoa sẽ trở lại thành cành dinh dưỡng

Sự thụ tinh xảy ra tốt nhất ở nhiệt độ 19 - 22oC, nếu nhiệt độ thấp hơn sẽ ngăn chặn

sự phát triển của ống phấn Ở điều kiện nhiệt độ 20/17oC hoặc 22/17oC, hạt phấn nẩymầm trên đầu nhụy mất 5 ngày, nhưng chỉ mất 2 ngày khi điều kiện nhiệt độ là33/27oC Tuy nhiên, nếu nhiệt độ cao và khô hạn thì tỷ lệ đậu quả thấp do hạt phấn bịkhô, không nảy mầm và thụ tinh được, năng suất sẽ giảm trầm trọng (Stern và cs,1997[107])

Cây vải muốn có năng suất phải qua 2 thời kỳ: ra được mầm hoa và đậu đượcquả Thời kỳ phân hóa mầm hoa cây vải cần có nhiệt độ lạnh, thời kỳ nở hoa phải ấmkhông có gió bấc và mưa phùn Năm nào nhiệt độ mùa đông thấp, khô, biên độ nhiệt

độ ngày đêm lớn sẽ có lợi cho phân hóa mầm hoa, tích lũy dinh dưỡng vào quả và

Trang 30

cây có khả năng cho năng suất cao Thời kỳ phân hóa hoa khác nhau tùy theo giống,các giống chín sớm phân hóa hoa vào tháng 11 các giống chín trung bình và muộnphân hóa tháng 12 (Vũ Công Hậu, 1999) [19] và Trần Thế Tục, 1997 [41]),

Trần Thế Tục (2004) [42] cho rằng, các giống vải khác nhau yêu cầu nhiệt độthấp vào mùa đông khác nhau, các giống chín sớm có thể hình thành mầm hoa ở nhiệt

độ cao hơn so với vải Thanh Hà v à Phú Hộ Vũ Mạnh Hải (2000) [17] cho thấy, nhiệt

độ các tháng 12 đến tháng 2, lượng mưa tháng 11, 12, số giờ nắng tháng 11, 12 cótương quan đến năng suất giống vải Thanh Hà

Ánh sáng: vải là cây ưa sáng, tổng số giờ chiếu sáng trong năm khoảng 1.800

giờ thích hợp cho vải Ánh sáng đầy đủ làm tăng khả năng đồng hóa, xúc tiến quátrình phân hóa mầm hoa, tăng màu sắc của vỏ quả và làm tăng phẩm chất quả Nếukhông đủ ánh sáng hoặc trồng quá dày, quá trình quang hợp bị hạn chế thì sự ra hoađậu quả sẽ khó khăn Đối với vườn vải khi trồng quá dầy hoặc không cắt tỉa thườngxuyên sẽ làm giảm số chùm hoa và chiều dài chùm hoa ( Hieke và cs, 2002 [69];Phạm Văn Côn, 2004 [5] )

Lượng mưa và độ ẩm: Đối với cây vải, thời gian vải phân hóa mầm hoa,

lượng mưa có ảnh hưởng đến tỷ lệ hoa đực và hoa cái Mưa nhiều cũng ảnh hưởngđến tỷ lệ đậu quả của vải Thời kỳ nở hoa gặp mưa cộng thêm gió rét khiến cho hạtphấn phát dục kém, quá trình thụ phấn bị ảnh hưởng, mặt khác mưa ẩm làm phátsinh nhiều nấm bệnh trên cây dẫn đến giảm tỷ lệ đậu và tăng tỷ lệ rụng quả Thờigian vải chín, nếu gặp mưa sẽ ảnh hưởng đến chất lượng quả do vỏ quả bị nứt (VũMạnh Hải, 2000 [17]; Trần Thế Tục, 2004 [42])

Lượng mưa và độ ẩm cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến sinhtrưởng của vải Mùa hè, lượng mưa tương đối nhiều là thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡngcủa cây vải, mùa đông ít mưa, đất khô hạn đã ức chế sinh trưởng của rễ và cành, thuậnlợi cho phân hóa mầm hoa (Ngô Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1991) [27]

Gió: Gió có tác dụng hỗ trợ hoa thụ phấn, thụ tinh Gió Tây Bắc khô làm khô

đầu nhụy ảnh hưởng đến thụ phấn, gió Đông Nam ẩm ướt làm hoa vải có thể bịrụng Thời gian quả phát triển gió to làm quả bị rụng, cành gãy, t hậm chí đổ cây

Trang 31

Chính vì vậy, khi thiết kế chọn vườn cần phải chọn đất và thiết kế đai rừng chắngió, quá trình chăm sóc nên cắt tỉa thường xuyên để cây có tán thấp.

Đất: Cây vải có tính thích nghi cao với nhiều loại đất khác nhau Ở các loại

đất như đất đỏ, đất vàng, đất cát pha, đất phù sa và đất thịt nặng cây vải đều pháttriển được và cho năng suất Loại đất thích hợp nhất cho cây vải là đất phù sa cótầng canh tác dầy, thoát nước tốt Vùng đất trũng cũng có thể trồng được vải, nhưngphải làm luống cao , có rãnh thoát nước Theo Trần Thế Tục (2004) [42] yếu tố hạnchế vùng trồng vải không phải là loại đất mà chủ yếu là thời tiết khí hậu Trong đó,hai yếu tố quan trọng nhất là nhiệt độ thấp, lượng mưa ít vào tháng 12 và tháng 1 đểcây phân hóa mầm hoa

1.3.2 Nghiên cứu về đặc điểm thực vật học của vải

Nghiên cứu các đặc điểm thực vật thông qua chỉ tiêu về sinh trưởng và pháttriển của cây trong điều kiện khí hậu của một khu vực qua nhiều năm có thể đánhgiá được mức độ thích nghi, khả năng bảo tồn các đặc tính vốn có của giống cũngnhư tiềm năng cho năng suất

Rễ: Cây vải có bộ rễ rất khỏe gồm rễ ăn đứng và rễ ăn ngang, bộ rễ ăn sâu,

nông, rộng, hẹp tùy thuộc vào cách nhân giống, đất trồng, nước phân bón, khôngkhí và chế độ nhiệt trong đất Đại bộ phận rễ tơ tập trung trong và phạm vi ngoài tán

10 - 50 cm, độ sâu 0 - 50 cm Hoạt động của bộ rễ vải chia làm 3 thời kỳ: Thứ nhấtsau lúc hoa nở rộ đến giữa tháng 6, đây là thời kỳ bộ rễ hoạt động mạnh mẽ vànhiều rễ nhất; thứ hai vào giữa tháng 8; thứ ba sau kh i lộc thu thành thục (vàokhoảng trung tuần tháng 10) Với bộ rễ phát triển, có khả năng hấp thụ mạnh nênvải có khả năng chịu hạn Yuan và Huang (1993) [129] khi nghiên cứu sự phát triển

bộ rễ của giống Nuamici cho thấy, đợt rễ xuất hiện vào tháng 5 là ng uyên nhân gâyrụng quả trầm trọng Zhou và cs (1996) [132] cũng nhận thấy, nếu đợt rễ mới khôngphát triển vào tháng 5 đối với hai giống Huaizu và Nuamici thì tỷ lệ rụng quả sẽgiảm hẳn Kết quả cho thấy nghiên cứu đối với sự sinh trưởng của bộ rễ có thể t ácđộng các biện pháp kỹ thuật làm giảm bớt tỷ lệ rụng quả sinh lý cho vải

Thân, cành: Cây trưởng thành cao tới 10 - 15 m, tán hình mâm xôi hoặc bán

Trang 32

cầu, đường kính tán từ 8-10 m Thân có đường kính lớn, vỏ nhẵn, màu tối, gỗ màunâu Đối với cây vải tùy vào điều kiện sinh thái, khả năng trồng trọt, một năm câythường ra 3 đến 4 đợt lộc Các đợt lộc có liên quan chặt chẽ với nhau, quá trình ralộc năm nay sẽ là tiền đề cho việc ra hoa kết quả ở năm sau Thông thường cành mẹcủa cây vải là cành thu, tùy theo giống, tùy tuổi cây mà một năm có thể có từ 1 - 2đợt cành thu (Hieke và Menzel, 2001 [68]) Hoa vải ra chủ yếu từ lộc xuân mọc từcành thu năm trước, nhưng không phải có lộc thu là có hoa Nếu lộc thu ra quámuộn, sinh trưởng tích lũy kém, dù gặp điều k iện khí hậu thuận lợi cũng không thểphân hoá mầm hoa được Nếu lộc thu ra sớm mà ngay sau đó là đợt lộc đông thì câycũng không có khả năng ra hoa Phân hóa mầm hoa sớm hay muộn còn do tuổi cành

mẹ chi phối, cành mẹ thành thục sớm thì phân hóa mầm hoa sớm , cành mẹ thànhthục muộn thì phân hóa mầm hoa muộn Nghiên cứu của Ngô Xuân Bình (200 5)[2], Menzel (1992) [82] cho thấy, cành vải trong vụ xuân có ba loại: một loại phátsinh chùm hoa, một loại phát sinh chùm hoa có kèm theo lá và một loại phát triểnthành cành dinh dưỡng (không ra hoa) Loại cành có hoa kèm theo lá thường có tỷ

lệ đậu quả thấp hơn

Do vậy, khống chế được thời gian hình thành và tốc độ sinh trưởng của cànhthu có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phân hóa mầm hoa (Zeng và cs, 2002)[130] Nghiên cứu thời gian ra lộc của cây, xác định đợt lộc có khả năng ra hoa vàcho năng suất cao nhất, tìm ra sự liên hệ giữa các đợt lộc sẽ là nền tảng cho việc ápdụng các biện pháp kỹ thuật, thúc đẩy đợt lộc tốt, hạn chế đợt lộc có khả năng chonăng suất thấp Nghiên cứu sinh trưởng của các giống vải chín sớm trồng tại ViệnNghiên cứu Rau quả cho thấy: các giống vải chín sớm có khả năng ra lộc tốt, thờigian hoàn thành các đợt lộc hè từ 36 - 49 ngày, lộc thu từ 38 - 50 ngày Các chỉ tiêu

về đường kính, chiều dài, số lá của các đợt lộc của vải chín sớm đều cao hơn vảiThanh Hà (Nguyễn Văn Dũng, 2005) [11]

Lá: Lá vải thuộc lá kép lông chim gồm 2 - 4 đôi, mọc so le, lá chét cứng, dai

có chất sừng Cuống lá ngắn, mặt lá xanh đậm, phản quang, rìa lá không gợn sóng,nhẵn bóng, mặt dưới lá mầu trắng xám, gân nhẵn, không nổi rõ lên trên lá Mút lá

Trang 33

nhọn, gốc lá hơi tù, lá non khi mới ra màu tím đỏ, khi cành thành thục màu xanhđậm Kích thước lá của các giống vải chín sớm lớn hơn so với vải Thanh Hà, màusắc lá non lúc mới ra cũng sẫm hơn Theo Nguyễn Văn Dũng (2005) [11], kíchthước lá vải chín sớm dài từ 13 - 15 cm, rộng 3 - 4 cm trong khi vải Thanh Hà lá chỉdài từ 9 - 10 cm, rộng từ 3,4 - 3,6 cm Nghiên cứu của Lê Đình Danh và NguyễnQuang Huy (1999) [7] cũng cho thấy: lá vải Hùng Long có kích thước to, lộc nonlúc mới ra có mầu sẫm hơn so với vải Thanh Hà.

Hoa: Bản chất hoa vải là hoa lưỡng tính Tuy nhiên, trong quá trình phát

triển, một số bộ phận không phát triển (nhị/nhuỵ) hoặc bị tiêu biến (cánh hoa) Một

số hoa có các bộ phận mang tính đực (nhị) không phát triển bình thường, nhỏ lại.các bộ phận này không có tác dụng trong sinh sản được gọi là hoa cái Ngược lại, đa

số hoa có các bộ phận mang tính cái (nhuỵ, bầu) không phát triển và không có tácdụng trong sinh sản được gọi là hoa đực:

Hoa đực có khả năng tung phấn để thụ tinh Hoa cái thường có hai bầu pháttriển, sau khi thụ tinh xong, thường chỉ có một bầu phát triển thành quả (Võ V ănChi và cs, 1978 [4]; Trần Thế Tục, 2004 [42])

Hoa cái: khi hoa phát triển hoàn toàn, ba bộ phận bầu nhụy, vòi nhụy vàđầu nhụy phân hóa khá rõ Bầu nhụy phát triển thường có 2 - 3 tâm bì Khi nhụychín đầu nhụy tiết ra dịch là thời điểm thụ phấn tốt nhất Với sản xuất hoa cái rấtquan trọng, tuy nhiên tỷ lệ hoa cái n hiều hay ít tùy thuộc vào từng giống và điềukiện môt trường Với giống Moutain litchi, tỷ lệ hoa cái, hoa đực và hoa lưỡngtính lần lượt là: 1,00 : 0,16 : 0,32; giống Brewster: 1,00 : 2,30 : 3,90 (Mustard và

cs, 1954) [90]; giống Calcuttia late: 1,00 : 1, 60 : 0,90; giống Dheradun: 1,00 :1,60 : 2,40 (Chadha và Rajpoot, 1969) [57]; giống Mauritius: 1,00 : 1,10 : 1,10(Stern và cs, 1993) [108]

Nhiệt độ là yếu tố môi trường chính ảnh hưởng tới tỷ lệ giới tính Một thínghiệm cho thấy, cây 2 năm tuổi của 5 giống đặt trong điều kiện chế độ nhiệt

15o/10o, 20o/15o, 25o/20o và 30o/25oC thì ở chế độ nhiệt thấp, cây cho tỷ lệ hoacái cao nhất, trung bình lần lượt là: 72, 49, 27 và 11% Dưới chế độ nhiệt

Trang 34

25o/20oC giống Bengal và Souey Tung (Thủy Đông) không ra hoa cái, còn giốngHuazhi (Hoài Chi) không ra hoa cái ở chế độ nhiệt 30o/25oC (Menzel vàSimpson, 1992) [82].

Trong một chùm hoa, số hoa cái có khả năng đậu quả cũng chỉ chiếm từ 15 20% tổng số hoa Thông thường cành hoa ngắn, có tỷ lệ đậu quả cao, mật độ quảdầy và đều hơn so với loại hình cành hoa dài Tuy nhiên tỷ lệ đậu quả của các giốngvải lại liên quan chặt chẽ đến tỷ lệ hoa cái và hoa lưỡng tính Quan sát trên cácchùm hoa nở sớm cho thấy, chùm hoa thường có kích thước lớn, tỷ lệ hoa đực cao

-và tỷ lệ đậu quả kém Các chùm hoa nở muộn hơn thường là chùm hoa nhỏ, với tỷ

lệ hoa đực ít hơn và đậu quả tốt hơn (Mezel, 1988) [79]

Yuan và Huang (1993) [129] khi nghiên cứu sự nở hoa của vải cho thấy,

có sự tương quan chặt giữa số lượng lá trên cành mẹ với số q uả đậu/chùm Trênmột chùm hoa, nếu có nhiều lá lá tỷ lệ đậu quả sẽ thấp và ngược lại Khi nghiêncứu về khả năng ra hoa của 7 giống vải chín sớm được tuyển chọn so với Thanh

Hà cho thấy các giống vải chín sớm có số lượng hoa/chùm dao động từ 2.832,5 3.758,4 hoa/chùm so với 940,5 hoa/chùm của giống Thanh Hà (Nguyễn V ănDũng, 2005) [11]

-Hạt phấn của giống khác đôi khi góp phần làm tăng tỷ lệ đậu quả Một sốnghiên cứu về canh tác ở các trang trại trồng hồng cũng như chôm chôm, xoài vàvải cho thấy: trồng xen làm tăng tỷ lệ đậu quả, giảm tỷ lệ rụng quả Tuy nhiên mỗigiống lại yêu cầu một loại cây trồng xen khác nhau Trong một chùm hoa vải, sốlượng hoa đực chiếm khoảng 70 - 80% tổng số hoa Mặt khác, hoa đực và hoa cáikhông nở cùng một lúc mà nở xen kẽ đôi khi hoa đực nở trước sau đó hoa cái mới

nở Nếu trong vườn chỉ trồng thuần một loại giống sẽ xảy ra thụ phấn không đềulàm cho tỷ lệ đậu quả kém

Theo Li (2000) [77], để vải tự thụ phấn, tỷ lệ đậu quả là 4,2%, nếu thụ phấnchéo đạt 6,9% Thời gian vải nở hoa, nếu cách ly không cho côn trùng lui tới tỷ lệđậu chỉ đạt 0,026 - 0,105%, để côn trùng tự do hoạt động tỷ lệ này là 0,17 - 11,25%(Trần Thế Tục, 2004 [42]) Sự thiếu hụt số lượng hạt phấn cũng như các hạt phấn

Trang 35

khỏe mạnh vào thời điểm hoa cái nở là một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệđậu quả thấp hoặc gây rụng quả sinh lý Theo Goren (2000) [66], một số trang trạitrồng vải của Israel mặc dù đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật như bón phân, phunchất điều hòa sinh trưởng, khoanh cành mà năng suấ t vẫn thấp, nguyên nhân do vảikhông được thụ phấn đầy đủ Do vậy, khi được trồng thêm các cây thụ phấn bổkhuyết, năng suất đã tăng từ 20 - 30%.

Nghiên cứu của Singh và Chaudhary, (2004) [103] ở Ấn Độ cũng cho thấy:các cây vải thụ phấn tự do có tỷ lệ quả đậu cao hơn so với các cây tự thụ phấn Kíchthước quả của cây thụ phấn tự do cũng lớn hơn so với tự thụ Theo Trần Thế Tục(2004) [42], Việt Nam chưa áp dụng thụ phấn nhân tạo cho vải nhưng ở Trung Quốc

đã có kinh nghiệm thụ phấn cho vải: trên cây vải k hi hoa đực nở thu gom tất cả cáchạt phấn chế thành dung dịch rồi phun cho cây vào thời kỳ hoa cái nở rộ Kết quả cóthể làm tăng tỷ lệ đậu quả ở thời kỳ đầu từ 129 - 314% so với thụ phấn tự nhiên

Quả: Có nhiều dạng: hình trứng, hình bầu dục, hình trái t im, hình cầu tùy từng

giống Cùi vải thường chiếm 60 -70%, vỏ hạt chiếm 20-30% khối lượng quả, lúc cònxanh, quả có màu xanh nhạt, khi chín màu đỏ thẫm, cùi vải mầu trắng vị ngọt phachua hoặc rất chua tùy theo giống Hạt vải hình bầu dục dài, màu nâu bóng Thời gian

từ lúc hoa cái bắt đầu nở đến lúc thu hái được quả ngắn nhất cũng mất 70 ngày, dàiđến hơn 100 ngày, quả vải phát dục có ba giai đoạn và có ba lần rụng quả:

Giai đoạn 1: Tế bào tăng trưởng mạnh để phát triển phôi, vỏ hạt, vỏ quả Sauhoa cái nở 10 ngày, quả bằng hạt đậu thì rụng quả sinh lý đợt 1

Giai đoạn 2: Hạt phát triển nhanh, tăng nhanh về thể tích và khối lượng Vỏhạt cứng dần cho đến lúc thịt quả bao kín hạt Lúc thịt quả bao kín hạt từ 1/3 đến2/3, do thiếu dinh dưỡng hoặc bên trong t hiếu các chất kích thích sinh trưởng, xuấthiện rụng quả lần 2

Giai đoạn 3: Thịt quả phát triển rất nhanh và quả đến giai đoạn chín Từ lúcthịt quả bao kín hạt cho đến khi quả chín thời gian từ 19 - 25 ngày Thời gian nàydinh dưỡng và khoáng tích lũy n hanh vào quả, vỏ quả đã có phần chuyển màu Docường độ tích lũy nhanh nếu gặp thời tiết bất thuận (nắng hạn, mưa to) sẽ làm rụngquả (Trần Thế Tục, 2004) [42]

Trang 36

1.3.3 Nghiên cứu về dinh dưỡng cho cây vải

Cây vải có nhu cầu dinh dưỡng cao, nhất là nitơ và k ali Hàm lượng các chấtdinh dưỡng trong lá vải phản ánh tình trạng dinh dưỡng của cây Phân tích lá vảicho thấy tỷ lệ N: P: K: Ca: MgO trong lá là 7,8: 1: 4,6: 2,3: 2,5 Như vậy, cây cầnnhiều nitơ và kali Thiếu nitơ, các đợt lộc của cây mọc yếu, cành l á bé, màu vàng,mép lá hơi cong, lá, hoa, quả rụng nhiều Thừa nitơ sẽ ảnh hưởng đến quá trìnhphân hoá mầm hoa, do đó năng suất, sản lượng giảm Thời kỳ ra hoa, vải cần nhiềukali Khi đậu quả đến lúc thu hoạch, hàm lượng kali trong cây giảm dần ( Li và cs,

2000 [77], Trần Thế Tục, 2004 [42])

Có thể phân tích lá thuần thục qua từng thời kỳ để so sánh thành phần cácchất dinh dưỡng trong đó với thành phần thông thường và bón thêm những chấtcòn thiếu Kết quả phân tích lá vải ở một số trang trại vải ở Australia cho thấy yêucầu dinh dưỡng qua lá từ tháng 5 - 8 là: 1,5 - 1,8% N, 0,14 - 0,22% P, 0,66 - 1,0%

K, 0,3 - 0,5% Mg, 50 - 100 mg/g Fe, 100 - 250 mg Mn, 15 - 30 mg Zn, 10 - 25 mg

Cu, 25 - 60 mg Bo (Batten và cs, 1995) [51] Bón phân cho vải trên cơ sở p hântích hàm lượng dinh dưỡng trong lá được tiến hành rộng rãi ở Australia nhưngchưa thực sự phổ biến ở các nước trồng vải khác do giá thà nh phân tích khá cao(Ollesen, 2000) [93]

Chen và Huang (2000) [58] dựa trên kết quả phân tích lá cũng tìm ra lượngphân vi lượng thích hợp cho vải độ tuổi kinh doanh như sau: 1,5 - 5mg Zn, 1,5 -5mg Mn, 1- 5mg Cu, 0,4 - 100 mg Bo

Cũng có thể dựa vào số liệu phân tích đất mà bón phân cho vải Có thể căn

cứ vào điều kiện đất đai, độ tuổi khác nhau để có chế độ bón phân cho phù hợp Cácnghiên cứu cho thấy bón phân có ảnh hưởng đến thời gian ra lộc, làm tăng số đợt vàkéo dài thời gian ra lộc của vải Phân bón N, P, K có ảnh hưởng rõ rệt đến các yếu

tố cấu thành năng suất và năng suất vải Ở Thanh Hà và Lục Ngạn các công thức có

sử dụng phân NPK đều có hàm lượng đường, vitamin C t ăng nhưng hàm lượng chấtkhô không thay đổi Tỷ lệ N : P : K tốt nhất cho vải là: 1 : 0,5 : 1,2 Bón phân chovải có thể chia làm 3 thời kỳ: thời kỳ xuất hiện lộc thu, phân hóa mầm hoa và thời

Trang 37

kỳ quả non Ngoài việc bón phân hữu cơ, phân khoáng cho vải thì phun bổ sung cácnguyên tố đa, vi lượng cũng làm tăng năng suất vải rõ rệt Trần Thế Tục và NgôHồng Bình (1997) [40].

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Nga thì B góp phần vào sự chuyểnhóa gluxit ở trong cây, khi thiếu bo, các cơ quan cần nhiều đường như hoa, quả nonthường bị rụng Tan và cs (2000) [116] cho thấy: việc thiếu hụt các chất khoáng vàmột số nguyên tố vi l ượng là nguyên nhân gây rụng và nứt quả đối với giống vảiNuomici Katalymov (1977) khi nghiên cứu về sự nảy mầm hạt phấn của một sốloại cây cho thấy: hạt phấn có thể nảy mầm tốt trong giọt dịch lấy ở mặt núm nhụyhoa Trong số 16 nguyên tố thiết yếu với cây trồng, có 7 nguyên tố vi lượng là Fe,

Cu, Mn, Zn, Mo, B, Cl, thiếu những nguyên tố này cây không thể hoàn tất chu kỳsống của mình

Đối với cây ăn quả các nguyên tố vi lượng như sắt (Fe), kẽm (Zn), bo (B) cómột vai trò quan trọng trong việc cải thiện đặc tính ra hoa (Hoàng Minh Tấn và cs,

1994 [32], Nguyễn Xuân Trường, 2005 [39]) Cho hạt phấn nảy mầm trong dungdịch đường có nồng độ thích hợp (thay cho mật hoa) thì phấn hoa không nảy mầm.Muốn nảy mầm được thì phấn hoa cần một chất nữa vốn có trong mật hoa của númnhụy, đó chính là bo Bo còn cần cho quá trình phát triển của quả sau khi hoa đã thụphấn, khi loại bỏ bo ra khỏi dung dịch dinh dưỡng thì một số lớn quả sau khi đãhình thành cũng bị rụng [37] Phun axit boric nồng độ 50 ppm cho vải vào thời kỳ

nở hoa làm tăng tỷ lệ đậu quả từ 2,4 - 4 lần so với đối chứng Tuy nhiên, nồng độcủa axit boric quá cao sẽ không có lợi cho việc thụ phấn thậm chí còn có hại chohoa cái, vì vậy khi sử dụng axit boric cho vải cần nghiên cứu một cách cụ thể, tùytheo giống, điều kiện canh tác mà chọn nồng độ phun thích hợp (Trần Thế Tục,

2004 [42])

Trong cây, kẽm (Zn) tham gia vào hoạt hóa hơn 70 enzim Đặc biệt kẽmtham gia quá trình sinh tổng hợp tryptophan, chất tiền thân của auxin (indolaxeticaxit) nên khi thiếu kẽm, sự sinh tổng hợp IAA bị giảm mạnh Khi không có kẽmtrong môi trường dinh dưỡng, cây sẽ phát triển rất kém hoặc có thể bị chết mặc dù

Trang 38

có tất cả các yếu tố dinh dưỡng khác, các loại đất cát hoặc cát pha, đất đồi thườngthiếu kẽm Cây ăn quả khi thiếu kẽm, các đợt lộc thường sinh trưởng chậm, năngsuất giảm, quả nhỏ và chất lượng kém Hàm lượng kẽm tăng trong thời gian phânhóa chồi mang hoa làm tăng năng suất một số loại cây ăn quả một cách có ý nghĩa.Khi cây có biểu hiện chồi non bị rụt lại, lá có triệu chứng úa vàng là đã thiếu kẽm ởmức trầm trọng, vì vậy bón bổ sung kẽm cần được tiến hành dựa trên kết quả phântích đất chứ không nên dựa vào triệu chứng của cây ( Trung tâm Công nghệ phânbón, thực phẩm, 2003 [37]).

Đồng (Cu) có ý nghĩa quan trọng trong đời sống thực vật nói chung và cây

ăn quả nói riêng, đồng tham gia vào hoạt động của các enzim tham gia vào các phảnứng trong quá trình quang hợp, đồng bảo vệ diệp lục khỏi bị phá hủy, tăng khả năngquang hợp cho cây Nếu thiếu đồng cây ăn quả sẽ xuất hiện bệnh khô ngọn, lá códạng không bình thường, gân lá hình cánh cung Khi thiếu đồng trầm trọng hơn cácchồi non có thể bị chết, trên quả có những u màu đỏ sau đó sẫm lại, phần lớn quả bịrụng, những quả còn lại phẩm chất rất kém Tình trạng thiếu đồng thường trùng vớithiếu kẽm và ở những nơi đất chua (Hoàng Minh Tấn và cs, 1994 [32], NguyễnXuân Trường, 2005 [39])

Theo Phạm Minh Cương và cs (2005) [6], khi phun các nguyên tố như bo dướidạng H3B03,kẽm dưới dạng ZnS04 7H20 sau đậu quả hai ngày và 15 ngày, năng suấtvải Thanh Hà tăng từ 5,6 % - 25 % so với đối chứng Trong đó, phun boric làm tăngnăng suất cao nhất Độ Brix tăng từ 4,5 % - 7,3 %, đường tổng số tăng từ 3,7 - 12,1 %

1.3.4 Nghiên cứu về C/N của cây vải

Cây ăn quả nói chung, cây vải nói riêng đều hấp thu dinh d ưỡng từ hainguồn: bộ rễ cung cấp nhựa nguyên (nướ c và chất khoáng) trong đó chất tượngtrưng nhất là đạm nên nguồn thức ăn này gọi theo nghĩa quy ước là nguồn đạm (N);

bộ lá cung cấp nhựa luyện nhờ hoạt động quang hợp Chất tượng trưng nhất là cácbon, nên gọi theo nghĩa quy ước là nguồn các bon (C) Cây muốn sinh trưởng vàphát triển tốt cần có sự cân đối giữa hai nguồn thức ăn này

Đối với cây vải, yếu tố nội tại chủ yếu ảnh hưởng đến phân hóa mầm hoa do

Trang 39

sự tích lũy dinh dưỡng khác nhau, bao gồm các sản phẩm quang hợp, các chấtkhoáng và sự chuyển hóa giữa chúng để tạo ra các sản phẩm như: axit amin,protein, các chất điều hòa sinh trưởng.

Nghiên cứu của Menzel (1983) [78] kết luận rằng, sự phân hóa mầm hoavải chịu ảnh hưởng trực tiếp của hàm lượng tinh bột trong cành Nghiên cứu củaYuan và cs (1993) [129] về tỷ lệ C/N cho thấy, những cây vải nhiều hoa có hàmlượng nitơ tổng số và nitơ protein trong lá vào tháng 12 và tháng 1 năm sau giảmcòn hàm lượng đường khử và đường tổng số tăng Menzel (1988) [79] cho thấy:Đối với giống vải nếp, hàm lượng tinh bột tích lũy trong lá đạt cao nhất vào thời

kỳ ngủ nghỉ đến thời kỳ phân hóa mầm hoa

Theo Batten và Conchie (1995) [52] một trong những nguyên nhân củahiện tượng vải ra hoa cách năm là do sự mất cân đối giữa sinh trưởng sinh dưỡng

và sinh trưởng sinh thực Nghiên cứu của Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần(1991) [27] cho thấy: tỷ lệ đường ở trong lá vải vụ thu có ảnh hưởng trực tiếp đếnquá trình hình thành hoa Nếu lá màu xanh đậm, hàm lượng đường 1,28% tỷ lệhình thành hoa cao nhất, nếu lá xanh vàng hàm lượng đường 1,075% tỷ lệ hìnhthành hoa ít, nếu lá có hàm lượng đường 0,592 % cây hoàn toàn không nở hoa

Tỷ lệ C/N là yếu tố quan trọng quyết định quá trình sinh trưởng, phát triển vàphân hoá mầm hoa Tỷ lệ C/N thích hợp cây sẽ phát triển cân đối và ra hoa kết quảbình thường Tỷ lệ C/N quá thấp hoặc quá cao sẽ ảnh hưởng đến khả năng ra hoa vàcho năng suất (Phạm Văn Côn, 2004) [5] Theo Lê Đình Danh và Nguyễn ThịThanh (1999) [8], đối với giống vải Phú Hộ, tỷ lệ C/N cao vào thời kỳ phân hóamầm hoa làm tăng tỷ lệ hoa cái, tăng số chùm hoa và tỷ lệ đậu quả

1.3.5 Nghiên cứu sử dụng chất điều hòa sinh trưởng cho vải

Chất điều hoà sinh trưởng thực vật là những chất hữu cơ có bản chất hoá họckhác nhau nhưng điều tiết quá trình sinh trưởng, phát triển của cây từ khi tế bàotrứng thụ tinh phát triển thành phôi cho đến khi cây hình thành cơ quan sinh sản, cơquan dự trữ và kết thúc chu ký sống của mình (Hoàng Minh Tấn, 1996 [34])

Các chất điều hòa sinh trưởng nội bào thực vật còn được gọi là phytohoomon,

Trang 40

đây là những sản phẩm bình thường của quá trình sống ở thực vật Chúng tham giavào điều khiển quá trình trao đổi chất và các quá trình hình thành mới các cơ quan

ở tất cả các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây Những phytohoomon hiệnnay được biết nhiều nhất là auxin, gibberellin, xitokinin, axit abxixic và etylen.Trong quá trình sinh trưởng phát triển của cây có mặt cùng lúc nhiều loạiphytohoomon với tỷ lệ khác nhau Một trong những đặc điểm quan trọng của chấtđiều hòa sinh trưởng là chỉ cần một hàm lượng rất nhỏ đã có khả năng gây tác độnglàm thay đổi đặc trưng về hình thái sinh lý của thực vật và chúng có thể di chuyểntrong cây được

Theo các nhà sinh lý thực vật (Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch, TrầnVăn Phẩm, Vũ Quang Sáng, Lê Văn Tri [33], [34], [35], [36]), các chất điều hoàsinh trưởng thực vật được phân chia thành hai nhóm có tác dụng đối kháng về hiệuquả sinh lý là chất kích thích sinh trưởng và chất ức chế sinh trưởng:

- Chất kích thích sinh trưởng: là những chất luôn gây hiệu quả kích thích lên

quá trình sinh trưởng của cây khi ở nồng độ sinh lý Thuộc nhóm này gồm có cácchất: auxin, gibberellin và xytokinin Trong đó, vai trò chủ yếu của auxin là điềukhiển phân chia, giãn và phân hoá tế bào; điều chỉnh tính hướng quang và tínhhướng địa; tạo ra hiện tượng ưu thế ngọn; điều khiển sự hình thành và phát triển rễbất định; kìm hãm sự rụng của lá, hoa và quả; đều khiển sự ra hoa tạo quả, sự lớnlên của quả và tạo quả không hạt Vai trò chủ yếu của gibberelin là kích thích sựnảy mầm của hạt, chồi, củ; kích thích sinh trưởng chiều cao cây; tạo quả không hạt;tăng tốc độ phân giải tinh bột…

- Chất ức chế sinh trưởng: là những chất luôn gây ảnh hưởng ức chế đến quá

trình sinh trưởng của cây Chúng bao gồm: acid abxixic, etylen, các chất phenol,retardant Những chất này có hoạt tính sinh lý là ức chế sự sinh trưởng như: làmthấp cây, hạn chế sự nảy mầm, xúc tiển ra hoa, … Mục đích khi sử dụng các chấtnày là: giúp cây cứng, chống lốp đổ (clor colin clorit), kéo dài thời gian bảo quản(malein hydrazit), kích thích sự rụng lá (acid absxixic), kích thích ra hoa (etylen,alar, paclobutazol)

Ngày đăng: 07/01/2014, 10:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Một số đặc trưng về khí hậu, thời tiết tại Uông Bí - Quảng Ninh - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển, ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và biện pháp khoanh vỏ đến sự ra hoa, đậu quả và năng suất giống vải chín sớm bình khê tại uông bí
Bảng 3.1. Một số đặc trưng về khí hậu, thời tiết tại Uông Bí - Quảng Ninh (Trang 66)
Hình 3.1. Sự biến thiên của nhiệt độ và lượng mưa qua các tháng - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển, ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và biện pháp khoanh vỏ đến sự ra hoa, đậu quả và năng suất giống vải chín sớm bình khê tại uông bí
Hình 3.1. Sự biến thiên của nhiệt độ và lượng mưa qua các tháng (Trang 67)
Bảng 3.3. Đặc điểm sinh trưởng thân c ành c ủa giống v ải B ình Khê - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển, ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và biện pháp khoanh vỏ đến sự ra hoa, đậu quả và năng suất giống vải chín sớm bình khê tại uông bí
Bảng 3.3. Đặc điểm sinh trưởng thân c ành c ủa giống v ải B ình Khê (Trang 70)
Hình 3.2. Tương quan giữa số hoa cái tr ên cành m ẹ với năng suất quả - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển, ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và biện pháp khoanh vỏ đến sự ra hoa, đậu quả và năng suất giống vải chín sớm bình khê tại uông bí
Hình 3.2. Tương quan giữa số hoa cái tr ên cành m ẹ với năng suất quả (Trang 74)
Hình 3.4. Tương quan giữa đường kính  lộc thu với năng suất quả - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển, ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và biện pháp khoanh vỏ đến sự ra hoa, đậu quả và năng suất giống vải chín sớm bình khê tại uông bí
Hình 3.4. Tương quan giữa đường kính lộc thu với năng suất quả (Trang 77)
Hình 3.6. Tương quan giữa số lá kép/lộc với năng suất  quả - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển, ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và biện pháp khoanh vỏ đến sự ra hoa, đậu quả và năng suất giống vải chín sớm bình khê tại uông bí
Hình 3.6. Tương quan giữa số lá kép/lộc với năng suất quả (Trang 78)
Bảng 3.7. Tỷ lệ C/N qua các thời kỳ sinh trưởng và năng suất vải B ình Khê - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển, ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và biện pháp khoanh vỏ đến sự ra hoa, đậu quả và năng suất giống vải chín sớm bình khê tại uông bí
Bảng 3.7. Tỷ lệ C/N qua các thời kỳ sinh trưởng và năng suất vải B ình Khê (Trang 79)
Hình 3.8. Tương quan giữa tỷ lệ C/N của lộc hè với tỷ l ệ C/N - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển, ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và biện pháp khoanh vỏ đến sự ra hoa, đậu quả và năng suất giống vải chín sớm bình khê tại uông bí
Hình 3.8. Tương quan giữa tỷ lệ C/N của lộc hè với tỷ l ệ C/N (Trang 81)
Hình 3.10. Tương quan giữa tỷ lệ C/N thời kỳ rụng quả sinh lý đến năng suất - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển, ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và biện pháp khoanh vỏ đến sự ra hoa, đậu quả và năng suất giống vải chín sớm bình khê tại uông bí
Hình 3.10. Tương quan giữa tỷ lệ C/N thời kỳ rụng quả sinh lý đến năng suất (Trang 82)
Bảng 3.11. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất quả - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển, ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và biện pháp khoanh vỏ đến sự ra hoa, đậu quả và năng suất giống vải chín sớm bình khê tại uông bí
Bảng 3.11. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất quả (Trang 90)
Bảng 3.18. Ảnh hưởng của GA3 đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng  suất - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển, ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và biện pháp khoanh vỏ đến sự ra hoa, đậu quả và năng suất giống vải chín sớm bình khê tại uông bí
Bảng 3.18. Ảnh hưởng của GA3 đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất (Trang 100)
Bảng 3.19. Ảnh hưởng của α - NAA đến tỷ lệ đậu quả và các yếu tố cấu thành - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển, ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và biện pháp khoanh vỏ đến sự ra hoa, đậu quả và năng suất giống vải chín sớm bình khê tại uông bí
Bảng 3.19. Ảnh hưởng của α - NAA đến tỷ lệ đậu quả và các yếu tố cấu thành (Trang 103)
Bảng 3.20. Ảnh hưởng của 2,4,5 TP đến các yếu tố cấu thành năng suất - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển, ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và biện pháp khoanh vỏ đến sự ra hoa, đậu quả và năng suất giống vải chín sớm bình khê tại uông bí
Bảng 3.20. Ảnh hưởng của 2,4,5 TP đến các yếu tố cấu thành năng suất (Trang 106)
Hình 3.13. Ảnh hưởng của 2,4,5 TP đến khả năng giữ quả qua các giai đoạn - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển, ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và biện pháp khoanh vỏ đến sự ra hoa, đậu quả và năng suất giống vải chín sớm bình khê tại uông bí
Hình 3.13. Ảnh hưởng của 2,4,5 TP đến khả năng giữ quả qua các giai đoạn (Trang 108)
Bảng 3.23. Ảnh hưởng của 3,5,6 TPA tới một số chỉ tiêu v ề quả vải Bình Khê - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển, ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng và biện pháp khoanh vỏ đến sự ra hoa, đậu quả và năng suất giống vải chín sớm bình khê tại uông bí
Bảng 3.23. Ảnh hưởng của 3,5,6 TPA tới một số chỉ tiêu v ề quả vải Bình Khê (Trang 115)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w