DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT APHIS Cơ quan Kiểm dịch động thực vật Mỹ BAVECO Công ty cổ phần thực phẩm xuất khẩu Bắc Giang CBI Trung tâm Xúc tiến nhập khẩu từ các nước đang p
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận án này được thực hiện và hoàn thành tại Bộ môn Kinh tế nông nghiệp
và Chính sách thuộc Khoa kinh tế và Phát triển nông thôn của Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới GS.TS Đỗ Kim Chung, người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ và định hướng tôi trưởng thành trong công tác nghiên cứu khoa học và hoàn thiện luận án Bản thân tôi đã học được ở GS.TS Đỗ Kim Chung rất nhiều kiến thức mới về khoa học, đặc biệt về phương pháp tư duy để giải quyết các vấn để trong nghiên cứu khoa học cũng như trong cuộc sống Trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Kinh tế nông nghiệp và Chính sách, Khoa kinh tế và Phát triển nông thôn, sự giúp đỡ của các thầy, cô trong Ban quản lý đào tạo Tôi xin cảm ơn sâu sắc tới các thầy, cô về sự
hỗ trợ quý báu này
Tôi xin cảm ơn đến lãnh đạo các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công thương, chính quyển địa phương của các Tỉnh Bắc Giang, Ninh Bình, Bình Thuận, Đồng Nai, Tiền Giang, Long An, Kiên Giang, đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian đi thực tế tại các địa phương Tôi xin cảm ơn đến các ông Giám đốc, các anh chị ở các phòng ban, các đội sản xuất của các công ty; Công ty Cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao, Công ty Cổ phần Thực phẩm xuất khẩu Bắc Giang, Công ty Cổ phần Rau quả Tiền Giang, Công ty Cổ phần Chế biến thực phẩm xuất khẩu Kiên Giang, đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu tại công ty Tôi xin cảm ơn đến các thầy, cô trong Bộ môn Nghiên cứu thị trường của Viện Nghiên cứu Cây ăn quả Miền Nam, đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình đi điều tra số liệu tại các địa phương thuộc khu vực Miền Nam Tôi xin trân trọng cảm ơn đến Ban Giám hiệu, các thầy giáo và cô giáo Khoa kinh tế - Du lịch của Trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh bình đã tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ trong suốt quá trình học tập của tôi
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình: bố, mẹ, anh, chị, em, đặc biệt là vợ, con tôi luôn luôn động viên, chia sẻ và tạo điều kiện tốt nhất về tinh thần cũng như vật chất để tôi hoàn thành luận án này Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn tới tất cả mọi người đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận án này
Hà Nội, ngày tháng 03 năm 2013
Tác giả Luận án
Trang 4Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC
1.1 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của ngành trái cây và nâng cao
1.1.1 Khái niệm, bản chất và nội hàm về năng lực cạnh tranh và nâng
1.1.2 Một số đặc điểm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây 13 1.1.3 Nội dung nghiên cứu năng lực cạnh tranh của ngành trái cây 13 1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành trái cây 18 1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây 22 1.2.1 Kinh nghiệm thực tiễn nâng cao năng lực cạnh tranh ngành trái
1.2.2 Một số bài học kinh nghiệm của các nước về nâng cao năng lực
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGÀNH TRÁI CÂY VIỆT NAM VÀ PHƯƠNG
Trang 52.1 Đặc điểm của ngành trái cây Việt Nam 28 2.1.1 Ngành trái cây đa dạng với nhiều chủng loại trái cây 28 2.1.2 Ngành trái cây có thể phát triển theo lợi thế so sánh của từng vùng 28 2.1.3 Sản xuất kinh doanh trái cây có sự tham gia của nhiều tác nhân 30 2.1.4 Ngành trái cây đang tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, nên còn
Chương 3 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH
3.1 Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành trái cây ở khu vực đầu tư tư nhân 46
3.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành trái cây ở khu vực đầu tư công 68 3.2.1 Năng lực cạnh tranh của đầu tư công ở các địa phương 68 3.2.2 Năng lực cạnh tranh của việc cung cấp dịch vụ công tại các địa phương 71
3.3 Kết quả về năng lực cạnh tranh của ngành trái cây Việt Nam so với
3.3.2 Năng lực cạnh tranh của ngành trái cây Việt Nam so với một số nước 81
Trang 63.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành
3.4.1 Nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ở khu vực đầu tư tư nhân 86 3.4.2 Nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh ở khu vực đầu tư công 98
3.5.1 Vị trí ngành trái cây của Việt Nam so với các nước trên thế giới 113 3.5.2 Thuận lợi và khó khăn của ngành trái cây Việt Nam 114
Chương 4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
4.1 Quan điểm và định hướng về nâng cao năng lực cạnh tranh ngành trái cây 119
4.2 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây 120 4.2.1 Nâng cao năng lực cạnh tranh ở khu vực đầu tư tư nhân 121 4.2.2 Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh ở khu vực đầu tư công 133
Danh mục các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến luận án 143
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
APHIS Cơ quan Kiểm dịch động thực vật Mỹ
BAVECO Công ty cổ phần thực phẩm xuất khẩu Bắc Giang
CBI Trung tâm Xúc tiến nhập khẩu từ các nước đang phát triển của Hà Lan DOVECO
DN
Công ty cổ phần thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao Doanh nghiệp
FOB Giá xuất khẩu hàng hóa tại cảng nước xuất khẩu
GLOBALGAP Thực hành nông nghiệp tốt cho trái cây tươi theo tiêu chuẩn
quốc tế
HACCP Hệ thống phân tích mối nguy hại và kiểm soát điểm tới hạn IPB Viện Gây giống cây trồng của Trường đại học Los Banos
ITPC Trung tâm Xúc tiến Thương mại Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh KQKD
KHCN
Kết quả kinh doanh Khoa học công nghệ KIVECO Công ty cổ phần chế biến thực phẩm xuất khẩu Kiên Giang
NK
NLCT
Nhập khẩu Năng lực cạnh tranh
PHRTC Trung tâm nghiên cứu và công nghệ sau thu hoạch
PRA
PTNT
Đánh giá nhanh có sự tham gia Phát triển nông thôn
VietGAP Thực hành nông nghiệp tốt
VEGETIGI Công ty cổ phần rau quả Tiền Giang
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Diện tích và cơ cấu diện tích trái cây phân theo 7 vùng 2009-2011 29 2.2 Diện tích đất nông nghiệp và diện tích cây ăn trái các tỉnh 2010 36 2.3 Một số chỉ tiêu về tình hình cơ bản của các huyện nghiên cứu năm 2010 37
2.5 Số mẫu được chọn theo loại mẫu điều tra, sản phẩm nghiên cứu và tỉnh 41 3.1 Diện tích đất sản xuất cây ăn trái bình quân của một hộ 2010 47 3.2 Năng suất một số cây ăn trái bình quân của hộ năm 2010 47 3.3 Tỷ lệ sản phẩm trái cây đã được chứng nhận VietGAP các địa phương 48 3.4 Đánh giá của người tiêu dùng về chất lượng và mức độ an toàn vệ sinh
3.5 Giá thành 1kg dứa, thanh long và chôm chôm được sản xuất ở một số
3.7 Sản lượng, doanh thu, chi phí và lợi nhuận của hộ 2010 52 3.8 Số thương lái, số hộ, diện tích và sản lượng trái cây mà thương lái tiếp
3.9 Sản lượng thu mua của một thương lái tại các địa phương năm 2010 54 3.10 Chi phí và giá thanh cho 1 tấn sản phẩm theo loại trái cây năm 2010 55 3.11 Kết quả kinh doanh của một thương lái tại các địa phương năm 2010 57 3.12 Diện tích cây trái phân theo vùng nguyên liệu và nhóm công ty 2010 58 3.13 Số lượng và loại sản phẩm chế biến từ trái cây, theo các nhóm sản
3.14 Một số đặc điểm về dây chuyền chế biến trái cây của các công ty năm 2010 60
3.16 Mức độ sử dụng công suất theo các dây chuyền chế biến của các công
Trang 93.17 Tỷ lệ sản phẩm của các công ty được cấp chứng chỉ về các tiêu chuẩn
3.18 Giá thành, giá bán sản phẩm dứa chế biến của các công ty năm 2010 65 3.19 Giá trị xuất khẩu của các công ty từ năm 2008 đến 2010, theo một số
3.20 Tỷ lệ diện tích cây ăn trái của hộ nằm trong quy hoạch và không nằm
3.21 Thực trạng về cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất trái cây của các địa
3.26 Kim ngạch và giá nhập khẩu, giá bán một số loại trái cây năm 2011 79 3.27 Giá trị xuất khẩu trái cây qua các thị trường 2009-2011 81 3.28 Diện tích dứa, thanh long, chôm chôm của Việt Nam so với Thái Lan
3.29 Ý kiến đánh giá của người tiêu dùng về chất lượng, mẫu mã trái cây
3.30 Giá bán một số sản phẩm dứa chế biến của Việt Nam và một số nước
3.31 Năng suất và giá thành 1 số trái cây năm 2010 phân theo trình độ
3.32 Năng suất và sản lượng 1 số trái cây phân theo các nhóm hộ có tình
Trang 103.33 Năng suất và giá thành 1 số trái cây năm 2010 phân theo mức độ tham
3.34 Năng suất và giá thành, giá bán 1 số trái cây năm 2010 phân theo
3.35 Năng suất và giá bán 1 số trái cây năm 2010 phân theo mức độ tham
3.36 Một số chỉ tiêu cơ bản của các thương lái trái cây năm 2010 90 3.37 Tỷ lệ đáp ứng vốn tự có so với nhu cầu của các thương lái, với tỷ lệ
3.38 Tỷ lệ thương lái sở hữu các loại phương tiện vận chuyển ở các tỉnh
3.40 Số lượng nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của các công ty 2007 và 2010 94 3.41 Tỷ lệ số hộ tham gia liên kết theo lý do họ tham gia liên kết năm 2010 96 3.42 Tỷ lệ số hộ không tham gia liên kết và lý do không tham gia liên kết
3.43 Các hình thức liên kết trong sản xuất trái cây tại các địa phương năm 2010 98 3.44 Năng suất và sản lượng trái cây năm 2010 ở các vùng được quy hoạch
3.45 Tỷ lệ số người sản xuất trái cây đánh giá về chất lượng cơ sở hạ tầng
3.46 Tỷ lệ các cán bộ công ty có ý kiến đánh giá về năng lực cán bộ cung
3.47 Tỷ lệ các cán bộ của công ty có ý kiến đánh giá về sự phối kết hợp
giữa chính quyền các cấp của các địa phương năm 2010 102 3.48 Tỷ lệ cán bộ các địa phương có ý kiến đề xuất chính sách về đất sản
3.49 Tỷ lệ cán bộ các địa phương có ý kiến đề xuất về chính sách đầu tư công 105 3.50 Tỷ lệ cán bộ của các địa phương có ý kiến đề xuất về liên kết sản xuất,
Trang 113.51 Tỷ lệ cán bộ của các địa phương có ý kiến đề xuất về các chính sách
3.52 Nguồn lực của tổng công ty rau quả nông sản Việt Nam năm 2010 110 3.53 Kết quả sản xuất kinh doanh của Tổng công ty rau quả nông sản Việt
3.54 Tỷ lệ số ý kiến đánh giá của người tiêu dùng trái cây theo nguồn cung
Trang 12DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ ĐỒ THỊ
1.1 Mối liên quan giữa năng lực cạnh tranh ngành với năng lực cạnh tranh
2.1 Khung phân tích nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây 34 3.1 Kênh tiêu thụ sản phẩm trái cây chế biến của các doanh nghiệp 66
3.1 Kim ngạch nhập khẩu trái cây vào Việt Nam qua các năm 77 3.2 Kim ngạch xuất khẩu trái cây của Việt nam qua các năm 80 3.3 Năng suất một số cây trái của Việt Nam và một số nước năm 2010 83 3.4 Giá bán một số loại trái cây tươi tại thị trường các nước năm 2011 85
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một trong những xu thế lớn của thời đại phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường, ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu rộng tới tất
cả các quốc gia trên thế giới Đứng trước thực tế này, các quốc gia đều phải nỗ lực đổi mới, nhận thức đầy đủ về hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế thương mại Vì vậy hoạt động kinh doanh của mỗi quốc gia nói chung, mỗi ngành hàng trong quốc gia đó nói riêng ngày càng được mở rộng dưới nhiều hình thức Trong quá trình đó, Việt Nam đã xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển
ngành trái cây trong bối cảnh kinh tế hội nhập (Bộ nông nghiệp và phát triển nông
thôn, 2007) Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất và kinh doanh của ngành trái cây
nước ta cũng gặp không ít khó khăn và thách thức như sau:
Trước hết là nguy cơ mất dần thị phần trong nước Hiện nay trái cây của
nước ngoài như Trung Quốc, Thái Lan đang tràn vào Việt Nam ngày một lớn và đa dạng sản phẩm, bởi vì sản phẩm trái cây của họ có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, giá
thành hạ hơn sản phẩm của chúng ta Sau nữa là khả năng khó chiếm lĩnh được thị
phần trái cây ở nước ngoài, khó khăn này được thể hiện ở sáu vấn đề sau:
Một là, diện tích canh tác trái cây của nước ta vẫn còn manh mún, chưa theo
sát với yêu cầu thực tế của thị trường cho phát triển bền vững Chính điều này đã làm cho giá thành sản phẩm cao do năng suất thấp, chất lượng giảm, không ổn định
về số lượng lẫn chất lượng, thiếu an toàn và gây tổn thất rất lớn cho nông dân và doanh nghiệp Đồng thời, trái cây của ta khó có khả năng cạnh tranh được với Trung Quốc, Thái lan, Philippines, Indonesia …
Hai là, về chất lượng trái cây, các nhà nhập khẩu đòi hỏi tính an toàn và chất
lượng của sản phẩm ngày càng cao, dư lượng hóa chất không vượt mức cho phép, nông dân sản xuất trái cây phải thực hiện quy trình nông nghiệp tốt (GAP)
Ba là, trái cây Việt Nam rất đa dạng và phong phú về chủng loại, tuy nhiên
khi gia nhập WTO mặt hàng này sẽ gặp nhiều sức cản lớn do nguồn nguyên liệu
Trang 14để chế biến chưa ổn định, chất lượng sản phẩm không đồng đều Giá các loại trái cây của Việt Nam có nhiều loại cao hơn Thái Lan và một số nước khác trong khu vực do chi phí sản xuất cao Nếu chúng ta không có giải pháp tích cực hơn thì trái cây Việt Nam “thua ngay trên sân nhà”, người nông dân sẽ không còn sản xuất trái cây nữa vì sản xuất ra bán không được, giá cả và chất lượng không cạnh tranh nổi với các nước trong khu vực
Bốn là, các doanh nghiệp trong nước không tập trung vào lợi thế sản phẩm
nguyên liệu của mình mà cạnh tranh nhau trên sân nhà Việc tranh mua, tranh bán làm ảnh hưởng đến xuất khẩu cũng rất lớn, gây thiệt hại cho nông dân và cho chính các doanh nghiệp
Năm là, hệ thống cơ sở hạ tầng như cảng biển, đường giao thông chưa phát
triển, công nghệ lạc hậu cũng ảnh hưởng đến hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước, trong đó có ngành trái cây
Sáu là, trình độ quản lý của một số công ty sản xuất kinh doanh trái cây chưa
đáp ứng được đòi hỏi thực tiễn khi tham gia hội nhập
Từ những lý do ở trên đã dẫn đến một số doanh nghiệp sản xuất, thu mua và chế biến trái cây đã gặp phải không ít khó khăn trong cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế Có doanh nghiệp bị phá sản hoặc giải thể hoặc chuyển sang kinh doanh mặt hàng khác
Có nhiều tác giả ở Việt Nam, đã tiến hành nghiên cứu về kinh tế trái cây từ trước đến nay, như Đinh Đức Huấn (2001), Đoàn Hồng Lê (2008), Nguyễn Thị Tân Lộc (2002), Trương Đức Lực (2004), Hoàng Tuyết Minh và cộng sự (2000), Hà Thị
Ngọc Oanh (2004) Trong đó phải kể đến hai nghiên cứu của Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển nông nghiệp và nông thôn về Tổng quan ngành rau quả Việt
Nam thực hiện năm 2005 và Ngành hàng trái cây Việt Nam thực hiện năm 2007
Hai nghiên cứu này đã tổng quan được sự phát triển của ngành trái cây, tình hình tiêu thụ sản phẩm trong nước, tác động của chi tiêu và giá đối với cầu trái cây, tình
hình xuất khẩu trái cây thời gian qua Nghiên cứu của Cục Xúc tiến Thương mại -
Bộ Công thương về Chiến lược xuất khẩu rau quả Việt Nam giai đoạn 2010-2015
Trang 15được thực hiện năm 2009 đã đánh giá về thực trạng của ngành trái cây, về tình hình xuất khẩu trái cây trong những năm qua, chỉ ra nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu trái cây và đề xuất một số định hướng cho xuất khẩu trái cây của Việt nam Các tác
giả Trần Khắc Thi (2003), Ngô Thị Tuyết Mai (2007), Trương Đức lực (2005) đã
nghiên cứu các vấn đề kinh tế và kỹ thuật sản xuất rau và quả Phần lớn, các nghiên cứu trên tập trung chủ yếu vào đánh giá thực trạng, đặc biệt là kỹ thuật sản xuất, xu hướng phát triển, tình hình chế biến và tiêu thụ sản phẩm trái cây Tuy nhiên, ít có
nghiên cứu đã thảo luận một cách có hệ thống về Nâng cao năng lực cạnh tranh của
ngành trái cây Việt Nam Cho đến nay có hàng loạt vấn đề đặt ra cả về lý luận và
thực tiễn như: Năng lực cạnh tranh của ngành trái cây là gì? Đâu là cơ sở lý luận và thực tiễn cho nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây? Giải pháp nào cần thực hiện để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây? Để góp phần làm
sáng tỏ các vấn đề nêu trên, đề tài "Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái
cây Việt Nam" được tiến hành
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
a) Mục tiêu Chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng của ngành trái cây và đưa ra những giải pháp chủ yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây Việt Nam b) Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá được cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây
- Đánh giá được thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành trái cây Việt Nam, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành trái cây
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây Việt Nam
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
a) Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án này là các vấn đề liên quan đến nâng cao năng lực cạnh tranh ngành trái cây Việt Nam, bao gồm hai lĩnh vực chủ yếu sau:
Trang 16Một là, sự tham gia trực tiếp của khu vực đầu tư tư nhân (hộ sản xuất trái cây,
thương lái, các doanh nghiệp thu mua, chế biến, xuất khẩu) trong chuỗi giá trị của
ngành trái cây Hai là, khu vực đầu tư công để tạo môi trường thuận lợi cho ngành trái cây (đầu tư công và dịch vụ công để hỗ trợ cho đầu tư tư nhân trong ngành trái cây phát triển)
b) Phạm vi nghiên cứu
Do giới hạn về thời gian, nguồn lực và các điều kiện nghiên cứu, để đánh giá được thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây, nghiên cứu này tập trung vào một số sản phẩm sản xuất ở một số vùng đại diện
và trong thời gian xác định
- Về sản phẩm, cụm từ “ngành trái cây” bao gồm nhiều loại sản phẩm trái cây Nghiên cứu này chỉ tập trung vào một số loại trái cây như dứa, thanh long và chôm chôm là các sản phẩm có diện tích lớn, đặc trưng cho thế mạnh về cây ăn quả nhiệt đới của Việt Nam, vừa tiêu dùng nội địa lại vừa xuất khẩu
- Về không gian, nghiên cứu này thu thập thông tin ở 8 đại diện, thuộc 7 tỉnh bao gồm: Ninh Bình, Tiền Giang, Kiên Giang, Bình Thuận, Long An, Tiền Giang và Đồng Nai (Riêng tỉnh Tiền Giang gồm có 2 địa phương) Đây là các địa phương đại diện cho ngành trái cây của Việt Nam
- Về thời gian, số liệu và thông tin phản ánh trong nghiên cứu này chủ yếu giai đoạn 2009-2011
4 Những đóng góp mới của Luận án
a) Những đóng góp về lý luận và học thuật
Luận án đã hệ thống hoá được cơ sở lý luận, thực tiễn và khung lý thuyết về năng lực cạnh tranh, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây Năng lực cạnh tranh của ngành trái cây là tổng hoà năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của tổ chức kinh tế (hộ, doanh nghiệp, hợp tác xã ) tham gia sản xuất, chế biến và thương mại sản phẩm trái cây và năng lực cạnh tranh của địa phương (xã, huyện, tỉnh và quốc gia) trong việc cung cấp các dịch vụ công và hành chính công cho các tổ chức kinh tế sản xuất kinh doanh trái cây Năng lực cạnh tranh của ngành trái cây, bao gồm năng lực cạnh
Trang 17tranh của các tổ chức kinh tế trong khu vực đầu tư tư nhân và năng lực cạnh tranh của địa phương trong hỗ trợ khu vực tư nhân sản xuất kinh doanh trái cây Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây là quá trình cải thiện năng lực cạnh tranh của khu vực đầu tư tư nhân và hoàn thiện việc cung cấp các dịch vụ và đầu tư ở khu vực công, đảm bảo cho ngành trái cây ngày càng cạnh tranh và phát triển bền vững cả trên thị trường trong nước và quốc tế Luận án đã chỉ ra hệ thống các chỉ tiêu đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành trái cây trong khu vực tư nhân
và khu vực công
b) Những đóng góp về thực tiễn
Luận án đã phân tích và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành trái cây Việt Nam, ở khu vực tư nhân (hộ sản xuất trái cây, thương lái, doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu) ở khu vực công (đầu tư công, dịch vụ công) Luận án đã chỉ
ra rằng trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập, làm tốt đầu tư công (công tác quy hoạch, xây dựng vùng nguyên liệu, thuỷ lợi, giao thông, điện ) thực hiện tốt dịch vụ công (khuyến nông, khuyến công và cấp phép kinh doanh, quản lý nhà nước trong sản xuất trái cây, thực hiện tốt các chính sách (đất đai, đầu tư, liên kết, xuất nhập khẩu ) để tạo môi trường thuận lợi cho hộ sản xuất trái cây, thương lái và doanh nghiệp chế biến phát triển sản xuất trái cây theo tín hiệu thị trường là các giải pháp cơ bản để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây của Việt Nam Luận án là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý nhất là các địa phương, Tổng Công ty rau quả nông sản Việt Nam, Hiệp hội rau quả Việt Nam tham khảo, đề xuất có các giải pháp phù hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây trong thời gian tới
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA NGÀNH TRÁI CÂY VIỆT NAM
1.1 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của ngành trái cây và nâng cao
năng lực cạnh tranh của ngành trái cây
1.1.1 Khái niệm, bản chất và nội hàm về năng lực cạnh tranh và nâng cao năng
lực cạnh tranh của ngành trái cây
Trước khi thảo luận khái niệm, bản chất của năng lực cạnh tranh của ngành trái cây, chúng ta thảo luận thế nào là cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, cạnh tranh ngành, năng lực cạnh tranh ngành, từ đó đi đến thảo luận năng lực cạnh tranh của ngành trái cây
1.1.1.1 Cạnh tranh
Cạnh tranh là một khái niệm rất phổ biến của kinh tế, là một đặc trưng của nền sản xuất hàng hoá Cạnh tranh, hiểu theo nghĩa khái quát, là sự ganh đua giữa những người theo đuổi cùng mục đích nhằm đánh bại đối thủ và giành cho mình lợi thế nhiều nhất Theo ý nghĩa kinh tế, cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua, tìm mọi biện pháp (cả nghệ thuật kinh doanh lẫn thủ đoạn) để đạt được mục tiêu kinh tế chủ yếu của mình như chiếm lĩnh thị trường, tối đa hoá lợi ích, nâng cao vị thế trên bình diện toàn nền kinh tế, cạnh tranh có vai trò thúc đẩy kinh tế phát triển Cạnh tranh khiến cho các nguồn lực được phân bổ một cách hiệu quả nhất thông qua việc kích thích các doanh nghiệp
sử dụng tối ưu các nguồn lực, hạn chế các méo mó của thị trường, góp phần phân
phối lại thu nhập và nâng cao phúc lợi xã hội Về phía doanh nghiệp, bằng sự hấp
dẫn của lợi nhuận từ việc đi đầu về chất lượng, mẫu mã cũng như áp lực phá sản, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp luôn cải tiến phương thức sản xuất, nâng cao trình độ công nghệ, đổi mới tổ chức, quản lý để thích ứng với những biến động của thị trường Nâng cao năng lực cạnh tranh đã trở thành tiền đề, động lực và mục
tiêu theo đuổi liên tục trong suốt quá trình phát triển doanh nghiệp Về phía người
Trang 19tiêu dùng, cạnh tranh tạo ra sự lựa chọn rộng rãi hơn về chủng loại, chất lượng, giá
cả, mẫu mã của hàng hoá và dịch vụ Cạnh tranh bảo đảm rằng cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng không thể áp đặt giá cả một cách tuỳ tiện Với khía cạnh đó, cạnh tranh là yếu tố điều tiết thị trường và lành mạnh hoá các mối quan hệ xã hội Cạnh tranh thúc ép các doanh nghiệp mở rộng, tìm kiếm thị trường với mục đích như tiêu thụ, đầu tư, huy động vốn, lao động, công nghệ, quản lý… trên thị trường thế giới Thông qua cạnh tranh quốc tế, các doanh nghiệp thấy được những lợi thế
so sánh cùng những yếu kém của mình để hoàn thiện và phát triển Như vậy, cạnh tranh cũng như các quy luật, hiện tượng kinh tế, xã hội khác chỉ xuất hiện và phát triển khi có các điều kiện như nhu cầu cạnh tranh, môi trường cạnh tranh và vận
hành tốt khi có môi trường cạnh tranh hiệu quả (M Porter and K Ketels, 2008)
Ngoài ra, ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau thì quan niệm và nhận thức về cạnh tranh là khác nhau và phạm vi cũng như cấp độ cũng khác nhau Xét theo hướng tiếp cận nội dung của nghiên cứu này, khái niệm cạnh tranh có thể được
quan niệm như sau: Cạnh tranh là một quá trình tranh đấu mà trong đó, các chủ thể
kinh tế chủ động ganh đua nhau, tìm mọi biện pháp (kể cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn kinh doanh) để đạt được mục tiêu kinh tế chủ yếu của mình như: hướng đến vị thế thống lĩnh thị trường, tạo dựng lòng tin tưởng của khách hàng, cũng như đảm bảo tiêu thụ có lợi nhất Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích: đối với người kinh doanh là lợi nhuận, còn đối với người tiêu dùng là tối đa hoá độ thoả dụng, đối với các quốc gia là người dân được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, an toàn, khoẻ mạnh lâu dài và bền vững so với người dân của quốc gia khác
1.1.1.2 Năng lực cạnh tranh
Có nhiều tác giả như M Porter (1985, 1998, 1990a, 1990b), M Porter và K Ketels, 2008) đã thảo luận năng lực cạnh tranh Các tác giả trên đã chỉ ra năng lực cạnh tranh là khả năng của một tổ chức đưa sản phẩm dịch vụ ra thị trường có tính
ưu việt hơn với tổ chức hay đơn vị khác cung cấp cùng chủng loại sản phẩm hay dịch vụ Năng lực cạnh tranh thể hiện ở nhiều nội dung như chất lượng, chủng loại
Trang 20sản phẩm, mức độ đáp ứng nhu cầu, khả năng, tiếp cận thị trường và tiếp cận người tiêu dùng Trên phương diện tổ chức sản xuất, năng lực cạnh tranh thể hiện tính hơn hẳn về nguồn lực (nhân lực, công nghệ, tài chính, các tài nguyên khác) Tuy vậy, Micheal Porter là người có quan điểm rõ nét nhất Theo M Porter (1990a và
1990b), năng lực cạnh tranh là khả năng của một tổ chức kinh tế, một địa phương
hay một quốc gia có thể cạnh tranh trên thị trường về một loại sản phẩm hay dịch
vụ nào đó, thể hiện ưu thế của tổ chức kinh tế, một địa phương hay một quốc gia trong việc đáp ứng một cách bền vững và lâu dài nhu cầu của khách hàng về sản phẩm hay dịch vụ đó, tổng hoà các yếu tố kỹ thuật, công nghệ, tổ chức và quản lý trong việc cung cấp các sản phẩm hay dịch vụ trên thị trường Tác giả Đinh Văn Ân
(2004) còn chỉ rõ năng lực cạnh tranh cao cho phép tổ chức kinh tế tồn tại và phát
triển được trên thị trường
Thông thường, năng lực cạnh tranh được chia thành năng lực cạnh tranh sản phẩm, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh tỉnh hay vùng, năng lực cạnh tranh quốc gia và năng lực cạnh tranh của ngành (M Porter and K Ketels, 2008)
Năng lực cạnh tranh sản phẩm thể hiện năng lực của doanh nghiệp có sự ưu
việt khi đưa ra thị trường một sản phẩm hay dịch vụ (M Porter, 1990b) Sự ưu việt này thể hiện ở sự tốt hơn về chất lượng, phù hơn về nhu cầu khách hàng, lớn hơn về
quy mô và thị phần, cạnh tranh hơn về giá bán (Đỗ Kim Chung, 2010) Năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp trong việc cung cấp một số
loại sản phẩm và dịch vụ có năng lực cạnh tranh ra thị trường Khả năng của doanh nghiệp thể hiện ở năng lực sản xuất, trình độ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, trình độ tổ chức sản xuất, khả năng đổi mới sản phẩm, chiến lược sản phẩm, khả năng điều chỉnh sự thay đổi trên thị trường của doanh nghiệp Doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh thì tất yếu có sản phẩm cạnh tranh Các doanh nghiệp đóng trên một địa bàn xác định và có vai trò lớn trong phát triển kinh tế của một địa phương
Năng lực cạnh tranh tỉnh là chỉ số thể hiện môi trường cạnh tranh của tỉnh trong
nền kinh tế thị trường so với các tỉnh, thành phố khác ở một quốc gia trên 9 phương diện: Chi phí gia nhập thị trường; các vấn đề đất đai cho các tổ chức kinh tế - sản xuất kinh
Trang 21doanh; Tính minh bạch và trách nhiệm của cơ quan cung cấp dịch vụ công và hành chính công; chi phí thời gian để được nhận các dịch vụ hành chính công và dịch vụ công; chi phí không chính thức khi thực hiện các dịch vụ công và hành chính công; tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh; dịch vụ hỗ trợ kinh doanh; đào tạo lao
động; thiết chế pháp lý (Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam, 2009)
Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng cạnh tranh của một quốc gia đối với
các quốc gia khác trên thị trường về một sản phẩm, dịch vụ và cả nền kinh tế, là tổng hoà kết quả của năng lực cạnh tranh sản phẩm, của doanh nghiệp, của các ngành kinh
tế và của dịch vụ công và hành chính công ở cấp quốc gia (M Porter 1990a, Đinh
Văn Ân, 2004) Trong một báo cáo về tính cạnh tranh tổng thể của Diễn đàn kinh tế
thế giới (WEF) năm 1997 đã nêu ra: “Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là năng lực của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ
sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác” Như vậy, năng lực cạnh tranh cấp quốc gia có thể được hiểu là việc xây dựng một môi trường cạnh tranh kinh tế chung, đảm bảo phân bổ có hiệu quả các nguồn lực, để đạt
và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững Môi trường cạnh tranh kinh tế chung có ý nghĩa rất lớn đối với việc thúc đẩy quá trình đầu tư, tự điều chỉnh, lựa chọn của các nhà kinh doanh, các doanh nghiệp theo các tín hiệu thị trường được thông tin đầy đủ Mặt khác, môi trường cạnh tranh thuận lợi sẽ tạo khả năng cho chính phủ hoạch định chính sách phát triển, cải thiện đầu tư, tăng cường hợp tác quốc tế và hội nhập ngày càng có hiệu quả, đồng thời có ảnh hưởng quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh quốc gia gồm một hệ thống chỉ số - cũng còn gọi
là chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp (GCI - Global Competitiveness Index) được Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) công bố lần đầu tiên trong Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2004-2005 Các chỉ số này được phân làm chín nhóm, còn được gọi là chín trụ cột thể hiện năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia Chín trụ cột đó gồm: (1) thể chế; (2) kết cấu hạ tầng; (3) kinh tế vĩ mô; (4) y tế và giáo dục cơ bản; (5) đào tạo và giáo dục bậc cao; (6) hiệu quả thị trường; (7) mức độ sẵn sàng về công nghệ; (8) trình độ kinh doanh; (9) đổi mới và sáng tạo
Trang 221.1.1.3 Năng lực cạnh tranh ngành
Từ trước đến nay đã có nhiều nghiên cứu năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, các nghiên cứu lý luận này chủ yếu tập trung vào năng lực cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp, của tỉnh và của quốc gia Ở Việt Nam, có một số tác giả như Nguyễn Văn Bảy (2009) đã nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành giấy Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Nguyễn Phúc Khanh và Phùng Minh Nguyệt (2003) đã nghiên cứu nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành mía đường Việt Nam Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào thảo luận các yếu
tố cấu thành của năng lực cạnh tranh của sản phẩm như giá thành, năng suất lao động, chất lượng, chưa có nghiên cứu nào thảo luận một cách rõ ràng và hệ thống
về năng lực cạnh tranh ngành theo nghĩa rộng Vì vậy, trên phương diện lý luận, luận án này đi tìm câu trả lời cho vấn đề trên
M Porter (1990a) trong tác phẩm “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” đã chỉ ra
rằng năng lực cạnh tranh của quốc gia phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp, các địa phương và năng lực điều hành của chính phủ đó, phụ thuộc vào kết quả của đầu tư công và đầu tư tư nhân Với quan điểm này của M Porter,
theo chúng tôi, năng lực cạnh tranh ngành là khả năng cạnh tranh của một ngành
kinh tế về một hay nhóm các sản phẩm, dịch vụ mà ngành đó cung cấp ra thị trường Nó liên quan đến năng lực cạnh tranh của quốc gia, tỉnh, doanh nghiệp và sản phẩm, thuộc hai khu vực đầu tư công và đầu tư tư nhân được nhìn nhận theo góc độ của một ngành kinh tế
Nộị hàm của năng lực cạnh tranh ngành là sự kết hợp hữu cơ giữa năng lực
cạnh tranh trong khu vực đầu tư tư nhân và khu vực đầu tư công Năng lực cạnh tranh của khu vực công là điều kiện cơ bản và là “bà đỡ” cho năng lực cạnh tranh ở khu vực tư nhân phát triển Năng lực cạnh tranh của khu vực đầu tư tư nhân thể hiện năng lực tham gia thị trường của các tổ chức kinh tế trong việc cung cấp một sản phẩm, một dịch vụ trong ngành kinh tế đó, vì thế khi nói đến năng lực cạnh tranh ngành không thể `không xét đến sự tổng hoà mối quan hệ của năng lực cạnh tranh sản phẩm, năng lực cạnh tranh của tổ chức kinh tế, năng lực cạnh tranh tỉnh và năng lực cạnh tranh Quốc gia như thể hiện ở sơ đồ 1.1
Trang 23Sơ đồ 1.1 Mối liên quan giữa năng lực cạnh tranh ngành với năng lực cạnh tranh
sản phẩm, các tổ chức kinh tế, tỉnh và quốc gia
Đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành chính là việc phân tích và đánh giá các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh của ngành đó Môi trường kinh doanh của ngành bao gồm tổng thể các yếu tố thuộc điều kiện khách quan và chủ quan có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngành Các nhân tố của môi trường cạnh tranh bao gồm các nhân tố về môi trường vĩ mô, các nhân tố về môi trường ngành và các nhân tố bên trong Môi trường ngành là môi trường phức tạp nhất và có ảnh hưởng nhiều đến cạnh tranh Khác với môi trường vĩ mô, môi trường ngành không được tổng hợp từ những qui định, qui luật mà nó mang tính thời điểm
1.1.1.4 Năng lực cạnh tranh ngành trái cây
Trên cơ sở năng lực cạnh tranh ngành chúng ta thảo luận năng lực cạnh
tranh của ngành trái cây Trước hết ngành trái cây được hiểu là ngành sản xuất kinh
doanh ra các sản phẩm trái cây bao gồm sản xuất trái cây tươi, nguyên liệu và chế biến Trong điều kiện Việt Nam, sản phẩm do ngành sản xuất ra chủ yếu là trái cây
nhiệt đới, một số sản phẩm có nguồn gốc ôn đới (Bộ Nông nghiệp và phát triển
nông thôn, 2007) Mặc dù có nhiều tác giả nghiên cứu về ngành trái cây như Đinh
Đức Huấn (2001), Đoàn Hồng Lê (2008), Nguyễn Thị Tân Lộc (2002), Trương Đức Lực (2004), Hoàng Tuyết Minh và cộng sự (2000), Hà Thị Ngọc Oanh (2004) ở nước
ta, nhưng chưa có tác giả chỉ rõ khái niệm năng lực cạnh tranh của ngành trái cây
Trên cơ sở thống nhất khái niệm về năng lực cạnh tranh của ngành đã thảo
luận ở trên, theo tôi: Ngành trái cây là ngành sản xuất ra sản phẩm trái cây ở dạng
Khu vực đầu tư tư nhân
Năng lực cạnh tranh Tỉnh
Năng lực cạnh tranh Quốc gia
Trang 24tươi sống, chế biến phù hợp với nhu cầu thị hiếu của thị trường, bao gồm các tác nhân tham gia vào chuỗi giá trị của sản xuất trái cây như hộ nông dân, thương lái, doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ, phân phối và xuất khẩu, đến người tiêu dùng Từ
quan niệm về năng lực cạnh tranh của ngành và ngành trái cây, theo tôi: Năng lực
cạnh tranh của ngành trái cây là tổng hoà năng lực cạnh tranh sản phẩm của các tổ chức kinh tế (hộ sản xuất trái cây, thương lái, doanh nghiệp, hợp tác xã ) tham gia sản xuất, chế biến và thương mại sản phẩm trái cây và năng lực cạnh tranh của địa phương (xã, huyện, tỉnh, quốc gia) trong đầu tư công và cung cấp các dịch vụ công cho các tổ chức kinh tế sản xuất kinh doanh trái cây Nó bao gồm năng lực cạnh tranh của các tổ chức kinh tế trong khu vực tư nhân và năng lực cạnh tranh của địa phương trong hỗ trợ khu vực tư nhân sản xuất kinh doanh về trái cây
1.1.1.5 Nâng cao năng lực cạnh tranh ngành trái cây
Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây có vai trò quan trọng trong
việc phát triển ngành này Từ tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức tham gia Tổ chức thương mại thế giới WTO Chỉ có nâng cao năng lực cạnh tranh, ngành trái cây mới phát triển và đáp ứng được nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế, vượt qua được hàng rào kỹ thuật của các quốc gia trong xuất khẩu, cạnh tranh với nhiều sản phẩm của nhiều quốc gia khác ở thị trường trong nước và quốc tế Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây đòi hỏi sự nỗ lực của các tổ chức kinh tế (hộ sản xuất trái cây, doanh nghiệp) trực tiếp tham gia vào sản xuất kinh doanh trái cây, nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ công của các cơ quan quản lý nhà nước
cấp xã, huyện, tỉnh và trung ương (Đỗ Kim Chung, 2010) Trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế, khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới, các hàng rào thuế quan đã bị dỡ bỏ, các hàng rào kỹ thuật của các nước ngày càng xiết chặt, thì ngành trái cây cần phải cạnh tranh với các sản phẩm từ trái cây của các quốc gia khác ngay cả trên thị trường trong nước và quốc
tế Từ quan niệm trên, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây là quá trình
cải thiện năng lực cạnh tranh của khu vực đầu tư tư nhân và hoàn thiện việc cung cấp các dịch vụ công, đầu tư ở khu vực công, đảm bảo cho ngành trái cây ngày càng cạnh tranh và phát triển bền vững cả trên thị trường trong nước và quốc tế
Trang 251.1.2 Một số đặc điểm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây
Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây bao gồm cải thiện năng lực cạnh tranh ở khu vực đầu tư tư nhân và khu vực đầu tư công trong sản xuất kinh doanh trái cây Do đó, cần quán triệt một số đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, ngành trái cây là một ngành hàng có tính hàng hoá cao, dễ hư
hỏng, khó bảo quản, có thể tiêu dùng trực tiếp hay chế biến Vì thế, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành này phải chú ý đến đặc điểm kinh tế - kỹ thuật này Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành là phải tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa người sản xuất trái cây, thu gom, chế biến và phân phối sản phẩm
Thứ hai, ngành trái cây gồm nhiều loại sản phẩm khác nhau, tuỳ theo lợi thế
so sánh của mỗi địa phương mà phát triển trái cây phù hợp, trên cơ sở quy hoạch và thực hiện đầu tư công hợp lý
Thứ ba, ngành trái cây trải rộng theo chuỗi cung của sản phẩm từ người
trồng cây trái đến người tiêu dùng cuối cùng Vì thế, năng lực cạnh tranh của ngành trái cây phụ thuộc nhiều vào môi trường đầu tư kinh doanh do khu vực công tạo ra Môi trường này đòi hỏi phải làm tốt việc cung cấp đầu tư công và dịch vụ công cho các tổ chức kinh tế đầu tư kinh doanh trái cây phù hợp với tín hiệu thị trường
Thứ tư, sản xuất kinh doanh và chế biến trái cây đa dạng về chủng loại, mẫu
mã, phục vụ nhiều thị trường khác nhau cả ở trong nước và quốc tế Do đó, nâng cao năng lực cạnh tranh cần tập trung vào các sản phẩm chủ lực để tạo ra sự khác biệt lớn trên thị trường
Thứ năm, Việt Nam mới gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) có
nhiều yếu tố đã được thị trường hoá nhưng vẫn còn yếu tố phi thị trường Do đó, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây phải được cải thiện theo lộ trình hội nhập quốc tế ở Việt nam
1.1.3 Nội dung nghiên cứu năng lực cạnh tranh của ngành trái cây
Từ phân tích khái niệm và bản chất của nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây, nội dung nghiên cứu năng lực cạnh tranh của ngành trái cây, là nghiên cứu năng lực cạnh tranh của ngành trái cây ở khu vực đầu tư tư nhân và khu vực đầu tư công
Trang 261.1.3.1 Năng lực cạnh tranh của ngành trái cây ở khu vực đầu tư tư nhân
Nội dung nghiên cứu năng lực cạnh tranh trong khu vực đầu tư tư nhân gồm các vấn đề liên quan đến chất lượng sản phẩm, giảm giá thành và nâng cao năng suất lao động sản xuất và kinh doanh trái cây, để cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của tổ chức kinh tế khác, nước khác Trong điều kiện của ngành trái cây, năng lực cạnh tranh của ngành ở khu vực đầu tư tư nhân được thể hiện năng lực cạnh tranh ở hộ sản xuất trái cây, thương lái, doanh nghiệp thu mua, chế biến và xuất khẩu sản phẩm trái cây
a) Năng lực cạnh tranh của hộ sản xuất trái cây
Năng lực cạnh tranh của hộ sản xuất trái cây thể hiện trước hết ở quy mô diện tích, năng suất, chất lượng, giá thành và giá bán trái cây Người trồng cây ăn quả được coi là có năng lực khi họ sản xuất với quy mô diện tích lớn, không manh mún, phân tán, phù hợp với điều kiện tự nhiên của ruộng vườn, chất lượng sản phẩm tốt tuân thủ quy trình thực hành nông nghiệp tốt (GAP) (đất phù hợp, giống tốt, làm tốt khâu canh tác, sử dụng hợp lý đầu vào, chăm sóc, thu hoạch và sau thu hoạch, giá thành trái cây hạ, giá bán đảm bảo có lãi)
b) Năng lực cạnh tranh của thương lái
Thương lái là trung gian giữa người sản xuất trái cây với người tiêu dùng, bán buôn, hay với doanh nghiệp chế biến Năng lực cạnh tranh của thương lái thể hiện trước hết là năng lực về sản lượng sản phẩm trái cây có thể thu gom được trong thời điểm nhất định Năng lực này thể hiện ở quy mô diện tích trái cây, số hộ trồng trái cây thuộc trong mạng lưới thu mua của thương lái Sản lượng nhiều, diện tích trái cây, số hộ nông dân nằm trong mạng lưới thu mua của thương lái lớn, khả năng thu gom của thương lái cả lúc chính vụ và trái vụ tốt thì thương lái sẽ có năng lực cạnh tranh cao Hơn nữa, chi phí thu mua của thương lái thấp thì năng lực cạnh tranh của thương lái tốt hơn Lợi nhuận và năng lực tiết kiệm chi phí thu mua phụ thuộc vào năng lực vận chuyển trên đường, tình trạng đường xá, năng lực bảo quản sản phẩm, các chi phí ngoài hoá đơn và giá bán của nông dân
Trang 27c) Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong ngành trái cây, các doanh nghiệp đóng vai trò chủ yếu là chế biến, phân phối xuất khẩu và thương mại các sản phẩm trái cây Trên cơ sở liên kết với nông dân và thương lái, doanh nghiệp chế biến và tiêu thụ các sản phẩm trái cây thu mua của nông dân và thương lái Vì thế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện trước tiên và trước hết ở năng lực phát triển vùng nguyên liệu, sự đa dạng và mức độ phù hợp về sản phẩm và mẫu mã, công suất chế biến, năng suất chế biến, chất lượng sản phẩm, giá thành sản phẩm, giá bán và thị trường tiêu thụ Năng lực phát triển vùng nguyên liệu là điều kiện hàng đầu cho nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Nếu không có vùng nguyên liệu thì doanh nghiệp không có khả năng tồn tại Năng lực phát triển vùng nguyên liệu thể hiện ở quy mô diện tích trái cây, sản lượng trái cây có thể thu mua từ hộ nông dân, thương lái, năng lực này thể hiện ở sự liên kết giữa người sản xuất trái cây, thương lái và doanh nghiệp Sự đa dạng về chủng loại sản phẩm và mẫu mã, phù hợp với thị trường thể hiện rằng doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh tốt Chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp tạo ra sự khác biệt được thị trường ưa chuộng cũng là tiêu chí đảm bảo cho doanh nghiệp cạnh tranh Chất lượng sản phẩm phải thoả mãn với yêu cầu của các hàng rào kỹ thuật Công suất cao, năng suất chế biến cao là điều kiện hạ giá thành sản phẩm Năng lực tiếp cận thị trường tốt sẽ giúp cho doanh nghiệp có giá bán hợp lý đảm bảo có lãi và cạnh tranh được các sản phẩm cùng loại
Như vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây trong khu vực đầu tư tư nhân, cần tập trung vào một số định hướng sau:
- Hoàn thiện hình thức tổ chức - sản xuất kinh doanh Hình thức tổ chức sản
xuất kinh doanh của ngành trái cây bao gồm các hộ sản xuất trái cây, thương lái, doanh nghiệp và hiệp hội sản xuất kinh doanh trái cây Hệ thống này cần được hoàn thiện theo hướng tăng hiệu quả và hiệu lực của các quyết định quản lý, phản ứng nhanh nhạy hơn với thị trường
- Cải thiện năng lực tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất trái
cây, thương lái, doanh nghiệp tham gia vào sản xuất, chế biến, phân phối và tiêu thụ
Trang 28sản phẩm trái cây Sự cải thiện về năng lực tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh tập trung vào sự hoàn thiện kiến thức và kỹ năng ra quyết định sản xuất kinh doanh phù hợp với tín hiệu thị trường, sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn lực, hạ được giá thành sản phẩm, tăng được chất lượng của sản phẩm trái cây Sự cải thiện này tập trung vào năng lực của người lãnh đạo của tổ chức kinh tế và năng lực tổ chức sản xuất, năng lực liên kết và hợp tác sản xuất kinh doanh trái cây
- Cải thiện năng lực công nghệ của tổ chức sản xuất, chế biến, kinh doanh
trái cây Trình độ công nghệ phù hợp cho phép các tổ chức kinh tế nâng cao được
năng suất, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm được nguồn lực, tạo ra lợi thế cạnh tranh đối với sản phẩm Năng lực công nghệ liên quan đến giống cây trồng, quy trình sản xuất - thâm canh, kỹ thuật thu hái, công nghệ chế biến, đóng gói, bảo quản, vận chuyển, tiếp thị và phân phối sản phẩm
- Cải thiện năng lực nguồn nhân lực của các tổ chức kinh tế tham gia vào sản
xuất kinh doanh trái cây Nguồn nhân lực bao gồm cả số lượng và chất lượng lao động
tham gia vào sản xuất ở các hộ sản xuất trái cây và doanh nghiệp ở khâu sản xuất nguyên liệu, chế biến, phân phối, tiêu thụ các sản phẩm thương mại Cải thiện năng lực nguồn nhân lực theo hướng nâng cao kiến thức, kỹ năng để nâng cao năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm và tiết kiệm nguồn lực trong sản xuất kinh doanh
- Cải thiện năng lực tài chính của các tổ chức kinh tế tham gia vào ngành
trái cây Cải thiện năng lực tài chính thể hiện ở việc tăng cường khả năng tiếp cận
tới đất đai để sản xuất trái cây, mặt bằng để kinh doanh, các nguồn vốn khác nhau cho sản xuất- kinh doanh trái cây
1.1.3.2 Năng lực cạnh tranh của ngành trái cây ở khu vực đầu tư công
Năng lực cạnh tranh của ngành trái cây ở khu vực đầu tư công bao gồm năng lực của chính quyền địa phương các cấp từ thôn bản, xã, huyện, tỉnh và quốc gia trong việc cung cấp đầu tư công và dịch vụ công cho các tổ chức kinh tế ở khu vực đầu tư tư nhân phát triển sản xuất kinh doanh trái cây
a) Năng lực đầu tư công của các địa phương
Năng lực đầu tư công của các địa phương trước tiên và trước hết là năng lực
Trang 29quy hoạch và thực hiện quy hoạch vùng nguyên liệu trái cây để tạo ra vùng sản xuất hàng hoá tập trung, năng suất hiệu quả và bền vững Năng lực này thể hiện ở chất lượng quy hoạch khoa học và thực tiễn, năng lực tổ chức thực hiện quy hoạch đã được phê duyệt Trên cơ sở quy hoạch, các địa phương đầu tư vào cơ sở hạ tầng như giao thông, thuỷ lợi, hệ thống điện, nghiên cứu khoa học, phục vụ cho sản xuất và chế biến trái cây Mặt khác, năng lực đầu tư về khuyến nông, tín dụng cho nông dân, thương lái và doanh nghiệp tham gia vào sản xuất trái cây cũng là những biểu hiện quan trọng của năng lực cạnh tranh của ngành trái cây trong lĩnh vực đầu tư công
Trong sản xuất kinh doanh trái cây, hệ thống thuỷ lợi, giao thông, điện, thông tin, hệ thống giáo dục Năng lực cạnh tranh của ngành trái cây thể hiện ở sự tiện lợi, hiệu quả của các tổ chức kinh tế trong tiếp cận tới các dịch vụ công về thuỷ lợi, giao thông, điện, thông tin và giáo dục Nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực này bao gồm xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh và đồng bộ, xây dựng cơ chế quản lý sử dụng hệ thống đó một cách phù hợp, tạo điều kiện để hộ sản xuất trái cây, doanh nghiệp tiếp cận dễ dàng tới các dịch vụ công về thuỷ lợi, giao thông, điện, thông tin và giáo dục
b) Dịch vụ công của các địa phương
Năng lực cạnh tranh của ngành trái cây trong lĩnh vực dịch vụ công bao gồm, năng lực cung cấp các dịch vụ cho hộ sản xuất trái cây như tổ chức dồn điền đổi thửa, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất cho người sản xuất trái cây, năng lực cung cấp các dịch vụ khuyến nông, thuỷ lợi, bảo vệ thực vật, an ninh trật
tự bảo vệ đồng ruộng cho các hộ sản xuất trái cây Năng lực này tập trung chủ yếu ở ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn Năng lực hỗ trợ các doanh nghiệp kinh doanh và chế biến trái cây như hỗ trợ mặt bằng sản xuất kinh doanh, thủ tục gia nhập kinh doanh của địa phương (đăng ký kinh doanh, hỗ trợ xây dựng vùng nguyên liệu, thủ tục xuất nhập khẩu) Nhưng năng lực này thể hiện chủ yếu ở các ngành chức năng như Kế hoạch đầu tư, Công Thương cung cấp các dịch vụ công cho các doanh nghiệp Hơn nữa, năng lực của chính quyền địa phương là nhân tố quan trọng trong thực thi các chính sách, các chủ trương đầu tư công và cung cấp các dịch vụ công cho ngành trái cây phát triển Các dịch vụ công cần được cải thiện
Trang 30theo hướng cải thiện tổ chức, nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng khả năng tiếp cận
và giảm chi phí của nông dân, doanh nghiệp tới các dịch vụ đó
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành trái cây
1.1.4.1 Các nhân tổ ảnh hưởng đến khu vực đầu tư tư nhân
Có hàng loạt nhân tố tác động đồng thời đến năng lực cạnh tranh của ngành trái cây trong khu vực đầu tư tư nhân Tuy nhiên, để dễ phân tích, nghiên cứu này gồm các nhân tố tác động riêng đến năng lực cạnh tranh của hộ sản xuất trái cây, thương lái, doanh nghiệp và các nhân tố tác động chung đến các tổ chức kinh tế này
a) Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của hộ sản xuất trái cây
Năng lực cạnh tranh của hộ sản xuất trái cây bị ảnh hưởng nhiều nhân tố khác nhau Trong đó, đặc điểm, kiến thức và trình độ kỹ năng của chủ hộ là nhân tố
cơ bản ảnh hưởng đầu tiên đến việc ra quyết định sản xuất kinh doanh của hộ Kế
đó, nguồn lực (diện tích đất, lao động, tài sản khác của hộ ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh Khả năng tiếp cận đến các nguồn vốn đến sản xuất kinh doanh của hộ, nguồn cung cấp giống từ tổ chức tin cậy như doanh nghiệp, viện nghiên cứu, cơ quan khuyến nông cũng ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng sản phẩm của hộ sản xuất ra Sự tiếp cận thị trường để tiêu thụ sản phẩm cũng là những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của hộ
b) Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của thương lái
Năng lực cạnh tranh của thương lái phụ thuộc nhiều vào đặc điểm của các thương lái (thâm niên, kinh nghiệm, trình độ văn hoá) Thường thì thương lái có thâm niên, kinh nghiệm, có kiến thức để tiếp cận được thông tin thị trường, sự liên kết và gần gũi của thương lái với nông dân, sự am hiểu tường tận về địa phương thì năng lực cạnh tranh tốt hơn Mặt khác, vốn kinh doanh thể hiện ở lượng vốn lưu động của thương lái đảm bảo cho thương lái chủ động được nguồn hàng Thương lái
có thể ứng trước vốn cho nông dân đầu vụ, hay mua non các sản phẩm Chính vì lẽ
đó, vốn là nhân tố giúp thương lái chủ động được nguồn hàng Mặt khác, thương lái thường là kinh doanh tư nhân, nên mọi quyết định linh hoạt và nhanh nhẹn, giúp phản ứng kịp thời với thị trường Ngoài ra, phương tiện kinh doanh, nhất là phương tiện thu gom, bảo quản giúp thương lái giảm được chi phí vận chuyển, tổn thất sau thu hoạch góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của thương lái
Trang 31c) Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào năng lực của người đứng đầu chủ doanh nghiệp đó Trình độ chuyên môn, năng lực quản lý, trình
độ ngoại ngữ, sự am hiểu thị trường của chủ doanh nghiệp là nhân tố cơ bản đầu tiên ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Bản chất của doanh nghiệp, trong điều kiện của Việt Nam, nếu doanh nghiệp được cổ phần hoá, hay là doanh nghiệp tư nhân thì khả năng quản lý và sử dụng nguồn lực có hiệu quả hơn doanh nghiệp nhà nước Nguồn vốn và khả năng về vốn của doanh nghiệp dồi dào cho phép doanh nghiệp mở rộng đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu, công nghệ chế biến để nâng cao năng lực cạnh tranh Đội ngũ lao động được đào tạo, nhất là lao động làm ở khâu chế biến trái cây, marketing, tiêu thụ sản phẩm cũng là điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Ngoài ra, khả năng tiếp cận thị trường của doanh nghiệp, doanh nghiệp có điều kiện mở rộng thị trường trong nước
và quốc tế, sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
d) Sự tham gia liên kết trong sản xuất - chế biến - tiêu thụ của hộ sản xuất trái
cây, thương lái và doanh nghiệp
Sản xuất và kinh doanh trái cây, luôn cần đến sự liên kết giữa người sản xuất trái cây với doanh nghiệp chế biến xuất khẩu; giữa người sản xuất với thương lái thu mua; giữa các doanh nghiệp chế biến với nhau Nếu không có sự liên kết với nhau thành một chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu dùng, thì không thể thành sức mạnh để cạnh tranh với thị trường nước ngoài được, thậm chí còn tranh mua, tranh bán ngay tại sân nhà, ép giá nhau dẫn đến thua lỗ cho cả người sản xuất đến doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu Sự tham gia này thể hiện ở nhiều hình thức khác nhau, tạo ra sự phân bố lợi ích bình đẳng giữa nông dân, thương lái và doanh nghiệp cũng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh ở khu vực tư nhân
e) Tổ chức cộng đồng (Nhóm sở thích, hương ước, HTX, liên kết, liên doanh)
Chính quyền địa phương các cấp, có những chính sách khuyến khích các hộ sản xuất trái cây, thành lập các tổ chức cộng đồng như các nhóm sở thích trồng loại trái cây mà nhóm thích, các HTX sản xuất trái cây theo quy trình VietGAP, các
Trang 32nhóm liên kết, liên doanh trong sản xuất và tiêu thụ trái cây, hoặc các hương ước, quy ước của địa phương về phong tục tập quán sống trong tổ chức cộng đồng những người sản xuất trái cây tại địa phương
1.1.4.2 Các nhân tố ảnh hưởng trong khu vực đầu tư công
a) Quy hoạch và thực hiện quy hoạch vùng sản xuất trái cây
Năng lực cạnh tranh của ngành trái cây phụ thuộc vào năng suất trái cây, lượng nguyên liệu và sản phẩm hàng hoá tạo ra Điều này có được nhờ công tác quy hoạch Công tác quy hoạch vùng sản xuất trái cây là rất cần thiết, có như vậy thì mới tạo thành được những vùng trái cây có diện tích lớn, tập trung sản xuất số lượng lớn hàng hoá cho xuất khẩu, mỗi địa phương chỉ nên tập trung trồng một đến hai loại trái cây chủ lực, thực hiện chủ trương dồn điền đổi thửa ở các địa phương
Để làm được việc này thì cần có những chính sách của nhà nước xây dựng vùng chuyên canh sản xuất trái cây Doanh nghiệp, nông hộ nằm trong vùng sản xuất trái cây được đầu tư theo quy hoạch sẽ có năng lực cạnh tranh cao hơn
b) Hệ thống hạ tầng cơ sở (thuỷ lợi, giao thông, điện, kho bãi, chợ đầu mối)
Năng lực cạnh tranh của ngành trái cây ở khu vực đầu tư công còn phụ thuộc vào ngân sách, chính sách đầu tư hạ tầng cơ sở thuỷ lợi giao thông, điện, kho bãi, chợ đầu mối Hệ thống hạ tầng cơ sở là một việc lớn cần được nhà nước quan tâm,
hỗ trợ đầu tư xây dựng mới, tạo điều kiện cho việc sản xuất kinh doanh chế biến trái cây như: hệ thống thuỷ lợi, các đường ống nước tưới cho các vùng cây nguyên liệu,
hệ thống đường giao thông nội bộ vùng nguyên liệu, hệ thống điện để sản xuất, hệ thống kho bãi và chợ đầu mối
c) Sự tiếp cận tới các dịch vụ công như thuỷ lợi, khuyến nông, bảo vệ thực vật, tín dụng
Năng lực cạnh tranh của ngành trái cây, ngoài sự nỗ lực của chính nội bộ trong các thành phần kinh tế tham gia sản xuất kinh doanh, thì sự tiếp cận của các tổ chức kinh tế đến các dịch vụ công như thuỷ lợi, khuyến nông, bảo vệ thực vật, tín dụng, các dịch vụ này phải được tiếp cận một cách thuận lợi, đầy đủ và kịp thời thì mới có tác dụng để nâng cao năng lực cạnh tranh Sự tiếp cận này phụ thuộc nhiều vào năng lực của các cán bộ thực hiện đầu tư công và cung cấp các dịch vụ công nói trên
Trang 33d) Sự phối kết hợp giữa chính quyền địa phương các cấp với doanh nghiệp
trong sản xuất kinh doanh trái cây
Năng lực cạnh tranh của ngành trái cây còn phụ thuộc nhiều vào sự phối hợp chính quyền địa phương các cấp trong tổ chức vùng nguyên liệu, thực hiện quy trình sản xuất, kiểm soát chất lượng, thu mua sản phẩm Sự kết hợp của chính quyền thôn
xã, huyện tạo điều kiện cho hình thành được vùng sản xuất trái cây hàng hoá tập trung
e) Các chính sách về sự hỗ trợ của Chính phủ cho ngành trái cây phát triển
Năng lực cạnh tranh của ngành trái cây còn phụ thuộc nhiều vào các chính sách của chính phủ và sự vận dụng chính sách của chính phủ vào các địa phương Các chính sách liên quan đến đất đai, đầu tư, hỗ trợ liên kết, liên doanh, kiểm soát chất lượng, xuất khẩu và nhập khẩu, đều ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành trái cây Sự phù hợp của các chính sách nói trên góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây Trong các chính sách trên, nổi cộm lên là chính sách đất đai, đầu tư phát triển, kiểm soát chất lượng và chính sách xuất khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của ngành trái cây
Mỗi địa phương có sản xuất và kinh doanh trái cây phải vận dụng các chính sách của Chính phủ một cách linh hoạt và phù hợp với tình hình thực tế của địa phương mình, tạo điều kiện tối đa để cho các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh trái cây được thuận tiện và được hưởng lợi từ các chính sách của nhà nước đối với ngành trái cây ngày một phát triển bền vững
1.1.4.3 Các nhân tố ảnh hưởng khác
a) Tổng công ty rau quả nông sản Việt Nam
Tổng công ty rau quả nông sản Việt Nam, có ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành trái cây Nhiệm vụ của Tổng công ty là chuyên về kinh doanh, sản xuất, chế biến, xuất, nhập khẩu thực phẩm, rau, quả các loại Tổng công ty luôn quan tâm đến việc sản xuất và kinh doanh của các công ty thành viên, giúp các công
ty thành viên vượt qua những khó khăn, đảm bảo sản xuất và thu nhập cho người lao động, đặc biệt là công tác xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các công ty thành viên
Trang 34b) Hiệp hội rau quả Việt Nam
Năng lực cạnh tranh của ngành trái cây còn có ảnh hưởng của Hiệp hội rau quả Việt Nam Hiệp hội là cầu nối và thúc đẩy các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh trái cây, xây dựng và phát triển ngành trái cây Việt Nam, là cầu nối giữa nhà xuất nhập khẩu Việt Nam với nhà xuất nhập khẩu nước ngoài thông qua việc xúc tiến thương mại Hiệp hội quan tâm đến chất lượng, giá thành sản phẩm thông qua nghiên cứu, huấn luyện và hỗ trợ kỹ thuật cũng như hợp tác, liên kết trong tất cả hoạt động
có liên quan, đề xuất với nhà nước chính sách cũng như giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển ngành trái cây Việt Nam, đạt thị phần xứng đáng trên thị trường thế giới
c) Nhu cầu và sở thích của người tiêu dùng trái cây trong nước
Người tiêu dùng trái cây cũng ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngành trái cây, nếu người tiêu dùng chủ yếu sử dụng các sản phẩm trái cây của trong nước sản xuất, thì đó là một tín hiệu tốt cho ngành trái cây phát triển, đặc biệt là các sản phẩm trái cây tươi, điều đó chứng tỏ được chất lượng, giá thành trái cây sản xuất trong nước có lợi thế cạnh tranh so với sản phẩm cùng loại của nước ngoài
1.2 Cơ sở thực tiễn về nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây
1.2.1 Kinh nghiệm thực tiễn nâng cao năng lực cạnh tranh ngành trái cây của
một số nước
1.2.1.1 Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan có điều kiện sinh thái tương đối giống Việt Nam Đặc biệt miền nam của Thái Lan tương đối giống Miền Nam nước ta với hai mùa mưa và mùa khô rõ rệt, đồng bằng Nam Thái Lan giống Miền Tây Nam Bộ Vì vậy nghiên cứu kinh nghiệm của Thái Lan sẽ rút ra bài học kinh nghiệm mang ý nghĩa thực tiễn cho ngành trái cây của nước ta, vì một số trái cây của Thái Lan cũng tương tự như của nước ta Sau đây là một số những kinh nghiệm của Thái Lan:
a) Nâng cao chất lượng và đang dạng hoá sản phẩm trái cây
- Coi trọng khâu giống: Tạo ra giống quả có chất lượng tốt, trên cơ sở thực hiện nhiều biện pháp phát huy mọi nguồn lực trong nước, vì vậy trái cây của Thái Lan thường tốt hơn, ngon hơn, xuất khẩu được nhiều hơn so với nước khác
Trang 35- Đa dạng hoá chủng loại trái cây
- Các trung tâm giống thuộc Cục Khuyến nông Thái Lan với sự tài trợ của Nhà nước tiến hành thu thập các loại giống trái cây từ khắp nơi trên thế giới về trồng thử nghiệm; ngay cả giống cây nhập khẩu lạ chưa từng được trồng trước đó ở Thái Lan; ngược lại các giống cây quý thì không cho phép xuất khẩu
b) Đẩy mạnh các biện pháp tiếp thị, nâng cao chất lượng của hệ thống phân phối
Nhà nước hỗ trợ công tác tiếp thị thông qua các giải pháp sau: thực hiện những chiến dịch quảng bá rộng rãi cho các loại trái cây của Thái Lan, lập hợp tác
xã tiêu thụ trái cây Các nhà vườn liên kết với nhau lập ra HTX tiêu thụ nhằm nâng cao thế mạnh của tập thể khi thương lượng với các nhà thu mua, các nhà buôn và nhà xuất khẩu Xây dựng chợ buôn bán trái cây, Chính phủ Thái Lan rất quan tâm đến việc xây dựng hệ thống chợ đầu mối thúc đẩy tiêu thụ, có những chợ lớn như chợ Talad Thai được coi là chợ trái cây lớn nhất Đông Nam Á Phát triển du lịch để đẩy mạnh xuất khẩu trái cây tươi tại chỗ Thái Lan là một trong những nước thu hút khách du lịch quốc tế, các nhà sản xuất và kinh doanh trái cây đã tận dụng lợi thế này
để phát triển các điểm buôn bán và quảng bá các loại trái cây tươi
c) Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước nhằm thúc đẩy mạnh việc nâng cao sức cạnh tranh hàng hoá các loại trái cây của quốc gia
Nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của trái cây xuất khẩu như: Yêu cầu các cơ quan cùng hỗ trợ nông dân tập trung sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh cho các loại trái cây xuất khẩu có giá trị kinh tế cao Bộ Nông nghiệp hỗ trợ nông dân trong việc nghiên cứu, tìm giống cây tốt, cải tạo đất trồng và hệ thống tưới tiêu nhằm nâng cao năng suất và chất lượng trái cây, có kế hoạch giúp nông dân thực hiện đúng quy trình thu hoạch, kỹ thuật bảo quản trái cây, đặc biệt gia tăng cho khâu bao bì và đóng gói Bộ Thương mại đặt văn phòng xúc tiến thương mại ở các nước và giúp các nhà xuất khẩu Thái Lan tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ trái cây Bộ Tài chính hỗ trợ về vốn, những hỗ trợ đồng bộ từ các cơ quan Chính phủ đã giúp nhà sản xuất và kinh doanh trái cây Thái Lan đẩy nhanh khả năng tiêu thụ sản phẩm, xuất khẩu các loại trái cây tươi và sản phẩm chế biến
Trang 361.2.1.2 Kính nghiệm của Philippines
Philippines cũng là một trong những nước xuất khẩu số lượng lớn quả nhiệt đới Sản lượng quả thu hoạch của Philippines khoảng 10 triệu tấn/năm, xuất khẩu năm 2009 là 2,8 triệu tấn chiếm 31% sản lượng thu hoạch, đem lại doanh thu ngoại
tệ cho Quốc gia này khoảng 519 triệu USD Xuất khẩu của Philippines tập trung chủ yếu vào 3 loại mặt hàng là Chuối, dứa và xoài (riêng 3 mặt hàng này chiếm 80,7% tổng sản lượng trái cây của quốc gia) Những kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây của Philippines là:
a) Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường cạnh tranh thuận lợi
cho sản xuất và xuất khẩu các loại trái cây thông qua các giải pháp sau:
- Ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, sản xuất trái cây làm tăng chất lượng sản phẩm, cụ thể là công nghiệp hoá quá trình trồng, chăm sóc
và thu hoạch các loại trái cây
- Chính phủ gián tiếp hỗ trợ khâu phân phối tiêu thụ trái cây, thông qua các biện pháp như: Quy hoạch phát triển các vùng trồng trái cây hợp lý sao cho mỗi vùng phát huy tối đa lợi thế so sánh, tránh trùng lắp và đồng nhất trồng trái cây giữa các vùng và các mùa, biện pháp này nhằm ngăn chặn hiện tượng “đội chợ”, sụt giá bất thường đối với trái cây tươi Trung tâm khuyến nông của Nhà nước hướng dẫn
và khuyến khích nông dân các địa phương có khí hậu và điều kiện tự nhiên giống nhau phương pháp trồng và chăm sóc cây để thu hoạch trái cây “lệch pha” nhau, nhằm tạo ra hàng hoá cung cấp quanh năm cho thị trường
b) Chú trọng công tác xúc tiến thương mại ngay cả ở tầm vĩ mô
- Chính phủ hỗ trợ các HTX tham gia thị trường bằng các biện pháp tài chính như cho vay, hỗ trợ một phần lãi suất giúp các HTX tổ chức thu mua, hoặc trực tiếp phân phối trái cây tại chợ đầu mối, đưa nhanh trái cây vào thị trường và trở thành lực lượng quan trọng góp phần cân bằng vị thế với các thương nhân trên thị trường nhằm
ổn định giá cả, nâng cao chất lượng sản phẩm
- Tăng chất lượng nguồn nhân lực về hệ thống thông tin, về giá cả thị trường đến các vùng sản xuất bằng cách tăng cường đầu tư cho đào tạo cán bộ nông nghiệp, hỗ trợ cho các trung tâm thông tin nhằm nắm bắt kịp thời thông tin về nhu cầu, giá cả thị trường … và thông báo tới các doanh nghiệp xuất khẩu
Trang 371.2.1.3 Kinh nghiệm của Chi Lê
Chi Lê là nước sản xuất trái cây ôn đới, nhưng một số kinh nghiệm nâng cao khả năng cạnh tranh trái cây của họ cũng là bài học tốt cho ngành trái cây của Việt Nam Hàng năm, Chi Lê xuất khẩu đến 600-700 triệu USD trái cây, trong đó riêng trái nho xuất khẩu gần 500 triệu USD
a) Quan tâm đến việc đào tạo cán bộ làm nông nghiệp
Chính phủ trợ cấp một phần hoặc toàn phần cho việc cử tuyển các sinh viên sang du học ở Mỹ và các nước hàng đầu về sản xuất nông nghiệp, sản xuất trái cây
để đào tạo kỹ sư, bác học trong lĩnh vực lai tạo, trồng và chăm sóc cây trái cây và có chính sách ưu đãi thu hút họ trở về phục vụ đất nước Nhờ có đội ngũ nông học giỏi
mà Chi Lê lai tạo được giống nho, táo có chất lượng và năng suất cao, tham gia vào thị trường thế giới, đồng thời xuất khẩu giống cây trồng mang lại ngoại tệ đáng kể cho đất nước
b) Nhà nước hỗ trợ mọi mặt cho các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh trái cây
Nhằm giúp tăng sức cạnh tranh của trái cây hàng hoá, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp thông qua các hình thức: Hỗ trợ tổ chức hội chợ nông sản trong và ngoài nước, Hỗ trợ kinh phí đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực nông nghiệp, chế biến trái cây, đặc biệt trong lĩnh vực trồng cây ăn quả, Hỗ trợ cho các trường đại học công lập và các trung tâm nghiên cứu giống, công nghệ trồng và bảo quản trái cây sau thu hoạch, Cung cấp các thông tin về thị trường cho nhà sản xuất kinh doanh trái cây
c) Tuyên truyền và khuyến khích việc xây dựng các mối quan hệ
Mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa người sản xuất trái cây và các nhà xuất
khẩu, chế biến Mối quan hệ giữa các bên được thể hiện bằng những hợp đồng sản xuất tiêu thụ trái cây, việc làm này đảm bảo cho nhà sản xuất có thị trường tiêu thụ
ổn định, nhà xuất khẩu có nguồn cung cấp có chất lượng, thưởng và khuyến khích các nhà xuất khẩu tìm kiếm thị trường để thực hiện tốt các hợp đồng bao tiêu sản phẩm
1.2.1.4 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc có những nét tương đồng với nền kinh tế Việt Nam Trong những năm qua ngành trái cây Trung Quốc rất phát triển và trong tương lai họ
Trang 38đang phấn đấu để trở thành nhà sản xuất và xuất khẩu trái cây lớn nhất thế giới Vậy bí quyết nào đã giúp cho sự thành công đó ? Một trong những lý do chính là
sự thành công ở khâu tổ chức mối quan hệ liên kết kinh tế rất chặt chẽ giữa các nhà sản xuất và kinh doanh trái cây Để góp phần thúc đẩy ngành trái cây phát triển họ
đã hình thành nên các hội đoàn Có thể coi đây là dạng liên kết theo ngành hàng
mà qua đó các nhà sản xuất kinh doanh trái cây gắn bó với nhau rất chặt chẽ Có nhiều mô hình tiên tiến như “Doanh nghiệp + Hộ nông dân”; “Thị trường + Cơ
sở sản xuất + Hộ nông dân”; “Hợp tác xã + Doanh nghiệp + Hộ nông dân”;
“Hiệp hội + Doanh nghiệp chế biến + Hộ nông dân” Triết lý “buôn có bạn bán có phường” được người Trung Quốc vận dụng rất thành công không những trong lĩnh vực sản xuất, chế biến và kinh doanh trái cây mà còn ở nhiều lĩnh vực khác nữa Thực tế này đã được cả thế giới biết đến và công nhận Đây là bài học đáng để các nhà sản xuất kinh doanh trái cây nước ta tham khảo và vận dụng
1.2.2 Một số bài học kinh nghiệm của các nước về nâng cao năng lực cạnh
tranh của trái cây Việt Nam
Sản xuất trái cây được coi là ngành quan trọng của các nước như Trung
Quốc, Thái Lan, Philippines, Indonesia và Mỹ Các nước này đều thực hiện các giải
pháp khác nhau để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây Tuỳ theo hoàn cảnh kinh tế chính trị và xã hội của mỗi nước, việc thực hiện chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành trái cây có khác nhau Các nước này đều rất thành công trong sản xuất - kinh doanh trái cây cả ở thị trường trong nước và quốc tế Có thể rút ra những bài học kinh nghiệm sự thành công về nâng cao năng lực cạnh tranh ngành trái cây của các quốc gia như sau:
1.2.2.1 Quy hoạch phát triển các vùng sản xuất trái cây hợp lý
Quy hoạch phát triển để phát huy tối đa lợi thế về trái cây nhiệt đới, tránh trùng lặp và đồng nhất sản xuất trái cây giữa các vùng và các mùa Biện pháp này nhằm ngăn chặn hiện tượng “đội chợ”, sụt giá bất thường đối với trái cây tươi Các nước Philippines, Trung Quốc đã áp dụng thực hiện khâu quy hoạch sản xuất và kinh doanh trái cây tới từng vùng miền
Trang 391.2.2.2 Phát triển đa dạng các loại sản phẩm trái cây
Phát triển đa dạng các loại sản phẩm trái cây để phát huy được trái cây nhiệt đới (Thái Lan, Mỹ, Indonesia và Philippines), bán nhiệt đới (Mỹ và Trung Quốc) trên cơ sở lợi thế so sánh của mỗi vùng và quốc gia
1.2.2.3 Nâng cao năng lực công nghệ chế biến và công nghệ giống
Tập trung vào nâng cao công nghệ chế biến và công nghệ giống với chất lượng tốt và năng suất cao Các nước như Thái Lan, Mỹ, Trung Quốc đều tập trung nguồn lực vào khâu chọn tạo giống trái cây phù hợp với thị trường trong nước và xuất khẩu
1.2.2.4 Nâng cao vai trò quản lý nhà nước để nâng cao khả năng cạnh tranh của trái
cây xuất khẩu
Ở các nước như Trung quốc, Mỹ và Thái Lan, nhà nước có trách nhiệm hướng dẫn nhà vườn tuân thủ nghiêm ngặt các quy định quốc tế về thực hành nông nghiệp tốt, tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh an toàn thực phẩm, khuyến nông
1.2.2.5 Đẩy mạnh đầu tư công vào phát triển hạ tầng, thực hiện tốt các dịch vụ công
cho sản xuất kinh doanh trái cây
Các nước như Trung Quốc, Thái Lan và Hàn Quốc đều tập trung đầu tư công vào phát triển thuỷ lợi, hệ thống điện, hệ thống chợ bán buôn, bán lẻ, thúc đẩy chế biến, các dịch vụ bảo vệ thực vật, bảo quản nông sản Đẩy mạnh đầu tư công để
hỗ trợ các tổ chức kinh tế nâng cao năng lực tiếp thị, thực hiện những chiến dịch quảng bá rộng rãi cho trái cây cả ở thị trường trong nước và quốc tế (Thái Lan, Mỹ
và Hàn Quốc)
1.2.2.6 Đào tạo nguồn nhân lực
Tăng chất lượng nguồn nhân lực về hệ thống thông tin thị trường đến các vùng sản xuất bằng cách tăng cường đầu tư cho đào tạo cán bộ nông nghiệp, hỗ trợ cho các trung tâm thông tin nhằm nắm bắt kịp thời thông tin về nhu cầu, giá cả thị trường … và thông báo tới các doanh nghiệp xuất khẩu, đào tạo về kỹ thuật sử dụng các loại máy móc công nghệ chế biến cao, hiện đại, đào tạo kỹ thuật trồng và chăm sóc dịch bệnh, đến khâu thu hoạch, sau thu hoạch các loại trái cây
Trang 40Chương 2 ĐẶC Đ ỂM NGÀNH TRÁI CÂY VIỆT NAM
VÀ P ƯƠNG P ÁP NG ÊN CỨU
2.1 Đặc điểm của ngành trái cây Việt Nam
2.1.1 Ngành trái cây đa dạng với nhiều chủng loại trái cây
Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các cây nhiệt đới, được phân bố khắp cả nước với nhiều sản phẩm mang đặc trưng riêng Tính đến năm 2011, cả nước ta có 832.000
ha diện tích đất trồng cây ăn quả với nhiều chủng loại trái cây có chất lượng dinh dưỡng cao, sản lượng mỗi năm 7- 8 triệu tấn, là một trong những nước có diện tích
trồng cây ăn quả lớn trong khu vực (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2012) Miền Bắc có
các loại, nổi bật là mơ Hương Sơn (Hà Nội), đào (Sa Pa), táo mèo (Sơn La), vải thiều Thanh Hà (Hải Dương), vải thiều Lục Ngạn (Bắc Giang), bưởi Đoan Hùng (Phú Thọ), nhãn lồng (Hưng Yên), ổi bo (Thái Bình), chuối ngự (Hà Nam), cam Canh (Hà Nội), dứa Đồng Giao (Ninh Bình) Miền Trung có các loại trái cây đặc sản như bưởi Thanh Trà (Thừa Thiên-Huế), xoài tượng (Bình Định), sầu riêng Khánh Sơn (Khánh Hoà), nho (Ninh Thuận), thanh long (Bình Thuận) Miền Nam
có các loại trái cây đặc sản như măng cụt Lái Thiêu, (Bình Dương), bưởi Biên Hoà, chôm chôm Long Khánh (Đồng Nai), nhãn xuồng cơm vàng (Bà Rịa - Vũng Tàu), mãng cầu Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh), sơ ri Gò Công, xoài cát Hoà Lộc, vú sữa Lò
Rèn, dưa hấu Gò Công (Tiền Giang), bưởi Năm Roi (Vĩnh Long) (Viện nghiên
cứu cây ăn quả Miền Nam, 2012)
2.1.2 Ngành trái cây có thể phát triển theo lợi thế so sánh của từng vùng
Như đã phân tích ở trên, cây ăn quả được phân bố ở tất cả các vùng miền trên
cả nước (Bảng 2.1) Nơi sản xuất vải thiều tập trung lớn nhất cả nước là tỉnh Bắc
Giang chủ yếu ở 3 huyện Lục Ngạn, Lục Nam và Lạng Giang Năm 2011, Bắc Giang có diện tích khoảng 40.000 ha, chiếm hơn 40% diện tích cả nước, sản lượng đạt 200.000 tấn Tiếp theo là Hải Dương tập trung ở 2 huyện Thanh Hà và Chí Linh