1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khủng hoảng tín dụng thứ cấp ở mỹ và bài học về sự quản trị rủi ro cho hệ thống ngân hàng việt nam

55 832 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khủng Hoảng Tín Dụng Thứ Cấp Ở Mỹ Và Bài Học Về Sự Quản Trị Rủi Rho Cho Hệ Thống Ngân Hàng Việt Nam
Trường học Trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản trị Rủi ro Ngân hàng
Thể loại Nghiên cứu luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 691,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày 14/09: Ngân hàng Northern Rock Anh đã gặp vấn đề nghiêm trọng vềkhả năng thanh khoản liên quan đến khủng hoảng cho vay dưới chuẩn.Ngày 15–17/10: Liên minh các ngân hàng Mỹ được hỗ t

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Năm 2008 là một năm đầy biến động và đáng nhớ đối với kinh tế thế giới nóichung và Việt Nam nói riêng Chúng ta đã trải qua năm 2008 với rất nhiều cung bậcthăng trầm của nền Kinh kế Hệ thống tài chính ngân hàng của Mỹ cuối năm 2007

và năm 2008 đột nhiên lâm vào một trong những cuộc khủng hoảng chưa từng có,hàng trăm tỷ USD đã tiêu tan Sự lây lan vẫn chưa chấm dứt, hậu quả vẫn chưalường hết Trong bối cảnh chung ấy, Việt Nam cũng không nằm ngoài sự tác độngtiêu cực của suy thoái kinh tế toàn cầu Vì thế, chúng ta cần phải chủ động trướcnhững diễn biến phức tạp của khủng hoảng tài chính và nguy cơ suy thoái kinh tếtoàn cầu để kịp thời ngăn chặn ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam nóichung cũng như hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng

Trước tình hình đó, đã có rất nhiều nghiên cứu xung quanh sự xuất hiện của cuộckhủng hoảng này trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Và, đề tài “Khủng hoảng tín dụng thứ cấp ở Mỹ và bài học về sự quản trị rủi ro cho hệ thốngngân hàng Việt nam” trở thành tiêu điểm mang tính thời sự được quan tâm hiện nay!

Trang 2

CHƯƠNG I CUỘC KHỦNG HOẢNG TÍN DỤNG THỨ CẤP Ở MỸ

1.1 Tổng quan về cuộc khủng hoảng Tín Dụng thứ cấp ở Mỹ

1.1.1 Diễn biến và nguyên nhân

1.1.1.1 Những cột mốc chính trong cuộc khủng hoảng

Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 tại Mỹ lần này thực chất là biểu hiện rõnét nhất của một quá trình “khủng hoảng” rất lâu trước đó Điểm lại những mốc sựkiện chính trong chuỗi này để thấy khủng hoảng đã diễn ra như thế nào:

• Năm 2002-2004: Giá cả ở các bang Arizona,California, Florida, Hawaii, và

Nevada tăng trên 25% một năm Sự bùng nổ nhà đất ở Mỹ bắt đầu

• Năm 2005: Bong bóng nhà đất ở Mỹ vỡ vào tháng 08/2005 Thị trường bất động

sản tạm gián đoạn trên một vài bang ở Mỹ vào cuối mùa hè năm 2005 khi tỷ lệ lãisuất tăng từ 1% lên đến 5.35% do có nhiều nhà kinh doanh bất động sản đã đánh giáthấp thị trường

• Năm 2006: Thị trường bất động sản tiếp tục suy giảm Giá giảm, kinh doanh bất

động sản, dẫn đến một lượng nhà dư thừa đáng kể Chỉ số Xây dựng Nhà ở tại Mỹhồi giữa tháng 08 giảm hơn 40% so với một năm trước đó

• Năm 2007: Kinh doanh bất động sản tiếp tục thất bại Số lượng nhà tồn ước tính

cao nhất từ năm 1989 Ngành kinh doanh bất động sản suy giảm với hơn 25 tổ chứccho vay dưới chuẩn tuyên bố phá sản Gần 1,3 triệu bất động sản nhà ở bị tịch thu đểthế chấp nợ, tăng 79% từ năm 2006

Ngày 05/02: Công ty Mortage Lenders Network USA đứng thứ 15 trong số cácnhà cho vay dưới chuẩn nhiều nhất ở Mỹ, với tổng dư nợ 3.3 tỷ đô la thời điểm quý

Trang 3

Tháng 8: Khủng hoảng tín dụng toàn cầu, mà chính xác là chứng khoán dựa trêncác khoản nợ thế chấp dưới chuẩn, được phát hiện trong các danh mục vốn đầu tư

và quỹ trên khắp thế giới từ BNP Paribas cho đến Ngân hàng Trung Quốc Nhiềunhà cho vay ngừng cho vay tín dụng mua nhà Cục dữ trữ liên bang đã cho các ngânhàng vay 100 tỷ đô la với lãi suất thấp

Ngày 16/08: Tập đoàn tài chính Countrywide, đơn vị cho vay thế chấp lớn nhấtnước Mỹ, đã phải tránh phá sản bằng cách vay khẩn cấp 11 tỷ đô la từ một nhóm cácngân hàng khác

Ngày 17/08: Cục dự trữ liên bang đã phải hạ mức hệ số chiếu khấu 50 điểm cơbản từ mức 6.25% xuống 5.75%

Ngày 14/09: Ngân hàng Northern Rock (Anh) đã gặp vấn đề nghiêm trọng vềkhả năng thanh khoản liên quan đến khủng hoảng cho vay dưới chuẩn.Ngày 15–17/10: Liên minh các ngân hàng Mỹ được hỗ trợ bởi chính phủ thông báolập một siêu quỹ trị giá 100 tỷ đô la để mua lại các chứng khoán được đảm bảobằng tài sản thế chấp mà giá trị thị trường đã bị sụt giảm do khủng hoảng vay dướichuẩn

Ngày 31/10: Cục dự trữ liên bang hạ lãi suất quỹ liên bang 25 điểm xuống 4.5%.Tháng 11: Cục dự trữ liên bang bơm thêm 41 tỷ đô la cho các ngân hàng vay vớilãi suất thấp Đây là lần xuất tiền lớn nhất của cục dự trữ liên bang kể từ 19 tháng 9năm 2001 (50.35 tỷ đô la)

• Năm 2008 với những mốc đáng nhớ sau :

Ngày 16/03: Bear Stearns bán lại cho JP Morgan Chase với giá 2 đôla một cổphiếu để tránh phá sản Cục dự trữ liên bang phải cung cấp 30 tỷ đô la để trợ giúpcác khoản lỗ của Bear Stearn

Ngày 17/07: Các ngân hàng lớn và các tổ chức tài chính trên thế giới đã báo cáothua lỗ lên đến 435 tỷ đôla

Ngày 07/09: Cục dự trữ liên bang dành quyền kiểm soát hai tập đoàn Fannie Mae

và Freddie Mac

Ngày 14/09: Merrill Lynch được bán cho Bank of America với giá 50 tỷ đô la

Trang 4

Ngày 15/09: Lehman Bothers tuyên bố phá sản Ngay sau đó, 3 loại chỉ số ở Mỹbao gồm chỉ số Dow Jones, NASDAQ và S&P 500 sụt giảm mạnh nhất kể từ sau sựkiện 11/09/2001.

Ngày 17/09: Cục dự trữ liên bang Mỹ cho AIG vay 85 tỷ đô la để giúp công tynày tránh phá sản

Ngày 19/09: Kế hoạch giải cứu tài chính của bộ trưởng tài chính Paulson trị giá

700 tỷ đô la được công bố sau một tuần bất ổn trên thị trường tài chính và nợ tíndụng Tuy nhiên, quốc hội Mỹ đã không thông qua bản dự thảo này

Ngày 26/09: Ngân hàng Washington Mutual – ngân hàng tiết kiệm lớn nhất Mỹđược chính phủ tiếp quản và sau đó được bán lại cho JP Morgan Chase& Co với giá1.9 tỷ đôla

Ngày 29/09: Quốc hội Mỹ bác bỏ kế hoạch giải cứu thị trường tài chính Mỹ do

bộ Tài chính Mỹ đề xuất

Ngày 30/09: Ngân hàng khổng lồ Wachovia của Mỹ, đồng thời là ngân hàng chovay dưới chuẩn lớn nhất Mỹ đồng ý bán lại bộ phận ngân hàng bán lẻ cho đối thủCitigroup

1.1.1.2 Nguyên nhân

Chính sách tiền tệ nới lỏng của Ngân hàng TW Mỹ từ năm 2001

Nguồn gốc sâu xa của khủng hoảng bắt nguồn từ chính sách tiền tệ nới lỏng củaNgân hàng Trung ương Mỹ từ năm 2001 kèm với chính sách khuyến khích và giúp

đỡ dân chúng được sở hữu bất động sản mà không cần phải có tương đối đủ thunhập

Sự suy sụp của thị trường bất động sản.

Nguyên nhân trực tiếp và rõ ràng nhất của cuộc khủng hoảng tài chính lần này là

sự suy sụp của thị trường bất động sản

Do có một sự liên hệ rất chặt chẽ giữa tình hình lãi suất và tình trạng của thịtrường bất động sản Khi lãi suất thấp và dễ vay mượn thì người ta đổ xô đi muanhà, đẩy giá nhà cửa lên cao, khi lãi suất cao thì thị trường dậm chân, người bánnhiều hơn người mua, đẩy giá nhà xuống thấp

Trang 5

Thị trường lúc nào cũng chịu tác động của quy luật cung cầu Khi việc mua nhàkhông phải vì nhu cầu chỗ ở mà sử dụng nó như một công cụ đầu tư thì chắc chắnsau một thời gian xây thêm nhà để bán, thị trường sẽ thừa nhà (biểu đồ 1) Trong khi

đó, các ngân hàng của Mỹ vì chạy theo lợi nhuận đã cho vay mua nhà ngay cả vớinhững người có tiền sử tín dụng xấu để hưởng những khoản lãi suất cao

Biểu đồ 1 dưới đây cho thấy lượng cung nhà ở Mỹ tăng vọt bắt đầu từ nửa cuối năm

2005 như là kết quả của quá trình cho vay mua nhà quá phóng khoáng của các ngânhàng Mỹ

Biểu đồ 1: Lượng cung nhà ở Mỹ giai đoạn 2000-2007

Nguồn: http://www.cuna.org

Khi thị trường đĩa ốc Mỹ lại rơi vào thời kỳ đóng băng, người vay tiền để muanhà bán kiếm lời lại không thể bán được nhà (biểu đồ 2), trong khi nhu cầu nhà ở lạigiảm mạnh (biểu đồ 3), cứ như thế món nợ vay mua nhà bỗng tăng vọt Đến lúc nàycác ngân hàng bắt đầu nhận thấy nợ xấu, nợ khó đòi tăng vọt Số lượng nợ xấu vàkhách hàng vỡ nợ cứ thế tăng, đẩy các tổ chức cho vay vào cảnh thua lỗ đáng sợ

Trang 6

Biểu đồ 2: Doanh số bán nhà ở Mỹ giai đoạn 1995-2007

Nguồn: http://www.cuna.org

Biểu đồ 3: Nhu cầu nhà ở Mỹ giai đoạn 1995-2007

Nguồn: http://www.cuna.org

Có ba yếu tố chính đã khởi tạo nên bong bóng trong thị trường bất động sản:

Thứ nhất, bắt đầu từ năm 2001, để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ, Cục Dự trữ

liên bang Mỹ (Fed) đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến việc các ngân hàng cũng hạlãi suất cho vay tiền mua bất động sản Vào giữa năm 2000 thì lãi suất cơ bản củaFed là trên 6% nhưng sau đó lãi suất này liên tục được cắt giảm, cho đến giữa năm

2003 thì chỉ còn 1%

Trang 7

Biểu đồ 4: Lãi suất USD của FED (Fed Fund Rate)

Nguồn : www.Federalreserve.org.gov

Thứ nhì, về phương diện sở hữu nhà cửa, chính sách chung của chính phủ lúc

bấy giờ là khuyến khích và tạo điều kiện cho dân nghèo và các nhóm dân da màuđược vay tiền dễ dàng hơn để mua nhà Việc này phần lớn được thực hiện thông quahai công ty được bảo trợ bởi chính phủ là Fannie Mae và Freddie Mac

Hai công ty này giúp đổ vốn vào thị trường bất động sản bằng cách mua lại cáckhoản cho vay của các ngân hàng thương mại, biến chúng thành các loại chứng từđược bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp (mortgage-backed securities - MBS), rồibán lại cho các nhà đầu tư ở Phố Wall, đặc biệt là các ngân hàng đầu tư khổng lồnhư Bear Stearns và Merrill Lynch

Biểu đồ 5: Chứng khoán hoá tài sản cho vay thế chấp ở Mỹ ( 1975 – 2007)

Chứng khoán hóa tài sản cho vay thế chấp

0.46 0.96 1.52

2.62 3.46

5.13 6.44 7.23

Trang 8

Thứ ba, như đã trình bày ở trên, bởi vì có sự biến đổi các khoản cho vay thành

các công cụ đầu tư cho nên thị trường tín dụng để phục vụ cho thị trường bất độngsản không còn là sân chơi duy nhất của các ngân hàng thương mại hoặc các công tychuyên cho vay thế chấp bất động sản nữa Nó đã trở nên một sân chơi mới cho cácnhà đầu tư, có khả năng huy động dòng vốn từ khắp nơi đổ vào, kể cả dòng vốnngoại quốc

Nguyên nhân cơ bản của sự lây lan khủng hỏang nhà đất tại Mỹ ra toàn thế giới

là do các ngân hàng đã chứng khóan hóa cho vay các khỏan thế chấp Việc hìnhthành, mua bán, và bảo hiểm MBS là vô cùng phức tạp cho nên nó diễn ra gần như

là ngoài tầm kiểm soát thông thường của chính phủ Bởi vì thiếu sự kiểm soát cầnthiết cho nên lòng tham và tính mạo hiểm đã trở nên phổ biến ở các nhà đầu tư Bêncạnh đó, bởi vì có thể bán lại phần lớn các khoản vay để các công ty khác biếnchúng thành MBS, các ngân hàng thương mại đã trở nên mạo hiểm hơn trong việccho vay, bất chấp khả năng trả nợ của người vay

Quy trình chứng hóa các khoản vay thế chấp

Với ba lý do trên, thị trường bất động sản trở nên rất nhộn nhịp, có rất nhiềungười thu nhập thấp hoặc không có tín dụng tốt nhưng vẫn đổ xô đi mua nhà Để cóthể được vay, nhóm người này thường phải trả lãi suất cao hơn và thường được chomượn dưới hình thức lãi suất điều chỉnh theo thời gian (ví dụ, nếu thỏa thuận làđược vay với lãi suất 6% và điều chỉnh sau 3 năm thì đúng ba năm sau lãi suất mới

Ngân hàng cho vay

Công ty

môi giới

Tổ chức phát hành chứng khoán

T/c định mức tín nhiệm

T/c bảo lãnh phát hành

Nhà đầu tư trên thị trường Người vay

Trang 9

sẽ được ấn định theo thời điểm đó) Tóm lại, nhóm người này thuộc vào thành phầnđược cho vay với loại lãi suất dưới chuẩn

Ngày 27/2, số liệu được điều chỉnh lại của Bộ Thương mại Mỹ cho thấy, GDPcủa nước này đã tăng trưởng âm 6,2% trong quý 4/2008 Đây là mức sụt giảm mạnhnhất của kinh tế Mỹ kể từ năm 1982 Như vậy, GDP năm 2008 của Mỹ chỉ tăng1,1% - mức thấp nhất kể từ năm 2001

Theo số liệu của Cục Phân tích kinh tế (Bộ Thương mại Mỹ), trong quý 1/2008,GDP của Mỹ đã tăng trưởng 0,9%, sau đó tăng mạnh lên 2,8% vào quý 2 Tuynhiên, trước những khó khăn của nền kinh tế và cuộc khủng hoảng tài chính lanrộng, GDP của Mỹ đã tăng trưởng âm 0,5% trong quý 3/2008.Với mức tăng trưởng

âm trong quý 3 và quý 4/2008, kinh tế Mỹ đã chính thức rơi vào suy thoái và đâycũng là lần đầu GDP của nước này tăng trưởng âm trong hai quý liên tiếp kể từ lầnsuy giảm trong quý 4/1990 và quý 1/1991

Biểu đồ 6: Tăng trửởng GDP của Mỹ từ năm 2000- 2008(%)

Nguồn: Cục phân tích kinh tế ( Bộ Thương mại Mỹ)

Trang 10

Từ cuối năm 2007, đầu năm 2008, sự khủng hoảng của nền kinh tế Mỹ bắt đầu lộ

rõ Gía bán sỉ hàng hoá tiêu dùng tại Mỹ tăng với tốc độ cao nhất trong vòng 25 nămqua Gía dầu tăng 17% và tài sản không ngừng bị mất giá, giá bất động sản suy giảmmạnh sau 6 năm liên tục tăng Tình trạng thắt chặt tín dụng đang diễn ra trên toànnước Mỹ do các tập đoàn tài chính thua lỗ chồng chất, giá dầu tăng kỷ lục Chỉ sốlòng tin của người tiêu dùng Mỹ giảm xuống thấp nhất trong vòng mấy chục nămqua Theo số liệu thồng kê về nền kinh tế Mỹ được đăng trên thời báo kinh tế Mỹ,chỉ số lòng tin của người tiêu dùng Mỹ trong tháng 3 là 69,5% ,giảm xuống 57,2%trong tháng 5/2008 và hiện nay hiện nay đã gần chạm mức thấp kỷ lục 51,7% củathời điểm tháng 5/1980

Bảng 1: Chỉ số kinh tế Mỹ từ cuối 2007 đến đầu năm 2008

Chỉ tiêu 11-2007 12-2007 01-2008 02-2008 03-2008 04-2008

Sự thay đổi số tiền

Trang 11

Thị trường chứng khoán Mỹ sụt giảm khá lớn Bước vào đầu năm 2008, chỉ số S&P

500 sụt 44,18 điểm, chỉ số DowJones hạ 370,03 điểm, chỉ số Nasdaq giảm 73,28điểm Gần như tất cả các mã chứng khoán trên sàn giao dịch chứng khoán NewYorkđều sụt giảm

Biểu đồ 7: Mức độ sụt giảm của của một số chỉ số chứng khoán Châu Âu 2008

Nguồn: CNBC, Thomson Reuters, Bloomberg

Bong bóng thị trường chứng khoán đã tự giải quyết bằng cách xuồng giá Đếnnay thị trường chứng khoán và bất động sản đang dần trở về giá trị thực của nó saunhiều năm tăng trưởng nóng

1.1.2.2 Thị trường bất động sản

Trong 5 năm 2001-2006, giá nhà trên toàn nước Mỹ tăng kỷ lục Tuy nhiên, thịtrường nhà đất Mỹ thời gian gần đây trở nên ngày càng tồi tệ Số lượng nhà bị tịchthu do chủ nhà không còn khả năng trả nợ trong tháng 1 năm 2008 tăng tới 57%.Cuộc khủng hoảng tín dụng đã lan rộng đến khu vực đầu tư địa ốc văn phòng Do sựphát triển không kiểm soát của thị trường cho vay địa ốc dưới chuẩn Cho vay tiêudùng qua thẻ tín dụng quá mức mà CityGroup là nạn nhân đầu tiên lỗ 18 tỷ USD

Biểu đồ 8: Chỉ số nhà tại Mỹ từ 1988-2008

Trang 12

Nguồn: bloomberg, Reuters

1.1.2.3 Hoạt động của các doanh nghiệp

Cuộc khủng hoảng ảnh hưởng nặng nề đến các tổ chức tín dụng, làm cho giá trị thịtrường của hàng loạt các tập đoàn tài chính lớn bị co lại

Biểu đồ 9: Giá trị thị trường của các NH Châu Âu năm 06/2007 và 11/2008

Nguồn: Bloomberg

Trang 13

Số lượng doanh nghiệp tuyên bố phá sản trong tháng 4/2008 cao nhất từ khi luậtphá sản Mỹ bắt đầu có hiệu lực (năm 2005) Tính đến tháng 4/2008 có hơn 5000công ty phá sản.

Trong số khoảng 8.500 ngân hàng ở Mỹ được Công ty bảo hiểm tiền gửi liênbang (FDIC) bảo hiểm, ở thời điểm cuối quý 2 năm 2008, có 117 ngân hàng bị liệtvào danh sách có nguy cơ phá sản, cao nhất trong vòng 5 năm qua Tính đến thángđầu tháng 5/2009 có 33 ngân hàng đã phá sản, nổi bật trong số đó là sự đổ vỡ củacác đại gia tài chính lớn như Bear Stearns, Lehman Brothers, Fannie Mae & Feddie

Mac, Merrill Lynch & Co, Golman Sachs, wachovia ( xem phụ lục I)

Tình trạng phá sản của các doanh nghiệp Mỹ cho thấy những vấn đề liên quanđến lĩnh vực thế chấp dưới chuẩn và công cụ tài chính trên phố Wall

Bảng 2: Danh sách các tổ chức tài chính bị phá sản hoặc phải sáp nhập trong cuộc khủng hoảng Mỹ 2008

Tổng vốn góp cổphần: $22490 tỷđôla

Số lượng nhân viên:

Là một trong 4 ngânhàng đầu tư lớn nhấtcủa Hoa Kỳ

15/09/2008: nộp đơnphá sản theo chương 1Luật Phá sản Mỹ

Là vụ phá sản lớn nhấttrong lịch sử Hoa Kỳ

2 Merrill Lynch Tổng tài sản: 1,02

nghìn tỷ đôla

Số lượng nhân viên:

60.000 ngườiXếp thứ 32 trong

Thua lỗ quýIV/2007: 9,83 tỷđô

Thua lỗ ròng quýI/2008: 1,97 tỷ

Bán cho ngân hàng Mỹ(BoA) với giá 50 tỷđôla

Trang 14

danh sách Global

2000 (các công tylớn nhất thế giới)

đôlamất giá tài sản(2007): 16,7 tỷđôla

Tổng tài sản: 1,05nghìn tỷ đôlaTổng vốn góp ổphần 78,09 tỷ đôla

Số lượng nhân viên:

116.000 ngườiXếp thứ 6 trongdanh sách Global

2000 (các công tylớn nhất thế giới)

Cổ phiếu mất giá60% vào ngày16/09/2008Thua lỗ 6 thángđầu năm 2008:

13,2 tỷ đôla

16/09/2008: Cục Dự trữLiên bang Mỹ (FED)cấp tín dụng 80 tỷtương đương 79,9 % cổphần

4 Countrywide

Financial

Tổng tài sản: 211 tỷđôla

Là tập đoàn chiếm20% tổng thế chấpcủa Mỹ, tươngđương 3,5 GDP

Tổ chức tiết kiệm vàcho vay lớn thứ 3,đồng thời là ngânhàng có tốc độ pháttriển nhanh nhấttrong lịch sử nướcMỹ

Thua lỗ (2007):

2,5 tỷ đôlaMất giá tài sản(2007): 1 tỷ đôla

01/07/2008: Bán chongân hàng Mỹ ( BOA)với giá 4,1 tỷ đôla

5 Bear Stearns Tổng tài sản: 350,4

Tổng vốn góp cổphần: 66,7 tỷ đôla

Thiệt hại quý IV/

2007: 859 triệuđôla

Mất giá tài sản

30/05/2008: Bán cho JPMorgan Chase với giá1,1 tỷ đôla

Trang 15

Số lượng nhân viên:

15.500 người

Là công ty chứngkhoán lớn thứ 7 thếgiới

(2007): 1,9 tỷđôla

Tổng tài sản: 32 tỷđô

Là tổ chức cho vay

và gửi tiết kiệm lớnnhất ở Los Angeles

Đồng thời là tổ chứcthế chấp lớn thứ 7 ởHoa Kỳ

Tiền gửi kháchhàng: 19 tỷ đôChi phí 8,9 tỷđôla cho bảohiểm tiền gửiChi phí 541 triệu

đô cho cáckhoản tiền gửivượt mức bảohiểm

11/07/2008: Tập đoànBảo hiểm Tiền gửi Liênbang Mỹ FDIC tiếpquản

7 Freddie Mac

Tổng tài sản: 794,4

Tổng vốn góp cổphần: 26,7 tỷ đôla

Số lượng nhân viên:

5.281 ngườich

Là công ty công lớnthứ 20 trên thế giới

là công ty tài chínhlớn thứ 2 về thế chấptại Mỹ

Thua lỗ (2007):

4,6 tỷ đôlaThua lỗ quýII/2008: 821triệu đôla

07/09/2008: FED kíhợp đồng bỏ ra 1 tỷ đô

hỗ trợ cho Freddie Mac,đổi lại giành quyềnkiểm soát các cổ phiếu

ưu đãi đặc biệt củacông ty này

8 Fannie Mae Tổng tài sản: 882,5

Tổng vốn góp cổphần: 44 tỷ đôla

Là tổ chức hàng đầu

Thua lỗ (2007):

2 tỷ đôlaThua lỗ quýII/2008: 2,3 tỷđôla

07/09/2008: cùng vớiFreddie Mac bị FEDtiếp quản

Trang 16

trong thị trường thếchấp dưới chuẩn củaMỹ

Số lượng ngân viên:

Là tập đoàn cho vaydưới chuẩn lớn nhấtcủa Mỹ

Cổ phiếu mất90% giá trị(tháng 03/2007)Giá trị thị trườnggiảm xuống còn

55 triệu đôla

Nộp đơn phá sản theochương 11 Luật Phá sảnMỹ

10 Ameri Bank Tổng tài sản: 115

triệu đôla

Tiền gửi kháchhàng: 102 triệuđôla

Chi phí 42 triệuđôla cho quỹ bảohiểm tiền gửi

19/09/2008: Tập đoànBảo hiểm Tiền gửi LiênBang Mỹ FDIC tiếpquản

11 Washington

Mututal Inc

Tổng tài sản: 307 tỷđôla

Washington Mutual

là ngân hàng tiếtkiệm lớn nhất Mỹ

Thua lỗ 53 tỷđôla để từ tháng

6 và 17 tỷ đôlatrong 2 tuần gầnđây

26/09/2008: Chính phủtiếp quản và sau đó bánlại cho JP MorganChase & Co với giá 1,9

tỷ đôla

12 Wachovia

Là ngân hàng lớnthứ 6 ở MỹTổng tài sản: 327,9

tỷ đôla

Giá cổ phiếu củaWachovia đã sụtgiảm tới 81,6%,còn 1,84 USD/

Thua lỗ 9,7 tỷđôla trong nửađầu năm nay

30/09/2008: bị bán lạihco CitiGroup với giá2,16 tỷ đôla

Trang 17

2 Thị trường lao động

Theo số liệu của Bộ lao động Mỹ trong tháng 3 có khoảng 80.000 người mấtviệc, con số cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây Tỷ lệ thất nghiệp đã lên mức5,1% trong tháng 3 và tháng 4 năm 2008 Đến cuối năm 2008, Tỷ lệ thất nghiệp Mỹhiện đã lên mức 8,9%, con số cao nhất trong vòng 16 năm Nước Mỹ đã đến lúc đốimặt với sự thật nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng

Biểu đồ 10: Tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ qua các năm

Source: US Department of Labor

1.2 Các ngân hàng Mỹ đối phó trước khủng hoảng

Sau hàng loạt vụ đổ vỡ của các đại gia tài chính lớn như Freddie Mac và FannieMae hay Lehman Brother rồi cả AIG, hệ thống ngân hàng Mỹ vốn được hình thành

từ sau sự sụp đổ của hệ thống Bretton Wood trở nên dễ vỡ hơn bao giờ hết Người takhông chỉ hoài nghi vào khả năng kinh doanh lời, lỗ của các ngân hàng trong thờikhắc khó khăn khủng hoảng này, mà hơn thế người ta còn hoài nghi cả về sự tồn tạicủa các quy định trong hệ thống Chính vì thế nên việc cứu đỡ ngành tài chính ngânhàng đang trong cơ suy sụp này không thể chỉ dựa vào những khoảng viện trợ cả góilên tới cả nghìn tỷ USD của Chính Phủ mà quan trọng hơn nữa, đó là phải tìmnhững giải pháp từ chính ngân hàng, những cải tổ mà người gửi, khách hàng nhìnvào đó thấy sự minh bạch và thấy yên tâm cho đồng vốn của mình

Hiện nay các ngân hàng Mỹ đã rất thận trọng và dè dặt trong việc mua bán cácchứng khoán phái sinh có nguồn gốc từ bất động sản

Trang 18

1.2.1 Khả năng thanh khoản

Theo số liệu của FED công bố ngày 18/12/2008, lượng thanh khoản dự trữ vượtmức cần thiết trong các tổ chức nhận gửi tiết kiệm ở Mỹ đã tăng từ mức dưới 2 tỷUSD trong tháng 8 lên mức kỷ lục 774 tỷ USD vào giữa tháng 12 Mặc dù vậy, cácngân hàng của nước này đã không tận dụng nguồn tiền thừa này để tăng cường hoạtđộng cho vay

Các ngân hàng Mỹ hiện nay không có động lực để cho vay với lãi suất thấp, khi

mà bảo toàn vốn vẫn là ưu tiên hàng đầu của họ Dù đưa lãi suất USD về 0 - 0,25%,FED vẫn không thể đảm bảo rằng, các ngân hàng sẽ cho doanh nghiệp vay

Vì nước Mỹ đang đối mặt một cuộc khủng hoảng niềm tin, thay vì khủng hoảngthanh khoản Với lượng tiền dự trữ dư thừa khổng lồ như trên, rõ ràng, lý do khiếncác ngân hàng ngại cho vay không phải vì họ không có tiền cho vay Điều mà cácngân hàng lo ngại ở đây là đối tượng vay tiền của họ, trong đó bao gồm cả các ngânhàng khác, sẽ không trả nợ

Lượng dư thừa thanh khoản trong các tổ chức tín dụng như đã nêu trên là bằngchứng cho thấy, năng lực cho vay của các ngân hàng còn ở mức cách xa so vớilượng cung tiền

1.2.2 Tái cấu trúc

Sau khi tuyên bố cho phép tái cơ cấu được đưa ra, giới đầu tư tài chính Mỹ cũngnhư thế giới hiểu rằng lượng tiền 700 tỷ USD trong chương trình cứu nguy hệ thốngtài chính được công bố xem ra vẫn chưa đủ mạnh, nên chính phủ phải tìm cả giảipháp từ chính ngân hàng

Việc chuyển đổi từ ngân hàng đầu tư sang mô hình ngân hàng thương mại, trướcmắt sẽ giúp các ngân hàng Mỹ huy động được nguồn vốn qua đó giải quyết phầnnào những khó khăn trước mắt Một sô ngân hàng đã tiến hành tái cơ cấu như làGoldman sachs, Morgan Stanley, Citigroup

Goldman Sachs và Morgan Stanley

Quyết định của Goldman Sachs và Morgan Stanley nộp đơn lên Cục Dự trữ Liênbang Mỹ (FED) xin chuyển đổi mô hình là diễn biến đầy kịch tính của một trongnhững giai đoạn biến động nhất trong lịch sử Phố Wall Có lẽ sự thay đổi này là lần

Trang 19

tái cấu trúc lớn nhất trong lịch sử trên Phố Wall kể từ Đại khủng hoảng 1929 tới nay,làm thay đổi cơ bản bộ mặt của trung tâm tài chính.

Tháng 9/2008 FED đã cho phép hai ngân hàng đầu tư Goldman Sachs và Morgan

Stanley chuyển đổi sang mô hình ngân hàng tổng hợp (bank holding company) Sựchuyển đổi này sẽ cho phép Goldman Sachs và Morgan Stanley thành lập các chinhánh là ngân hàng thương mại để thu hút tiền gửi tiết kiệm của khách hàng

Việc chuyển đổi từ ngân hàng đầu tư sang mô hình ngân hàng thương mại, trướcmắt sẽ giúp các ngân hàng Mỹ huy động được nguồn vốn qua đó giải quyết phầnnào những khó khăn trước mắt

Sau vụ Bear Stearns bị bán lại cho JP Morgan Chase hồi tháng 03/2008, FED đã

mở rộng chương trình cho vay khẩn cấp cho các ngân hàng thương mại sang cho cảcác ngân hàng đầu tư, tuy nhiên chỉ là sự mở rộng tạm thời Nhưng với mô hình hoạtđộng mới, Goldman Sachs và Morgan Stanley sẽ có quyền tiếp cận vĩnh viễn với cáckhoản vay khẩn cấp này

Ngoài ra, với việc chuyển đổi mô hình này, Goldman Sachs và Morgan Stanley

có thể tiến hành mua lại các ngân hàng thương mại phá sản với số lượng đang tăngmạnh ở Mỹ Trước đây, theo quy định pháp luật, nếu là ngân hàng đầu tư thìGoldman Sachs và Morgan Stanley không thể tiến hành những vụ mua lại như vậy

Citigroup

Tháng 02/2009 Citigroup đã được tổ chức lại bao gồm hai bộ phận là Citicorp vàCitigroup Holdings Cấu trúc này sẽ giúp Citigroup tập trung thúc đẩy việc thực hiệncác hoạt động kinh doanh chủ chốt

Citigroup Holdings bao gồm các mảng môi giới và quản lý tài sản, tài chính tiêudùng địa phương và một quỹ tài sản đặc biệt Citigroup Holdings sẽ được quản lýchặt chẽ nhằm phòng ngừa rủi ro và thiệt hại, qua đó nâng cao giá trị của các tài sảnnày

Việc tái cơ cấu này không gây ảnh hưởng đến khách hàng, họ vẫn tiếp tục sửdụng dịch vụ và giao dịch với chất lượng cao

Việc tổ chức lại các mảng hoạt động kinh doanh này sẽ cho phép citigroup tậptrung hơn nữa vào những hoạt động kinh doanh chủ chốt, nhằm đơn giản hóa bộ

Trang 20

máy và có thể phục vụ khách hàng tốt hơn trong cả hai bộ phận kinh doanh Đồngthời cũng tập trung đặc biệt vào việc quản lý, bán bớt, ngừng các tài sản hoặc ngừngkinh doanh không nằm trong chiến lược chủ chốt của Citigroup Cơ cấu mới đượctạo ra để nhanh chóng biến đổi Citigroup thành một công ty có lợi nhuận cao hơn,rủi ro thấp hơn và tăng trưởng cao hơn nhiều so với trước đây.

1.2.3 Phòng ngừa rủi ro lãi suất

Bắt đầu xuất hiện tại các thị trường phát triển từ những năm 80 của thế kỷ trước,hiện các công cụ tài chính phái sinh đã được các ngân hàng thương mại trên thế giới

sử dụng rộng rãi như những công cụ bảo hiểm rủi ro cho khách hàng

Sau đợt biến động mạnh của thị trường tiền tệ trong thời gian qua, các ngân hàng

Mỹ đã đặc biệt quan tâm hơn đến các công cụ phòng ngừa rủi ro lãi suất để nhằmhạn chế và phòng ngừa rủi ro khi lãi suất thị trường biến động

Để phòng ngừa rủi ro lãi suất và tránh được những biến động trên thị trường tiền

tệ, hiện nay các ngân hàng Mỹ sử dụng các công cụ phái sinh như là giao dịch kỳhạn (Forward), giao dịch quyền chọn (Options) và giao dịch tương lai (Futures), đặcbiệt là giao dịch hoán đổi lãi suất (IR Swaps), sử dụng giao dịch hoán đổi này có thểtránh được thiệt hại không nhỏ với những biến động khó lường của thị trường tiềntệ

1.2.4 Thắt chặt Tín Dụng

Mặc dù đã nhận được viện trợ của chính phủ, nhưng các ngân hàng Mỹ vẫn nângcao tiêu chuẩn cho vay, tiếp tục thu hẹp các hoạt động tín dụng, thực hiện chính sáchthắt chặt tín dụng đối với thẻ tín dụng, cho vay tiêu dùng và thế chấp mua nhà Bất chấp nỗ lực của chính phủ trong việc bơm 250 tỉ USD và giảm lãi suất chocác ngân hàng để đẩy mạnh hoạt động cho vay, các nhà băng vẫn tỏ ra rất dè dặt và

có tư tưởng giữ chặt hầu bao 65% ngân hàng trong nước vẫn chặt chẽ trong việc thihành triển khai các lĩnh vực kinh doanh và các tiêu chuẩn cho vay, 80% ngân hàngnội địa giám sát kỹ càng hoạt động cho vay thương mại bất động sản

Hiện vẫn chưa có ngân hành nào nới lỏng tiêu chuẩn cho vay thế chấp.Việc thắt chặt tín dụng này chủ yếu là do các ngân hàng lo lắng về viễn cảnh khôngtươi sáng của nền kinh tế Đồng thời, chịu ảnh hưởng xấu từ cuộc khủng hoảng tín

Trang 21

dụng của kinh tế, các ngân hàng rất mẫn cảm với các vấn đề mà các doanh nghiệp cóthể gặp phải.

Ngày 13/1/2009, Tập đoàn dịch vụ tài chính khổng lồ của Mỹ Citigroup Inc đã

ký thỏa thuận bán lại 51% cổ phần của bộ phận môi giới mang tên Smith Barney choMorgan Stanley với giá 2,7 tỷ USD Tháng 2/2009, tập đoàn này thông báo kế hoạchbán 17% cổ phần trong công ty thẻ tín dụng Redecard của Braxin, nhằm thu vềkhoản tiền trị giá 1,27 tỷ USD để đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính-tín dụng.Ngoài ra, ngày 17/11/2008 Citigroup tuyên bố cắt giảm 52.000 việc làm trêntoàn cầu, tương đương với 15% lực lượng lao động của tập đoàn này đồng thời giảmchi tiêu để tiết kiệm tiền mặt với hy vọng sống sót được qua đợt khủng hoảng sâurộng lần này

Ngày 26/2, tập đoàn ngân hàng khổng lồ của Mỹ JPMorgan Chase cho biết cắtgiảm 12.000 việc làm, như một phần của kế hoạch tiết kiệm khoảng 2 tỷ USD, trong

đó có 1,35 tỷ USD chi phí nhân công vào cuối năm 2009, đồng thời là một phần của

kế hoạch thâu tóm ngân hàng Washington Mutual Bank

CHƯƠNG II TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG TÍN DỤNG THỨ CẤP Ở MỸ

2.1 Tác động của cuộc khủng hoảng tín dụng thứ cấp ở Mỹ đến Châu Á

2.1.1 Tác động của khủng hoảng Mỹ đến Châu Á

Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới, chiếm tới 25% GDP của toàn thế giới và giữvai trò quan trọng trong các giao dịch tài chính quốc tế Hoạt động của các công ty

Trang 22

đa quốc gia Mỹ lan rộng đến tất cả các châu lục nên cuộc khủng hoảng ở Mỹ chắcchắn sẽ tác động đến kinh tế thế giới, kể cả Châu Á

Tuy nhiên tác động này có lẽ không quá trầm trọng Hơn nữa, từ cái nhìn trung

và dài hạn về kinh tế Mỹ tương đối lạc quan nên Châu Á cũng chỉ bị ảnh hưởngtrong thời gian 1-2 năm trước mắt Mặt khác, với lượng dự trữ ngoại tệ rất lớn, nhiềunước châu Á sẽ có tiếng nói mạnh hơn trong quan hệ với Mỹ và trong các diễn đànquốc tế bàn về ổn định kinh tế thế giới

2.1.1.1 Thị trường tài chính

Trước hết, châu Á chịu ảnh hưởng lớn nhất có lẽ là thị trường chứng khoán.Chứng khoán ở Mỹ tụt dốc gây nên tâm lý bất an giữa những nhà đầu tư tại Châu Á

và thị trường chứng khoán của những nước này cũng suy sụp theo

Biểu đồ 11: Mức độ sụt giảm của một số chỉ số chứng khoán Châu Á 2008

Nguồn : Bloomberg, BVSC

Tuy nhiên tác động này chỉ mạnh trong các nền kinh tế tiên tiến, thị trườngchứng khoán đã phát triển đáng kể như Nhật, Hàn Quốc và Đài Loan Một số ngânhàng, một số các công ty chứng khoán, bảo hiểm ở các nước châu Á đang nắm giữnhững chứng khoán do Fannie Mae và Freddie Mac phát hành nên phải chịu tổn thấttrong cuộc khủng hoảng ở Mỹ AIG cũng là công ty hoạt động toàn cầu, có mặt tạicác thị trường lớn ở châu Á nên cũng gây những ảnh hưởng tương tự ở nhiều mức

độ khác nhau đến các ngân hàng hoặc công ty tài chính châu Á Nhưng ảnh hưởngnày chỉ giới hạn trong một số công ty, một số ngân hàng chứ không lớn đến nỗi ảnh

Trang 23

hưởng tới cả nền kinh tế các nước châu Á, nhất là những nước chưa phát triển ởtrình độ cao.

Theo tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ đối với các ngân hàng châu Ákhông lớn như với các ngân hàng Mỹ và châu Âu Châu Á chỉ bị ảnh hưởng tươngđối bởi các ngân hàng châu Á không có nhiều khoản nợ nguy hiểm với các tập đoàntài chính Mỹ, đồng thời thị trường tài chính châu Á chưa có mức độ toàn cầu hóanhư châu Âu, nên những khoản thế chấp tại thị trường Mỹ rất nhỏ Mặc dù vậy,vẫnkhông thể phủ nhận tác động của cuộc khủng hoảng từ Mỹ tới các nền kinh tế khác

và chúng ta không được chủ quan trước diễn biến của nó Song châu Á vẫn là khuvực tăng trưởng nhanh nhất của thế giới, đặc biệt là thương mại Lúc này, phải pháthuy thương mại nội khối, khi nhu cầu bên ngoài giảm mạnh

2.1.1.2 Bong Bóng bất động sản

Cuối tháng 4/2008, Tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Úc, Trung Quốc,New Zealand và Singapore đều đã xảy ra những vụ nổ bong bóng nhà đất tại một sốkhu vực Cả Ấn Độ cũng xảy ra tình trạng bong bóng địa ốc

Tuy nhiên, nền kinh tế châu Á ít bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ hơntrước đây do đã tái cấu trúc hệ thống tài chính sau cuộc khủng hoảng tài chính châu

Á 1997

Sau những hậu quả nặng nề của cuộc khủng hoảng 2007, ngành bất động sảnđược tái cấu trúc một cách mạnh mẽ Hiện nay, các quỹ đầu tư bất động sản đượcniêm yết chiếm tỷ lệ nhỏ hơn so với tổng quỹ đầu tư chứng khoán

Sự xuất hiện của các quỹ tín thác đầu tư bất động sản (REIT) châu Á với tài sảnchủ yếu được đầu tư tài chính bởi nợ có bảo đảm

2.1.1.3 Xuất khẩu

Do Mỹ còn chiếm vị trí khá cao nên xuất khẩu và sản xuất của những nước châu

Á bị đình trệ, đồng đôla xuống giá so với nhiều đồng tiền Châu Á, làm cho sảnphẩm xuất khẩu vào Mỹ trở nên đắt đỏ hơn

Đầu năm 2008, trên khắp Châu Á khối lượng hàng hóa xuất khẩu sang Mỹ tuy

có giảm so với các năm trước nhưng nhìn chung không bị ảnh hường nhiều,chẳnghạn Singapore và Thái Lan duy trì được mức tăng trường xuất khẩu 6%, mặc dù

Trang 24

xuất khẩu vào Mỹ của Singapore giảm 11%, Malaysia giảm 16% trong năm

2007, Nhật năm 2007 chỉ còn độ 20% Đối với Trung Quốc từ năm 2007 thị trườngxuất khẩu lớn nhất cũng đã chuyển từ Mỹ sang EU Tốc độ tăng trưởng xuất khẩucủa Trung Quốc sang thị trường Mỹ cũng sụt xuống còn có 1% trong tháng 12/2007,

so với mức 20% vào cuối năm 2006

2.1.1.4 Vị thế của Châu Á

Cuộc khủng hoảng ở Mỹ sẽ làm tăng tiếng nói và vị trí của các nước châu Átrong quan hệ với Mỹ và trong các nỗ lực quốc tế nhằm ổn định thị trường tiền tệ vàkinh tế thế giới

Với lượng dự trữ ngoại tệ rất lớn (tính tới cuối tháng 01/2009 Trung Quốc là1.950 tỉ USD đứng đầu thế giới; Nhật xếp thứ hai với 1004,66 tỉ USD (06/2008),Hàn Quốc khoảng 202 tỉ USD-tính đến cuối tháng 01/2009), các nước châu Á này

sẽ có thể dễ dàng mua nhiều trái phiếu chính phủ Mỹ, tham gia sở hữu nhiều công tytài chính của Mỹ và tích cực xuất vốn cho các dự án giúp những nước gặp khó khăn

về ngoại tệ

Hiện nay Nhật đã bắt đầu cho thấy vai trò đó Tập đoàn tài chính MitsubishiUFG của Nhật đã mua 21% cổ phiếu của Morgan Stanley, Tập đoàn Nomura đã muamột số cổ phiếu của các cơ sở hoạt động của Lehman Brothers tại châu Á, châu Âu

và Trung Đông Bộ trưởng Tài chính Nhật vừa đưa đề án yêu cầu IMF đứng ra lậpquỹ hỗ trợ các nền kinh tế gặp khó khăn và hứa sẽ đóng góp tích cực

Sự thất thế của Mỹ trên thị trường tài chính quốc tế sẽ tạo cơ hội cho TrungQuốc xác lập vị thế của mình trên thị trường tài chính toàn cầu Chẳng hạn, thu hútcác nhà quản lý cấp cao người Hoa từ trong giới tài chính, ngân hàng Mỹ Một lợithế nữa với Trung Quốc là do nước này có lượng dự trữ lớn, trong khi Mỹ đang cầntiền mặt Điều này có thể khiến Mỹ phải nhượng bộ Trung Quốc trong các vấn đềchính trị - quân sự

2.1.2 Nguy cơ tái diễn cuộc khủng hoảng tài chính châu Á lần thứ 2 có xảy

ra không ?

2.1.2.1 Nguy cơ thấp

Trang 25

Tình hình kinh tế, tài chính của châu Á đã thay đổi so với trước, đồng thời cónhiều dấu hiệu cho thấy khủng hoảng tài chính châu Á khó tái diễn, chủ yếu thể hiệntrên ba phương diện sau:

Thứ nhất, chính sách tiền tệ của các nước Đông Á đã thay đổi Hiện nay, đồngnội tệ của các nước Đông Á không còn gắn đơn nhất với đồng USD, mà hầu hết cácnước Đông Á đều đã áp dụng chính sách "rổ tiền tệ" có tính linh hoạt cao, tức là gắnkết đồng nội tệ với một "rổ" gồm nhiều đồng tiền khác nhau

Do đó, nếu chỉ có đồng USD mất giá sẽ chưa đủ tạo ra mối đe dọa lớn đối vớiđồng tiền của các nước Đông Á, vì còn có các đồng tiền khác, như euro, đang lêngiá Thực tế là gần đây mặc dù USD liên tiếp mất giá nhưng không ảnh hưởng nhiềuđến đồng tiền của các nước Đông Á

Thứ hai, ảnh hưởng của luồng vốn ngắn hạn không lớn Hầu hết các chuyên giakinh tế khu vực thừa nhận rằng cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 là doluồng vốn ngắn hạn chảy vào quá nhiều, gây biến động tài chính khu vực và khiếntình hình khủng hoảng trở nên nghiêm trọng hơn Tuy nhiên, tư bản ngắn hạn cũng

có vai trò thúc đẩy hành vi hoạt động sáp nhập và mua lại trong cộng đồng doanhnghiệp, từ đó có lợi cho sự phát triển kinh tế các nước châu Á

Thêm vào đó, tỷ giá hối đoái của các nước Đông Á đang tăng cao, không hẳn là

do sự xâm nhập của tư bản ngắn hạn, mà còn do những ảnh hưởng trực tiếp từ sựphát triển của thị trường chứng khoán quốc tế và thị trường chứng khoán Mỹ Thực

tế là các nước châu Á, nhất là khu vực Đông Á, vẫn duy trì phát triển kinh tế ổnđịnh, cho thấy ảnh hưởng của tư bản ngắn hạn đối với các nước châu Á đã khôngcòn như trước đây, càng không thể làm đảo lộn chính sách tài chính tiền tệ của cácnước trong khu vực

Thứ ba, chưa xuất hiện tình trạng luồng vốn chảy ra nước ngoài Các chuyên giakinh tế cho rằng trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á lần trước, hiện tượng vốnchảy ra bên ngoài đã có ảnh hưởng nhất định Tuy nhiên, cần phải nhận thức đượcnguyên nhân khiến tư bản chạy ra nước ngoài, ngoài môi trường đầu tư xấu ra, còn

có các nguyên nhân khác như xu thế phát triển kinh tế chậm lại

Châu Á, nhất là khu vực Đông Á, đang duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế khánhanh, môi trường phát triển kinh tế tốt Đà phát triển của một số nước thị trường

Trang 26

mới nổi như Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc và cả Việt Nam được đánh giá khácao Từ đó, các chuyên gia kinh tế dự đoán rằng trong thời gian tới châu Á, nhất làkhu vực Đông Á sẽ tiếp tục là điểm đến đầu tư lý tưởng, chứ không phải là tư bản sẽ

"chạy khỏi" châu Á Vì vậy, có thể nói rằng khả năng tái bùng phát một cuộc khủngkhoảng tài chính tại khu vực này gần như là không có

2.1.2.2 Tiềm ẩn rủi ro

Tuy vậy, sự phát triển kinh tế của châu Á vẫn đang đối mặt với 3 rủi ro lớn:Thứ nhất, sự thay đổi bất ngờ của nền kinh tế Mỹ Nếu như kinh tế Mỹ bất ngờchững lại, sẽ kéo theo nhu cầu mậu dịch đối ngoại của khu vực đồng euro và NhậtBản sụt giảm - việc đương nhiên gây ra ảnh hưởng dây chuyền đối với các nhà sảnxuất xuyên quốc gia tại châu Á Từ đó khiến cho một số khu vực với hệ thống kinh

tế theo mô hình mở cửa hoặc nhu cầu thị trường bên trong mong manh như HồngKông, vùng lãnh thổ Đài Loan, Singapo, Thái Lan và Hàn Quốc sẽ chịu sự tấn côngrất lớn

Thứ hai, luồng vốn toàn cầu chuyển hướng Hiện nay, châu Á là điểm đến củaluồng vốn toàn cầu, góp phần giữ cho kinh tế châu Á tăng trưởng ổn định Một khithị trường chứng khoán của Trung Quốc tụt dốc hoặc hoạt động giao dịch lợi tứctrọn gói của đồng yên thay đổi rất có thể sẽ khiến cho hướng luân chuyển của luồngvốn toàn cầu đảo ngược Khi tình trạng này xuất hiện, một số đồng tiền có lãi suấtcao, các nước và vùng lãnh thổ thực hiện chính sách tỷ giá ngoại hối cố định nhưInđônêxia, Ấn Độ, Hồng Kông và Philippin sẽ đứng trước rủi ro rất lớn Nếu nhưcác khu vực này kiểm soát được lạm phát, có thể thực hiện giảm lãi suất để kíchthích phát triển kinh tế và cũng có thể sử dụng lượng dự trữ ngoại hối dồi dào để bảo

vệ đồng tiền trong nước

Thứ ba, tác động của luồng vốn nóng Cùng với chính sách thu hút vốn đầu tưbên ngoài của các nước và vùng lãnh thổ tại châu Á, một lượng lớn vốn nóng tiếptục chảy vào châu Á Như vậy sẽ gây ra sức ép tăng giá đối với đồng tiền bản địa,nhất là đối với đồng tiền của các nước và khu vực thường xuyên thực hiện thặng dưlớn (xuất siêu lớn) trong mậu dịch đối ngoại Hơn thế, các Ngân Hàng Trung ƯơngChâu Á thường xuyên mất đi quyền chủ động trên phương diện lãi suất, chính vì vậynếu chính phủ các nước và khu vực này không có chính sách tài chính phù hợp,

Trang 27

trong tình trạng kinh tế quá nóng sẽ hình thành sự tăng giá giả tạo của tài sản và dẫnđến lạm phát.

Kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 bùng nổ đến nay, tìnhhình kinh tế của các thị trường mới nổi tại châu Á đã có sự cải thiện đáng kể Hiệnnay, phương pháp quản lý rủi ro của ngành tài chính và các cơ quan công cộng củacác thị trường này đã được cải thiện, thêm vào đó mức độ hội nhập mậu dịch quốc tếngày càng cao

Báo cáo kinh tế và xã hội 2007 của Ủy ban Kinh tế- Xã hội Châu Á- Thái BìnhDương của Liên Hợp Quốc đặc biệt nhấn mạnh vào 4 nước: Thái Lan, Hàn Quốc,Indonesia và Philippine, vì những nước này đang tồn tại một số rủi ro tiềm ẩn, nhưtiền chảy vào các quỹ đầu tư nhiều, dẫn đến việc tỷ giá hối đoái tăng cao, tư bản

"chảy" ra nước ngoài khiến rủi ro càng lớn, cũng như giá dầu tăng sức ép lạm phát.Báo cáo cho rằng không loại trừ khả năng 4 nước này sẽ gây ra phản ứng dâychuyền tiêu cực

Tóm lại phân tích từ nhiều góc độ, hầu hết các chuyên gia kinh tế trong khu vựckhẳng định rằng khủng hoảng tài chính Châu Á khó tái diễn trong bối cảnh hiện nay

vì thế khả năng tái diễn khủng hoảng tài chính châu Á là rất nhỏ

2.2 Tác động của cuộc khủng hoảng tín dụng thứ cấp ở Mỹ đến Việt Nam

2.2.1 Nền Kinh tế Việt Nam

Khi độ mở của nền kinh tế Việt Nam ngày càng lớn, quan hệ ngoại thương, đầu

tư nước ngoài đang đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế Vì thế, khủnghoảng kinh tế Mỹ tác động xấu đến Việt Nam là chuyện tất yếu

2.2.1.1 Ảnh hưởng bất lợi

Khủng hoảng tài chính Mỹ mà khởi đầu là sự đổ vỡ của 12 ngân hàng, trong đó

có những định chế lớn như Lehman Brothers, đã ảnh hưởng không nhỏ tới kinh tếtoàn cầu Chắc chắn sự đổ vỡ của hệ thống tài chính Mỹ sẽ ảnh hưởng tới Việt Namvới mức độ không nhỏ Cụ thể là sẽ khó khăn hơn trong thu hút đầu tư, làm sụt giảmluồng vốn vào và lượng kiều hồi, gia tăng mức thâm hụt cán cân vãng lai, làm tăngnhững biến động trên thị trường chứng khoán, gia tăng áp lực lên lạm phát (ít nhấttrong ngắn hạn) làm chậm lại tốc độ tăng xuất khẩu và đã tăng trưởng

Ngày đăng: 07/01/2014, 10:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Chỉ số kinh tế Mỹ từ cuối 2007 đến đầu năm 2008 - Khủng hoảng tín dụng thứ cấp ở mỹ và bài học về sự quản trị rủi ro cho hệ thống ngân hàng việt nam
Bảng 1 Chỉ số kinh tế Mỹ từ cuối 2007 đến đầu năm 2008 (Trang 10)
Bảng 2: Danh sách các tổ chức tài chính bị phá sản hoặc phải sáp nhập trong cuộc khủng hoảng Mỹ 2008 - Khủng hoảng tín dụng thứ cấp ở mỹ và bài học về sự quản trị rủi ro cho hệ thống ngân hàng việt nam
Bảng 2 Danh sách các tổ chức tài chính bị phá sản hoặc phải sáp nhập trong cuộc khủng hoảng Mỹ 2008 (Trang 13)
Bảng 3: Các chỉ số của Việt Nam 2007- 2009F - Khủng hoảng tín dụng thứ cấp ở mỹ và bài học về sự quản trị rủi ro cho hệ thống ngân hàng việt nam
Bảng 3 Các chỉ số của Việt Nam 2007- 2009F (Trang 28)
Bảng 4: Tăng trưởng GDP tại các thị trường xuất khẩu lớn của việt nam, giai - Khủng hoảng tín dụng thứ cấp ở mỹ và bài học về sự quản trị rủi ro cho hệ thống ngân hàng việt nam
Bảng 4 Tăng trưởng GDP tại các thị trường xuất khẩu lớn của việt nam, giai (Trang 30)
Bảng 5: Một số chỉ tiêu tài chính của các NHTM Việt Nam 2008 - Khủng hoảng tín dụng thứ cấp ở mỹ và bài học về sự quản trị rủi ro cho hệ thống ngân hàng việt nam
Bảng 5 Một số chỉ tiêu tài chính của các NHTM Việt Nam 2008 (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w