1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đề tài phân tích sự phát triển tư tưởng phật giáo trong nền văn hóa việt nam

30 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Sự Phát Triển Tư Tưởng Phật Giáo Trong Nền Văn Hóa Việt Nam
Tác giả Nhóm 5
Người hướng dẫn Cô Giáo, Giảng Viên Lê Loan
Trường học Khoa Tài chính- Ngân hàng
Thể loại bài thảo luận
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 243,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phật giáo du nhập và phát triển ở nước ta đã hơn 18 thế kỷ, một chiều dài lịch sử khá đủ để Phật giáo dù truyền từ Ấn Độ vào hay từ Trung Hoa sang cũng được bản địa hóa,dân gian hóa tạo

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Nhóm 5- Lớp 2111MLNP0221 – Khoa Tài chính- Ngân hàng xin chân thành cảm

ơn Cô giáo, Giảng viên Lê Loan đã nhiệt tình giúp đỡ chúng em trong quá trình học tậpcũng như thực hiện bài thảo luận của nhóm chúng em

Do nhóm chúng em còn thiếu sót về kiến thức và thời gian thực hiện nghiên cứu cònhạn hẹp cho nên bài báo cáo vẫn còn nhiều thiếu sót Nhóm chúng em rất mong nhậnđược ý kiến đóng góp từ cô và tất cả các bạn

Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn!

LỜI CAM ĐOAN

Trang 2

Trong thực hiện bài thảo luận, chúng em có tham khảo bài giảng của cô, giáo trìnhcũng như các tài liệu có liên quan đến đề tài thảo luận Tuy nhiên, nhóm xin cam đoan bàibáo cáo không trùng lặp với bất kì tài liệu nghiên cứu cũng như bài báo cáo nào trước đónhóm được biết.

LỜI MỞ ĐẦU

Trang 3

Phật giáo du nhập và phát triển ở nước ta đã hơn 18 thế kỷ, một chiều dài lịch sử khá

đủ để Phật giáo dù truyền từ Ấn Độ vào hay từ Trung Hoa sang cũng được bản địa hóa,dân gian hóa tạo nên bản sắc riêng của Phật giáo Việt Nam Phật giáo đã thấm nhuầntrong nếp sống, nếp nghĩ, tư duy và tình cảm của người dân Việt từ nhiều thế hệ và mọi

Có thể nói rằng, Phật giáo là một tổ hợp văn hóa góp phần không nhỏ để tạo nên nhữngnét đặc sắc trong nền văn hóa đa diện của Việt Nam Vì vậy, đề tài “Phân tích sự pháttriển tư tưởng Phật giáo trong nền văn hóa Việt Nam” là một đề tài rất hay, bổ ích và cầnthiết mà chúng ta cần tìm hiểu

Qua đó, chúng em mong muốn có thể đưa ra được cái nhìn toàn diện hơn về tầm quantrọng cũng như những ảnh hưởng của Phật giáo với nền Văn hóa Việt Nam

I Cơ sở lí luận:

Trang 4

Theo quan điểm duy vật biện chứng, sự chuyển hoá từ những thay đổi về lượng dẫnđến những thay đổi về chất; sự đấu tranh thường xuyên của các mặt đối lập làm cho mâuthuẫn được giải quyết, từ đó dẫn đến sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời thay thế.

Sự thay thế diễn ra liên tục tạo nên sự vận động, phát triển không nừng của sự vật

Sự vật mới ra đời là kết quả của sự phủ định sự vật cũ Điều đó có nghĩa là sự phủ địnhtiền đề, điều kiện cho sự phát triển liên tục, cho sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ Đó

là phủ định biện chứng

VD: + Quá trình “hạt giống nảy mầm” Trong trường hợp này: cái mầm ra đời từ cáihạt; sự ra đời của nó là phủ định biện chứng đối với cái hạt, nhờ đó giống loài này tiếp tụcquá trình sinh tồn và phát triển

+ Trong ngành sản xuất, Iphone11 là sự phủ định đối với IphoneX

2 Đặc điểm của phủ định biện chứng.

2.1 Tính khách quan

Nguyên nhân của sự phủ định nằm trong bản thân của sự vật và cũng chính là

để giải quyết những mâu thuẫn bên trong sự vật đó Mỗi sự vật sẽ có những phương thứcphủ định riêng tuỳ thuộc vào việc giải quyết mâu thuẫn của bản thân chúng Điều này có

Trang 5

nghĩa là phủ định biện chứng không phụ thuộc vào ý muốn cũng như là ý chí của mỗi conngười Con người chỉ có thể tác động vào đó nhằm mục đích để làm cho quá trình phủđịnh ấy có thể diễn ra một cách nhanh hay chậm dựa trên cơ sở nắm được các quy luật về

sự phát triển của sự vật

Ví dụ : Quá trình vận động của tư bản từ hình thái tư bản tiền tệ sang hình thái

tư bản hàng hoá (tư liệu sản xuất và sức lao động).

Phân tích ví dụ: Đây là một sự phủ định trong quá trình vận động, phát triển của tư

bản Quá trình này có sự thay đổi hình thái tồn tại của tư bản nhưng nội dung giá trị của tưbản được bảo tồn dưới hình thái mới - hình thái có khả năng khi tiêu dùng trong sản xuấtthì chẳng những có khả năng tái tạo giá trị cũ mà còn có khả năng làm tăng giá trị mới của

tư bản

2.2 Tính phổ biến

Phủ định biện chứng diễn ra ở mọi sự vật, hiện tượng, trong mọi lĩnh vực tự nhiên,

xã hội và tư duy

Ví dụ :

- Trong tự nhiên: Hạt giống nảy mầm cây

Mầm cây là phủ định của hạt giống

- Trong xã hội: Khi giai cấp phong kiến nắm quyền, trong nội tai của xã hội phongkiến đã có sự tích lũy tư bản của các địa chủ, thương gia Đó chính là sự tích lũy

về lượng Một khi lượng đã được tích lũy đủ thì giai cấp tư sản sẽ thực hiện bướcnhảy đó chinh là cuộc cách mạng tư sản để lật đổ chế độ phong kiến Khi đã đủlượng thì thực hiện bước nhảy để dẫn đến sự thay đổi về chất Và khi chínhquyền Tư sản đã thành lập nó đã phủ định chính quyền phong kiến Vậy chế độTBCN chính là cái phủ định của chế độ phong kiến

- Trong tư duy: Trong quá trình học tập, kiến thức của lớp 2 sẽ là phủ định chokiến thức của lớp 1

2.3 Tính kế thừa

Kế thừa là việc cái mới ra đời giữ lại trong đó những yếu tố tích cực tiến bộ từ cái cũcải tạo đi cho phù hợp Phủ định biện chứng là kết quả của sự phát triển tự thân trên cơ sởgiải quyết những mâu thuẫn vốn có của các sự vật và hiện tương, cho nên cái mới ra đờikhông thể là một sự phủ định tuyệt đối, phủ đinh sạch trơn, đoạn tuyệt siêu hình đối vớicái cũ, mà là một sự phủ định có kế thừa Để dẫn tới sự ra đời của cái mới, quá trình phủ

Trang 6

định biện chứng bao hàm trong đó nhân tố giữ lại những nội dung tích cực của cái phủđịnh Phủ định biện chứng, do vậy là sự phủ định mang tính kế thừa Với ý nghĩa như nậy,phủ định đồng thời là khẳng định, diễn đạt tư tưởng đó, Lenin viết: “Không phải sự phủđịnh sạch trơn, không phải sự phủ định không suy nghĩ, không phải sự định hoài nghi,cũng không phải sự nghi ngờ là cái đặc trưng và bản chất trong phép biện chứng… mà lại

sự phủ định coi như là vòng khâu liên hệ, vòng khâu của sự phát triển, với sự duy trì cáikhẳng định”

Giá trị của sự kế thừa biện chứng được quy định bởi vai trò của nó trong sự ra đờicủa cái mất Không có cái mới nào lại ra đời từ hư vô, nhờ việc giữ lại nhân tố tích cựccủa cái phủ định mà cái mới có tiền đề cho sự xuất hiện của mình

Phủ định biện chứng là kết quả của sự phát triển tự thân của sự vật, nên nó khôngthể là sự thủ tiêu, sự phá huỷ hoàn toàn cái cũ Cái mới chỉ có thể ra đời trên nền tảng cái

cũ Cái mới ra đời không xóa bỏ hoàn toàn cái cũ mà có chọn lọc, giữ lại và cải tạo nhữngmặt còn thích hợp, những mặt tích cực, nó chỉ gạt bỏ ở cái cũ những mặt tiêu cực, lỗi thời,lạc hậu, gây cản trở cho sự phát triển Do vậy, phủ định biện chứng đồng thời cũng làkhẳng định

2.3.1 Trong tự nhiên

Phủ định biện chứng của các giống loài: trong sinh vật, các giống loài phát triển theoquy luật di truyền, thế hệ con cái sẽ kế thừa những yếu tố tích cực của thế hệ bố mẹ

- Cái cũ: các giống loài cũ

- Mặt tốt: tạo ra giống loài mới tốt hơn giống cũ, chất lượng của thế hệ sau đó tốthơn thế hệ bố mẹ do bản thân nó kế thừa những yếu tố tích cực của bố mẹ

Lựa chọn và cải tạo phát triển cái mới: chúng ta lựa chọn những giống loài mới đềchúng phát triển Nghiên cứu những phương pháp lai tạo những mới để tìm được nhiềugiống mới tốt hơn và tìm những cách tìm cách tái tạo giống cũ tốt nhưng có nguy cơ bịtuyệt chủng

2.3.2 Trong xã hội

Phủ định biện chứng của các hình thái kinh tế- xã hội: quá trình vận động, phát triểncủa xã hội loài người: xã hội chiếm hữu nô lệ ra đời là sự phủ định đối với xã hội nguyên

Trang 7

thuỷ, đến lượt nó lại bị xã hội phong kiến phủ định, sau đó là bị xã hội chủ nghĩa tư sảnphủ định, cuối cùng nó lại bị cộng sản chủ nghĩa phủ định Qua đó ta có thể thấy được xãhội không những phát triển nó kế thừa những mặt tích cực của xã hội trước đó để hoànthiện hơn, làm cho xã hội trở nên văn minh tiến bộ hơn.

- Cái cũ: xã hội cũ: xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội nguyên thủy, xã hội tư sản chủnghĩa

- Mặt tốt: làm tiền đề để xã hội mới phát triển hơn, loại bỏ những mặt tiêu cực của

xã hội cũ, để không mắc lại những sai lầm cũ từ đó giúp cho giúp cho xã hội mớiphát triển

Lựa chọn và cải tạo để phát triển cái mới: luôn không ngừng đổi mới xã hội

2.3.3 Trong tư duy

Phủ định biện chứng của các học thuyết kinh tế: sự ra đời của chủ nghĩa Mac là sự

kế thừa những tiền đề lý tuận đã có từ trước từ triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị học

cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp Và để xây dựng lên chủ nghĩa Macvới ba bộ phận cấu thành triết học Mac, kinh tế chính trị Mac, chủ nghĩa xã hội khôngtưởng Mac thì Mac và Angen đã kế thừa những hạt nhân hạt lý, các tiền đề lý luận đã có

Lựa chọn và cải tạo để phát triển cái mới: nghiên cứu và phát triển những lý luậntriết học giúp cho con người thay đổi tư duy về cách nhìn nhận qua đó nghiên cứu cácnghiên cứu những học thuyết mới

Trang 8

II Vận dụng:

1 Phân tích sự phát triển của tư tưởng Phật giáo trong nền văn hóa Việt Nam.

1.1 Những giá trị tư tưởng của Phật giáo phù hợp với nền văn hóa của Việt Nam.

Hơn 2500 năm trước, với những triết lý nhân sinh chứa đựng tinh thần khoan dungcủa người sáng lập là Ðức Phật (Sakya Muni - Thích Ca Mâu Ni), đạo Phật đã từ Ấn Ðộnhanh chóng lan truyền đến nhiều nước châu Á, tới các châu lục khác, dần dần trở thànhmột trong các tôn giáo có ảnh hưởng lớn trên thế giới Với Việt Nam, ngay từ đầu thiênniên kỷ I, người Việt Nam ở Giao Châu đã tiếp xúc với Phật giáo, theo hai con đường,hoặc từ Ấn Ðộ sang, hoặc từ Trung Quốc xuống

Trong các thế kỷ tiếp theo, Phật giáo phát triển rất mạnh mẽ, có uy tín cao trong đờisống tinh thần của xã hội, có thời kỳ đã trở thành Quốc đạo Không ngẫu nhiên, sau ngàyVua Ðinh Tiên Hoàng định đô ở Hoa Lư, Khuông Việt Ðại sư (Ngô Chân Lưu) từng giữvai trò là cố vấn của nhà Vua

Ở thời lập nước, nhiều thiền sư Việt Nam đã có công sức góp phần chấn hưng vănhóa dân tộc, mở mang dân trí, giúp nhà nước quân chủ mới ra đời tạo lập sự ổn định đấtnước sau hàng nghìn năm chịu ách đô hộ của nước ngoài

Qua gần 2000 năm, đạo Phật từng bước hóa thân, hòa nhập vào đời sống tinh thầncủa người Việt Nam, trở thành nguồn gốc của một số giá trị văn hóa, thông qua việc cảibiến nội dung giáo lý, niềm tin tín ngưỡng, hình thức tổ chức

Không phải bỗng nhiên Đạo Phật lại có sức ảnh hưởng lớn đối với nền văn hóa ViệtNam như vậy mà bởi tư tưởng của 2 nền tín ngưỡng có nét tương đồng, phù hợp

Giá trị của Phật giáo phù hợp với văn hoá Việt Nam:

- Nếu như đặc điểm của văn hóa Việt Nam thờ thần (thế lực siêu nhiên) mà nhân dân cầu để nhờ sự “phù hộ độ trì” thì trong Phật giáo cũng có thờ Phật hay Quan âm hay nhiều vị Phật mang những ý nghĩa khác nhau Có một điểm cần nhấn mạnh là ngay tại

cơ sở xã hội Việt Nam của ta là làng xã thì ở làng xã nào cũng có một ngôi đình, có đền miếu và có thể có một hay vài ngôi chùa Ngôi đình thì dựa vào trật tự tổ chức xã

Trang 9

hội tôn ti trên dưới của Khổng giáo, còn miếu mạo thì thờ những vị anh hùng dân tộc, các thần thánh của tín ngưỡng dân gian Còn ngôi chùa là thờ Phật.

- Nêu cao tính tập thể, cộng đồng

Tư tưởng Phật giáo phù hợp với tư tưởng Việt Nam, nằm trong khung của tất cả các nền văn hóa nặng về tính cộng đồng hơn là tính cá thể Theo những nhà nhân học có uy tín thì có thể chia các nền văn hóa thế giới thành hai loại: văn hóa nặng về ý thức cộng đồng (những nền văn hóa có bối cảnh tiếp xúc cao: high contact communication culture)

và Văn hóa có bối cảnh giao tiếp thấp

Tư tưởng Phật giáo hợp với ta vì nằm trong khung cảnh văn hóa nặng về cộng đồng Sở dĩnhư thế ngay khi hình thành dân tộc vì cộng đồng người Việt rất gắn với nhau chặt chẽ đểchống ngoại xâm phương Bắc và chống thiên tai lụt lội bằng cách đắp đê, sau đó ý thức cộng đồng lại được củng cố và phát triển mạnh hơn bởi sự du nhập của Khổng học Khi đưa Phật giáo vào đầu Công nguyên thì cũng nằm trong ý thức cộng đồng

Dĩ nhiên, đối với tư duy Phật giáo, không thể quan niệm ý thức cộng đồng như Khổng giáo hay truyền thống của ta, nhưng có một điều chắc chắn là đạo Phật đi ngược lại Ấn

Độ giáo, vì Ấn Độ giáo quan niệm có một atman - linh hồn bất tử, sau sẽ nhập vào linh hồn vũ trụ, Brahman Nhưng Phật giáo cho là mọi thứ đều vô thường, nên không có linh hồn cá thể bất tử Và tất cả con người cũng như sinh vật chẳng qua do thập nhị nhân duyên kết thành, nên có sinh và có diệt, và cuộc đời chẳng qua là những ảo ảnh, và nhữnggiá trị của con người tạo ra chỉ đều là thoáng qua

Về điểm này của Phật giáo có thể liên tưởng đến chủ nghĩa hiện sinh hiện tại Đó là một điều khá lý thú mà cũng ít người nghĩ đến Phật giáo hợp với chúng ta nó vì cùng trong khuôn của những nền văn hóa đề cao cộng đồng

- Sự hòa nhập của tinh thần từ bi, hỷ xả với tinh thần yêu nước Việt Nam

Đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam là hệ thống giá trị truyền thống yêu nước,cần cù, thương người, vì nghĩa, anh hùng, sáng tạo và lạc quan, trong đó chủ nghĩa yêunước là giá trị đạo đức tinh thần đứng đầu bảng trong giá trị truyền thống Việt Nam,truyền thống đó được hình thành trong quá trình hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước.Trong bối cảnh lịch sử ấy và những giá trị đặc trưng truyền thống ấy, Phật giáo muốn tồntại và phát triển được ở Việt Nam tất nhiên phải có sự thích ứng hòa hợp Phật giáo với

Trang 10

những giá trị xây dựng từ tinh thần đại từ, đại bi, cứu khổ, cứu nạn đã hòa quyện với tưtưởng yêu nước, nhân nghĩa Việt Nam Sự hòa nhập của Phật giáo được thể hiện trongsuốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Đã có rất nhiều vị cao tăng làquốc sư, giúp vua trị nước, an dân thời phong kiến Thời kỳ đầu của chế độ phong kiến,chùa chiền cũng là nơi đào tạo giới trí thức, dạy dân cách tổ chức đời sống.

- Phù hợp về đạo đức trong sự công bằng, bình đẳng

Tư tưởng bình đẳng, công bằng của Phật giáo khi du nhập và phát triển ở Việt Nam đãhòa nhập với tư tưởng, công bằng, bình đẳng của người Việt Nam Cơ sở của sự ảnhhưởng hòa nhập này dường như bắt nguồn từ tư tưởng bình quân nguyên thủy của nềnvăn minh làng xã Phật giáo chủ trương thiết lập quan hệ công bằng, bình đẳng giữa mọingười và cho rằng mọi người đều bình đẳng như nhau, trong mỗi người đều có phật tính;trong quan hệ với người khác, mỗi cá nhân không được cầu lợi cho mình… có ảnh hưởngrất lớn đối với quan niệm sống của người Việt, điển hình như: “Một người vì mọi người,mọi người vì một người”

- Phù hợp về đạo đức ở tính trung thực

Trong giáo lý của nhà Phật, tính trung thực thuộc vào giới “không nói dối” của ngũ giới

Thập thiện bao gồm: thực ở cả “thân, khẩu, ý” Trung thực ở ý là trung tâm điều chỉnh

hành vi theo luật nhân quả, nhân nào quả ấy Theo đó, sự dối trá sẽ bị nghiệp báo Thuyếtnhân quả, nghiệp báo của Phật giáo gặp gỡ với tín ngưỡng của người Việt Nam đã lan tỏathành nếp sống, nếp nghĩ “ở hiền gặp lành”, “ác giả ác báo” … trong nhân dân

- Trong tính thiện, tình nghĩa và tình thương

Tính thiện, tình nghĩa và tình thương mang bản sắc Việt Nam được con người Việt Namhun đúc trong quá trình dựng nước và giữ nước Cái thiện của con người Việt Nam mangtinh thần bình đẳng, vị tha, tôn trọng, yêu thương con người Phật giáo đã hòa đồng với tưtưởng truyền thống Việt Nam để xây dựng tính thiện, tình nghĩa và tình thương Đó là,tình “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách” … Tình thương, tìnhnghĩa, tính thiện không chỉ thể hiện trong quan hệ với hiện tại mà còn được thể hiện trongquan hệ với quá khứ như: uống nước nhớ nguồn hoặc ăn quả nhớ kẻ trồng cây…

- Trong tấm lòng bao dung rộng lớn

Trang 11

Phật giáo đề cao việc xây dựng tấm lòng bao dung rộng lớn, vô ngã, vị tha Tinh thần baodung rộng lớn được thể hiện trước lỗi lầm của con người Trong cách ứng xử của ngườiViệt thể hiện rất rõ như: “biển cả mênh mông, quay đầu là bờ”, “đánh kẻ chạy đi không aiđánh người chạy lại” … Tinh thần bao dung còn được thể hiện trong cách ứng xử với kẻthù khi chúng bại trận, trong chính sách nhân đạo đối với tù binh, hàng binh

- Trong tinh thần tự lực, tự chủ của mỗi người

Phật giáo khẳng định mỗi cá nhân là chủ nhân của chính mình, không phải làm nô lệ củangười khác kể cả nô lệ cho đức Phật, hãy “tự đốt đuốc mà đi” Tư tưởng này của Phậtgiáo khiến con người được giải phóng khỏi sự trói buộc của thần quyền, nhờ đó mà được

tự do Chính con người phải tự quyết định số phận và tiền đồ của chính mình Quan điểm

tự lực, tự chủ của Phật giáo đã góp phần xác định thêm cho tinh thần tự lực, tự chủ củamỗi người Việt Nam

1.2 Vận dụng quy luật phủ định biện chứng phân tích những ảnh hưởng của Phật

giáo đến nền Văn hóa Việt Nam.

Tư tưởng, văn hóa Việt Nam có sự thống nhất, hòa quyện giữa bản sắc dân tộc vớiNho giáo, Phật giáo và Đạo giáo, các tôn giáo trợ giúp lẫn nhau: Nho giáo lo tổ chức xãhội, Đạo giáo lo thể xác con người, Phật giáo lo tâm linh, kiếp sau của con người Trongnhiều thế kỷ, hình ảnh "Tam giáo tổ sư" với Thích Ca Mâu Ni ở giữa, Lão Tử ở bêntrái, Khổng Tử ở bên phải đã in sâu vào tâm thức mọi người Việt tạo nên một nền văn hóaphong phú, đa dạng và đậm đà bản sắc dân tộc

Phật giáo ở Việt Nam là sản phẩm của giao lưu tiếp biến trong văn hóa Việt - Ấnnên ngay từ điểm khởi đầu ấy nó đã đặt ra mối quan hệ tương tác biện chứng giữa văn hóa

và tôn giáo Quá trình truyền giáo và phát triển của đạo Phật khi du nhập vào Việt Nammột mặt chịu sự tác động và chi phối của đặc trưng văn hóa, mặt khác nó tác động vàochính văn hóa Việt Nam Không phải bỗng nhiên Đạo Phật lại có sức ảnh hưởng lớn đốivới nền văn hóa Việt Nam như vậy mà bởi tư tưởng của 2 nền tín ngưỡng có nét tươngđồng

Phật giáo sẽ bổ sung cho văn hóa, thúc đẩy văn hóa phát triển, làm xuất hiện mộtnền văn hóa Phật giáo mang bản sắc của Việt Nam, khác với Phật giáo ở Trung Quốc hay

Ấn Độ cổ đại Những thăng trầm của lịch sử dân tộc và lịch sử văn hóa gắn liền với

Trang 12

những thăng trầm của lịch sử Phật giáo Việt Nam Phật giáo gắn bó mật thiết với lịch sửdân tộc, chung vai gánh vác sứ mệnh giải phóng dân tộc, đấu tranh cho hòa bình và hạnhphúc của muôn dân Dân tộc và Phật giáo trong văn hóa Việt Nam đã gắn kết thành mộtthể thống nhất, cùng hướng tới một mục tiêu là xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng,văn minh, nước mạnh, dân giàu Lợi ích tôn giáo và lợi ích của dân tộc gắn kết chặt chẽcho thấy những đóng góp rất quan trọng của Phật giáo đối với sự phát triển của văn hóaViệt Nam.

Sự hội nhập của Phật giáo trong nền văn hóa dân tộc, đặc biệt là văn hóa dân gian –một mảng văn hóa bình dị, dân dã, mộc mạc và quần chúng của người Việt một cách rấttự

nhiên thể hiện đặc trưng cơ bản nhất của Phật giáo Việt Nam Nhà nghiên cứu NguyễnDuy

Hinh cho rằng: “Đặc trưng cơ bản của Phật giáo Việt Nam là tính dân gian là tính trội.Phật

giáo được tiếp nhận như một tôn giáo…Phật giáo Việt Nam tôn giáo hơn hệ tư tưởng, chonên thiên về bố thí cứu độ hơn là tìm giải thoát sinh tử…Vì là tôn giáo dân gian, nên thâmnhập vào tâm hồn nhân dân sâu sắc khiến cho tựa hồ ai ai cũng là tín đồ Phật giáo”

Có thể nói rằng, Phật giáo là một tổ hợp văn hóa góp phần tạo nên một điểm nhấn trongnền văn hóa đa diện của Việt Nam Chính điều này đã khẳng định được sức mạnh trườngtồn của một nền văn hóa rất Việt Nam, một nền văn hóa đa dạng, tiên tiến và đậm đà bảnsắc dân tộc luôn đồng hành cùng thế kỷ và trường tồn mãi với thời gian

Phật giáo không phải chỉ là tôn giáo thuần túy, Phật giáo là đạo đức, là trí tuệ Đókhông chỉ tạo ra tư tưởng khoan hòa nhân ái trong chính sách an dân trị quốc của cácvương triều Lý, Trần thời văn hóa Đại Việt, nó còn góp phần rất quan trọng trong việcđịnh hình lối sống, phong tục, chuẩn mực giá trị văn hóa Việt Nam Vượt qua chốn thờ tựtôn kính linh thiêng, Phật giáo đã tham dự vào cấu trúc văn hóa Việt với tư cách là thành

tố văn hóa tinh thần, nhưng lại để lại dấu ấn sâu sắc cả trong văn hóa sinh hoạt Những lờiĐức Phật dạy cách đây hơn 25 thế kỷ nhưng đến nay vẫn còn nguyên giá trị, mãi là

“khuôn vàng, thước ngọc” để giúp con người hình thành nhân cách, đạo đức và vì thế đãhòa nhập với văn hóa Việt Nam, ngày càng sâu rễ, bền gốc trong lòng dân tộc Việt Nam

Trang 13

Các triều vua Lý - Trần thấy được giá trị nhân bản của văn hóa Phật giáo nên đã tự tu vàdạy cho dân chúng tu, hình thành cốt cách văn hóa Đại Việt.

Một điều thể hiện đặc điểm phổ quát mà nhiều người đã nhắc đến là Phật giáo vốn

dễ hòa hợp với tín ngưỡng dân gian ở những nơi nó được truyền bá đến, ở miền bắc ViệtNam đặc điểm đó càng nổi bật Nếu đặc điểm của văn hóa Việt Nam thờ thần (thế lực siêunhiên) mà nhân dân cầu để nhờ sự “phù hộ độ trì” thì trong Phật giáo cũng có thờ Phật.Phật giáo thờ Phật trong chùa, tín ngưỡng truyền thống Việt Nam làthờ thần trong miếu và thờ Mẫu trong phủ, bốn vị thần được thờ nhiều nhất là Tứ pháp:Mây- Mưa- Sấm- Chớp Tuy nhiên bốn vị thần này đã được "Phật giáo hóa" Các photượng này thường được gọi tượng Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điện, trên thực

tế các tượng này hoàn toàn điêu khắc theo tiêu chuẩn của một pho tượng Phật Các hệthống thờ phụ này tổng hợp với nhau tạo nên các ngôi chùa "tiền Phật, hậu Thần" hay

"tiền Phật, hậu Mẫu" Người Việt Nam đưa các vị Thần, Thánh, Mẫu, thành hoàng thổđịa, anh hùng dân tộc vào thờ trong chùa Với sự giao thoa của hai nền tín ngưỡng (tínngưỡng Phật và tín ngưỡng đương thời của người Việt), thì Phật đã trở thành hình ảnh Bụt(xuất hiện nhiều trong các câu chuyện cổ tích Việt Nam) Bụt không phải là thuần túy mà

là phiên âm theo thuật ngữ Bondha Bụt có những nét giống và khác Phật Bụt giống Phật

ở long từ bi, bác ái, vị tha đối với những con người hiền lành, phải chịu áp bức, bóc lột.Nhưng Bụt khác Phật ở chỗ bất kì người nghèo nào gặp nạn, gặp áp bức bất công mà cầntới Bụt thì Bụt lập tức xuất hiện ngay Có thể thấy trong tín ngưỡng của văn hóa dân gianViệt Nam,

Ngày nay, chúng ta có thể chỉ ra được nhiều khuyết điểm của Nho giáo, Phật giáo, Lãogiáo ở góc độ chính trị hay tư tưởng triết học Dân gian xưa không có điều kiện hay trình

độ để làm việc ấy, song khi họ chấp nhận, chối bỏ hoặc biến hóa những giáo lý để thíchnghi với trình độ tư duy, với các sinh hoạt của họ tức là họ đã lộ cái ý đồng hay khôngđồng Phật giáo đến Việt Nam dù là Phật giáo nguyên thuỷ hay đa dạng sau này bởi tiểuthừa hay đạo thừa thì vẫn nhất phải nhập với tín ngưỡng bản địa Để biến man nươngthành Phật mẫu, ỷ lan thành Quan Âm mà không cần phải tạo ra xung quanh nhân vật ấynhững gì huyền bí thần kỳ cho lắm

Trang 14

Phật giáo còn là một sự kiện văn hoá, phật giáo từ Ấn Độ được truyền vào Việt Namvốn không phải một sự kiện đơn độc mà kéo theo nó là cái ảnh hưởng của tổng thể vănhoá ấn độ đối với Việt Nam cổ Mặc dù chúng ta còn ít nghiên cứu và hiểu biết về vănhoá Việt- Ấn nhưng chắc chắn ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ lên Việt Nam diễn ra trênnhiều lĩnh vực: Nông nghiệp, y dược, âm nhạc, vũ đạo, ngôn ngữ Điều quan trọng là vănhoá Việt Nam cổ tiếp thu một liều lượng quan trọng văn hoá Ấn Độ qua ngả đường Phậtgiáo, vào suốt thời Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, khi ảnh hưởng văn minh Trung Hoatràn lan đất nước Việt Nam và mang khuynh hướng đồng hoà rõ rệt Về khách quan, ảnhhưởng của văn hoá Ấn Độ là một đối trọng của văn hoá Trung Hoa trên đất Việt Nó cótác dụng trung hoà ảnh hưởng quá mạnh mẽ của văn hoá Trung Hoa Nó góp sức cùngnền văn hoá Việt Nam cổ ngăn chặn sự đồng hoá của văn minh Trung Hoa, nó hội nhập

và làm giàu làm nên cái khác của văn hoá Việt với văn hoá Trung Hoa

- Ví dụ: Như ở Thăng Long thời Lý: Hoàng thành Long Phượng mở bốn cửa nếucửa phía Bắc thờ thành Trấn vũ – Trấn võ là một vị thần linh Trung Hoa được nhập nộivào đất Việt, thì cửa Tây Long Thành được mang tên “Quảng Phúc Môn “mở ra phía tây

để mong phúc lớn rộng “phúc đẳng hà sa” của Đức Phật ở Tây Thiên (hướng này mở ratrước chùa Một Cột)

Cũng vậy, Đạo Phật từ Ấn Độ được truyền bá vào đất Việt ở buổi đầu thời kỳ Bắc thuộc

về khách quan mà nói là một đối tượng của Nho giáo Đạo Nho cũng bắt đầu phát huy ảnhhưởng ở đất Việt từ buổi đầu công nguyên với việc mở trường nhằm “giáo lễ nghĩa TrungHoa” cho người Việt Ta không thể phủ nhận các mặt tích cực của Nho giáo, góp phầnlàm tăng tri thức người dân, nhấn mạnh vào Nhân, Nghĩa, Ái Nhưng dù sao đi nữa Nhogiáo vẫn là một công cụ của tầng lớp thống trị Trung Hoa đồng hóa dân chúng Việt Namthời bấy giờ Sao chăng nữa, dù có đề cao Nhân, Trí, Dũng là những giá trị con ngườimuôn thưở thì Nho giáo vẫn đặt cược cơ bản vào Lễ, mà Lễ là gì nếu không phải thựcchất là trật tự “Tiên học lễ hậu học văn”, nghĩa là trước hết và trên hết phải học tập để tôntrọng và duy trì trật tự đẳng cấp, trật tự trên dưới: Vua - tôi, cha - con, chồng - vợ (tamcương) Nếu hoàn toàn chấp nhận Nho giáo trong thời Bắc thuộc thì nói chung chẳng còn

gì là chống Bắc thuộc cả Song người Việt cổ, tổ tiên chúng ta vốn có một nội lực tự sinh

Trang 15

cường, bất khuất, thích lối sống riêng tự do thuần phác từ thời Bắc thuộc, một lối sốngkhông quá ngăn cách giữa vua và dân, một lối sống khá bình đẳng giữa cha và con, bìnhđẳng giữa vợ và chồng Bởi vậy người Việt cổ khó lòng chấp nhận nổi trật tự “Cươngthường” của Nho gia Nhưng người Việt bình dân cũng khó lòng “cãi lý” nổi với nhữngNho sĩ, Nho gia “bụng đầy chữ nghĩa” Họ chỉ còn biết dựa vào các sư sãi vừa có chữnghĩa vừa bảo vệ họ Sao chăng nữa, đạo Phật đã chủ trương bình đẳng, Phật là Đức Phật

đã thành, chúng sinh là Đức Phật sẽ thành, chúng sinh đều có Phật tính, đều bình đẳngtrước Phật Nếu như Nho giáo Việt Nam dựng ra cái Đình ở làng quê với một “tiểu triềuđình” “trọng nam khinh nữ” thì dân quê Việt Nam dựng và bảo vệ chùa, chùa làng củadân gian và trước hết là giới đàn bà được loại khỏi sinh hoạt ở Đình có thể sinh hoạt thậmchí trở thành lực lượng quan trọng trong sinh hoạt chùa làng Phật giáo khi du nhập TrungQuốc đã bị phản ứng mãnh liệt của tâm lý dân tộc, truyền thống văn hoá, đặc biệt là ýthức hệ Nho giáo Trong khi đó Phật giáo vào Việt Nam tương đối thuận lợi, phát triểnnhanh chóng, hầu như không bị phản ứng sâu sắc trừ một số ít Nho sỹ thời Trần, Hồ Xãhội Việt Nam khi tiếp nhận Phật giáo từ Ấn Độ hay Trung Quốc sang chưa có sự phânchia gay gắt và đối kháng kịch liệt, mối quan hệ của tông tộc gia đình chưa chịu ảnhhưởng của lý thuyết “Tam cương” nặng nề Điều này khiến Phật giáo khi thâm nhậpkhông bị phản đối Song lý do chính có lẽ là do Phật gia khi vào đây chưa gây một đảolộn, một biến cách, không phủ nhận những giá trị tinh thần, phong tục tập quán của từngngười, từng gia đình, của xã hội Vì vậy người Việt bình dân đã khá dễ dàng hấp thụ cáitriết lý nhân sinh quan của Đạo Phật, không biết có quá không nhưng một nhà Phật họccủa Việt Nam đã nói có phần đúng rằng ở thời Bắc thuộc Đạo Phật đã thấm vào lòngngười dân Việt như nước thấm vào lòng đất

Dòng Phật giáo có ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài trong xã hội Việt Nam là Thiền Tông.Thiền Tông có một số đặc điểm mà dân gian dễ chấp nhận:

+ Phật giáo Thiền Tông ít bàn về lý luận mà chuyển sang tông phong phong cách tu hành.Thiền Tông chủ trương “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền trực chỉ nhân tâm, kiến tính

Ngày đăng: 15/10/2021, 19:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w