NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐỀ TÀITÌM HIỂU MỘT SỐ MÔ HÌNH GIAO DỊCH TMĐT VÀ XÂY DỰNG ỨNG DỤNG B2C
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
-o0o -NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
ĐỀ TÀI TÌM HIỂU MỘT SỐ MÔ HÌNH GIAO DỊCH TMĐT VÀ XÂY DỰNG ỨNG DỤNG B2C
Sinh viên thực hiện : Tạ Thị Phương Huế(CN.Đề tài)
Vũ Thị Trang Nguyễn Thị Kim Tuyến Giáo viên hướng dẫn : Vũ Xuân Nam
Thái Nguyên, Tháng 11 năm 2010
Trang 2Đề tài NCKH Giáo viên hướng dẫn: Vũ Xuân Nam
LỜI NÓI ĐẦU
Đặt vấn đề
Trong thế kỷ mà công nghệ liên tục phát triển, các doanh nghiệp cần nhữngchiến lược nào, những phương pháp điều hành nào? Các câu hỏi cơ bản nhất này cóthể được đặt ra, vì thị trường thế giới đang ở một thời kỳ chuyển biến sôi động nhấtcủa lịch sử
Kéo theo đó việc kinh doanh trực tuyến đã thay đổi, thế giới Internet đã tiến
bộ đáng kể Trong kỷ nguyên mới này, nếu bạn muốn thành công thì chính bạn cũngcần phải thay đổi
Ngày nay, Internet đã và đang ngày càng phát triển mạnh mẽ Trong đó
Website - một sản phẩm công nghệ tuyệt vời của Internet - đã mang lại lợi ích cho
các công ty trên khắp thế giới bằng cách đem lại cơ hội cho họ bán mọi thứ ở bất kỳđâu và cho bất kỳ ai Đó chính là phương thức giao dịch Thương mại điện tử(TMĐT)- một phương thức kinh doanh mới mẻ và hiện đại đã và đang được áp dụng
và phát triển rất nhanh ở nước ta
Các doanh nghiệp tên tuổi đều có website và tạo dựng được uy tín của mìnhkhông chỉ trong đời sống mà còn ở trên cộng đồng ảo Nếu không có website, doanhnghiệp sẽ bỏ lỡ rất nhiều cơ hội tốt bởi những khách hàng tiềm năng trên thị trườngtrong và ngoài nước
Website đóng vai trò kênh truyền thông và công cụ kinh doanh hàng đầu chomỗi doanh nghiệp, nó mang lại những lợi thế không thể phủ nhận Vì thế xây dựngwebsite cho công ty là một công việc quan trọng đến nỗi trở thành tiêu điểm đầu tiêncủa mỗi kế hoạch kinh doanh Sau đây là những lý do dễ thấy nhất về tầm quantrọng của website
* Tạo thương hiệu riêng của doanh nghiệp mình trên internet, tạo cơ hội tiếp xúc vớikhách hàng ở mọi nơi và tại mọi thời điểm
* Có thể giới thiệu các sản phẩm và dịch vụ một cách sinh động và mang tính tương tác cao
* Tạo cơ hội để bán sản phẩm hàng hóa một cách chuyên nghiệp mà tiết kiệm được
Trang 3Đề tài NCKH Giáo viên hướng dẫn: Vũ Xuân Nam
chi phí
* Cơ hội phục vụ khách hàng tốt hơn, đạt được sự hài lòng lớn hơn từ khách hàng
* Tạo một hình ảnh chuyên nghiệp trước công chúng, công cụ hiệu quả để thực hiện các chiến dịch PR và marketing
* Và đơn giản không có web site là một nguyên nhân thất bại của doanh nghiệp Chính vì thế việc tìm hiểu và xây dựng một website thương mại điện tử hiệnnay là thực sự cần thiết Thương mại điện tử đang trở thành một cuộc cách mạnglàm thay đổi cách thức mua sắm của con người Và nó có một ý nghĩa rất quan trọngtới sự phát triển của nền kinh tế nước ta
Mục tiêu đề tài
Nắm vững kiến thức về Thương Mại Điện Tử(TMĐT), các hình thức và môhình giao dịch trong TMĐT, hiểu được sự khác biệt giữa phương thức kinh doanhtruyền thống và hình thức kinh doanh có áp dụng phương tiện điện tử , từ đó rút rađược sự khác biệt và sự nổi trội của phương thức giao dịch bằng TMĐT để có đượcnhững kinh nghiệm, thuận tiện cho việc áp dụng vào thực tiễn Qua đó, biết đượccách thức xây dựng một sàn giao dịch TMĐT, tìm ra thông tin và kiến thức về cácmối quan hệ giữa người tiêu dùng, sản phẩm, phương ph áp đặt hàng, giao hàng vànhận hàng giữa khách hàng và doanh nghiệp.Và xây dưng chương trình thử nghiệmsàn giao dịch Thương mại điện tử
Tiếp đó, tìm hiểu và nghiên cứu ngôn ngữ lập trình PHP và mysql- một kịch bản trình chủ mã nguồn mở được sử dụng để phát triển ứng dụng thương mại điện tửkết hợp với cơ sở dữ liệu MySQL rất mạnh mẽ và rất thịnh hành hiện nay, thích hợp cho nhiều dự án và được hầu hết các công ty phát triển ứng dụng Web chọn lựa để tạo ra các Web site phục vụ cho doanh nghiệp trong nước lẫn gia công cho công ty nước ngoài, qua đó ứng dụng vào việc xây dựng một sàn giao dịch TMĐT giữa doanh nghiệp và khách hàng ở Việt Nam , xây dựng thêm một số tính năng mới trong giao dịch
Nội dung thực hiện:
-Tìm hiểu tổng quan về Thương mại điện tử
Trang 4Đề tài NCKH Giáo viên hướng dẫn: Vũ Xuân Nam
-Tìm hiểu ngôn ngữ lập trình PHP&MYSQL
- Tìm hiểu mô hình giao dich giữa doanh nghiệp với khách hàng và các vấn đề liên quan
-Khảo sát, thu thập dữ liệu và thiết kế khung chương trình ứng dụng
-Viết báo cáo tóm tắt và tổng kết để chuẩn bị nghiệm thu
Phương pháp nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu một cách tổng quan nhất về TMĐT
- Tìm hiểu về mô hình TMĐT giữa doanh nghiệp và khác hàng
- Sau đó tìm những tài liệu và ngôn ngữ lập trình php và mysql
Cấu trúc của báo cáo gồm: 5 chương
Chương 1: Tổng quan về TMĐT
Chương 2: Tìm hiểu mô hình giao dịch thương mại điện tử giữa doanh nghiệp vàkhách hàng
Chương 3: Các công cụ hỗ trợ
Chương 4 :Chương trình thực nghiệm
Chương 5: Tổng kết và hướng phát triển
- Tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu liên quan để thuận tiện cho quá trình nghiên cứu
- Tiến hành cài đặt một sàn giao dịch giữa doanh nghiệp và khách hàng bằng ngôn ngữ php và mysql
Trang 5Đề tài NCKH Giáo viên hướng dẫn: Vũ Xuân Nam
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TMĐT
1.1 Khái niêm thương mại điện tử
Thương mại điện tử là hình thức mua bán hàng hóa và dịch vụ thông quamạng máy tính tòan cầu
Theo nghĩa rộng, có thể thấy rằng phạm vi của Thương mại điện tử rất rộng,bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, việc mua bán hàng hóa và dịch vụchỉ là một trong hàng ngàn lĩnh vực áp dụng của Thương mại điện tử Theo nghĩahẹp thương mại điện tử chỉ gồm các hoạt động thương mại được tiến hành trênmạng máy tính mở như Internet Trên thực tế, chính các hoạt động thương mại thôngqua mạng Internet đã làm phát sinh thuật ngữ Thương mại điện tử
Thương mại điện tử gồm các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ quaphương tiện điện tử, giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng, chuyển tiền điện
tử, mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử, đấu giá thương mại, hợp tác thiết
kế, tài nguyên mạng, mua sắm công cộng, tiếp thị trực tuyến tới người tiêu dùng vàcác dịch vụ sau bán hàng Thương mại điện tử được thực hiện đối với cả thương mạihàng hóa (ví dụ như hàng tiêu dùng, các thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mạidịch vụ (ví dụ như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); cáchoạt động truyền thống (như chăm sóc sức khỏe, giáo dục ) và các hoạt động mới(ví dụ như siêu thị ảo) Thương mại điện tử đang trở thành một cuộc cách mạnglàm thay đổi cách thức mua sắm của con người
1.2 Các loại thị trường TMĐT
Cửa hàng trên mạng (Electronic storefronts) - là một Website của một doanhnghiệp dùng để bán hàng hoá và dịch vụ qua mạng thông qua các chức năng củaWebsite Thông thường Website đó gồm: Catalogs điện tử, Cổng thanh toán, Công
cụ tìm kiếm , Vận chuyển hàng, Dịch vụ khách hàng, Giỏ mua hàng Hỗ trợ đấu giáhoặc Cửa hàng/ siêu thị
Siêu thị điện tử (e-malls) – là một trung tâm bán hàng trực tuyến trong đó có nhiềucửa hàng điện tử Người ta có thể phân loại: Siêu thị tổng hợp – là một chợ điện tử
Trang 6Đề tài NCKH Giáo viên hướng dẫn: Vũ Xuân Nam
trong đó bán tất cả các loại hàng hoá, kết hợp siêu thị chuyên dụng chỉ bán một
số loại sản phẩm thị hoàn toàn trực tuyến hoặc
Sàn giao dịch (E-marketplaces) — là thị trường trực tuyến thông thường làB2B, trong đó người mua và người bán có thể đàm phán với nhau, có một doanhnghiệp hoặc một tổ chức đứng ra sở hữu
Có thể phân ra 3 loại sàn giao dịch TMĐT:
- Sàn giao dịch TMĐT riêng do một công ty sở hữu: Công ty bán các sản phẩm tiêu
chuẩn và sản phẩm may đo theo yêu cầu của công ty đó Công ty mua là các công tyđặt mua hàng công ty bán
- Sàn giao dịch TMĐT chung: là một chợ B2B thường do một bên thứ 3 đứng ra tổ
chức tập hợp các bên bán và mua để trao đổi mua bán với nha
- Sàn giao dịch TMĐT chuyên ngành- Consortia: Là tập hợp các người mua và
bán trong một ngành công nghiệp duy nhất
Cổng thông tin (Portal) là một điểm truy cập thông tin duy nhất để thông quatrình duyệt có thể thu nhận các loại thông tin từ bên trong một tổ chức Người ta
có thể phân loại cổng thông tin là nơi để tìm kiếm thông tin cần thiết, cổng giao tiếp
là nơi các doanh nghiệp có thể gặp gỡ và trao đổi mua bán hàng hoá và dịch vụ vàcao nhất là cổng giao dịch trong đó doanh nghiệp có thể lấy thông tin, tiếp xúc vàtiến hành giao dịch
Trang 7Đề tài NCKH Giáo viên hướng dẫn: Vũ Xuân Nam
sử dụng các phương tiện điện tử
trong thương mại truyền thống chỉ để chuyển tải thông tin một cách trực tiếp giữahai đối tác của cùng một giao dịch
Thương mại điện tử cho phép mọi người cùng tham gia từ các vùng xa xôihẻo lánh đến các khu vực đô thị lớn, tạo điều kiện cho tất cả mọi người ở khắp mọinơi đều có cơ hội ngang nhau tham gia vào thị trường giao dịch toàn cầu và khôngđòi hỏi nhất thiết phải có mối quen biết với nhau
1.3.2 Các giao dịch thương mại truyền thống được thực hiện với sự tồn tại của khái niệm biên giới quốc gia, còn thương mại điện tử được thực hiện trong một thị trường không có biên giới (thị trường thống nhất toàn cầu) Thương mại điện tử trực tiếp tác động tới môi trường cạnh tranh toàn cầu.
Thương mại điện tử càng phát triển, thì máy tính cá nhân trở thành cửa sổ chodoanh nghiệp hướng ra thị trường trên khắp thế giới Với thương mại điện tử, mộtdoanh nhân dù mới thành lập đã có thể kinh doanh ở Nhật Bản, Đức và Chilê , màkhông hề phải bước ra khỏi nhà, một công việc trước kia phải mất nhiều năm
1.3.3 Trong hoạt động giao dịch thương mại điện tử đều có sự tham ra của ít nhất
ba chủ thể, trong đó có một bên không thể thiếu được là người cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực.
Trong Thương mại điện tử, ngoài các chủ thể tham gia quan hệ giao dịchgiống như giao dịch thương mại truyền thống đã xuất hiện một bên thứ ba đó là nhàcung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực… là những người tạo môitrường cho các giao dịch thương mại điện tử Nhà cung cấp dịch vụ mạng và cơquan chứng thực có nhiệm vụ chuyển đi, lưu giữ các thông tin giữa các bên tham
Trang 8Đề tài NCKH Giáo viên hướng dẫn: Vũ Xuân Nam
gia giao dịch thương mại điện tử, đồng thời họ cũng xác nhận độ tin cậy của cácthông tin trong giao dịch thương mại điện tử
1.3.4 Đối với thương mại truyền thống thì mạng lưới thông tin chỉ là phương tiện để trao đổi dữ liệu, còn đối với thương mại điện tử thì mạng lưới thông tin chính là thị trường
Thông qua Thương mại điện tử, nhiều loại hình kinh doanh mới được hìnhthành Ví dụ: các dịch vụ gia tăng giá trị trên mạng máy tính hình thành nên các nhàtrung gian ảo làm các dịch vụ môi giới cho giới kinh doanh và tiêu dùng; các siêu thị
ảo được hình thành để cung cấp hàng hóa và dịch vụ trên mạng máy tính
Các trang Web khá nổi tiếng như Yahoo! America Online hay Google đóngvai trò quan trọng cung cấp thông tin trên mạng Các trang Web này đã trở thành các
“khu chợ” khổng lồ trên Internet Với mỗi lần nhấn chuột, khách hàng có khả năngtruy cập vào hàng ngàn cửa hàng ảo khác nhau và tỷ lệ khách hàng vào hàng ngàncác cửa hàng ảo khác nhau và tỷ lệ khách hàng vào thăm rồi mua hàng là rất cao.Người tiêu dùng đã bắt đầu mua trên mạng một số các loại hàng trước đây đượccoi là khó bán trên mạng Nhiều người sẵn sàng trả thêm một chút tiền còn hơn làphải đi tới tận cửa hàng Một số công ty đã mời khách may đo quần áo trên mạng,tức là khách hàng chọn kiểu, gửi số đo theo hướng dẫn tới cửa hàng (qua Internet)rồi sau một thời gian nhất định nhận được bộ quần áo theo đúng yêu cầu của mình.Điều tưởng như không thể thực hiện được này cũng có rất nhiều người hưởng ứng
Các chủ cửa hàng thông thường ngày nay cũng đang đua nhau đưa thông tinlên Web để tiến tới khai thác mảng thị trường rộng lớn trên Web bằng cách mở cửahàng ảo
Trang 9Hình 3: các loại giao dịch B2B trong TMĐT
1.4 Các cơ sở để phát triển TMĐT và các loại giao dịch TMĐT
Để phát triển TMĐT cần phải có hội đủ một số cơ sở:
− Hạ tầng kỹ thuật internet phải đủ nhanh, mạnh đảm bảo truyền tải các nội dungthông tin bao gồm âm thanh, hình ảnh trung thực và sống động Một hạ tầng internetmạnh cho phép cung cấp các dịch vụ như xem phim, xem TV, nghe nhạc v.v trựctiếp Chi phí kết nối internet phải rẻ để đảm bảo số người dùng internet phải lớn
− Hạ tầng pháp lý: phải có luật về TMĐT công nhận tính pháp lý của các chứng
từ điện tử, các hợp đồng điện tử ký qua mạng; phải có luật bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ sự riêng tư, bảo vệ người tiêu dùng v.v để điều chỉnh các giao dịch quamạng
Trang 10− Phải có cơ sở thanh toán điện tử an toàn bảo mật Thanh toán điện tử qua thẻ,qua tiền
điện tử, thanh toán qua EDI Các ngân hàng phải triển khai hệ thống thanh toán điện
tử rộng khắp
− Phải có hệ thống cơ sở chuyển phát hàng nhanh chóng, kịp thời và tin cậy
− Phải có hệ thống an toàn bảo mật cho các giao dịch, chống xâm nhập trái phép, chống virus, chống thoái thác
− Phải có nhân lực am hiểu kinh doanh, công nghệ thông tin, thương mại điện tử
để triển khai tiếp thị, quảng cáo, xúc tiến, bán hàng và thanh toán qua mạng
Các loại hình giao dịch TMĐT
Trong TMĐT có ba chủ thể tham gia: Doanh nghiệp (B) giữ vai trò động lựcphát triển TMĐT, người tiêu dùng (C) giữ vai trò quyết định sự thành công củaTMĐT và chính phủ (G) giữ vai trò định hướng, điều tiết và quản lý Từ các mốiquan hệ giữa các chủ thể trên ta có các loại giao dịch TMĐT: B2B, B2C, B2G,C2G, C2C trong đó B2B và B2C là hai loại hình giao dịch TMĐT quan trọngnhất
Business-to-business (B2B) : Mô hình TMĐT giữa các doanh nghiệp với doanh
nghiệp
TMĐT B2B (Business-to-business) là việc thực hiện các giao dịch giữa cácdoanh nghiệp với nhau trên mạng Ta thường goi là giao dịch B2B Các bên thamgia giao dịch B2B gồm: người trung gian trực tuyến (ảo hoặc click-and-mortar), người mua và người bán Các loại giao dịch B2B gồm: mua ngay theoyêu cầu khi giá cả thích hợp và mua theo hợp đồng dài hạn, dựa trên đàm phán cánhân giữa người mua và người bán
Trang 11Các loại giao dịch B2B cơ bản:
− Bên Bán — (một bên bán nhieu bên mua) là mô hình dựa trên công nghệweb trong đó môt cty bán cho nhiều cty mua Có 3 phương pháp bán trực tiếptrong mô hình này: Bán từ catalog điện tử, Bán qua quá trình đấu giá, Bán theohợp đồng cung ứng dài hạn đã thoả thuận trước Cty bán có thể là nhà san xuất loạiclick-and-mortar hoặc nhà trung gian thông thường là nhà phân phối hay đại lý
− Bên Mua — một bên mua - nhiều bên bán
− Sàn Giao Dich — nhiều bên bán - nhiều bên mua
− TMĐT phối hợp — Các đôi tác phôi hợp nhau ngay trong quá trìnhthiết kế chế tạo sản phẩm
Business-to-consumer (B2C): Mô hình TMĐT giữa doanh nghiệp và người tiêu
dùng
Đây là mô hình bán lẻ trực tiếp đến người tiêu dùng Trong TMĐT, bán lẻđiện tử có thể từ nhà sản xuất, hoặc từ một cửa hàng thông qua kênh phân phối.Hàng hoá bán lẻ trên mạng thường là hàng hoá, máy tính, đồ điện tử, dụng cụ thểthao, đồ dùng văn phòng, sách và âm nhạc, đồ chơi, sức khoẻ và mỹ phẩm, giải trív.v
Mô hình kinh doanh bán lẻ có thể phân loại theo quy mô các loại hàng hoábán (Tổng hợp, chuyên ngành), theo phạm vi địa lý (toàn cầu , khu vực ), theo kênhbán (bán trực tiếp, bán qua kênh phân bố)
Một số hình thức các cửa hàng bán lẻ trên mạng: Brick-and-mortar là loại cửa
Trang 12cửa hàng bán lẻ truyền thống nhưng có kênh bán hàng qua mạng và cửa hàng ảo làcửa hàng bán lẻ hoàn toàn trên mạng mà không sử dụng kênh bán truyền thống.
Hai loại giao dịch trên là giao dịch cơ bản của TMĐT Ngoài ra trongTMĐT người ta còn sử dụng các loại giao dịch: Govement-to-Business (G2B) là môhình TMĐT giữa doanh nghiệp với cơ quan chính phủ, Government-to-citizens(G2C) là mô hình TMĐT giữa các cơ quan chính phủ và công dân còn goi là chínhphủ điện tử, consumer-to- consumer (C2C) là mô hình TMĐT giữa các người tiêudùng và mobile commerce (m- commerce) là TMĐT thực hiện qua điện thoại diđộng
1.5 Các hình thức hoạt động chủ yếu của Thương mại điện tử
1.5.1 Thư điện tử
Các doanh nghiệp, các cơ quan Nhà nước, sử dụng thư điện tử để gửi thưcho nhau một cách “trực tuyến” thông qua mạng, gọi là thư điện tử (electronic mail,viết tắt là e-mail) Thông tin trong thư điện tử không phải tuân theo một cấu trúcđịnh trước nào
1.5.2 Thanh toán điện tử
Thanh toán điện tử (electronic payment) là việc thanh toán tiền thông qua bứcthư điện tử (electronic message) ví dụ, trả lương bằng cách chuyển tiền trực tiếpvào tài khoản, trả tiền mua hàng bằng thẻ mua hàng, thẻ tín dụng v.v thực chất đều
là dạng thanh toán điện tử Ngày nay, với sự phát triển của TMĐT, thanh toán điện
tử đã mở rộng sang các lĩnh vực mới đó là:
a Trao đổi dữ liệu điện tử tài chính (Financial Electronic Data Interchange, gọi tắt
là FEDI) chuyên phục vụ cho việc thanh toán điện tử giữa các công ty giao dịch vớinhau bằng điện tử
Trang 13(ngân hàng hoặc một tổ chức tín dụng nào đó), sau đó được chuyển đổi tự do sangcác đồng tiền khác thông qua Internet, áp dụng trong cả phạm vi một nước cũngnhư giữa các quốc gia; tất cả đều được thực hiện bằng kỹ thuật số hóa, vì thế tiềnmặt này còn có tên gọi là “tiền mặt số hóa” (digital cash Tiền lẻ điện tửđang trên
đà phát triển nhanh, nó có ưu điểm nổi bật sau:
+ Dùng để thanh toán những món hàng giá trị nhỏ, thậm chí ngay cả tiền mua báo(vì phí giao dịch mua hàng và chuyển tiền rất thấp);
+ Có thể tiến hàng giữa hai con người hoặc hai công ty bất kỳ, các thanh toán là
vô danh;
+ Tiền mặt nhận được đảm bảo là tiền thật, tránh được tiền giả
c Ví điện tử (electronic purse); là nơi để tiền mặt Internet, chủ yếu là thẻ thôngminh (smart card), còn gọi là thẻ giữ tiền (stored value card), tiền được trả cho bất
kỳ ai đọc được thẻ đó; kỹ thuật của túi tiền điện tử tương tự như kỹ thuật áp dụngcho “tiền lẻ điện tử” Thẻ thông minh, nhìn bề ngoài như thẻ tín dụng, nhưng ở mặtsau của thẻ, có một chíp máy tính điện tử có một bộ nhớ để lưu trữ tiền số hóa, tiền
ấy chỉ được “chi trả” khi sử dụng hoặc thư yêu cầu (như xác nhận thanh toán hóađơn) được xác thực là “ đúng”
d Giao dịch điện tử của ngân hàng (digital banking) Hệ thống thanh toán điện tửcủa ngân hàng là một hệ thống lớn gồm nhiều hệ thống nhỏ:
(1) Thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng qua điện thoại, tại các điểm bán lẻ,các kiôt, giao dịch cá nhân tại các gia đình, giao dịch tại trụ sở khách hàng, giaodịch qua Internet, chuyển tiền điện tử, thẻ tín dụng, thông tin hỏi đáp…,
(2) Thanh toán giữa ngân hàng với các đại lý thanh toán (nhà hàng, siêu thị…,)
(3) Thanh toán nội bộ một hệ thống ngân hàng
Trang 141.6 Nghiên cứu thị trường trong TMĐT
Nghiên cứu thị trường là việc thu thập thông tin về: kinh tế, công nghiệp,công ty, sản phẩm, giá cả, hệ thống phân phối, xúc tiến thư ơ ng m ại, hành vi muahàng của thị trường mục tiêu
Mục đích nghiên cứu thị trường là tìm ra thông tin và kiến thức về các mốiquan hệ giữa người tiêu dùng, sản phẩm, phương pháp tiếp thị, và các nhà tiếp thị
Từ đó:
- Tìm ra cơ hội để tiếp thị
- Thiết lập kế hoạch tiếp thi
Nghiên cứu thị trường TMĐT online là công cụ mạnh để nghiên cứu hành
vi khách hàng, phát hiện ra thị trường mới và tìm ra lợi ích người tiêu dùng trongsản phẩm mới
Nghiên cứu thị trường trên cơ sở Internet có đặc trưng là khả năng tương tácvới khách hàng thông qua giao tiếp trực tuyến, làm cho hiểu rõ hơn khách hàng, thịtrường, và cạnh tranh Nó giúp:
- Xác định các đặc điểm mua hàng của cá nhân và nhóm
- Tìm ra các yếu tố khuyến khích mua hàng
- Biết được thế nào là trang web tối ưu
- Cách xác định người mua thât
- Khách hàng đi mua hàng ra sao
- Xu hướng tiếp thị và sản phẩm mà thị trường cần
Trang 151.7 Quảng cáo trong TMĐT
Quảng cáo là ý định phân phát thông tin để tác động lên các giao dịch muabán Người sử dụng internet là có trình độ, thu nhập cao, Internet đang là môitrường truyền thông phát triển, Advertisers quan tâm môi trường tiềm năng VềGiá cả, quảng cáo trực tuyến rẻ hơn quảng cáo trên phương tiện khác Quảng cáotrực tuyến có thể cập nhật nội dung liên tục với chi phí thấp Về hình thức dữ liệuphong phú: có thể sử dụng văn bản, âm thanh, đồ hoạ, hình ảnh, phim
Ngoài ra, có thể kết hợp Games, trò giải trí với quảng cáo trực tuyến, cóthể cá thể hóa được, có thể tương tác được và có thể hướng mục tiêu vào cácnhóm lợi ích đặc biệt Một số hình thức quảng cáo trên mạng:
Banner: Là một hình vẽ đồ thị quảng cáo và có liên kết với trang web quảng cáo.
Quảng cáo of banner có đặc điểm như sau:
- Hướng quảng cáo vào đối tượng mục tiêu
- Sử dụng chiến lược tiếp thị bắt buộc
- Hướng liên kết vào nhà quảng cáo
- Khả năng sử dụng Multi media
Hạn chế của banner ads, giá cao, Người sử dụng có xu hướng miễn dịch kíchchuột vào các quảng cáo
Banner swapping: Là thỏa thuận giữa 2 công ty chia xẻ một vị trí quảng cáo trên web Pop-under ad: Là hình thức quảng cáo xuất hiện sau khi đã tắt cửa sổ
Interstitials: Là trang web xuất hiện đập ngay vào mắt gây sự chú ý
E-mail: Là hình thức nhiều người có thể đọc được
1.8 Bảo mật an toàn trong TMĐT?
Việc bảo mật trong khi thanh toán qua mạng là vấn đề chiến lược và làtrọng tâm hàng đầu trong TMĐT
Hiện nay, trong việc thanh toán qua mạng, các tổ chức tín dụng và các nhàcung cấp dịch vụ xử lý thanh toán thẻ tín dụng trên thế giới áp dụng công nghệ bảo
Trang 161.9 Tình hình phát triển và ứng dụng trên thế giới
Trong thời đại bùng nổ thông tin, khi Internet ngày càng không thể thiếu trong đời sống con người; giá thuê nhân công, thuê mặt bằng ngày càng đắt đỏ, thì thương mại điện tử đang trở thành sự lựa chọn tối ưu của nhiều cá nhân và doanh nghiệp
Theo thống kê, thị trường thương mại điện tử thế giới đã đạt mức tăng trưởng khoảng 70% mỗi năm và đạt gần 4.000 tỷ USD năm 2005 Các chuyên gia cho rằng thị trường kinh doanh đầy tiềm năng này đang là nghề hái ra tiền và tạo
cơ hội cho các doanh nghiệp, nhất là các nhà kinh doanh nhỏ
Internet phát triển mạnh mẽ sẽ là động lực để thúc đẩy sự tăng trưởng buônbán trên phạm vi toàn cầu Các nước trên thế giới đã và đang sẵn sàng nhập cuộc
Dự báo trong thời gian tới, thương mại điện tử sẽ đem lại cho các doanh nghiệpmột nguồn lợi nhuận khổng lồ
Doanh thu từ bán hàng qua mạng sẽ chiếm một phần lớn:
Bán hàng qua mạng Internet không mất nhiều thời gian đã trở nên phổ biếngiữa khách hàng và các nhà kinh doanh trong những năm gần đây, đặc biệt làtrong kỷ nguyên tới Thực tế cho thấy năm 1999, doanh thu bán hàng từ thươngmại điện tử đã chiếm một phần quan trọng trong tổng doanh thu tại hầu hết cáccông ty trên thế giới Qua đợt khảo sát gần đây, các giao dịch thương mại điện tửchiếm 9% doanh thu hằng năm tại 300 công ty Con số này được thay đổi từ 6%tại các công ty có qui mô vừa và nhỏ tới 13% tại các công ty lớn Cũng trong năm
1999, số người Mỹ đã tiến hành các thủ tục giao dịch, mua hàng trên mạng là 39triệu ngời (tăng gấp đôi so với năm 1998), 34% số hộ gia đình người Mỹ đã nốimạng Internet và 17% trong số đó đã tiến hành mua hàng qua mạng
Theo các chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ thông tin, doanh thu từ bánhàng qua mạng Internet sẽ tiếp tục tăng trong năm tới và sẽ giữ mức ổn định trongvài năm tiếp theo
Thương mại điện tử toàn cầu đang phát triển mạnh
Trang 17Với khu vực thị trường nội địa to lớn, nhiều công ty của Mỹ còn chậmtrong việc bán hàng ra toàn thế giới Hiện nay, chỉ có khoảng 12% lượng hàng bán
ra từ các công ty lớn của Mỹ ra thị trường nước ngoài Nhưng theo xu hướng pháttriển tất yếu, con số này đang có chiều hướng gia tăng và dự báo sẽ tăng 15%trong hai năm tới
Một số nước ở Châu Á cũng đang tích cực trong cuộc chạy đua với các
quốc gia phát triển Trong vòng 5 năm tới, số luợng người châu Á truy cập vàomạng Internet sẽ vượt quá tổng số người truy cập ở châu Âu và Bắc Mỹ gộp lại
Dự kiến doanh thu mua bán hàng trên mạng Internet tại châu Á sẽ tăng lên rấtnhiều, chiếm 1/4 thu nhập thơng mại Internet trên toàn cầu (khoảng 1.400 tỉ USDvào năm 2003) Các công ty lớn với nguồn hàng ổn định luôn mong muốn mởrộng thị trường, rất tích cực trong việc triển khai thương mại điện tử, tăng cườngviệc bán hàng ra toàn cầu, đồng thời triển khai việc mua hàng hóa và dịch vụ từnguồn bên ngoài
Theo số liệu thống kê, doanh thu từ thương mại điện tử trên toàn thế giới trong năm 2000 là gần 280 tỉ USD, năm 2001 là gần 480 USD, năm 2002 là gần
825 tỉ USD, năm 2003 là hơn 1.400 tỉ USD, năm 2004 là gần 2.400 tỉ USD và ướctính trong năm 2005 là gần 4.000 tỉ USD Các số liệu này cho thấy thương mại điện tử tăng trưởng gần 70% mỗi năm Cũng theo thống kê, trong năm 2002, chi phí dành cho quảng cáo trên Internet của toàn thế giới là 23 tỉ USD, trong đó châu
Á đã chi 3 tỉ USD cho quảng cáo trên Internet
Trong ASEAN, loại trừ Singapore là nước nổi tiếng về phát triển kinh tế và công nghệ, Thái Lan đang là nước tận dụng thế mạnh của Internet và thương mại điện tử khá tốt Hầu hết các doanh nghiệp đều có website riêng, viết bằng tiếng Anh và tiếng Thái, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu và du lịch Khách hàng từ các nước trên thế giới có thể dễ dàng mua hàng hay đặt dịch vụ du lịch ở Thái thông qua Website
Thương mại điện tử càng lúc càng phát triển trên thế giới và doanh thu do
Trang 18thương mại điện tử mang lại cũng tăng gần gấp đôi mỗi năm, đó là lý do nhiều nước đang ráo riết khuyến khích, thúc đẩy và xây dựng cơ sở cho việc phát triển thương mại điện tử Một trong những nước đang phát triển ở châu Á thành công trong việc phát triển thương mại điện tử là Trung Quốc.
Công ty IResearch vừa đưa ra một nghiên cứu cho biết rằng tổng doanh số quảng cáo trực tuyến của Trung Quốc đã vượt qua 3 tỷ Nhân dân tệ trong năm
2005, tức khoảng 374 triệu USD Thị trường quảng cáo trực tuyến ở Trung Quốc hiện đang có tốc độ tăng trưởng thuộc dạng hàng đầu thế giới với tổng doanh số năm 2005 là 3,13 tỷ Nhân dân tệ, tăng 77,1% so với năm 2004 và tăng đến 760%
so với năm 2001 Tỷ lệ của quảng cáo trực tuyến trong tổng doanh số quảng cáo
đã tăng từ 0,5% trong năm 2001 đến 2,3% trong năm 2005
Tổng doanh số quảng cáo trên mạng Sina đạt đến 680 triệu Nhân dân tệ, chiếm 21,7% thị phần quảng cáo online Trung Quốc; mạng Sohu chiếm 15% thị phần; NetEase chiếm 8%; QQ chiếm 3,8% và TOM chiếm 2,2% Tổng thị phần của 5 mạng lớn nhất Trung Quốc này đã chiếm đến 53,4% thị phần quảng cáo trực tuyến tại Trung Quốc
Quảng cáo về nhà đất, sản phẩm công nghệ thông tin và dịch vụ trực tuyến
là 3 lĩnh vực quảng cáo đứng hàng đầu trong mọi lĩnh vực quảng cáo Riêng Samsung đã chi đến 60,35 triệu Nhân dân tệ để quảng cáo cho các sản phẩm của mình, trở thành công ty đứng hàng đầu về số tiền chi cho quảng cáo online tại Trung Quốc; tiếp sau là China Mobile với 41,1 triệu Nhân dân tệ và NetEase với 39,13 triệu Nhân dân tệ IResearch dự báo rằng quảng cáo trực tuyến ở Trung Quốc trong năm 2006 sẽ đạt gần đến 5 tỷ Nhân dân tệ và con số này sẽ là 36,7 tỷ Nhân dân tệ, tức khoảng 4 tỷ USD, vào năm 2010
Ở châu Âu, Pháp là một nước đi đầu trong phát triển thương mại điện tử Theo số liệu thống kê tại Pháp, đã có hơn 15.000 người dân nước này chi mỗi năm 25%
Trang 19thu nhập cho các hoạt động thương mại điện tử Tại Pháp, eBay là một công ty chuyên về thương mại điện tử và đấu giá hàng đầu thế giới, trung bình mỗi tháng trên trang mạng của hãng này có tới hơn hai lượt người truy cập, tìm kiếm hàng hoá Trên trang mạng này, người ta có thể tìm kiếm mọi thứ, từ máy bay, xe ô tô, hàng tiêu dùng cho đến cổ vật
Năm 2005, tổng giá trị hàng hoá bán trên eBay đạt hơn 44 tỷ USD, với hơn
60 triệu hàng hoá thường xuyên được đề nghị bán và công ty này đã thu lợi hơn 1,1 tỷ USD, tăng 39% so với năm 2004 Một nhà kinh doanh thương mại điện tử của Pháp tên là Courbon, chuyên buôn bán ô tô, cho biết, trung bình mỗi tháng ông ta có thể bán 30 chiếc xe, nhờ mạng eBay Mặc dù chỉ là một trang mạng thương mại, nhưng eBay có số người truy cập kỷ lục-hơn 180 triệu người, tương đương dân số của nước đông dân thứ sáu trên thế giới Các chuyên gia cho rằng sức hấp dẫn này của trang thương mại điện tử, các phương tiện truyền thông khác không thể sánh nổi
Mặc dù doanh thu từ thương mại điện tử đã đạt hàng chục tỷ USD mỗi năm, song các chuyên gia nghiên cứu thị trường cho rằng, thương mại điện tử là một thị trường vẫn còn rất mới mẻ, đầy tiềm năng và giàu sức hấp dẫn Đây chính là cơ hội cho các doanh nhân trẻ và các doanh nghiệp trẻ phát triển và làm giàu
1.10 Tình hình phát triển và ứng dụng ở Việt Nam
Nếu cuối năm 2003 số người truy cập Internet ở Việt Nam là khoảng 3,2triệu người, thì đến nay con số này đã tăng lên gấp năm tức khoảng 15 triệu người,chiếm tỷ lệ 16% dân số cả nước Những thống kê này cho thấy một tín hiệu lạcquan về sự phát triển thương mại điện tử (TMĐT) ở Việt Nam trong giai đoạn
2006 – 2010
Theo thống kê của Vụ Thương mại điện tử thuộc Bộ Thương mại, đến cuối năm
2005, Việt Nam đã có khoảng 20.000 website của các doanh nghiệp, trong đó sốtên miền.vn (như com.vn,.net.vn ) đã tăng từ 2.300 (năm 2002) lên 5.510 (năm2003) và 9.037 (năm 2004)
Trang 20Những năm 2003, 2004 các website sàn giao dịch B2B (marketplace), cácwebsite rao vặt, các siêu thị trực tuyến B2C đua nhau ra đời.
Tuy nhiên, các website này vẫn còn phát triển hạn chế, chưa có website nào thực
sự phát triển đột phá vì nhiều nguyên do Những mặt hàng được bán phổ biến trênmạng tại Việt Nam hiện nay gồm: hàng điện tử, kỹ thuật số, sản phẩm thông tin(sách điện tử, CD, VCD, nhạc ), thiệp, hoa, quà tặng, hàng thủ công mỹ nghệ
Các dịch vụ ứng dụng TMĐT nhiều như: du lịch, tư vấn, CNTT, dịch vụthông tin (thông tin tổng hợp, thông tin chuyên ngành ), giáo dục và đào tạo Các doanh nghiệp cũng đã quan tâm nhiều hơn về việc lập website để giới thiệuthông tin, hỗ trợ marketing, bán hàng qua mạng
Kết quả khảo sát cho thấy, phần lớn doanh nghiệp có website mới chỉ xemwebsite là kênh tiếp thị bổ sung để quảng bá hình ảnh công ty và giới thiệu sảnphẩm, dịch vụ, do đó doanh nghiệp chưa đầu tư khai thác hết những lợi ích thươngmại điện tử có thể mang lại cho doanh nghiệp
Thậm chí việc đầu tư marketing website để đối tượng khách hàng biết đếncũng chưa được doanh nghiệp quan tâm thực hiện hiệu quả, bằng chứng là cónhiều website có số lượng người truy cập rất khiêm tốn sau khi khai trương nhiềunăm, và đa số các website giới thiệu thông tin, sản phẩm này của doanh nghiệpđược Alexa xếp hạng rất “lớn” (trên 500.000)
Nhìn chung, việc phát triển TMĐT ở Việt Nam hiện còn mang tính tự phát,chưa được định hướng bởi chính phủ và các cơ quan chuyên môn nhà nước
Do đó, sự đầu tư cho TMĐT ở mỗi doanh nghiệp phụ thuộc vào tầm nhìn,quan điểm của lãnh đạo doanh nghiệp Cũng có nhiều cá nhân, doanh nghiệp thànhlập những website thương mại điện tử (sàn giao dịch, website phục vụ việc cungcấp thông tin, website rao vặt, siêu thị điện tử ) để giành vị thế tiên phong, tuynhiên, tình hình chung là các website này chưa thực sự được marketing tốt và pháttriển tốt để mang lại lợi nhuận kinh tế đáng kể
Trang 21Theo các chuyên gia, điều quan trọng nhất trong việc phát triển TMĐT ởViệt Nam hiện nay xuất phát từ các doanh nghiệp Đây là lực lượng nòng cốt ứngdụng và phát triển TMĐT.
Để nắm bắt được thị trường rộng lớn và không biên giới qua mạng Internet,các doanh nghiệp phải có những chiến lược đầu tư hợp lý hơn
Việc đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng được những yêu cầu của TMĐTphải được tiến hành nhanh chóng, việc đầu tư cho công nghệ thông tin cũng phảiđược dành nhiều ngân sách và có một tỷ lệ đầu tư hợp lý hơn…
Để TMĐT phát triển, cần nhiều yếu tố thúc đẩy, làm nền tảng như: cơ sở hạtầng công nghệ, số người truy cập Internet, chi phí truy cập Internet, nhân lựcchuyên môn, kiến thức TMĐT về phương diện kinh doanh, chiến lược, nhận thứccủa nhà đầu tư, nhận thức của cộng đồng và đặc biệt là phải có vai trò quản lý,định hướng của nhà nước…
Trang 22CHƯƠNG 2 :TÌM HIỂU MÔ HÌNH GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ GIỮA DOANH NGHIỆP
vụ của họ cho khách hàng qua Internet, phục vụ cho nhu cầu sử dụng của cá nhân
2.2 Những nguyên tắc cơ bản của B2C
Giúp khách hàng tìm thấy những thứ họ cần
Liệu bạn có dừng chân ở một cửa hiệu khi thấy hàng hóa bên trong đó được bày biện một cách lộn xộn, thiếu khoa học, không có biển báo cũng như lời hướng dẫn không? Chắc chắn là không rồi Thế nhưng thật đáng ngạc nhiên là một số cửa hàng trực tuyến lại làm cho khách hàng gần như không thể tìm ra món hàng mà họquan tâm
Trước khi khai trương một cửa hàng trực tuyến, bạn hãy suy nghĩ cẩn thận về cách tổ chức hàng hóa trong “kho” của bạn và tạo điều kiện để khách hàng có nhiều cách tìm thấy cái mà họ muốn tìm Ví dụ, bạn có thể cung cấp các đường dẫn dễ nhìn thấy tới các danh mục hàng hóa khác nhau, một công cụ tìm kiếm để khách hàng có thể nhập tên sản phẩm hoặc sơ đồ đường dẫn để giúp khách hàng
có thể tự theo dõi các bước đi của họ trên trang web của bạn
Quy tắc này cũng được áp dụng khi bạn cung cấp thông tin về các chính sách trao đổi, thông tin liên lạc, phí vận chuyển và các thông tin khác mà khách hàng
Trang 23quan tâm trước khi họ hoàn thành giao dịch
Đừng bắt khách hàng phải đợi
Khi một khách hàng nhấn vào nút “Mua hàng”, họ sẽ chẳng thích thú gì khi phảiđợi tới vài phút mới có câu trả lời – hay thậm chí tệ hơn là nhận được thông điệpbáo lỗi Trên thực tế, chẳng có gì khiến khách hàng thất vọng hơn một trang web
cứ buộc họ phải đoán mò về tình trạng đặt hàng của chính họ Xin mách bạn một giải pháp đơn giản cho vấn đề này: Hãy đảm bảo rằng cácphần mềm và máy chủ của bạn có thể xử lý bất cứ yêu cầu gì khách hàng đưa vào.Nếu bạn đang sử dụng một dịch vụ của người khác, thì hãy đảm bảo rằng họ sửdụng công nghệ tiên tiến nhất Trong trường hợp bạn tự xây dựng trang web thìbạn hãy đầu tư vào đó các phần cứng và phần mềm
tốt nhất theo khả năng của mình
Hãy tạo điều kiện để khách hàng thanh toán một cách dễ dàng nhất
Các cửa hàng trực tuyến có thể chấp nhận nhiều hình thức thanh toán khác nhau:thẻ tín dụng, tiền mặt điện tử, hoặc tiền mặt và séc qua thư Các loại doanh nghiệpkhác nhau sẽ chấp nhận các phương thức thanh toán khác nhau, vì thế hãy đảmbảo rằng nhà cung cấp dịch vụ thương mại điện tử của bạn có thể chấp nhận nhữngphương thức mà khách hàng của bạn thường sử dụng nhiều nhất Để sẵn sàng chocác phương thức thanh toán ngoại tuyến, chẳng hạn như tiền mặt và séc gửi quathư hoặc số thẻ tin dụng gửi qua fax, hãy ghi rõ địa chỉ gửi thư, số fax và số điệnthoại tại nơi dễ thấy trên trang web của bạn Các phương thức thanh toán trựctuyến sinh ra một khó khăn điển hình: đó là vấn đề an ninh Mặc dù việc gửi số thẻtín dụng qua Internet là cực kỳ an toàn, nhưng khách hàng vẫn lo lắng Hầu hết các
hệ thống thanh toán trực tuyến gửi số thẻ tín dụng và các thông tin cá nhân khácqua các hệ thống đã được mã hóa Nếu hệ thống của bạn cũng sử dụng công nghệnày, hãy thông báo để khách hàng biết rằng thông tin của họ được bảo mật hoàntoàn
Cuối cùng, hãy nhớ rằng bạn cần có một tài khoản thương gia có thể chấp
Trang 24nhận các hình thức giao dịch bằng thẻ tín dụng Nếu bạn đã có sẵn một tài khoảndùng cho công việc kinh doanh, thì bạn có thể dùng chính tài khoản đó để chấpnhận thẻ tín dụng trực tuyến Nhưng nếu bạn chưa có, người xây dựng trang webhay cung cấp dịch vụ mạng có thể giúp bạn tạo ra một tài khoản thương gia códịch vụ xử lý giao dịch trực tuyến.
2.3.Sự khác nhau giữa B2C và B2B
-Điều thứ nhất là sự khác nhau về khách hàng
Khách hàng của các giao dịch B2B (giao dịch giữa doanh nghiệp với doanhnghiệp) là các công ty còn khách hàng của B2C là các cá nhân Tuy nhiên cần phảixem xét chữ C trong B2C là người tiêu dùng cuối cùng (End-user) Nghĩa là C cònbao gồm cả những doanh nghiệp mua sắm hàng hóa về để tiêu dùng Chẳng hạnnhư doanh nghiệp mua bàn ghế phục vụ cho công việc
Đó cũng chính là lý do tại sao những ứng dụng Thương mại điện tử B2B đầu tiên được phát triển chỉ cho những hàng hóa và sản phẩm hoàn chỉnh, đơn giản trong khâu mô tả đặc tính và định giá
* Khác biệt về vấn đề tích hợp
Các công ty trong Thương mại điện tử B2C không phải tích hợp hệ thống của họvới hệ thống của khách hàng Trái lại các công ty khi bán hàng cho các doanh
Trang 25nghiệp (B2B) cần phải đảm bảo rằng các hệ thống của họ có thể giao tiếp được vớinhau mà không cần sự can thiệp trực tiếp của con người dẫn đến nhu cầu phải tíchhợp hệ thống của doanh nghiệp bán hàng và doanh nghiệp mua hàng.
2.4.Một số trang web thương mại điện tử loại B2C tại VN :
1 Công ty CP DV Phần mềm trò chơi Vina : 123mua.com.vn
2 Công ty cổ phần thế giới di động :http://thegioididong.com
3.Chợ điện tử : http://www.chodientu.vn
4 Chi nhánh Công ty CP Vật giá VN tại TPHCM : vatgia.com
5 Công ty CP Điện hoa ViệtNam : www.dienhoavietnam.com
Trang 26
CHƯƠNG 3: CÁC CÔNG CỤ HỖ TRỢ
Hiện nay có rất nhiều ngôn ngữ lập trình trên mạng: ASP, FOXWEB, JSP,PHP… cùng với chúng cũng có rất nhiều hệ quản trị CSDL như: MySQL, DB2,SQL Server…Trong hệ thống này em chọn ngôn ngữ lập trình PHP và hệ quản trị
cơ sở dữ liệu MySQL
3.1.Joomla
Joomla! là một hệ quản trị nội dung mã nguồn mở Joomla! được viết bằng
ngôn ngữ PHP và kết nối tới cơ sở dữ liệu MySQL, cho phép người sử dụng có thể
dễ dàng xuất bản các nội dungcủa họ lên Internet hoặc Intranet
Joomla! có các đặc tính cơ bản là: bộ đệm trang (page caching) để tăng tốc độ hiển thị, lập chỉ mục, đọc tin RSS (RSS feeds), trang dùng để in, bản tin nhanh, blog, diễn đàn, bình chọn, lịch biểu, tìm kiếm trong site và hỗ trợ đa ngôn ngữ Joomla! được phát âm theo tiếng Swahili như là jumla nghĩa là "đồng tâm hiệp lực"
Joomla! được sử dụng ở khắp mọi nơi trên thế giới, từ những website cá nhân cho tới những hệ thống website doanh nghiệp có tính phức tạp cao, cung cấp nhiềudịch vụ và ứng dụng Joomla! có thể dễ dàng cài đặt, dễ dàng quản lý và có độ tin cậy cao
Joomla! có mã nguồn mở do đó việc sử dụng Joomla! là hoàn toàn miễn phí cho tất cả mọi người trên thế giới
3.2 VirtueMart
VirtueMart là component cung cấp chức năng bán hàng trực tuyến dành choJoomla rất nổi tiếng Kết hợp với VirtueMart, Joomla lập tức trở thành một trangthương mại điện tử chuyên nghiệp Nhiều chức năng, dễ chỉnh sửa giao diện và
Trang 27đặc biệt là miễn phí - những điều đó đã khiến người dùng Joomla, nhà nhà ngườingười đều nghiên cứu VirtueMart để giúp cho công việc kinh doanh của mình tốthơn Thông thường một sản phẩm bày bán trên website có nhiều đặc điểm, thuộctính (nhất là các sản phẩm công nghệ); trình bày sản phẩm theo dạng Tab là mộtcách rất thông minh, giúp thông tin sản phẩm đẹp hơn và dễ tra cứu một cách khoahọc Người chuyên nghiệp thì có thể tự viết code, tuy nhiên bài này chính là chia
sẻ một cách đơn giản để hiển thị thông tin sản phẩm chi tiết trong VirtueMart theodạng Tab Đơn giản, hiệu quả mà lại có sẵn; đôi khi như vậy lại năng suất hơn việcngồi viết code rồi chỉnh sửa dài dài
3.3.NGÔN NGỮ PHP
3.3.1 Giới thiệu
PHP được dùng để thay thế cho Hypertext Preprocessor( Bộ tiền xử lý siêuvăn bản) là một ngôn ngữ kịch bản nhúng HTML phía server Phần lớn cú phápcủa nó mượn của C, Java, Perl Ngoài ra, nó cũng có thêm một số đặc trưng riêng.Ngôn ngữ PHP cho phép người pháp triển web động một cách nhanh chóng.Chúng ta hãy xem một ví dụ đơn giản
Trang 28kịch bản html với một vài mã nhúng để làm một việc gì đó ( trong ví dụ trên làxuất ra câu “Đây là một ví dụ về PHP”) Mã nguồn của PHP được đặt trong mộtcặp thẻ đặc biệt (‘<?php’ và ‘?>’) Đặc điểm phân biệt PHP với một số ngôn ngữkhác như Java script là mã của nó được thực hiện phía server Các đoạn mã PHP
sẽ được thực hiện trên server trước khi truyền kết quả cho máy client, do đó ngườidùng phía client sẽ không thể biết được đoạn mã thật của PHP Đây cũng là mộtgiải pháp khá hay cho việc bảo mật mã nguồn của PHP
a.PHP có thể làm gì ?
Ở mức đơn giản nhất PHP có thể làm được bất cứ điều gì mà một chươngtrình CGI có thể làm như lấy các form dữ liệu, sinh nội dung các trang động hoặcgửi và nhận các cookie
Có lẽ đặc tính mạnh mẽ nhất và quan trọng nhất của PHP là nó hỗ trợ nhữngCSDL có phạm vi rộng Việc viết những trang Web có CSDL hết sức đơn giản.Những CSDL được PHP hỗ trợ:
Adabas D Ingres Oracle
dBase InterBase Ovrimos
Empress FrontBase PostgreSQL
FilePro mSQL Solid
Hyperware Direct MS-SQL Sybase
IBM DB2 My SQL Velocis
Informix ODBC Unix dbm
PHP cũng hỗ trợ việc liên kết với các dịch vụ khác sử dụng giao thức như IMAP,SNMP, NNTP, POP3…thậm chí cả HTTP bạn cũng có thể sử dụng những socketmạng thô với các giao thức khác nhau
b Những nét lịch sử chính của PHP
PHP bắt đầu được hình thành vào mùa thu năm 1994 bởi Rasmus Lerdorf.Phiên bản đầu tiên non_released được sử dụng trên mạng chủ của ông để lưu giữdấu vết những người xem trực tuyến lý lịch của ông Phiên bản này được sử dụngrộng rãi vào đầu năm 1995 và được biết đến như là công cụ xây dựng trang chủ cánhân( Personal Home Page Tools) Nó có một bộ phận tích cú pháp khá đơn giảntuy nhiên nó chỉ có thể hiểu một số ít macro đặc biệt Sau đó được nâng cấp lên
Trang 29cao hơn và có thể hiểu thêm một số các tiện ích dùng chung trên các trang chủ Bộphận tích cú pháp được viết lại năm 1995 và được đặt tên là phiên bản 2 PHP/FI.Trong phiên bản này các hàm FI( gọi là hàm thông dịch form-Form Interpreter)được Rasmus viết riêng trong một gói khác để thông dịch các form dữ liệu html.Ông đã tổ hợp các thẻ công cụ xây dựng trang chủ với các hàm FI và thêm một số
hỗ trợ mSQL PHP/FI phát triển một cách kinh ngạc và mọi người bắt đầu đónggóp mã nguồn cho nó
Thật khó có thể đưa ra một sự thống kê chính xác nhưng có thể ước lượngđược khoảng 15000 website sử dụng PHP/FI vào cuối năm 1996 trên thế giới Đếngiữa năm 1997 con số này đã lên tới 50000 website, giữa năm 1997 cũng cho thấy
sự thay đổi trong việc phát triển PHP Bộ cú phân tích cú pháp đã được viết lại đểtrở thành phiên bản PHP3 Phần lớn các mã nguồn của PHP/FI được sử dụng trongPHP3 tuy nhiên nhiều phần của nó cũng được viết lại hoàn toàn
Phiên bản PHP4 ra đời đáp ứng hầu hết các chức năng của PHP3 ngoài rachùng còn được hỗ trợ ở mức cao hơn như cho phép tích hợp một dãy các thư viện
và các hàm mở rộng… Ngày nay cả PHP3 và PHP4 đều được sử dụng rất nhiềutrong các sản phẩm thương mại lớn như web server StrongHold của Red Had Một
sự ước lượng dè dặt dựa trên phép ngoại suy từ những con số được cung cấp bởiNetCrafg là trên 5100000 site trên thế giới sử dụng PHP và càng triển vọng hơnkhi càng có nhiều site chạy server IIS của Microsoft trên internet
3.3.2.Một số cú pháp cơ bản của PHP
3.3.2.1 Các thẻ chứa đoạn mã PHP
Có 4 cách để viết một đoạn mã PHP trong một trang web
Cách thứ nhất: đoạn mã PHP được chứa trong cặp thể ‘<?php’ và ‘?>’ cách nàychỉ thực hiện được khi thuộc tính cho phép dùng thẻ ngắn trong file cấu hình củaPHP được thiết lập là enable (thuộc tính này thường được để mặc định là enable)
Ví dụ :
<? echo “Đây là cách thứ nhất”; ?>
Trang 30Cách thứ hai: đoạn mã PHP được chứa trong cặp thẻ ‘<?php’ và ‘?>’ Đây là cáchđầy đủ nhất của PHP.
Ví dụ :
<?php echo “Đây là cách thứ hai”; ?>
Cách thứ ba: đoạn mã PHP được chứa trong cặp thẻ ‘<script language = “php”> và
‘</script>’cách này được đặt mặc định giống như các ngôn ngữ nhúng khác trongcác trang html
Ví dụ :
<script language = “php”> echo “Đây là cách thứ ba “; </cript>Cách thứ tư: đoạn mã PHP được chứa trong cặp thẻ ‘<%>’hoặc ‘<%=’ và ‘%’.Cách này chỉ có tác dụng khi thuộc tính sử dụng các thẻ kiểu ASP được thiết lập làenable trong file cấu hình của PHP
Ví dụ :
<% echo “Đây là cách thứ tư”; %>
<%= echo “Đây là cách thứ tư” ; %>
Trang 31echo “Chú thích kiểu C++”; // một chú thích kiểu C++
echo “Chú thích kiểu shell”; # một chú thích kiểu shell trong Unix
?>
Chú giải trên nhiều dòng được ký hiệu bởi cặp dấu bắt đầu ‘/*’ và kết thúc
‘*/’ mọi ký tự trong cặp dấu này đều được coi là phần chú thích
Ví dụ :
<?php
/* một ví dụ về Chú thích trên nhiều dòng */
echo “ Một ví dụ về chú thích trên nhiều dòng “;
?>
3.3.2.4 Kiểu
PHP hỗ trợ một số các kiểu sau :
a Kiểu mảng
Có hai loại kiểu mảng: mảng một chiểu và mảng nhiều chiều
Một số hàm hỗ trợ liên quan đến mảng trong PHP:
Các hàm tạo mảng : list( ), arrway( )
Các hàm sắp xếp mảng: asort( ), arsorrt( ), ksort( )…
Một số hàm liên quan đến kiểu số:
Các hàm lượng giác:sin( ), cos( ) Tan( ), acos( )
Các hàm số học: abs( ), exp( ), pow( ),log( )…
Trang 32 Các hàm về cơ số: base_convert( ), bindec( ),decbin( )…
Các hàm làm tròn : ceil(), floor()…
Các hàm khác: getrandmax( ), rand( )…
c.Các kiểu đối tượng
PHP cũng hỗ trợ việc khai báo các đối tượng giống như C++ các đối tượngđược khai báo như sau:
Class tên_lớp{
Khai báo các thuộc tínhKhai báo các phương thức}
Để tạo một biến đối tượng sử dụng từ khóa new
d.Kiểu sâu
Đây là kiểu hay dùng nhất trong PHP Các quy tắc về xâu trong PHP giốngnhư trong C Các xâu được đặt trong cặp dấu ‘’ hoặc “” Một số hàm liên quan đếnxâu
Các hàm in xâu: echo( ), print( ), printf( ), flush( )
Các hàm xóa ký tự trắng: chop( ), trim ( ), rtrim( )
Các hàm xử lý xâu: strcmp( ), substr( ), str_replace( )…
Các hàm tìm kiếm xâu: strchr( ), strstr( ), stristr( )
Hàm lấy độ dài xâu: strlen( )
…
3.3.2.5 Cấu trúc điều khiển
PHP có các cấu trúc điều khiển tương tự như C Nó bao gồm:
a Cấu trúc rẽ nhánh
PHP có hai kiểu cấu trúc rẽ nhánh:
1 if (biểu thức) {
[ Khối lệnh ]}
hoặc