SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VẬT LÝ THCS TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH HỌC TẬP BỘ MÔN VẬT LÝ; SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VẬT LÝ THCS TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH HỌC TẬP BỘ MÔN VẬT LÝ; SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VẬT LÝ THCS TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH HỌC TẬP BỘ MÔN VẬT LÝ; SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VẬT LÝ THCS TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH HỌC TẬP BỘ MÔN VẬT LÝ; SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VẬT LÝ THCS TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH HỌC TẬP BỘ MÔN VẬT LÝ; SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VẬT LÝ THCS TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH HỌC TẬP BỘ MÔN VẬT LÝ;
Trang 1BÁO CÁO ĐỔI MỚI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP
“ TỔ CHỨC CÁC TÌNH HUỐNG NÊU VẤN ĐỀ TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC
SINH HỌC TẬP BỘ MÔN VẬT LÝ” Ở TRƯỜNG TH&THCS
1 Lý do hình thành biện pháp:
Vật lí có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của trường THCS, cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức vật lí cơ bản, bước đầu hình thành ở các em những kỹ năng và thói quen làm việc khoa học Học Vật lí là để hiểu, để giải thích được các vấn đề của tự nhiên và cuộc sống thông qua việc tìm hiểu các thuyết, các định luật chi phối các quy luật của tự nhiên
Qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy bộ môn Vật lí ở trường TH&THCS tôi nhận thấy số lượng HS thực sự đam mê học bộ môn Vật lý hầu như rất ít, đa số
HS chưa chịu tìm tòi, say mê nghiên cứu nên kết quả học tập chưa cao Xuất phát từ những thực tế và kinh nghiệm trong bộ môn giảng dạy tôi nhận thấy kết quả học tập chỉ đạt được tối đa khi HS thực sự có hứng thú học tập bộ môn, chủ động tham gia vào các hoạt động tự lực giải quyết các nhiệm vụ học tập theo yêu cầu của GV Bản thân tôi luôn trăn trở, làm thế nào để tạo cho HS hứng thú, say mê với môn học? Làm thế nào để nâng cao chất lượng bộ môn? Có biện pháp gì giúp HS tự tìm tòi, sáng tạo, vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn? Với mong muốn tìm ra những biện pháp đó đã thúc đẩy tôi nghiên cứu biện pháp “Tổ chức các tình huống nêu vấn đề tạo hứng thú cho HS học tập bộ môn Vật lý ” ở trường TH&THCS
2 Thực trạng
2.1 Thuận lợi:
Biện pháp được viết dựa trên chuẩn kiến thức kỹ năng của bộ môn Vật lý , các tài liệu tham khảo, sách giáo khoa, sách giáo viên bộ môn Vật lý THCS có sẵn trong thư viện, tra cứu Internet dễ tìm dễ vận dụng
Hiện nay, giáo viên bộ môn nói chung và giáo viên Vật lí ở trường tôi nói riêng nhiệt tình, chịu khó và rất tích cực trong việc đổi mới phương pháp dạy và học làm cho chất lượng môn học đạt được hiệu quả cao
Trang 2Được sự quan tâm, động viên của Lãnh đạo nhà trường,sự phối hợp, cộng tác của GV bộ môn trong quá trình trao đổi cũng như cung cấp tư liệu trong việc đổi mới phương pháp dạy và học có hiệu quả
Đa số các em HS ngoan ngoãn biết nghe lời thầy cô giáo
2.2 Khó khăn:
Để có hệ thống câu hỏi trong dạy học đạt yêu cầu đòi hỏi giáo viên phải dành nhiều thời gian, công sức nghiên cứu, tìm tòi
Vì kiến thức là bao la nên việc lựa chọn những vấn đề đưa ra giải quyết
tình huống chỉ đáp ứng một phần trong kho tàng kiến thức vô tận Thời gian 45 phút cho một tiết học là quá ít, không đủ thời gian để giáo viên đặt nhiều câu hỏi dẫn dắt HS nhận xét, phán đoán hiện tượng
Vẫn còn một số ít phụ huynh không quan tấm đến việc học của con cái, chưa tạo điều kiện về thời gian, mua sách tham khảo, sách nâng cao để các em học tốt hơn Nhiều học sinh còn coi thường môn học coi đây không phải là môn học chính
3 Nội dung các biện pháp:
Tình huống nêu vấn đề là hoạt động thường tiến hành ở đầu bài học hoặc
ở đầu mỗi phần trong bài Hoạt động này có tác dụng tập trung sự chú ý của học sinh vào nội dung mà giáo viên sắp trình bày Để hoạt động này tiến hành có hiệu quả thì cần phải làm cho học sinh cảm thấy tò mò về vấn đề mà giáo viên sắp trình bày, muốn vậy vấn đề mà giáo viên dẫn dắt phải mới, lạ và hứng thú đối với học sinh
3.1 Gây hứng thú học tập cho học sinh từ việc nêu một tình huống thực
tế có liên quan đến bài học:
Nêu một tình huống thực tế có liên quan đến bài học cho lời giới thiệu bài giảng mới, cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh bất ngờ, có thể là một câu hỏi rất khôi hài hay một vấn đề rất bình thường mà hằng ngày học sinh vẫn gặp, nhưng rất có tác dụng tạo sự chú ý quan tâm của học sinh trong quá trình dạy học
*Khi dạy bài “Sự nở vì nhiệt của chất lỏng” (SGK Vật lý 6)
Trang 3GV: Trong lớp mình có em nào đã tự mình đun nước giúp bố mẹ chưa ?
HS: Dạ em có đun rồi ạ.
GV: Nếu đổ nước đầy ấm, khi nước sôi em thấy hiện tượng gì không?
HS: Nước tràn ra ngoài ạ.
GV: Vậy tại sao khi đun nước ta không nên đổ nước thật đầy ấm?
HS: ???
GV: Vậy để trả lời được câu hỏi trên lớp chúng ta cùng nghiên cứu bài học hôm
nay
HS sẽ chú ý theo dõi bài học để trả lời câu hỏi trên
TL: Khi đun nóng cả ấm và nước trong ấm đều dãn nở nhưng sự dãn nở của ấm
ít hơn của nước, thể tích nước tăng lên nên nước sẽ tràn ra ngoài
*Khi dạy bài “Ứng dụng sự nở vì nhiệt ”(SGK Vật lý 6 )
GV: Tại sao khi rót nước vào cốc thủy tinh dày thì cốc dễ vỡ hơn là khi rót vào
cốc thủy tinh mỏng ?
HS: Cố gắng tìm câu trả lời
GV: Để trả lời câu hỏi trên chúng ta đi vào bài mới
TL: Vì khi rót nước vào cốc thủy tinh dày phần bên trong cốc nóng tước nở ra vì
nhiệt còn phần bên ngoài chưa nóng kịp nên chưa dãn nở Kết quả là lớp thủy tinh ngoài chịu một lực từ trong ra và cốc bị vỡ Khi rót nước nóng vào cốc thủy tinh mỏng thì lớp thủy tinh bên trong và bên ngoài cùng nóng lên và dãn nở gần như đồng thời do đó cốc không bị vỡ
*Khi dạy bài “Bức xạ nhiệt ”( SGK Vật lý lớp 8 )
GV: Khi trời nắng nóng các em mặc quần áo sẫm màu, các em thấy trong người
như thế nào?
HS: Em thấy rất nóng
GV: Nguyên nhân vì sao em biết không ?
HS: Lúng túng
GV: Để giải thích được điều này chúng ta tìm hiểu bài bức xạ nhiệt
Sau khi học xong bài học sinh giải thích được hiện tượng các vật có màu sẫm thì hấp thụ nhiệt tốt
Trang 4* Khi dạy bài “Ứng dụng định luật truyền thẳng của ánh sáng” (SGK
Vật Lí 7)
Trước khi học bài này giáo viên yêu cầu học sinh về nhà quan sát thật kĩ bóng của mình khi đi ngoài trời nắng hoặc bóng của người khác, bóng của bàn tay khi
bị bóng đèn điện chiếu in lên tường vào ban đêm, (chú ý quan sát sự đậm nhạt của viền ngoài so với bên trong)
Khi vào tiết dạy giáo viên yêu cầu 1 - 2 học sinh nêu kết quả quan sát
GV: Tại sao lại có hiện tượng đó?
HS: Lúng túng không biết trả lời thế nào
GV: Để giải thích được vấn đề trên, ta cùng nghiên cứu vào bài mới
HS: Sẽ chú ý vào bài mới để tìm cách trả lời câu hỏi trên
TL:Vùng phía sau không nhận được ánh sáng chiếu tới thì có màu đậm ( bóng
tối )
Vùng phía sau chỉ nhận được một phần ánh sáng chiếu tới gọi là vùng nửa tối ( viền mờ )
* Khi dạy bài “ Sự nổi ” (SGK Vật Lí 8)
GV: Cầm một tờ giấy bạc trên tay, theo các em tờ giấy này thả vào nước thì nó
chìm hay nổi
HS: Trả lời
GV: Gấp thành thuyền rồi thả vào nước thì nó nổi, sau đó vo tròn lại thả vào
nước thì lại chìm Vì sao các em biết không ?
HS: lúng túng
GV: Để giải thích được vấn đề trên, lớp mình cùng nghiên cứu vào bài mới HS: Sẽ chú ý vào bài mới để tìm cách trả lời câu hỏi trên
TL: Giấy bạc được gấp thành thuyền thả vào nước thì nổi vì trọng lượng riêng
trung bình của thuyền nhỏ hơn trọng lượng riêng của nước ( Thể tích của thuyền lớn hơn nhiều lần thể tích của giấy bạc vo tròn lại (d thuyền < d nước) Tờ giấy bạc
vo tròn lại thả vào nước thì chìm vì trọng lương riêng của nó lớn hơn trọng lượng riêng của nước (dbạc > d nước )
* Khi dạy bài “ Thấu kính hội tụ ” (SGK Vật Lí 9)
Trang 5GV: Một nhóm các nhà thám hiểm Bắc cực, khi đi quên mang theo lửa Họ đã
nghĩ ra một cách dùng những tảng băng để lấy lửa Liệu rằng họ có lấy được lửa
từ những tảng băng lạnh giá đó không?
HS: Bỡ ngỡ vì có thể chưa nghe thấy bao giờ và tự đặt ra câu hỏi: Băng nó lạnh
như thế thì lấy lửa làm sao được?
GV: Để giải thích được vấn đề trên, ta cùng nghiên cứu vào bài mới
HS: Sẽ chú ý vào bài mới để tìm cách trả lời câu hỏi trên.
Sau khi học xong bài GV có thể hướng dẫn HS trả lời câu hỏi như sau: Những nhà thám hiểm đã dùng tảng băng trong suốt, gọt tròn tựa như một thấu kính hội tụ, chỉ cần đưa thấu kính băng hướng vào ánh sáng mặt trời để ánh sáng tích tụ chiếu qua thấu kính băng rồi đặt các chất đễ cháy như giấy, đống lá khô, mùn cưa ở tiêu điểm và thế là… lửa bùng cháy
3.2 Gây hứng thú cho học sinh bằng những thí nghiệm vật lí có tính li kì
* Khi dạy bài “Sự nở vì nhiệt của chất rắn” (SGK Vật Lí 6 )
Trước khi học bài này giáo viên yêu cầu học sinh thả quả cầu kim loại chưa hơ nóng xem có lọt qua vòng kim loại hay không Sau đó GV hơ nóng quả cầu kim loại bỏ qua vòng kim loại
GV: Tại sao khi hơ nóng quả cầu lại không lọt qua vòng kim loại?
HS: Lúng túng sẽ không giải thích được tại sao lại có hiện tượng kì lạ này.
Từ thí nghiệm đó giáo viên giới thiệu bài học mới Làm như vậy sẽ kích thích ngay được tính tò mò, hiếu kì của học sinh mong muốn giải thích được hiện tượng thí nghiệm trên Nên học sinh sẽ chú ý ngay vào bài học
TL: Khi bị hơ nóng quả cầu nở ra, thể tích tăng lên nên không lọt qua vòng kim
loại
* Khi dạy bài “Quán tính ” ( SGK Vật lý 8)
GV: Đặt một cốc nước đầy lên trên một tờ giấy mỏng để trên bàn nhanh tay giật
mạnh tờ giấy ra khỏi đáy cốc thì cốc nước vẫn đứng yên
HS: Chăm chú theo dõi
GV: Em nào giải thích được hiện tượng trên
HS: ???
Trang 6GV: Để trả lời câu hỏi trên chúng ta đi nghiên cứu bài học mới.
TL: Do có quán tính cốc chưa kịp thay đổi vận tốc nên vẫn đứng yên khi ta giật
mạnh tờ giấy
* Khi dạy bài “ Áp suất khí quyển” ( SGK Vật Lí 8,)
Ngay khi vào lớp giáo viên gọi ngay hai học sinh to khoẻ nhất lớp lên bục giảng
và hỏi học sinh cả lớp
GV: Theo các em, hai bạn này kéo được khoảng bao nhiêu kg?
HS: Trả lời
GV: Các em có tin là hai bạn này không kéo nổi hai núm cao su nặng khoảng 1
gam không
HS: Nghi ngờ về khẳng định của giáo viên
GV: Dùng hai núm cao su trong bộ thí nghiệm được cấp của nhà trường để làm thí nghiệm thay cho thí nghiệm “ Mác Đơ Buốc ” Đặt hai núm cao su trồng khít
lên nhau rồi dùng tay ép sao cho không khí bên trong ra ngoài hết Yêu cầu hai học sinh dùng hết sức để kéo (Không được làm việc gì ngoài việc kéo)
HS: Sẽ thấy kì lạ khi hai bạn của mình không kéo nổi hai núm cao su bé tí tẹo GV: Tại sao hai bạn không kéo được hai núm cao su đó ra khỏi nhau?
Làm như vậy sẽ kích thích ngay được tính tò mò, hiếu kì của học sinh Nên học sinh sẽ chú ý ngay vào bài học Hoặc có thể GV mở đầu bằng một thí nghiệm úp ngược cốc nước đầy có đặt một tờ giấy không thấm nước lên trên, thả tay giữ tờ giấy ra, tờ giấy không rơi và nước không đổ
GV: Em nào có thể giải thich được hiện tượng trên
HS: Chưa biết trả lời
GV: Để giải thích được hiện tượng trên chúng ta cùng nghiên cứu bài học mới TL: Nước không chảy ra vì trọng lượng của cột nước nhỏ hơn áp suất không khí
gây ra tác dụng từ dưới lên
* Khi dạy bài “ Dẫn nhiệt ” ( SGK Vật Lí 8 ) ngay khi vào lớp giáo viên
xin một học sinh nữ hai sợi tóc
GV: Theo các em khi Cô cho sợi tóc vào lửa thì hiện tượng gì xảy ra? HS: Tóc sẽ cháy.
Trang 7GV: Các em có tin rằng Cô dùng lửa đốt mà sợi tóc không cháy không ?
HS: Nghi ngờ về khẳng định của giáo viên
GV: Dùng sợi tóc quấn chặt vào thanh kim loại đồng hình trụ tròn rồi hơ vào
ngọn lửa cho học sinh quan sát Sau đó tháo sợi tóc ra cho học sinh quan sát lại
HS: Sẽ rất ngạc nhiên khi sợi tóc bị đốt mà không bị cháy
GV: Đặt vấn đề: Em nào cho Cô biết vì sao sợi tóc bị đốt mà không cháy?
Từ đó kích thích được tính tò mò của học sinh, học sinh sẽ chú ý ngay vào bài học
TL:Vì thanh đồng là vật truyền nhiệt rất tốt nên khi đốt sợi tóc, nhiệt truyền
sang thanh đồng nhanh, trong khi đó tóc dẫn nhiệt kém nên không đủ nhiệt độ
để cháy
Tuy nhiên không phải tất cả các bài chúng ta đều thực hành được thí nghiệm tạo tình huống có vấn đề vào bài, nhưng với những bài có thể thì giáo viên nên tìm những thí nghiệm thật gần gũi nhưng đặc sắc để đưa lên đầu bài nhằm tạo tình huống có vấn đề, gây hứng thú học tập cho học sinh
3.3 Kể một câu chuyện có liên quan đến bài học:
Để các em có thái độ học tập tích cực đối với môn Vật lý, trước hết phải làm cho các em hiểu tầm quan trọng của môn học Chúng ta phải giúp các em hiểu rằng các thành tựu khoa học ngày nay có những đóng góp không nhỏ của Vật
lý Nền văn minh mà nhân loại có được không thể thiếu những công trình, những nghiên cứu khoa học của các nhà Vật lý vĩ đại như: Isaac Newton, Archimedes, Kepler, Acsimet, Anhxtanh… Giáo viên nên giới thiệu và kể nhiều
về các câu chuyện liên quan đến môn vật lý, bởi khi đó sẽ kích thích tính tò mò muốn tìm hiểu của các em, khuyến khích các em tìm đọc nhiều hơn tài liệu môn Vật lý Từ đó cho các em hiểu rằng môn Vật Lý không phải môn học khô khan
và khó hiểu như các em nghĩ, mà nó là một môn học rất lý thú, là một môn khoa học để khám phá thế giới và tầm ảnh hưởng của nó đến đời sống là rất lớn
*Khi dạy bài “Trọng lực” (SGK Vật lý 6)
GV có thể kể câu chuyện về nhà bác học Newton chuyện về quả táo chín đây
là câu chuyện thú vị và đầy ý nghĩa về nhà khoa học vĩ đại Newtom
Trang 8Vào một mùa thu Newton ngồi trên chiếc ghế trong vườn hoa đọc sách, bỗng nhiên một quả táo từ trên cây rơi xuống “bịch ” một tiếng trúng đầu Newton Ông xoa đầu nhìn quả táo chín lăn xuống vũng bùn Quả táo đã cho ông một gợi
ý miên man ? Quả táo chín rồi tại sao lại rơi xuống đất ? Tại vì gió thổi chăng ? không phải, khoảng không gian rộng mênh mông tại sao lại phải rơi xuống mà không phải bay lên trên? Như vậy trái đất có gì hút nó sao? Mọi vật trên trái đất đều có sức nặng, hòn đá ném đi rốt cuộc lại rơi xuống, trọng lượng của mọi vật
có phải là kết quả của lực hút không? Sau này Newton nêu ra mọi vật trên trái đất đều chịu sức hút của trái đất đó chính là trọng lực
*Khi dạy bài: Lục đẩy Ácsimét (SGK Vật lý 8) khi chuyển qua phần II Độ lớn của lực đẩy Ácsimét GV giới thiệu câu chuyên vui về: “Bí mật trong chiếc vương miện”
Ácsimét là nhà vật lý học cổ Hy Lạp, sinh ra ở thành phố Syracuse, trên đảo Sicile Do có kiến thức uyên bác nên ông được nhà vua và toàn dân kính trọng
Có lần nhà vua giao cho thợ kim hoàn làm vương miện bằng vàng, tất cả số vàng dùng làm vương miện đều được cân trước Một thời gian sau, vương miện
đã làm xong, đem dâng cho nhà vua Nhà vua rất đỗi vui mừng, cầm chiếc vương miện xoay vài vòng Bỗng nhiên ý nghĩ hoài nghi lóe lên, nhà vua hỏi người thợ: “Chiếc vương miện này đều làm bằng vàng rồng cả đấy chứ ?”
“Thưa vâng ạ”,người thợ đáp dứt khoát
“Không đúng, ta thấy các ngươi đã trộn bạc lẫn vào vàng để ăn cắp vàng của ta!” “Kẻ hèn mọn này đâu dám! Đâu dám!”
Vì không có chứng cứ, người thợ nhất định không nhận, nhà vua quay lại hỏi đám quần thần của mình: “Các khanh có thấy đúng vậy không?”
Đám quần thần cũng chẳng người nào biết Lúc đó có một vị đại thần đề nghị:
“Thưa bệ hạ hãy cho triệu mời Ácsimét đến kiểm tra”
“Ừ, được”, nhà vua đồng ý với đề nghị Ácsimét được mời vào cung vua, vua nói với Ácsimét “Ácsimét ta cần ngươi kiểm tra xem trong chiếc vương miện này đã bị trộm bao nhiêu vàng, nhưng không được làm hỏng vương miện ” Ácsimét nhận lệnh nhà vua giao cho, đem vương miện về nhà tìm cách kiểm tra
Trang 9Nhiều ngày trôi qua mà ông vẫn chưa có cách gì để kiểm tra Ácsimét lo lắng suy nghĩ, quên cả ăn, mất cả ngủ Hôm đó, ông vào buồn tắm, ngâm mình vào bồn nước nhìn thấy hiện tượng có nước tràn ra ngoài, trong đầu liền lóe lên biện pháp giải quyết ra vấn đề, vì quá mừng rỡ ông quên cả việc mặc quần áo nhảy vọt ra khỏi bồn tắm, vừa chạy vừa la:
“Ơ rê ca! ơ rê ca!!!!” ( tìm thấy rồi, tìm thấy rồi ), mọi người chung quanh đều cho là Ácsimét bị điên, thì ra trong khi tắm Ácsimét phát hiện ra rằng:“ trọng lượng của vật thể bị giảm đi khi ngậm trong nước đúng bằng trọng lượng nước
mà nó chiếm chỗ” Trên cơ cở nguyên lý này ông đã tìm thấy biện pháp kiểm tra chiếc vương miện Ông bỏ chiếc vương miện vào trong một chậu nước đầy, hứng lấy số nước tràn ra rồi đem cân Tiếp đó, ông lấy vàng rồng có cùng trọng lượng với vương miện lại bỏ vào chậu nước đầy đó hứng lấy nước tràn ra và đem cân, kết quả nước tràn ra khi bỏ vàng vào chậu ít hơn là nước tràn ra khi bỏ vương miện vào chậu, vì tỉ trọng giữa vàng và bạc không bằng nhau vì vậy ông xác định được chiếc vương miện đã bị trộn bạc vào.Trước chứng cứ đó, người thợ kim hoàn đành phải nhận tội Từ đó, nhà vua càng thêm tin tưởng và tôn trọng Ácsimét: “bất luận Ácsimét nói gì đều phải tin tưởng ông ấy” Về sau người ta gọi nguyên lý do Ácsimét xác định được là định luật Ácsimét
Lực đẩy Ácsimét Đúng vậy, bất ngờ dẫn đến bất ngờ
Vậy độ lớn của lực đẩy Ácsimét được tính như thế nào chúng ta qua phần II, cách giới thiệu tình huống trên thôi thúc học sinh tham gia vào nghiên cứu bài học một cách tích cực
Những hiện tượng trên hoặc quá gần gũi hoặc quá xa lạ, lâu nay ta cho nó là những hiện tượng hiển nhiên không cần giải thích hoặc giải thích chưa được hoặc mới nghe lần đầu Từ đó sẽ kích thích được tính tò mò, ham hiểu biết của học sinh, học sinh sẽ chú ý hơn vào bài học
Như vậy, tất cả các tiết dạy bài mới chúng ta đều có thể chọn ra một hiện tượng gần gũi mà học sinh chưa giải thích được, để đặt câu hỏi nêu vấn đề vào bài Ngoài ra trong mỗi tiết dạy đặt câu hỏi có vấn đề trước khi chuyển mục cũng gây hứng thú học tập cho học sinh
Trang 104 Kết quả thực hiện:
Qua nhiều năm áp dụng biện pháp này tại trường TH&THCS vào việc giảng dạy môn Vật Lý cho học sinh các khối 6, 7, 8, 9 và đem lại thành công nhất định trong quá trình dạy và học Qua các tiết học, các em có hứng thú học tập hơn, yêu thích môn học hơn, thoải mái, tự tin hơn Với sự cố gắng của bản thân, tôi đã hình thành cho các em HS nhu cầu tự học, phát triển ở các em tư duy tích cực, độc lập và sáng tạo trong học tập Cụ thể đó là kết quả của sự kiểm tra
và đối chiếu từ phía các em học sinh trước và sau khi được tham gia vào các tiết học:
Môn lớp
Tổng
số HS
Trước khi áp dụng giải pháp
(Đầu năm học)
Sau khi áp dụng giải pháp
( Kết thúc năm học 18-19 và 19-20, kết thúc giữa học kì I năm học 20-21)
HS không thích học HS thích học HS không thích học HS thích học
Vật Lý 8
Vật Lý 7
Vật Lý 6B, C
Vật Lý 9
5 Bài học kinh nghiệm:
5 1 Kết luận:
Để đạt được kết quả tốt trong quá trình dạy học, một trong các yếu tố quan trọng là người học phải có hứng thú học tập Đặc biệt là môn Vật Lí, mỗi
sự vật hiện tượng đều thể hiện một yếu tố, một bản chất nào đó của quy luật tự nhiên Những hiện tượng Vật Lí đó có thể rất quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày của mỗi chúng ta nhưng những hiện tượng tưởng chừng như hiển nhiên
đó, để nghiên cứu và trả lời được câu hỏi vì sao lại thế thường gây được ấn tượng mạnh vào tâm lí, sự hiếu kì của HS , kích thích niềm say mê học tập cho các em học sinh, phát triển tiềm lực trí tuệ, tư duy, tính tích cực sáng tạo, giúp các em phát huy được khả năng tìm tòi, để giải quyết các vấn đề đặt ra
GV phải có trình độ chuyên môn vững vàng, kiến thức sâu rộng về các