LỜI NÓI ĐẦULý thuyết thiết lập chương trình nghị sự Agenda setting theory là lý thuyếttruyền thông có tầm ảnh hưởng quan trọng đến các nhân tố của truyền thông từ các cơquan truyền thông
Trang 1BỘ NGOẠI GIAO HỌC VIỆN NGOẠI GIAO -* -
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
ĐẠI CƯƠNG TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG
LÝ THUYẾT THIẾT LẬP CHƯƠNG TRÌNH
NGHỊ SỰ (AGENDA SETTING)
Giảng viên hướng dẫn: TS Phan Văn Kiền
Nhóm sinh viên thực hiện:
Hoàng Minh Anh TT47A1-0536 Trần Thị Ngọc Anh TT47C1-0467 Nguyễn Thị Thùy Dương TT47A1-0544 Tăng Lê Nhã Hân TT47A1-0551
Trang 2Hà Nội, tháng 6 năm 2021
I Lịch sử nghiên cứu và khái niệm của Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự: 4
II Nội dung, đặc điểm chính của Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự: 7
III Phân tích về thuyết thiết lập chương trình nghị sự trong thực tiễn truyền thông
1 Ảnh hưởng của truyền thông quốc tế và trong nước đến bầu cử ở Mỹ và Việt
1.2 Ảnh hưởng của truyền thông Việt Nam lên sự thay đổi trong thái độ của
1.3 Nhánh hành pháp thứ tư ở Mỹ: Sự chi phối của các tập đoàn truyền
2 Thái độ và chiến lược truyền thông của Mỹ và phương Tây đối với những
2.2 Tên lửa Trung Quốc và Hoa Kỳ: Cùng một hiện tượng nhưng hai cái
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự (Agenda setting theory) là lý thuyếttruyền thông có tầm ảnh hưởng quan trọng đến các nhân tố của truyền thông từ các cơquan truyền thông đến công chúng và cả những nhà hoạch định chính sách Đặc biệt,trong bối cảnh ngày nay khi Internet có mặt ở khắp mọi nơi, mạng xã hội trở thànhmột phần thiết yếu trong cuộc sống của cả những người trẻ và người già, lý thuyếtthiết lập chương trình nghị sự lại càng được vận dụng dễ dàng và nhanh chóng hơnbao giờ hết Do vậy, trong tiểu luận này, từ việc nghiên cứu các lý luận về thuyết thiếtlập chương trình nghị sự, chúng em sẽ phân tích sự chi phối và tác động của truyềnthông quốc tế và Việt Nam trong một số trường hợp tiêu biểu khác nhau nhằm chỉ rõhiệu quả đa dạng của thuyết thiết lập chương trình nghị sự Cụ thể, bài tiểu luận sẽ có
3 phần chính:
I Lịch sử nghiên cứu và khái niệm của Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự
II Nội dung, đặc điểm chính của Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự
III Phân tích về thuyết thiết lập chương trình nghị sự trong thực tiễn truyền thông tại Việt Nam và thế giới
Bài tiểu luận này là sản phẩm cuối kỳ được đúc kết sau một thời gian dài học tập và tiếp thu kiến thức từ thầy, anh chị và các bạn Mặc dù còn nhiều thiếu sót, chúng em mong bài làm phần nào đáp ứng được những kỳ vọng của thầy Thời gian qua, cả lớp và thầy đã cùng nhau trải qua một học kỳ vất vả nhưng cũng rất thành công dù có sự xuất hiện đột ngột của dịch bệnh COVID-19 Nhóm em xin chân thành cảm ơn thầy và chúc thầy cùng gia đình thật nhiều sức khỏe để cùng bọn em hoàn thành tiếp những chặng đường phía trước Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4NỘI DUNG
I Lịch sử nghiên cứu và khái niệm của Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự:
1 Những nghiên cứu ban đầu và sự ra đời:
Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự được đặt nền móng từ năm 1922, khiWalter Lippmann- một nhà văn, phóng viên và nhà bình luận chính trị người Mỹ bày
tỏ mối quan tâm của ông về vai trò quan trọng mà các phương tiện truyền thông đạichúng có thể làm trong việc ảnh hưởng đến bối cảnh của một số hình ảnh nhất định
trong tâm trí công chúng, đề cập trong tác phẩm “Public Opinion” (1922) với một chương có tựa đề “The world Outside and the Pictures in Our Heads” (Thế giới bên
ngoài và những hình ảnh trong đầu chúng ta)1 Theo như Lippmann thì các phươngtiện truyền thông là nguồn chính của những hình ảnh, những viễn cảnh đó trong đầuchúng ta về thế giới ngoài kia với các vấn đề xã hội, một thế giới mà đối với hầu hếtcông chúng là ngoài tầm với và khó có thể nhận ra được Những gì chúng ta biết vềthế giới, hay "những bức tranh trong đầu chúng ta", phần lớn dựa trên những gì cácphương tiện truyền thông truyền tải tới chúng ta
Từ đây, Lippmann đã chỉ ra được cách các phương tiện truyền thông đại chúng
có thể thiết lập một chương trình nghị sự có thể ảnh hưởng đến quan điểm của côngchúng Tuy nhiên, ông không hề sử dụng bất cứ thuật ngữ "lý thuyết thiết lập chươngtrình nghị sự" nào trong cuốn sách của mình Mặc dù vậy, không thể phủ nhận chínhông đã tạo ra nền tảng cho lý thuyết này
Sau phát hiện của Lippmann, thuật ngữ "lý thuyết thiết lập chương trình nghịsự" lần đầu tiên được đặt ra bởi Maxwell McCombs và Donald L.Shaw vào năm
19722 McCombs - người được biết đến rộng rãi trong lĩnh vực truyền thông đại chúng
vì những phát hiện và thành tựu của ông trong nghiên cứu thiết lập chương trình nghị
sự trong gần bốn thập kỷ3 Ông đã thiết lập chương trình nghị sự từ một giả thuyếtthành công đến một lý thuyết phát triển cao về nghiên cứu truyền thông đại chúng,đồng thời thừa nhận và mở rộng những hiểu biết của Walter Lippmann có trong
1 Lippmann, W (1922) Public opinion Transaction Publishers
2 McCombs, M.E (1997) New frontiers in agenda setting: Agendas of attributes and frames Mass
Communication Review, 24, 4-24 McCombs, M.E., & Shaw, D.L (1972) The agenda-setting function of mass
media Public Opinion Quarterly
3 Max McCombs, the University of Texas at Austin, https://journalism.utexas.edu/faculty/max-mccombs, truy cập ngày 10/06/2021
Trang 5“Public Opinion” rằng những gì chúng ta biết, phần lớn dựa trên những gì các phương
tiện truyền thông quyết định cho chúng ta biết
Nghiên cứu đầu tiên của ông, Chapel Hill, được thực hiện với cộng sự của
ông, Donald Shaw, trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1968 với hai ứng cử viên làRichard Nixon và Hubert Humphrey Họ đã tiến hành nghiên cứu với đối tượng là các
cử tri chưa quyết định lá phiếu của mình Nếu thuyết thiết lập chương trình nghị sựthực sự có ảnh hưởng tới nhóm cử tri này thì giả thuyết nghiên cứu sẽ hợp lý và kháchquan hơn Khi tiến hành phân tích nội dung của các bản tin chính trị đăng tải trêntruyền thông Mỹ trong cùng một thời gian, McCombs và Donald Shaw đã phát hiện rarằng, giữa sự phán đoán của cử tri về những vấn đề quan trọng trước mắt và nhữngvấn đề được các hãng truyền thông đưa tin nhiều đều có mối quan hệ tương quan sâusắc Bằng cách điều tra chức năng của thiết lập chương trình nghị sự của các phươngtiện truyền thông đại chúng, họ đánh giá mối quan hệ giữa những vấn đề mà cử tritrong một cộng đồng cho rằng là quan trọng và những nội dung thực tế của các thôngđiệp mà các nhà truyền thông đã sử dụng trong suốt cuộc chiến dịch tranh cử Họ điđến kết luận rằng: các phương tiện truyền thông đại chúng đã có ảnh hưởng đáng kểtới những điều mà cử tri cho rằng nó là chính là vấn đề trọng tâm của chiến dịch4
McCombs và Shaw sau đó tiếp tục nghiên cứu Charlotte để thiết lập trật tự thời gian,
đây là điều kiện thứ hai cần thiết để xác định ảnh hưởng cơ bản của các thông điệptruyền thông Nó dựa trên nghiên cứu của hội đồng được thực hiện tại Charlotte trongcuộc bầu cử tổng thống năm 1972 Nghiên cứu được thiết kế để chứng minh rằng,chương trình nghị sự của các phương tiện truyền thông đi trước và ảnh hưởng đếncông chúng Đây là một bước ngoặt, trong đó giả thuyết của họ trên thực tế đã trởthành một lý thuyết đang phát triển
2 Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự (Agenda Setting Theory):
Kể từ khi nghiên cứu ban đầu Chapel Hill của McCombs với đồng nghiệp
Donald Shaw của ông đặt ra thuật ngữ "thiết lập chương trình nghị sự" vào năm 1968,
lý thuyết này được phổ biến và phát triển rất nhiều, hơn 400 nghiên cứu về thiết lậpchương trình nghị sự đã được thực hiện trên toàn thế giới
4 L Shaw và M.E.McCombs, The emergence of American Political Issues: The Agenda Setting Function of the
Press, West Publishing.
Trang 6Lý thuyết này giải thích mối liên hệ giữa sự nhấn mạnh mà các phương tiệntruyền thông đại chúng đặt ra như một vấn đề và khán giả truyền thông hoặc phản ứnghoặc thuộc tính của công chúng đối với vấn đề đó.5
Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự bắt đầu như một lời giải thích về cáchcác phương tiện truyền thông đại chúng ảnh hưởng đến việc thay đổi mô hình hành vichính trị trong các cuộc bầu cử.6 Sau đó, lý thuyết đã truyền cảm hứng và phát triểnhàng trăm khám phá sau này về cách các phương tiện truyền thông đại chúng và đóngkhung các vấn đề cho khán giả của họ Không chỉ giới hạn ở đó, cuộc thảo luận còn đềcập đến cách các phương tiện truyền thông đại chúng tạo màu cho một sự kiện cụ thểcho khán giả truyền thông của họ.7
Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự là lý thuyết quan trọng không chỉ vềtruyền thông đại chúng, mà còn mở rộng sang các nghiên cứu khoa học xã hội liênquan khác như truyền thông chính trị.8 Theo lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự,các phương tiện truyền thông đại chúng được cho là không có khả năng thiết lậpchương trình nghị sự công cộng đặc biệt là trong các vấn đề ý kiến hoặc thái độ.9 Tuynhiên, các phương tiện này có quyền truy cập đặc biệt trong việc đóng góp hoặc ảnhhưởng đến nhận thức, giá trị, sự tập trung và ưu tiên của khán giả Với ảnh hưởng đó,khán giả truyền thông có xu hướng hình thành ý kiến của riêng họ hoặc tập trung vàonhững vấn đề được coi là xứng đáng để đưa vào chương trình nghị sự của họ
Tựu chung lại, lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự (Agenda SettingTheory) là một lý thuyết truyền thông, tập trung mô tả sự ảnh hưởng của các phươngtiện truyền thông đại chúng trong việc xác lập tầm quan trọng của thông tin được gửitới công chúng Theo đó, trong quá trình truyền thông, nếu những tin tức nào đó đượcnhắc tới thường xuyên, liên tục và được làm nổi bật thì công chúng sẽ tự động coi đó
là tin tức và thông tin quan trọng nhất được cung cấp cho họ.10
5 Littlejohn, S W., & Foss, K A (Eds.) (2009) Encyclopedia of communication theory (Vol 1)
6 Cohen, B.C (1963) The press and foreign policy Princeton, NJ: Princeton University Press
7 Matsaganis, M D., & Payne, J G (2005) Agenda Setting in a Culture of Fear The Lasting Effects of
September 11 on American Politics and Journalism American Behavioral Scientist, 49(3), 379-392.
8 Reese, S D (1991) Setting the media's agenda: A power balance perspective Communication Yearbook, 14,
309-340.
9 Cohen, B.C (1963) The press and foreign policy Princeton, NJ: Princeton University Press
10 Communication Theory, Agenda Setting Theory,
https://www.communicationtheory.org/agenda-setting-theory/#comment-787, truy cập 10/06/2021
Trang 7Điểm nổi bật của lý thuyết này là truyền thông đại chúng có một chức năng sắpđặt “chương trình nghị sự” cho công chúng, các bản tin và hoạt động đưa tin của cơquan báo chí - truyền thông ảnh hưởng đến sự phán đoán của công chúng tới những
“chuyện đại sự” của thế giới xung quanh và tầm quan trọng của chúng, bằng cách phủcho các “chương trình” nét nổi bật khác nhau, từ đó có thể tác động và tạo ra sự dẫnđường, định hướng trong tương lai
II Nội dung, đặc điểm chính của Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự:
1 Mô hình khái niệm:
Mô hình dưới đây giúp mô tả cơ chế thiết lập chương trình nghị sự, đồng thờiqua đó làm rõ các loại hình nghị sự, và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hoạt độngcủa nó
Gatekeeper – người kiểm soát, là khái niệm để chỉ một chủ thể tham gia vào
quá trình đưa ra quyết định của sản phẩm truyền thông Thông thường, người kiểmsoát truyền thông là một nhà báo hoặc biên tập viên được giao nhiệm vụ lọc thông tintrước khi nó được xuất bản, phát sóng hoặc đăng trên web.11 Đối với Internet, cáccông cụ tìm kiếm cũng có thể được hiểu với khái niệm Gatekeeper Không phải tất cảthông tin đều có thể được truyền đến công chúng Người kiểm soát quyết định thôngtin nào phù hợp và thông tin nào có thể bị loại bỏ Đầu tiên, có những ảnh hưởng bên
11 Reference, What Is a Media Gatekeeper?,
https://www.reference.com/world-view/media-gatekeeper-8ad05306bf88ea8c, truy cập ngày 10/06/2021
Trang 8ngoài phương tiện truyền thông như thông cáo báo chí và hội nghị, cung cấp chonhững người gác cổng thông tin để đưa vào chương trình nghị sự Những người gáccổng đánh giá cao những ảnh hưởng này bởi vì chúng cung cấp cho họ những nguồnquan tâm của công chúng Chúng cũng cho phép người gác cổng sản xuất tin tức mộtcách hiệu quả, vì họ cung cấp một lượng lớn thông tin về vấn đề này Các ảnh hưởngkhác đến nội dung bao gồm các đặc điểm cá nhân của nhà báo và các cân nhắc về vănhóa Các đặc điểm của nhà báo, chẳng hạn như chủng tộc, giới tính và đảng phái chínhtrị ảnh hưởng đến loại câu chuyện họ viết, cũng như góc độ mà họ viết chúng Ngoài
ra, đất nước và nền văn hóa mà họ đang viết ảnh hưởng đến cách thức và cách họ viết
Ví dụ, các nhà báo ở Hoa Kỳ có xu hướng viết theo quan điểm của các giá trị và tiêuchuẩn hành vi của người Mỹ.12
Các thông tin được truyền đạt theo trình tự: Chương trình nghị sự truyền
thông; chương trình nghị sự công cộng; chương trình nghị sự chính sách Đây cũngchính là ba loại hình của chương trình nghị sự
Thứ nhất, chương trình nghị sự truyền thông, là các vấn đề được thảo luận trên
các phương tiện truyền thông, chẳng hạn như báo chí, truyền hình và đài phát thanh.Kiểu thiết lập chương trình nghị sự này trả lời cho câu hỏi ai là người quyết địnhchương trình làm việc cho những người thiết lập chương trình làm việc và đó chính làngười gác cổng
Thứ hai, chương trình nghị sự công cộng, là các vấn đề được thảo luận giữa các
thành viên của công chúng Nó đo lường cách công chúng thực sự phản ứng với vấn
đề sau khi nó đã được đưa vào chương trình nghị sự
Thứ ba, chương trình nghị sự chính sách, là những vấn đề mà các nhà hoạch
định chính sách coi là quan trọng, chẳng hạn như các nhà lập pháp Việc thiết lậpchương trình nghị sự chính sách xem xét cách các phương tiện thông tin đại chúng cókhả năng tác động đến chính sách lập pháp như thế nào Cobb và Elder đã quan sátvào năm 1972 rằng để có được một chính sách trong chương trình nghị sự, vấn đề đầutiên được tạo ra bởi một số loại sự kiện kích hoạt và sau đó được mở rộng hơn nữa đểthu hút sự ủng hộ của công chúng Họ cũng thảo luận về các vấn đề lập pháp có cơ hội
12 Jamie Baird, Agenda Setting And The Public Relations Industry, Pennsylvania State University, Penn State,
https://sites.psu.edu/jamiebaird/agenda-setting-theory/, truy cập ngày 8/6/2021.
Trang 9thành công tốt nhất là những vấn đề có ý nghĩa xã hội, không phức tạp và không được
ưu tiên rõ ràng Các loại vấn đề này có thể được giới truyền thông đưa tin, và do đóđược quan tâm đầy đủ để đưa vào chương trình nghị sự của công chúng.13
Ngoài ra còn có chương trình nghị sự của công ty, chúng là những vấn đề đượccác tập đoàn lớn coi là quan trọng
Từ đây, ta có thể hiểu thứ tự truyền đạt này tức ban đầu các phương tiện truyềnthông sẽ thiết lập chương trình nghị sự cho các thông tin mà họ coi là nổi bật, hayquan trọng Sau đó, công chúng sẽ bắt đầu thảo luận về chúng trước khi chương trìnhnghị sự chính sách được thiết lập bởi sự ảnh hưởng của truyền thông và công chúngđến các nhà hoạch định chính sách
Các thông tin trên bị chi phối bởi hai vấn đề: kinh nghiệm cá nhân cùng với
truyền thông liên cá nhân; Các chỉ số thực về độ quan trọng của một vấn đề nghị sựhoặc sự kiện Nói một cách đơn giản, các phương tiện truyền thông truyền thông điệptới công chúng, tuy nhiên cách tiếp nhận, nhận thức thông tin đó của công chúng làkhác nhau Nếu kinh nghiệm của cá nhân đủ nhiều về một vấn đề, thì nó sẽ ít bị chiphối bởi các phương tiện truyền thông Mặt khác, khi các phương tiện truyền thôngthu hút sự chú ý của công chúng vào một vấn đề, nhưng thực tế vấn đề không thật sựđáng quan tâm thì hiệu quả của chương trình nghị sự này cũng bị giảm đi
2 Giả thiết về Thiết lập chương trình nghị sự và hai cấp độ:
Các nghiên cứu về thiết lập chương trình nghị sự cho thấy rằng các phương tiệntruyền thông báo chí đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định công chúngnghĩ gì Hiện nay, có hai giả thiết cơ sở về cách mà lý thuyết thiết lập chương trìnhnghị sự ảnh hưởng đến công chúng
Giả thiết thứ nhất, các cơ quan báo chí và nền truyền thông không phản ánh
hiện thực; họ chọn lọc và định dạng nó, thay vì chỉ tường thuật diễn biến của sựkiện.14 Tức là sau khi chọn lọc những thông tin hiện đang nhận được nhiều sự quantâm từ công chúng, các cơ quan truyền thông sẽ đào sâu thêm vấn đề, thêm các tiểutiết, thậm chí đưa quan điểm của mình, từ đấy nhận được sự quan tâm từ công chúng
13 Jamie Baird, Agenda Setting And The Public Relations Industry, Pennsylvania State University, Penn State,
https://sites.psu.edu/jamiebaird/agenda-setting-theory/, truy cập ngày 8/6/2021.
14 Psynso, Agenda-setting Theory, https://psynso.com/agenda-setting-theory/, truy cập ngày 12/06/2021
Trang 10và hình thành nên một chương trình nghị sự Bằng cách này, thông tin được điềuchỉnh để phù hợp với những quan điểm phổ biến nhất của xã hội.
Giả thiết thứ hai, truyền thông tập trung vào một số ít các vấn đề và chủ đề
khiến cho công chúng nhận thức rằng các vấn đề đó quan trọng hơn các vấn đề khác.15
Thay vì cập nhận hết tất cả các tin tức từ tích cực đến tiêu cực xảy ra trong xã hội, các
cơ quan báo chí lại tập trung vào một số các tin tức nhất định, chủ yếu là các tin tiêucực bởi tính gây chú ý của nó Chẳng hạn như hiện nay, khi các tin tức mới nhất vềdịch bệnh Covid-19 được cập nhật liên tục, làm chúng ta có xu hướng nghĩ rằng vấn
đề lớn nhất trên thế giới bây giờ là dập dịch mà ít quan tâm đến các tin tức về ô nhiễmmôi trường, biến đổi khí hậu, có lẽ vì hậu quả của nó diễn biến chậm hơn dịch bệnh
Việc các phương tiện truyền thông có thể tác động đến dư luận đã được thiếtlập rõ ràng thông qua các nghiên cứu thiết lập chương trình nghị sự Max McCombs
và Donald Shaw (1972), đã chỉ ra rằng, ít nhất là khi đề cập đến các vấn đề quốc gia,bằng cách phớt lờ một số vấn đề và chú ý đến những vấn đề khác, các phương tiệnthông tin đại chúng ảnh hưởng sâu sắc đến vấn đề nào mà người đọc, người xem vàngười nghe coi trọng Các nghiên cứu điển hình, phân tích nội dung, bán thực nghiệm
và các nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng, ít nhất ở một mức độ nào đó, tin tức đưa tin làmột yếu tố dự báo đáng kể về sự thay đổi trong dư luận
Nói đơn giản hơn, thiết lập chương trình nghị sự là sự chuyển tải sự quan tâm
từ giới truyền thông sang công chúng, có nghĩa là phương tiện truyền thông ảnhhưởng đến mức độ quan trọng của công chúng khi phát hiện ra một vấn đề Cácphương tiện truyền thông thường xuyên chú ý đến một vấn đề, làm tăng sự chú ý của
công chúng về vấn đề đó Quá trình chuyển đổi này được gọi là cấp độ đầu tiên của thiết lập chương trình nghị sự Từ đây, cấp độ thứ hai của việc thiết lập chương trình
nghị sự cũng hình thành khi lý thuyết này được phát triển thêm Không chỉ có sựchuyển giao mức độ quan tâm của vấn đề, mà còn có sự chuyển giao của sự quan tâmđặc trưng của vấn đề Các phương tiện truyền thông quảng bá những khía cạnh nhấtđịnh của vấn đề hơn những khía cạnh khác, khiến chúng trở nên quan trọng hơn đốivới công chúng
15 Psynso, Agenda-setting Theory, https://psynso.com/agenda-setting-theory/, truy cập ngày 12/06/2021.
Trang 11Ví dụ, khi vụ bê bối Clinton-Lewinsky nổ ra vào năm 1998, giới truyền thông
đã bận tâm đến vấn đề này đến nỗi phải mất hơn một năm New York Times mới đăngmột sự kiện mà không có tên của Lewinsky được đề cập trong bất kỳ bài báo nào(Yioutas & Segvic, 2003) 16 Điều này đương nhiên dẫn đến việc cả đất nước bị cuốnvào vụ bê bối, một ví dụ điển hình về việc thiết lập chương trình nghị sự cấp một Khitin tức liên tục được nổ ra, ABC News và Washington Post đã tiến hành một cuộckhảo sát, trong đó đối với “87% những người được khảo sát, việc khuyến khích đạođức và giá trị sẽ là yếu tố trong quyết định bỏ phiếu của họ cho vị trí tổng thống”.17
Với cách mà tin tức được đưa ra, đạo đức của tổng thống đã trở thành một thuộc tínhcủa vụ bê bối mà công chúng quan tâm nhất, một ví dụ về việc thiết lập chương trìnhnghị sự cấp hai
3 Cơ sở của lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự:
Trong mô hình truyền thông đại chúng, thông điệp từ nguồn bao giờ cũngmang tính khuynh hướng, khuynh hướng bị quy định bởi mục đích của thông tintruyền đi Là một lý thuyết truyền thông, lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự đượcvận dụng để định hướng ý kiến công chúng theo khuynh hướng của thông tin, nói cáchkhác là tạo nên một vấn đề nghị sự trong lòng dư luận
Cơ sở tâm lý của việc dẫn dắt dư luận này là sự tập trung có chọn lọc của công
chúng Sự thật là, chúng ta không thể chú ý đến mọi thứ, đây là điều đã được chứngminh Khi được hỏi về một vấn đề nào đó, thay vì phân tích toàn diện dựa trên khothông tin tổng thể, hầu hết các công chúng thường dựa vào những thông tin nhỏ đặcbiệt nổi bật tại thời điểm phải đưa ra phán quyết Nói cách khác, công chúng dựa vàochương trình nghị sự của các đối tượng và thuộc tính nổi bật trong tâm trí họ được cácphương tiện thông tin đại chúng ấn định ở một mức độ đáng kể Khi đó, chương trìnhnghị sự này xác lập các thông tin, tiêu chí, suy nghĩ, đôi khi là duy nhất để họ đưa ra ýkiến.18
16 Yioutas, J., Segvic, I (2003) Revisiting the Clinton/Lewinsky scandal: The convergence of agenda setting
and framing Journalism and Mass Communication Quarterly
https://journals.sagepub.com/doi/abs/10.1177/107769900308000306 Truy cập ngày 7/6/2021
17 Yioutas, J., Segvic, I (2003) Revisiting the Clinton/Lewinsky scandal: The convergence of agenda setting
and framing Journalism and Mass Communication Quarterly
https://journals.sagepub.com/doi/abs/10.1177/107769900308000306 Truy cập ngày 7/6/2021
18 McCombs, Maxwell E Setting the agenda : the mass media and public opinion Publisher: Cambridge, UK:
Polity; Malden, MA: Blackwell Pub 2004 122
Trang 12Khi công chúng đã có sự tập trung nhất định vào một số thông tin, bước tiếptheo công chúng sẽ làm là tiếp tục tìm hiểu thêm các thông tin đó, hoặc có xu hướngdừng lại để đọc các tin tức mới nhất về nó trong quá trình lướt web đọc báo Điều này,dần sẽ hình thành nên sự định hướng, mà bản chất của nó chính là sự tò mò, mongmuốn cập nhật cái mới của con người, kết hợp với một khoảng thời gian đủ dài đểhình thành nên sự định hướng Con người vốn là một loài sinh vật có động lực bẩmsinh để hiểu môi trường xung quanh Như Leon Festinger nói, sự mất kết nối với thếgiới xung quanh yêu cầu chúng ta cần phải thay đổi cách suy nghĩ hoặc thay đổi hành
vi của mình để trở lại trạng thái hòa hợp hoặc kết nối Từ đó, định hướng là nhu cầucủa các cá nhân để định hướng bản thân với môi trường xung quanh Trong trườnghợp của lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự, chúng ta biết rằng các phương tiệntruyền thông tin tức cung cấp định hướng này.19 Đúng như một trích dẫn nổi tiếng củaBernard C Cohen: “Phương tiện truyền thông không cho chúng ta biết phải nghĩ gì,
nó cho chúng ta biết phải suy nghĩ về điều gì”
Trên cơ sở này, các nhà đưa tin đã tạo hướng dư luận bằng cách đưa tin củamình như điều chỉnh giọng điệu nhanh, chậm; ngôn từ nghiêm trọng hay bình thườngcủa các bản tin; tần suất của các bản tin hay thứ tự đưa tin để xác lập tầm quan trọngcủa vấn đề trong đầu công chúng, và dùng nó để kiểm soát khán giả, định hướng dưluận, thậm chí bất chấp thực tế có thể mức độ quan trọng là không đáng kể Ví dụ, vàonhững năm 1970, mối quan tâm của công chúng đã dấy lên bởi các bản tin về sự thiếuhụt xăng dầu ở Đức khi không có bằng chứng thực tế nào về sự thiếu hụt.20
4 Hệ quả của lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự:
Thái độ và hành vi thường bị chi phối bởi nhận thức - những gì một người biết, nghĩ và tin Do đó, chức năng thiết lập chương trình nghị sự của các phương tiện thông tin đại chúng bao hàm một ảnh hưởng lớn tiềm tàng mà các khía cạnh và hệ quả đầy đủ vẫn chưa được nghiên cứu và đánh giá cao 21
19 Psynso, Agenda-setting Theory, https://psynso.com/agenda-setting-theory/, truy cập ngày 12/06/2021.
20 Kepplinger và Roth 1979, Creating a Crisis: German Mass Media andOil Supply in 1973-74, Oxford
Academic, https://academic.oup.com/poq/article-abstract/43/3/285/1810961, truy cập ngày 05/06/2021
21 McCombs, Maxwell E Setting the agenda : the mass media and public opinion Publisher: Cambridge, UK:
Polity; Malden, MA: Blackwell Pub 2004 P.120
Trang 13Đúng như vậy, các phương tiện truyền thông đại chúng còn làm được nhiều
hơn thế Trong News that Matters, Shanto Iyengar và Donald Kinder đã giải thích:
“Bằng cách tạo ra sự chú ý đến một số vấn đề trong khi phớt lờ những vấn đề khác,các tin tức trên TV (cũng như các phương tiện truyền thông khác) tạo ra ảnh hưởngđến những tiêu chuẩn đánh giá chính phủ, các vị tổng thống, chính sách và côngchức” Điều này dễ dàng quan sát nhất trong các cuộc bầu cử tổng thống Mỹ Năm
2016, khi diễn ra cuộc bầu cử tổng thống Mỹ, hai ứng viên Donald Trump và HillaryClinton luôn được coi là hai nhân vật hàng đầu của các đảng tương ứng trước khi cácứng cử viên được đề cử được công bố, và mức độ phủ sóng của họ cao hơn đáng kể sovới bất kỳ ứng cử viên nào khác từ một trong hai đảng Bên cạnh đó, trong thời giandiễn ra tranh cử, sự chênh lệch về thời lượng phát sóng trong ngày của những tin tứcchính trị và những chương trình khác rất lớn Quay trở lại với những thông tin bầu cử,chính bởi vì các phương tiện truyền thông tin tức quyết định những gì sẽ đưa tin trongchương trình của họ nên điều đó dẫn đến một sự thiên vị trong truyền thông Sự thiên
vị này có sức ảnh hưởng đến niềm tin chính trị và quan trọng hơn là sức mạnh thayđổi suy nghĩ của mọi người khi họ bước vào phòng bỏ phiếu, các cử tri sẽ có xuhướng ấn tượng và đánh giá cao hơn những người họ thường thấy trên truyền thông.Một ứng cử viên tổng thống như Bernie Sanders có thể dễ dàng lập luận rằng chiếndịch tranh cử không thành công của ông là do thiếu sự đưa tin của các phương tiệntruyền thông chính thống Bởi so với Hillary Clinton và Donald Trump, sự phủ sóngtrên các phương tiện truyền thông đại chúng của Bernie Sanders kém hơn hẳn Kếtquả là, Hillary Clinton và Donald Trump là hai ứng viên được bỏ phiếu nhiều nhất vàbước vào cuộc bỏ phiếu cuối cùng trước khi ông Donald Trump đắc cử nhiệm kỳ đó.22
Vậy, vấn đề đầu tiên đã xuất hiện, đó chính là sự thiên vị truyền thông
Từ đây, chúng ta thấy được một số hệ quả tiếp theo của lý thuyết thiết lập
chương trình nghị sự Thứ hai là, lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự có thể được lợi dụng để các cá nhân, tổ chức“dắt mũi dư luận” Ngày nay, cùng với sự phát triển
của Internet và mạng xã hội, việc thiết lập chương trình nghị sự trở nên dễ dàng hơntrong thế giới tin tức, nhưng những tin tức chúng ta coi hàng ngày liệu nó có đủ chính
22 Justin Findlay, How Does The Media Influence The Outcome Of An Election?, World Atlas,
https://www.worldatlas.com/articles/how-does-the-media-influence-the-outcome-of-an-election.html, truy cập ngày 10/06/2021
Trang 14xác, đủ thông tin để công chúng đánh giá sự việc, để rồi công chúng mơ hồ mà tin vàonó? Phổ biến thông tin sai lệch - ngay cả khi nội dung, trong trường hợp vô hại, có thểgây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng, thậm chí ảnh hưởng đến sức khỏe và tínhmạng con người Nhất là trong bối cảnh đại dịch toàn cầu COVID-19, vấn đề này trởnên nghiêm trọng hơn bao giờ hết Trong một loạt các video được đăng trực tuyến,người dùng mạng xã hội - hầu hết là người Mỹ - giải thích rằng đeo khẩu trang có thểgây nguy hiểm cho sức khỏe Kết quả là sau đó, hàng trăm cuộc biểu tình phản đốiđeo khẩu trang đã diễn ra làm phức tạp thêm tình hình dịch bệnh tại Mỹ, cũng nhưmột số nước châu Âu khác.23 Ở một số quốc gia, những tin đồn về tình trạng khanhiếm lương thực sắp xảy ra đã khiến người dân tích trữ nguồn cung từ sớm khi có dịch
và gây ra tình trạng thiếu hụt thực tế Tại Hoa Kỳ, một người đã tử vong do ăn phảisản phẩm làm sạch bể cá có chứa chloroquine sau khi đọc các báo cáo về một giảthuyết chưa được chứng minh rằng hydroxychloroquine có thể điều trị được COVID-
19 Tại Cộng hòa Hồi giáo Iran, hàng trăm người đã chết sau khi uống rượu methanol
mà các thông báo trên mạng xã hội cho rằng đã chữa khỏi bệnh coronavirus chonhững người khác Đây là loại thông tin sai lệch nguy hiểm mà WHO đã cảnh báo về
sự nghiêm trọng của vấn đề.24
Thứ ba, lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự khiến truyền thông đại chúng
không làm đúng vai trò đưa tin của mình Lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự là
lý thuyết cho phép các hãng truyền thông và báo chí làm việc để cung cấp đến côngchúng những nội dung có mục đích, được chọn lọc hoặc hạn chế cho người xem vìnhững lý do nhất định Đôi khi lý do để làm điều này là vì lý do kinh tế, là vì việc đưatin chịu ảnh hưởng bởi một tổ chức có quyền lực hơn như một doanh nghiệp hoặcchính phủ nhằm mục đích đánh lạc hướng người xem về nội dung khác Mặc dùnhiệm vụ của các cơ quan truyền thông là cung cấp thông tin lành mạnh và trung thựccho công chúng, nhưng nhiều khi các doanh nghiệp, chính phủ, hoặc thậm chí chínhcác cơ quan truyền thông ở nhiều quốc gia đã thao túng phương tiện truyền thông đểlọc thông tin mà họ không muốn công chúng biết và điều này gây ra thiết lập chương
23 Alijani Ershad, Online videos falsely claim that face masks can cause CO2 poisoning, The Observers,
https://observers.france24.com/en/20200930-fake-videos-wearing-mask-could-lead-co2-poisoning, truy cập ngày 9/6/2021
24 World Health Organization, Immunizing the public against misinformation,
https://www.who.int/news-room/feature-stories/detail/immunizing-the-public-against-misinformation, truy cập ngày 08/06/2021.
Trang 15trình nghị sự Ở Mexico, đã có vô số ví dụ về cách chính phủ cố gắng kiểm soát những
gì công chúng nhìn thấy và buộc thiết lập chương trình nghị sự Một ví dụ là cách mộtphóng viên nổi tiếng từ Mexico, Carmen Aristegui không được phép cung cấp tin tức
vì cô ấy và nhóm của mình tập trung vào các vụ bê bối tham nhũng mà chính phủđang phạm phải Đây là một ví dụ về cách chính phủ cố gắng áp dụng việc thiết lậpchương trình nghị sự bằng vũ lực để tránh những phản ứng nhất định của côngchúng.25
Tựu chung, với đặc điểm của mình, thuyết thiết lập chương trình nghị sự đượccác phương tiện truyền thông đại chúng vận dụng để tác động đến thái độ, niềm tincủa dư luận, từ đấy hình thành nên hành vi của họ Cụ thể trong các trường hợp nhưtrong quảng cáo chính trị, các chiến dịch và tranh luận chính trị; tin tức về doanhnghiệp và xây dựng danh tiếng công ty; tạo ảnh hưởng của doanh nghiệp, công chúngđối với chính sách, hệ thống luật pháp; thử nghiệm vai trò của các nhóm, kiểm soátkhán giả, dư luận và quan hệ công chúng Tuy nhiên, kéo theo đó là những hệ quả mà
lý thuyết này đem lại là sự thiên vị truyền thông, sự lợi dụng để “dắt mũi dư luận” hay
sự đưa tin thiếu trung thực của truyền thông Dù chỉ được tóm gọn trong vài câu chữ,nhưng đây chính là những tác động có thể khiến một xã hội loài người suy tàn hayphát triển Do đó, lý thuyết thiết lập chương trình nghị sự phải thật sự được vận dụngmột cách trung thực, có đạo đức bởi các phương tiện truyền thông đại chúng, được đặtdưới sự kiểm soát chặt chẽ của những cơ quan có thẩm quyền Lý thuyết nên được đểlại để tạo ra một “ hiệu ứng domino” tích cực, nơi các phương tiện truyền thông có thểtác động đến mọi người về các chính sách có lợi của Nhà nước, và đóng vai trò nhưmột trợ giúp cho việc đưa tin thông minh
III Phân tích về thuyết thiết lập chương trình nghị sự trong thực tiễn truyền thông tại Việt Nam và thế giới:
Vừa qua, WeAreSocial và Hootsuite - nền tảng quản lý phương tiện truyềnthông xã hội, được tạo ra bởi Ryan Holmes vào năm 2008, vừa công bố báo cáo tổngquan toàn cảnh ngành Digital tại Việt Nam mới nhất năm 2021 Trong tổng 97,8 triệudân số Việt Nam, số lượng người dùng Internet tại Việt Nam vào tháng 1/2021 là
25 Dudley Althaus And José de Córdoba, Mexican Journalist Carmen Aristegui Fired by Radio Station, The
Wall Street Journal, station-1426502138, truy cập ngày 10/06/2021