Việc lựa chọn một đề tài mới trong phạm vi lãnh thổ nhất định mà chưa có có ít người thực hiện thể hiện rất rõ nét tính mới của đề tài bởi khi tiến hành một nghiên cứu mới, chắc chắn nhữ
Trang 1KHOA VIỄN THÔNG 1
TIỂU LUẬN PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Giảng viên : TS Đinh Thị Hương Nhóm lớp : 05
Sinh viên : Nguyễn Thành Nam
Mã sinh viên: B17DCVT247
Lớp : D17CQVT07
Trang 2
Mục lục
Câu 1: Anh chị hiểu thế nào là tính mới trong nghiên cứu khoa học? 2
Câu 2: Từ chủ đề về chuyển đổi số trong giáo dục, anh (chị) hãy thực hiện những yêu cầu sau: 3
a Tên đề tài nghiên cứu khoa học thuộc chủ đề “Chuyển đổi số trong giáo dục”: 3
“ Chuyển đổi số trong giáo dục thời kỳ corona.” 3
b Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu: 3
c Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về: Chuyển đổi số trong giáo dục thời kỳ corona. 4 d Sử dụng thẻ References trong Word để lập danh sách danh mục tham khảo theo chuẩn APA và chuẩn MLA. 5
Trang 3Câu 1: Anh chị hiểu thế nào là tính mới trong nghiên cứu khoa học?
Tính mới trong nghiên cứu khoa học được tạo ra trong quá trình nghiên cứu khoa học Người nghiên cứu khoa học sẽ không được phép lặp lại các nghiên cứu hay thí nghiệm khoa học trước đó Tính mới trong nghiên cứu khoa học mang tính “độc quyền” của người nghiên cứu khoa học đó, nó không giống bất kỳ sự sáng tạo nào trong các nghiên cứu khoa học nào trước đó Tính mới sẽ được thể hiện qua các yếu tố sau:
• Đề tài mới
Việc lựa chọn một đề tài mới (trong phạm vi lãnh thổ nhất định) mà chưa có (có ít) người thực hiện thể hiện rất rõ nét tính mới của đề tài bởi khi tiến hành một nghiên cứu mới, chắc chắn những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là những kết quả nghiên cứu đầu tiên (trong phạm vi lãnh thổ nhất định) Đặc biệt, sản phẩm nghiên cứu những đề tài này thường được đánh giá cao cao vì giá trị của nghiên cứu mang lại nhiều hơn so với các sản phẩm nghiên cứu về một đề tài cũ Kết quả tại các giải thưởng uy tín trong lĩnh vực NCKH dành cho sinh viên tại Việt Nam cũng cho thấy các đề tài đạt giải cao đều là những đề tài rất mới và chưa có nhiều nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam
• Công cụ, kĩ thuật và tiến trình nghiên cứu mới
Nghiên cứu khoa học đòi hỏi tính mới rất cao, không chỉ là ở đề tài mà còn ở công
cụ, kĩ thuật phục vụ nghiên cứu và tiến trình nghiên cứu mới Việc người nghiên cứu cập nhật được những công cụ mới, kĩ thuật mới, tiến trình nghiên cứu mới để nghiên cứu cũng được đánh giá cao vì nó mang lại kết quả nghiên cứu chính xác hơn và giúp cho các nghiên cứu sau được học hỏi cách thức thực hiện nghiên cứu tốt hơn
Ví dụ, trong một nghiên cứu trước về đề tài “Những tác động của hiệp định TPP đến ngành dệt may Việt Nam”, tác giả A đã chỉ ra được các ảnh hưởng mang tính định tính của hiệp định này vì tác giả dùng phương pháp nghiên cứu định tính Tuy nhiên, tác giả B cũng thực hiện đề tài này sau đó, nhưng dùng phương pháp nghiên cứu định lượng và lượng hóa được mức độ ảnh hưởng của các kết quả mà tác giả A đã chỉ ra Như vậy, trong trường hợp này, tính mới mà đề tài của tác giả B đã được thể hiện ra rất rõ khi sử dụng được phương pháp nghiên cứu mới, có tiến trình thực hiện mới và kết quả nghiên cứu mới (rõ ràng hơn)
so với công trình của tác giả A
• Khám phá ra những điều không ngờ tới (từ đó mở ra một hướng thay thế mà
trước nay chưa ai từng thực hiện)
Tính mới trong trường hợp này được thể hiện ở việc tìm ra những điều mà những người nghiên cứu trước đây chưa từng nghĩ tới/tìm ra Nếu bạn là người đầu tiên đưa ra
Trang 4khác chưa từng thực hiện
• Sử dụng các dữ liệu mới (được thu thập mới)
Việc sử dụng dữ liệu mới cũng thể hiện tính mới của đề tài, được thể hiện rất rõ với
2 loại nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng phổ biến:
Với các nghiên cứu liên quan đến kinh tế vĩ mô, việc thay mới các bộ dữ liệu cũ bằng các bộ dữ liệu mới giúp đưa ra những kết quả mới cập nhật thực tế hơn, giải thích được thực tế diễn ra đúng hơn và đưa ra dự báo cho tương lai tốt hơn
Với các nghiên cứu mang tầm vi mô thường được nghiên cứu áp dụng phương pháp nghiên cứu tình huống (case study) với những đối tượng và phạm vi giới hạn nhất định Vì vậy, việc nghiên cứu tình huống với những đối tượng mới và phạm vi mới – sử dụng dữ liệu mới để chạy mô hình cũng sẽ mang lại những kết quả mới; giúp đưa ra kết quả nghiên cứu và đưa ra đề xuất giải pháp thích hợp cho trường hợp được nghiên cứu
• Đem lại các kết quả mới đối với hệ thống nghiên cứu hiện có
Tính mới trong trường hợp này được thể hiện bằng việc nghiên cứu có những đóng góp mới đến hệ thống nghiên cứu của đề tài hiện tại Ví dụ các nghiên cứu về đề tài “Những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm trực tuyến của sinh viên” được thực hiện tại Việt Nam đã tìm ra được tổng cộng 6 yếu tố; tuy nhiên một nghiên cứu sau này tìm ra được 5 yếu tố (trong đó có 2 yếu tố chưa từng được phát hiện ra) Như vậy, với nghiên cứu này, tác giả đã tìm ra được 2 yếu tố mới và có thể đưa ra những khuyến nghị mới cho các đơn
vị kinh doanh trực tuyến với đối tượng mục tiêu là sinh viên
Câu 2: Từ chủ đề về chuyển đổi số trong giáo dục, anh (chị) hãy thực hiện những yêu cầu sau:
Trả lời
a Tên đề tài nghiên cứu khoa học thuộc chủ đề “Chuyển đổi số trong giáo dục”:
“ Chuyển đổi số trong giáo dục thời kỳ corona.”
b Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu:
• Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của nghiên cứu này là : Do dịch bệnh đang diễn biến rất phức tạp và nghiêm trọng,các em học sinh,sinh viên không thể đến trường học.Áp dụng khẩu hiệu”Tạm dừng đến trường nhưng không ngừng học”.Việc tìm hướng giải quyết là rất cần trong lúc này.Vì vậy việc chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục là 1 vấn đề cấp thiết
• Phương pháp nghiên cứu:
➢ Phương pháp thu thập số liệu:
Trang 5- Thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, thời sự, báo đài, …
- Thông qua các cập nhật trên các trang quản lý, fanpage của các trường học
- Thông qua các báo cáo liên quan
➢ Phương pháp phi thực nghiệm:
- Hội nghị, hội thảo trực tuyến của những người lãnh đạo về vấn đề chuyển đổi số
- Phản hồi,phản ánh của giáo viên và học sinh về việc học online
- Dựa vào tình trạng dịch bệnh đang diễn ra tại Việt Nam
➢ Phương pháp trắc nghiệm:
- Cuộc khảo sát bao gồm nhiều câu hỏi, trong đó tập trung vào vấn đề liên quan đến điều kiện kỹ thuật (Technical Conditions), phần cứng được ưu tiên (Preferred Hardware), mối quan hệ của sinh viên (Student Relationships), Quan hệ cá nhân (Personal Contact) và cảm xúc (Emotions)
c Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về: Chuyển đổi số trong giáo dục thời
kỳ corona
• Trong nước:
Trong quản lý giáo dục,toàn ngành đã triển khai số hóa,xây dựng cơ sở dữ liệu dung chung từ Trung ương đến 63 sở GDĐT,710 phòng GDĐT và khoảng 53.000 cơ sở giáo dục.Hiện nay đã số hóa định dạng dữ liệu của khoảng 53.000 trường học,1.4 triệu giáo viên,23 triệu học sinh
Về dạy học,giáo viên toàn ngành được huy động tham gia ,đóng góp chia sẻ học liệu vào kho học liệu số toàn ngành;đóng góp hê Hệ tri thức Việt số hóa gần 5.000 bài giảng điện tử e-learning có chất tượng,kho luận văn tiến sĩ với gần 7.000 luận văn,ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm với trên 31.000 câu hỏi…góp phần xây dựng xã họi học tập và đẩy mạnh học tập suốt đời
➢ Tích cực:
- Đào tạo được mọi lúc mọi nơi Đồng thời giáo viên, giảng viên có thể sử dụng linh động những video, hình ảnh, âm thanh để truyền đạt bài học đến học viên
- Học viên học được ở bất cứ đâu, giúp tiết kiệm được rất nhiều thời gian và tiền bạc cho việc học tập
- Giúp học sinh, sinh viên duy trì thói quen học tập, ôn tập trong thời gian không tới trường
- Nâng cao tính tự học, trách nhiệm học tập cũng như tự giác của học sinh, sinh viên
- Đi kèm với giáo dục mở là nguồn tài liệu mở
- Đẩy mạnh sức sáng tạo ra những công cụ mới nhờ chuyển đổi số giáo dục
- Giảm chi phí đào tạo,cơ sở vận hành tốt hơn
- Đây là cơ hội để nước ta tiến thêm một bước dài nữa trong cách mạng 4.0
Trang 6- Sự tương tác của người dạy và người học giảm xuống
- Phương pháp học tập online còn khá mới mẻ và chưa được triển khai đồng đều
- Vấn đề an ninh mạng nảy sinh
- Tình hình kinh tế của nhiều hộ gia đình có con em đi học chưa thể đáp ứng được yếu tố cần thiết của việc học trực tuyến
- Còn khá lúng túng trong việc triển khai áp dụng của các trường học mặc dù
đã có kinh nghiệm giảng dạy trực tuyến ở những đợt dịch trước đó (việc thi online, …)
- Khó khăn trong sự đáp ứng nhu cầu học tập trực tuyến ở những vùng sâu vùng xa, vùng có địa hình hay những khu vực khó khăn chậm phát triển
- Phải liên tiếp lùi những kế hoạch thi, kế hoạch đào tạo của bộ giáo dục Điều này khiến cho những cán bộ trong ngành giáo dục phải làm việc không biết mệt mỏi để đảm bảo tiến trình
• Ngoài nước:
Nhìn chung những mặt tích cực cũng như hạn chế của nước ta cũng giống với các nước trên thế giới Việc triển khai học tập trực tuyến sẽ là một bước phát triển mới của ngành giáo dục toàn thế giới, nhưng nó cũng là thách thức không nhỏ đối với những nước nghèo, nền kinh tế thấp hơn mức trung bình của thế giới Hay thậm chí điều này cũng ảnh hưởng đến những quốc gia lớn vì phân hoá giàu nghèo trong xã hội của họ
Thống kê cho thấy rằng, theo số liệu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh
tế (OECD), trong khi 95% học sinh ở Thụy Sĩ, Na Uy và Áo có máy tính để sử dụng và làm bài tập ở trường, chỉ 34% người học ở Indonesia có Hay tại Mỹ, có một khoảng cách đáng kể giữa những người khá giả và người gặp hoàn cảnh khó khăn Hầu như tất cả thanh thiếu niên 15 tuổi ở gia đình khá giả cho biết, họ có máy tính để làm việc Trái lại, gần 25% những người có hoàn cảnh khó khăn thì không
Theo một báo cáo của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) công bố ngày 27/8/2020, việc các trường học phải đóng cửa, chuyển sang hình thức dạy học trực tuyến do đại dịch COVID-19, có ít nhất khoảng 30% số học sinh trên thế giới không thể học tập một cách thực sự
Nói đến đây để thấy được rằng những số liệu thống kê trên các trang mạng
xã hội đã phản ảnh khá đúng đắn về tình hình giáo dục của thế giới trong đại dịch
Nó là vấn đề chung và cấp bách của toàn cầu vì giáo dục là yếu tố then chốt trong phát triển kinh tế
d Sử dụng thẻ References trong Word để lập danh sách danh mục tham khảo theo chuẩn APA và chuẩn MLA
Tài liệu tham khảo
Trang 71 Dạy, học trực tuyến thời COVID-19 17 3 2020 <https://special.vietnamplus.vn/>
2 Kim Dung Giáo dục thế giới "chuyển mình" sang trực tuyến 3 1 2021
<https://dantri.com.vn/>
3 PGS.TS Vũ Cao Đàm Bài giảng môn học Phương pháp luận nghiên cứu khoa học Hà Nội, 2012
4 Thông tấn xã Việt Nam Khoảng 463 triệu trẻ em trên thế giới không thể học tập thực sự 28 08 2020 <https://tuoitre.vn/>
5 ƯU VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA VIỆC HỌC TRỰC TUYẾN không ngày tháng
<http://giasutaihanoi.edu.vn/>
Tài liệu tham khảo
1 Dạy, học trực tuyến thời COVID-19 17 3 2020 <https://special.vietnamplus.vn/>
2 Kim Dung Giáo dục thế giới "chuyển mình" sang trực tuyến 3 1 2021
<https://dantri.com.vn/>
3 PGS.TS Vũ Cao Đàm Bài giảng môn học Phương pháp luận nghiên cứu khoa học Hà Nội, 2012
4 Thông tấn xã Việt Nam Khoảng 463 triệu trẻ em trên thế giới không thể học tập thực sự 28 08 2020 <https://tuoitre.vn/>
<http://giasutaihanoi.edu.vn/>