MỤC LỤC I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1 II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2 III. NỘI DUNG 2 3.1. Một số khái niệm cơ bản 2 3.2. Những định hướng và chính sách đối với YDCT của Tổ chức Y tế thế giới 3 3.3 Tình hình khám chữa bệnh bằng YHCT ở một số nước trên thế giới 3 3.3.1. Campuchia 4 3.3.2. Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào 6 3.3.3. Indonesia 8 3.3.4. Malaysia 9 3.3.5. Myanmar 9 3.3.6. Phi-lip-pin 10 3.3.7. Singapore 11 3.3.8. Thái Lan 12 3.3.9. Nepal 13 3.3.10. Ấn Độ 13 3.3.11. Trung Quốc 15 3.3.12. Nhật bản 19 3.3.13. Hàn Quốc 20 3.3.14. Australia 20 3.3.15. YHCT ở một số nước châu Âu 21 3.3.16. YHCT ở châu Phi 22 3.4 Tình hình khám chữa bệnh bằng YHCT ở Việt Nam 27 3.4.1 Các quan điểm chỉ đạo chung về phát triển Y học cổ truyền và chính sách của Đảng và chính phủ đối với hoạt động khám chữa bệnh YHCT tại Việt Nam 27 3.4.2 Tình hình khám chữa bệnh YHCT tại Việt Nam: 31 3.4.3 Một số nghiên cứu về thực trạng và giải pháp nang cao chất lượng khám chữa bệnh YHCT tại Việt nam đến 2010 40 IV. KẾT LUẬN 48 TÀI LIỆU THAM KHẢO I. ĐẶT VẤN ĐỀ Chăm sóc sức khỏe (CSSK) là một trong những nhu cầu thiết yếu của con người. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, sự phát triển của loài người từ thời xa xưa y dược cổ truyền (YDCT) đã ra đời. Con người đó dựng cỏc loại cây, cỏ, bộ phận động vật, khoáng chất … để tăng cường và bảo vệ sức khỏe. Trong xã hội YDCT phát triển do nhu cầu của người dân trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe. Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự nâng cao về nhận thức cũng như nhu cầu thiết yếu về CSSK, sự kết hợp giữa y học hiện đại (YHHĐ) và y học cổ truyền (YHCT) ngày càng chặt chẽ. Tỷ lệ và số lượng người sử dụng các dịch vụ YHCT ngày càng được nâng lên. Ở Nhật, theo thống kê thấy có tới 70 - 80% các thầy thuốc của phép chữa đối chứng đã kê đơn cho người bệnh sử dụng các dịch vụ này. Tại Trung Quốc có tới 40% các dịch vụ CSSK đã sử dụng YDCT Trung Quốc, điều trị cho hơn 200 triệu người bệnh hàng năm. Tại Châu Mỹ La-tinh cũng thống kê thấy 71% dân số Chi-lờ và 40% dân số tại Colombia đã sử dụng YDCT. Tại nhiều nước công nghiệp phát triển thì tỷ lệ dân sử dụng YDCT cũng rất lớn, tại Mỹ là 42%, Úc là 48%, Pháp là 49% và Canada là 70% [37]. Sự phát triển YDCT ở mỗi nước trên thế giới có sự khác biệt là do đặc thù riêng về văn hóa, tập quán và tri thức truyền thống, Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) đã khuyến cáo "mỗi quốc gia nên khuyến khích nghiên cứu và phát triển YHCT phù hợp với ưu tiên quốc gia và pháp luật, có xem xét các văn kiện quốc tế liên quan, bao gồm, khi thích hợp, những tri thức truyền thống liên quan và quyền của người dân bản địa” (Báo cáo của TCYTTG trong Hội nghị YHCT các nước ASEAN lần thứ 2 -2010) [5]. Do vậy, nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam đã đặt mối quan tâm triển khai các nghiên cứu về tình hình sử dụng YDCT tại quốc gia mỡnh, trờn cơ sở đú đỳc rỳt những bài học kinh nghiệm và đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng YHCT trong công tác khám chữa bệnh (KCB) và chăm sóc sức khỏe người dân. Tiểu luận tổng quan "Tình hình nghiên cứu thực trạng và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền trên thế giới và Việt Nam" thuộc đề tài "Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp can thiệp nhằm nâng cao chát lượng khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền tại tỉnh Hưng Yên" được xây dựng với 2 mục tiêu: 1. Mô tả tình hình khám chữa bệnh bằng YHCT của một số nước trên thế giới 2. Mô tả thực trạng khám chữa bệnh bằng YHCT đến năm 2010 tại Việt Nam II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Là một chuyên đề mang tính lý thuyết nên phương pháp tổng quan các tài liệu có liên quan được dùng tại đây. Để minh họa cho một số phần mô tả thực trạng về YHCT, phương pháp thu thập các số liệu thứ cấp qua các tài liệu thống kê liên quan cũng được sử dụng và cuối cùng phương pháp phân tích/ tổng hợp cũng được sử dụng để bàn luận các thông tin số liệu, phục vụ cho các kiến nghị và nghiên cứu tiếp.
Trang 1PHẠM VIỆT HOÀNG
Chuyên đề:
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
KHÁM CHỮA BỆNH BẰNG Y HỌC CỔ TRUYỀN
TRấN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
Thuộc đề tài NCS:
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CAN THIỆP
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KHÁM CHỮA BỆNH
BẰNG Y HỌC CỔ TRUYỀN TẠI TỈNH HƯNG YấN
HÀ NỘI - 2012
Trang 2PHẠM VIỆT HOÀNG
Chuyên đề:
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
KHÁM CHỮA BỆNH BẰNG Y HỌC CỔ TRUYỀN
TRấN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
Thuộc đề tài NCS:
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CAN THIỆP
NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KHÁM CHỮA BỆNH
BẰNG Y HỌC CỔ TRUYỀN TẠI TỈNH HƯNG YấN
Trang 3BVYHCT Bệnh viện Y học Cổ truyền
Trang 4I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
III NỘI DUNG 2
3.1 Một số khái niệm cơ bản 2
3.2 Những định hướng và chính sách đối với YDCT của Tổ chức Y tế thế giới 33.3 Tình hình khám chữa bệnh bằng YHCT ở một số nước trên thế giới 3
3.3.15 YHCT ở một số nước châu Âu 21
3.3.16 YHCT ở châu Phi 22
3.4 Tình hình khám chữa bệnh bằng YHCT ở Việt Nam 27
Trang 5YHCT tại Việt Nam 27
3.4.2 Tình hình khám chữa bệnh YHCT tại Việt Nam: 31
3.4.3 Một số nghiên cứu về thực trạng và giải pháp nang cao chất lượng khám chữa bệnh YHCT tại Việt nam đến 2010 40
IV KẾT LUẬN 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự nâng cao về nhậnthức cũng như nhu cầu thiết yếu về CSSK, sự kết hợp giữa y học hiện đại(YHHĐ) và y học cổ truyền (YHCT) ngày càng chặt chẽ Tỷ lệ và số lượngngười sử dụng các dịch vụ YHCT ngày càng được nâng lên Ở Nhật, theothống kê thấy có tới 70 - 80% các thầy thuốc của phép chữa đối chứng đã kêđơn cho người bệnh sử dụng các dịch vụ này Tại Trung Quốc có tới 40% cácdịch vụ CSSK đã sử dụng YDCT Trung Quốc, điều trị cho hơn 200 triệungười bệnh hàng năm Tại Châu Mỹ La-tinh cũng thống kê thấy 71% dân sốChi-lờ và 40% dân số tại Colombia đã sử dụng YDCT Tại nhiều nước côngnghiệp phát triển thì tỷ lệ dân sử dụng YDCT cũng rất lớn, tại Mỹ là 42%, Úc
là 48%, Pháp là 49% và Canada là 70% [37]
Sự phát triển YDCT ở mỗi nước trên thế giới có sự khác biệt là do đặcthù riêng về văn hóa, tập quán và tri thức truyền thống, Tổ chức y tế thế giới(TCYTTG) đã khuyến cáo "mỗi quốc gia nên khuyến khích nghiên cứu vàphát triển YHCT phù hợp với ưu tiên quốc gia và pháp luật, có xem xét cácvăn kiện quốc tế liên quan, bao gồm, khi thích hợp, những tri thức truyềnthống liên quan và quyền của người dân bản địa” (Báo cáo của TCYTTGtrong Hội nghị YHCT các nước ASEAN lần thứ 2 -2010) [5]
Do vậy, nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam đã đặt mốiquan tâm triển khai các nghiên cứu về tình hình sử dụng YDCT tại quốc giamỡnh, trờn cơ sở đú đỳc rỳt những bài học kinh nghiệm và đưa ra các giải
Trang 7pháp nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng YHCT trong công tác khám chữabệnh (KCB) và chăm sóc sức khỏe người dân
Tiểu luận tổng quan " Tình hình nghiên cứu thực trạng và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền trên thế giới và Việt Nam" thuộc đề tài " Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp can thiệp nhằm nâng cao chát lượng khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền tại tỉnh Hưng Yên" được xây dựng với 2 mục tiêu:
1 Mô tả tình hình khám chữa bệnh bằng YHCT của một số nước
trên thế giới
2 Mô tả thực trạng khám chữa bệnh bằng YHCT đến năm 2010 tại Việt Nam
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Là một chuyên đề mang tính lý thuyết nên phương pháp tổng quan cáctài liệu có liên quan được dùng tại đây Để minh họa cho một số phần mô tảthực trạng về YHCT, phương pháp thu thập các số liệu thứ cấp qua các tàiliệu thống kê liên quan cũng được sử dụng và cuối cùng phương pháp phântích/ tổng hợp cũng được sử dụng để bàn luận các thông tin số liệu, phục vụcho các kiến nghị và nghiên cứu tiếp
III NỘI DUNG
3.1 Một số khái niệm cơ bản
- YDCT: Theo Tổ chức Y tế thế giới, YDCT là các dạng khác nhau củacác phương pháp thực hành, sự tiếp cận, thái độ, kiến thức và niềm tin trongviệc kết hợp chặt chẽ việc sử dụng các cây cỏ, bộ phận động vật hay khoángchất, dựa trên các kĩ thuật hay bài tập luyện y học, liệu pháp tinh thần haybằng tay, có thể ứng dụng độc lập hay phối hợp để tạo ra tình trạng sức khỏetốt thông qua việc chẩn đoán, điều trị và dự phòng bệnh
- YDCT -phương pháp trị liệu thay thế/bổ sung (CAM): là một phứchợp, thường đề cập đến một hệ thống như hệ thống YDCT Trung Quốc, Ấn-
Trang 8độ hay Ả - rập, gồm các dạng rất khác nhau của y học bản địa Các liệu phápYDCT bao gồm các liệu pháp điều trị bằng thuốc - nếu như có sử dụng các
cỏ, cây, bộ phận của động vật hay khoáng chất làm thuốc chữa bệnh; các liệupháp điều trị không dùng thuốc – nếu như thực hiện các thủ thuật như châmcứu, liệu pháp tinh thần/tõm lý hay liờu phỏp qua tác động của tay Tại cácquốc gia mà có sự ưu thế của phép chữa đối chứng (tây y) hoặc YDCT chưađược lồng ghép vào hệ thống CSSK quốc gia thì YDCT được gọi là phươngpháp trị liệu thay thế hay trị liệu bổ sung (complementory or alternativemedicine) [37], [25]
3.2 Những định hướng và chính sách đối với YDCT của Tổ chức Y tế thế giới
Giá trị của YHCT đã được TCYTTG khẳng định rõ "Không cần chứng
minh lợi Ých của YHCT, mà cần phải đề cao và khai thác rộng rãi hơn nữa những khả năng của nó có lợi cho toàn thể nhân loại, phải đánh giá và công nhận theo đúng giá trị của nó và làm nó hữu hiệu hơn Đó là hệ thống mà dân chúng từ trớc đến nay đã coi nh của mình và chấp nhận không hạn chế Hơn thế dù ở đâu nó cũng có lợi nhiều hơn những hệ thống từ ngoài, vì nó là một bộ phận không thể tách rời của nền văn hoá nhân dân" [37].
Do vậy, trong chiến lược YHCT (2002-2005) của TCYTTG [37] đãnêu rõ: Kết hợp chặt chẽ nền YDCT trong hệ thống chăm sóc sức khỏe quốcgia Tức là YDCT cần phải được lồng ghép vào mọi dịch vụ chăm sóc sứckhỏe như mọi bệnh viện, mọi phòng khám, mọi biện pháp điều trị, chăm sóchay phục hồi chức năng Phải tích cực làm cho các dịch vụ YDCT được phổbiến ở mọi chỗ, mọi nơi, để cho mọi người dân dễ tiếp cận với dịch vụ này kể
cả trong lĩnh vực nhà nước hay tư nhân Cũng cần thiết lồng ghép chặt chẽtrong công tác đào tạo về YDCT
3.3 Tỡnh hình khám chữa bệnh bằng YHCT ở một số nước trên thế giới:
Sử dụng và đưa YHCT trong hệ thống CSSK quốc gia đó và đang làvấn đề được nhiều nước quan tâm Chính sách cho YDCT có sự khác nhau
Trang 9giữa các nước hay cỏc vựng miền Nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như lịch sửdân tộc, văn hóa, tốn giáo, thái độ, triết lý Nhưng nhìn chung, dựa vào yếu tốvăn hóa, có thể chia ra cỏc vựng miền chính sách cho YDCT như sau: Châu
Á, Châu Phi, Ả-rập, Mỹ bản địa, Trung và Nam Mỹ, Đại tây dương Hiệnnay, chỉ có rất ít nước phát triển chính sách cụ thể cho YDCT, 25 nước trong
số 191 nước thuộc Tổ chức Y tê thế giới xác định có chính sách cho YDCT.Bên cạnh đó chung cho toàn thế giới, Tổ chức Y tế thế giới phát triển nhữngđịnh hướng, chính sách và hướng dẫn chung cho sự phát triển của nền YDCT
Dựa trên hướng dẫn của TCYTTG, một số nước đã lồng ghép khá tốtcác dịch vụ YDCT trong chăm sóc sức khỏe ban đầu Tuy nhiên, do tiềmnăng, điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi nước khác nhau, nên các hìnhthái tổ chức và phương thức hoạt động của YHCT rất đa dạng và không giốngnhau cho các nước
Sau đây, xin giới thiệu sơ lược về tình hình khám chữa bệnh bằngYHCT của một số quốc gia trên thế giới
3.3.1 Campuchia:
YHCT tại Cămpuchia (còn gọi là YHCT Khmer) có từ lâu đời và đượcngười dân sử dụng chủ yếu theo kinh nghiệm tại các cộng đồng Trong chế độKhmer Đỏ vào những năm 70, các kiến thức, kỹ năng y học hiện đại ít được
sử dụng, dẫn tới việc sử dụng các thuốc YHCT là biện pháp chăm sóc sứckhỏe duy nhất cho người dân đất nước này Sau khi Nhà nước Cộng Hòa DânChủ Nhân Dân Campuchia được thành lập năm 1979, YHCT chính thức đượcchính phủ Campuchia khuyến khích sử dụng
Năm 1998, Nghị định về Chính sách Thuốc quốc gia được Chính phủthông qua Tháng 7/2004, Thủ tướng chính phủ Campuchia tuyên bố “Chínhphủ Hoàng gia sẽ tiếp tục khuyến khích việc sử dụng các sản phẩm YHCT vớithông tin thích hợp và sẽ kiểm soát việc kết hợp sử dụng với thuốc tõy” [5]
Trang 10Chính phủ Hoàng gia Cămpuchia công nhận việc hành nghề YHCT và
sử dụng thuốc YHCT trong hệ thống cùng YHHĐ Tuy nhiên hiện nay tạiCămpuchia, YHCT vẫn không được liên kết hoặc lồng ghép chính thức với hệthống y tế quốc gia do các bác sỹ, dược sỹ và các nhân viên y tế chưa có đầy
đủ kiến thức về YHCT và chưa rõ về các lợi thế cũng như hạn chế của YHCT,chưa có niềm tin vào tính an toàn và hiệu quả của YHCT cũng như tôn trọngvai trò của các thầy thuốc YHCT YHCT chủ yếu vẫn chỉ được dùng ở các hộgia đình và cộng đồng, và được thực hiện bởi các thày lang hoặc chính ngườidân theo kinh nghiệm của bản thân họ Bên cạnh đó, cũng tồn tại hình thứcdịch vụ YHCT tư nhân của một số cộng đồng người Hoa và của Việt Namđược nhà nước cho phép Như vậy, về chính sách thì Chính phủ Hoàng giaCampuchia có cho phát triển YHCT, nhưng việc lồng ghép và ứng dụngYHCT trong chăm sóc sức khỏe gần như không có, mà chỉ có ở tuyến cơ sở,tồn tại như một hình thức chữa bệnh phục vụ cộng đồng [5]
Sơ đồ 1 Y học cổ truyền trong hệ thống y tế của Campuchia
Sở y tế các tỉnh
Bộ y tế
Y tế huyện quận
Dịch vụ y học cổ truyền trong
cộng đồng
Trang 11Nhận xét: Như vậy, mặc dù YHCT được pháp luật công nhận nhưng do
nhiều nguyên nhân mà dịch vụ khám chữa bệnh YHCT chỉ tồn tại trong cộngđồng dân cư
Các nghiên cứu về thực trạng sử dụng YHCT ở quốc gia này rất ít Một
số nghiên cứu nhỏ về tác dụng của một số dược liệu thông thường được cộngđồng sử dụng như gừng, nghệ được thực hiện chủ yếu bởi các nghiên cứuviên thuộc ngành dược [5]
3.3.2 Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào:
YHCT là một phần của nền văn hóa Lào Từ xa xưa, người dân Lào đó
có một hệ thống chữa bệnh cổ truyền của riêng mình truyền bá từ thế hệ nàyqua thế hệ khác
Từ khi thành lập nước CHDCND Lào, nhận rõ vai trò quan trọng củaYHCT, Chính phủ luôn khuyến khích sử dụng YHCT rộng rãi trong cả khuvực y tế nhà nước và tư nhân [5]
Năm 1993, Chính phủ Lào đã phê duyệt chương trình chính sách thuốcQuốc gia Năm 1996, Bộ Y tế Lào đã ban hành chính sách phát triển YHCT.Năm 2000, Luật về thuốc và thiết bị y tế được ban hành Năm 2003, nghị định
số 155/PM Thủ tướng Chính phủ CHDCND Lào xác định biện pháp liên quanđến thúc đẩy, quản lý, khai thác, sản xuất, nuôi trồng, sử dụng và ổn địnhnguồn thuốc
Dựa trên các chính sách trên, mạng lưới YHCT của Lào được tổ chứckhá hệ thống:
Bộ phận YHCT được thành lập năm 2004 trong Cục Thuốc và Thực phẩm.Viện YHCT được thành lập năm 1976 có chức năng kế thừa và nghiêncứu YHCT, cung cấp dịch vụ khám điều trị và phục hồi chức năng cho bệnhnhân, đồng thời trợ giúp kỹ thuật YHCT cho tuyến dưới
Trang 12Đã thành lập được bộ phận YHCT tại một số bệnh viện đa khoa tuyếntỉnh và tuyến huyện để cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh bằng YHCT chongười dân; và thiết lập được 12 trạm và tổ YHCT ở 12 tỉnh trên toàn quốc.Đây là nơi người dân địa phương được điều trị các bệnh thông thường vàđược tư vấn về cách điều trị, phòng bệnh [5]
Bên cạnh đó, còn đội ngũ các thầy thuốc từ các dân tộc thiểu số cũngtham gia vào sự phát triển của YHCT dưới các hình thức như sản xuất thuốc
cổ truyền tại nhà, các thuốc bổ trợ, sauna và xoa bóp cổ truyền [5]
Sơ đồ 2 Y học cổ truyền trong hệ thống y tế của Lào
Nhận xét: Mô hình YHCT của CHDCND Lào được pháp luật công
nhận và được phát triển từ trên xuống Hiện tại các tuyến cơ sở đang đượcduy trì và củng cố
Trang 13Những nghiên cứu đánh giá tổng thể về thực trạng khám chữa bệnhbằng YHCT trên toàn quốc gia chưa được tiến hành Một khảo sát sơ bộ của
Bộ Y tế Lào về cây thuốc trên toàn quốc cho thấy có khoảng 5000 loài trong
đó có khoảng 1500 loài được tìm thấy và chứng minh Tuy nhiên các nhà thựchành YHCT mới chỉ sử dụng khoảng 500 loài cho chữa bệnh Phần lớn cáccây thuốc chủ yếu được người dân sử dụng dưới dạng tự nhiên hoặc dạngthuốc thực phẩm chứ chưa được nghiên cứu đầy đủ [14]
Bên cạnh việc đưa ra những chính sách hỗ trợ cho YHCT như chínhthức đưa YHCT vào hệ thống y tế quốc gia, khuyến khích các doanh nghiệpdược sản xuất chế phẩm YHCT, chính phủ cũng quan tâm đến đào tạo cán bộYHCT Thông qua các hợp tác quốc tế với Việt Nam, Nhật Bản, Trung Quốc,
Ấn Độ…việc đào tạo hiện tập trung phát triển số lượng cán bộ YHCT nhưngphần lớn chỉ có trình độ trung cấp là chủ yếu [5]
3.3.3 Indonesia [5], [23]
YHCT được sử dụng tại Indonesia từ thế kỷ 15 và hiện nay vẫn đượcngười dân thực hành như một phần trong đời sống hàng ngày để duy trì sứckhỏe và chữa bệnh
Là 1 quốc đảo trong miền khí hậu nhiệt đới, Indonesia có nguồn dượcliệu phong phú trong 30.000 loài cõy cú 940 loài loài được thừa nhận là câythuốc và có 250 loài được sử dụng trong sản xuất thuốc YHCT Theo 1 khaỏsát năm 2000, Indonesia có 281.492 nhà thực hành YHCT bổ sung/thay thế ởtrong và ngoài hệ thống y tế, 25.077 người làm xoa bóp, 14.000 chuyên gia
vè dược thảo, 26.917 nhà kê dơn thuốc cổ truyền gồm cả bác sỹ, y tá và dược
sỹ, 10180 người chữa bệnh theo thiên nhiên (ăn uống, vận động không cầnthuốc), 8781 người bó xương theo phương pháp YHCT Có 2,7% dân số dùngYHCT thay thế làm dịch vụ ngoại trú [14]
Trang 143.3.4 Malaysia
Luật lệ về thuốc và mỹ phẩm năm 1984 khởi đầu, việc kiểm tra có hệthống các dược phẩm bao gồm thuốc cổ truyền Việc đăng ký hành nghềthuốc cổ truyền bắt đầu từ tháng 1/1992 Đến tháng 10/1995 cú trờn 15000người hành nghề tư nhân YHCT được cấp phép Trong đó có 67% người hànhnghề đăng ký sử dụng thuốc Trung y, 13% đăng ký sử dụng thuốc cổ truyềnMalaysia [5], [14]
3.3.5 Myanmar
YHCT tại Myanmar có từ 300 năm trước Hiện tại đang thực hành tạiMyanmar có 4 môn thực hành là hệ thống Desana, hệ thống Bhesiji, hệ thốngNetkhatta và hệ thống Vijadhara Y học Ayurveda bao gồm hệ thống Bhesijiđược thực hành rộng rãi ở các thành phố trong đất nước [5]
Myanmar đó có chính sách quốc gia về YHCT Trong đó ghi rõ “đểcủng cố các hoạt động dịch vụ và nghiên cứu y học bản địa ngang cấp quốc tế
và tham gia vào các hoạt động chăm sóc sức khỏe cộng đồng” [5]
Viện YHCT được thành lập vào năm 1989, trực thuộc Bộ Y tế
Dưới vụ YHCT có phòng YHCT của khu vực, của bang và một sốphòng khám y học cổ truyền của quận, huyện, xã
Việc cung cấp chăm sóc sức khỏe bằng thuốc YHCT được thực hiệnthông qua các bệnh viện và phòng khám YHCT ở một số bang và khu vực Có
2 bệnh viện 50 giường và 12 bệnh viện 16 giường, 237 phòng khám YHCTtuyến huyện và thị trấn trong toàn quốc
Ngoài ra nhà nước cũng cho phép các bác sỹ hành nghề YHCT tư nhâncũng tham gia trong việc cung cấp chăm sóc sức khỏe Hiện tại có khoảng
6000 bác sỹ YHCT đăng ký theo Luật của Hội đồng y học Myanmar [14]
Trang 15Sơ đồ 3 Y học cổ truyền trong hệ thống y tế của MyanmarHiện tại, vụ YHCT đang thực hiện hai nghiên cứu quốc gia là 1)nghiêncứu điều tra thực vật, húa học, dược lý và lâm sàng của loại thuốc thảo dượctruyền thống trong đó bao gồm phân tích thường xuyên mẫ thuốc YHCT đăng
ký cho điều trị bệnh; 2) nghiên cứu về hệ thống quản lý chất lượng của cácnhà máy sản xuất thuốc thuộc vụ YHCT và điều tra các loại thuốc YHCT trêntoàn quốc Ước tính cho đến 2010, có hơn 10.000 thuốc YHCT được đăng ký
Năm 1997, Luật thuốc YHCT và thuốc thay thế được phê duyệt Trên
cơ sở đó, Viện CSSK bằng thuốc YHCT và thuốc thay thế (PIAHC) được
Bộ y tế
Bệnh viện
YHCT tỉnh
Phòng khám YHCT huyện, thị
Trang 16thành lập Viện cung cấp và phân phối các sản phẩm CSSK truyền thống vàthay thế Viện cũng phối hợp với bảo hiểm y tế địa phương, cho phép cácthành viên tận dụng lợi ích khi điều trị bằng châm cứu và các hình thức điềutrị thay thế khác Bên cạnh đó, một số trung tâm khu vực về CSSK bằng thuốcYHCT và thuốc thay thế tại một số trường cao đẳng và đại học của nhà nước,phục vụ các thành phần trong mạng lưới của PITAHX và trong việc phổ biếnnhững lợi ích của CSSK bằng thuốc YHCT cũng như thuốc thay thế [5]
Nhà nước cũng khuyến khích lồng ghép YHCT vào hệ thống CSSKquốc gia bao gồm:
- Một số bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế lồng ghép YHCT vào điều trịgồm: Bệnh viện cựu chiến binh khu vực, Trung tâm y tế và bệnh viện MarinoMarcos; bệnh viện chỉnh hình của Phi-lip-pin; Trung tâm y tế Amanigue
Bệnh viện tư nhân lồng ghép thuốc YHCT vào điều trị gồm y tế thànhphố, Trung tâm y tế Delos Santos
Nghiên cứu YHCT tại quốc gia này tập trung nhiều vào nghiên cứuthảo dược theo hướng dẫn của TCYTTG cho các nghiên cứu lõm sàng củathuốc thảo dược như NC thuốc lagundi (Vitex negundo), Sambong (Blummeabalsamifera), Yerba buena (cây bạc ha cordifolia), Tsaang Gubat(Camonaretusa) [5], [14]
3.3.7 Singapore
YHHĐ được coi là phương pháp chữa bệnh trong hệ thống CSSKchung và YHCT với các phương pháp chữa bệnh kinh nghiệm lâu đời của cácdân tộc khác nhau cũng được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng
Nhà nước cho phép phương pháp khám và chữa bệnh YHCT được sửdụng tại các phòng khám YHCT tư nhân và phòng khám YHCT từ thiện củacác tổ chức phi lợi nhuận Trước 2007, YHCT được phép sử dụng tại các
Trang 17bệnh viện, nhà điều dưỡng và chỉ dành cho người bệnh ngoại trú, đây đượccoi như dịch vụ riêng biệt, không nằm trong các dịch vụ y tế cung cấp chobệnh nhân [5]
Năm 2007, Bộ y tế đã cho phép các bác sỹ đăng ký hành nghề y tế vànha sỹ đồng thời có đăng ký hành nghề YHCT đó là được làm châm cứu vàcoi đó như một dịch vụ nằm trong nội dung hành nghề y của họ Ngoài ra cácbệnh viện và phòng khám cũng cho phép tuyển dụng những người thầy thuốcthực hành YHCT có đăng ký làm châm cứu để phục vụ cho bệnh nhân [5]
Năm 2004, Bộ y tế đã tiến hành một khảo sát cho thấy có 53% số dân
đã được khám và điều trị bệnh bằng YHCT và trong vòng 1 năm qua số lượngbệnh nhân đã tăng lên đáng kể so với năm 1994 con số này là 45% [14]
Các NC về YHCT được các trường đại học và bệnh viện địa phươngtiến hành tập trung chủ yếu để sử dụng YHCT và châm cứu trong giảm đau,phục hồi chức năng sau tai biến và cai nghiện thuốc lá [14]
3.3.8 Thái Lan
Là nước có truyền thống rất lâu đời về YHCT Từ năm 1950 đến năm
1980, sự lấn át mạnh mẽ của YHHĐ và việc coi trọng phát triển YHHĐ đãđưa đến hậu quả YHCT gần như bị triệt tiêu Điều này có ảnh hưởng khôngnhỏ đến chất lượng và quy mô CSSKBĐ ở Thái Lan Từ năm 1980, Chínhphủ và ngành Y tế Thái Lan đã khẩn trương thiết lập chính sách phát triểnthuốc thảo mộc trên phạm vi toàn quốc Những điều tra cơ bản về cây thuốc,những nghiên cứu dược học, y xã hội học được triển khai nhằm hỗ trợ chochiến lược này đã được triển khai[30]
Song song với các hoạt động kể trên, Thái Lan đã bắt đầu tổ chức vàtriển khai kế hoạch thành lập các trung tâm YHCT tại các tỉnh và đưa dầntừng bước YHCT vào mạng lưới cung cấp dịch vụ YHCT trong hệ thống y tếnhà nước
Trang 18Tính đến 2003, đó cú 83,3% các bệnh viện địa phương và trung ương
và 67,8% bệnh viện cộng đồng ở Thái Lan có cung ứng dịch vụ YHCT củangười Thái Hệ thống đào tạo YHCT gồm các trường đại học, viện YHCTThái Lan đã đào tạo được 14.912 nhà thực hành YHCT Thái, 379 nhà ứngdụng thực hành YHCT, 18.999 nhà thực hành dược cổ truyền, 2869 nữ hộsinh cổ truyền [5]
Thái Lan cũng đã thành lập mạng lưới nghiên cứu về YHCT giữa Vụphát triển YHCT và biện pháp thay thế (DTAM) sở KHCN, các trường đại học,bệnh viện và viện nghiên cứu YHCT Thái Lan Từ năm 2000-2003 có 395 tàiliệu dược thảo YHCT được công bố, trong đú cú 31 đề tài được thử nghiệm lâmsàng tại các bệnh viện của các trường đại học và Bệnh viện công [14]
3.3.9 Nepal
Theo báo cáo của Bộ Y tế Nepal cho đến năm 1992 có 145 trung tâmYHCT sử dụng Ayurveda và các phương pháp YHCT khác trong hoạt độngphòng và chữa bệnh Hơn 50% các trung tâm y tế đa khoa có sử dụngAyurveda cùng với y học hiện đại để điều trị [14]
3.3.10 Ấn Độ
Cộng hòa Ấn độ có di sản giàu có về hệ thống YHCT chăm sóc sứckhỏe từ nhiều thế kỷ Hệ thống YHCT là Ayurveda, Yoga tồn tại gần 7000năm Chính phủ Ấn độ thừa nhận các hệ thống cổ truyền đã được hệ thốnghóa (nhờ Ayurveda), cũng như các cách chữa bệnh không cần thuốc nhưYoga, Siddha, Unani và các hệ thống y tế Tây Tạng đều được nhà nước côngnhận và tạo điều kiện cho phát triển [14]
Chính sách của Ấn Độ về YDCT có nhiều điểm tương đồng với cácnước khác, nhất là cũng dựa vào chiến lược của WHO và gần giống chínhsách của Trung Quốc
Trang 19- Coi trọng công tác đào tạo YDCT, coi đó là một sự lồng ghép vàochương trình quốc gia.
- Lồng ghép chặt chẽ YDCT vào hệ thống chăm sóc sức khỏe quốc gia,nhưng vẫn chưa lồng ghép YDCT vào YHHĐ Hai nên y học tồn tại songsong [24]
- Thúc đẩy nghiên cứu khoa học và đầu tư kinh phí cho nghiên cứukhoa học trong YDCT
- Thành lập một tổ chức quốc gia (tương đương với cơ quan Bộ) phụtrách, quản lý YDCT bao gồm các nền y học dân tộc như Ayurveda, Yoga,Unani, Siddha và Homoeopathy (phép chữa vi lượng đồng cân) để thúc đẩy
sự phát triển của y học bản địa từng vùng
- Xây dựng chuẩn quốc gia về thuốc YHCT, tăng cường sự tiếp cận củangười dân đối với thuốc YHCT, làm cho thuốc sẵn có mọi lúc, mọi nơi
- Phát triển hệ thống thông tin, liên lạc về YDCT giúp tăng cường traođổi thông tin
- Huy động sự tham gia của toàn bộ hệ thống quốc gia vào cung cấpdịch vụ y tế trong đó có YDCT
- Tăng cường đào tạo và quảng bá YDCT Ấn Độ ở nước ngoài
- Đưa các sản phẩm của YDCT vào các chương trình y tế quốc gia, ví
dụ như chương trình Phúc lợi gia đình do Ngân hàng Thế giới tài trợ Dùngthuốc YHCT điều trị một số bệnh thông thường
- Xõy dựng các phòng thí nghiệm để kiểm định chất lượng thuốc YHCT Hiện tại, Ấn độ có đến 500.000 nhà thực hành YHCT có đăng ký (5nhà thực hành/1000 dân), trong chương trình y tế quốc gia về nhi khoa có 7đơn thuốc Ayurveda và 5 đơn thuốc Unani y được đưa vào Có khoảng 70%người Ấn độ sử dụng YHCT cho nhu cầu CSSKBĐ
Trang 20Ấn độ có 3 hội đồng nghiên cứu trung tâm đang hướng dẫn thăm dòlâm sàng và điều trị cho 18 loại bệnh Các NC lâm sàng đi vào thuốc mới như
chữa trĩ, đa kinh, thấp khớp, đái tháo đường [14]
060 giường bệnh Những bệnh viện này đã điều trị 200 triệu bệnh nhân ngoạitrú và 3 triệu bệnh nhân nội trú một năm Đồng thời 95% các bệnh viện ởTrung Quốc có khoa YHCT Hiện nay, năm 2011 theo số liệu của Cục Quản
lý Trung y dược quốc gia Trung Quốc có 3009 Bệnh viện YHCT, với 28 Họcviện Trung y, 57 cơ sở nghiên cứu [1]
Mô hình KCB YHCT Trung Quốc theo tuyến
Sơ đồ 4 Mô hình YHCT từ Trung ương đến cơ sở
Nhận xét: Sơ đồ trên cho thấy nước CHDCND Trung Hoa đó cú chính
sách để phát triển YHCT một cách toàn diện, đều khắp từ tuyến Trung ươngtới tuyến cơ sở
Cục quản lý Trung y dược
Trang 21Công tác quản lý kiểm tra khám chữa bệnh toàn quốc do Bộ Vệ sinh chủquản Cấp huyện trở lên do Bộ phận hành chính vệ sinh chính phủ nhân dânđịa phương chịu trách nhiệm quản lý.
- Các bệnh viện YHCT được phân cấp như sau:
Cấp 1: 20 – 79 giường bệnh là tối thiểu, gồm các khoa sau: Khoa lâmsàng, khoa dược, khoa xét nghiệm, khoa X quang
Cấp 2: 80 – 299 giường, gồm Nội khoa, Ngoại khoa, và thờm cỏc khoanhư cấp 1
Cấp 3: 300 giường trở lên, gồm các khoa như sau: Cấp cứu, Nội khoa,Ngoại khoa, Sản khoa, Nhi khoa, Châm cứu, Chấn thương, Hậu môn trựctràng, Da liễu, Mắt, Xoa bóp bấm huyệt, Tai mũi họng
- Ngoài ra cũn cú cỏc Bệnh viện Đông Tây y kết hợp
- Hệ thống Đồng Nhân Đường có nguồn gốc từ năm 1669, năm Khang
Hy thứ 8 Đồng Nhân Đường tương tự cỏc phũng chẩn trị YHCT tuyến tỉnhcủa Việt Nam, tuy nhiên quy mô lớn hơn
Trong việc phát triển YHCT, nước CHND Trung Hoa đã thể chế hóabằng văn bản việc sử dụng Trung y dược cổ truyền để CSSKBĐ cho ngườidân Từ khi thành lập nước CHND Trung Hoa (năm 1949) đến nay, đó cú tới
200 quy chế và chính sách được công bố để phát triển YHCT [14]
Nội dung các chính sách khuyến khích và phát triển YHCT bao gồm:
- Ban hành các chính sách, hướng dẫn, quy định, các chuẩn quốc giacho phát triển YDCT nói chung Đặc biệt xây dựng các chính sách cho pháttriển trong tình hình mới
- Đổi mới cơ chế quản lý thông qua trao đổi kinh nghiệm về quản lý vềYDCT [32]
Trang 22- Phát triển và ứng dụng các bài thuốc lá, cỏ cây phù hợp thông quaviệc sử dụng các hoạt động phối hợp.
- Phát triển Tây y, thực hiện lồng ghép hoạt động Tây y với YDCT cả
về lý thuyết và thực hành
- Hiện đại hóa YDCT Trung Hoa
- Đảm bảo điều kiện cho YDCT Trung Hoa phát triển bền vững
- Ứng dụng YDCT vào dự phòng và điều trị bệnh
- Tăng cường các công trình nghiên cứu khoa học như phát triển và ứngdụng kĩ thuật Sinh học phân tử trong nghiên cứu YDCT, nghiên cứu đáp ứngmiễn dịch
- Quản lý chất lượng YDCT thông qua việc ban hành các chuẩn quốcgia cho đánh giá
- Chuẩn hóa quy trình chẩn đoán và điều trị bằng YDCT
- Bảo vệ và phát triển bền vững cỏc cõy, cỏ làm thuốc
- Phỏt triển các phương pháp thử nghiệm YDCT
- Tăng cường đào tạo, hiện đại hóa công tác đào tạo cán bộ YDCT [20]
- Ứng dụng tất cả những chính sách của WHO đã khuyến cáo trongChiến lược phát triển YDCT của WHO [20]
- Đào tạo cán bộ YHCT: Đội ngũ cán bộ làm tư vấn có đủ khắp nơi vàdần được chuẩn hóa bằng các lớp, cỏc khoỏ đào tạo với nội dung chươngtrình phù hợp cho từng thời kỳ, phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn.Trong đó các thầy thuốc YHHĐ được đào tạo thêm về YHCT, các thầy lang
cổ truyền được đào tạo thêm về YHHĐ, họ được tham gia các chương trình y
tế của Nhà nước và được công nhận một cách chính thức Đội ngũ thầy thuốc
cổ truyền cơ sở này đó thực sự đóng góp nhiều trong sự nghiệp CSSKBĐ tạicộng đồng
Trang 23Năm 2000, Trung quốc xuất khẩu thuốc YHCT tăng 8,9%, công nghệYHCT đạt 8,64 tỷ USD Có trên 2000 loại dược thảo và khoảng 3300 đơnthuốc cổ truyền khác cùng với lượng thuốc sản xuất là 370.000 tấn/năm [31] Tính đến 12/2002, Trung quốc có 4.808.640 người làm việc ở 85.705 tổchức y tế trong đú có 3801 tổ chức YHCT (4,4%) với 435.082 cán bộ nhânviên YHCT (9,1%) Có 213.861 gường bệnh, có khoảng 200 triệu bệnh nhânngoại trú được điều trị bằng YHCT 95% bệnh viện cung ứng YHHĐ có khoaphòng về YHCT Khoảng 56% bác sỹ nông thôn (1.330.000) sử dụng kết hợp
cả YHHĐ và YHCT [1]
Hội nghị phát triển YHCT Trung Quốc năm 2005 đã thống kê: YHCTTrung Quốc đã được hơn 120 quốc gia và khu vực trên thế giới chấp nhận ởAnh, hơn 3000 bệnh viện thực hành về YHCT Trung Quốc đã được mở Cókhoảng 2,5 triệu người Anh đã chi tổng số 90 triệu bảng Anh hàng năm đểđược điều trị bằng YHCT Trung Quốc Ở Phỏp cú 2 600 bệnh viện thực hành
về YHCT Trung Quốc có tới 7 000 đến 9 000 cán bộ châm cứu Cho đến nay,
ít nhất 40 nước đã mở trường học về châm cứu Trên 50 hợp đồng y học được
ký giữa Trung Quốc với các nước khác trong đó có sự hợp tác về YHCT Yhọc cổ truyền của Trung Quốc nói chung đã giành được vị thế hợp pháp ởnhiều nước bao gồm Sin-ga-po, Ma-lai-si-a, In-do-ne-si-a [1]
Về nghiên cứu YHCT, Trung quốc có khảng 15.000 cán bộ nghiên cứu
về YHCT làm việc tại các viện NC, trường đại học hay viện đại học có 2864bệnh viện về YHCT, 30 viện nghiên cứu chuyên khoa ở tỉnh, thành phố và 30trường chuyên khoa YHCT [1]
Đến năm 2007, dịch vụ YHCT đã phục vụ 38,9% bệnh nhân ở nôngthôn và 16% ở thành thị [14]
Trang 24Những chính sách trên đây của Trung Quốc cho thấy sự hoàn thiện và
sự đầu tư lớn trong lĩnh vực YDCT giúp cho nền YDCT Trung Hoa phát triểnmạnh và có tầm ảnh hưởng lớn trên thế giới
3.3.12 Nhật bản
Nhật Bản với lịch sử nền YHCT trên 1400 năm, được xem là nước có
tỷ lệ người sử dụng YHCT cao nhất thế giới hiện nay
Kampoo là sự kết hợp giữa thuốc cổ truyền Trung Quốc và thuốc dõngian Nhật Bản.Về mặt truyền thống, đó là công thức gồm từ 5-10 vị thuốc, sửdụng ở dạng thuốc sắc, có thể làm ở dạng bột, viên hay thuốc mỡ Năm 1972,
Bộ y tế Nhật bản đã chỉ định 210 công thức Kampoo làm thuốc không cầnđơn Năm 1976, có Tính từ năm 1974 đến 1989, sử dụng Kampo ở Nhật Bản đótăng 15 lần trong khi đó các loại tân dược chỉ tăng 2,6 lần Lý do giải thích làKampo rất ít gây phản ứng và tác dụng phụ, ngoài ra y học Kampo còn đáp ứngcác yếu tố tâm linh và các giá trị tinh thần của người Nhật Chế phẩm dượcKampoo dùng trong lâm sàng chiếm tới 84,3% và được ứng dụng chủ yếu vớicác chứng bệnh: viêm gan, rối loạn kinh nguyệt, hen, cảm lạnh, rối loạn tiêu hóa,viêm khớp mạn tính, rối loạn tâm thần thân thể
Kampoo khá an toàn và thích hợp với người cao tuổi Ít nhất 65% bác sĩ ởNhật đã khẳng định rằng họ đã sử dụng phối hợp đồng thời thuốc YHCT vàthuốc hiện đại [14]
Trang 253.3.13 Hàn Quốc
Ở quốc gia này, hầu hết các cơ sở y tế công và tư đều hoạt độngvỡ lợinhuận Tại Hàn quốc, YHCT rất phát triển và có vị thế ngang bằng YHHĐ
Do việc mở rộng các cơ sở y tế tư nhân dẫn đến sự thiếu hiệu quả của
hệ thống y tế, sử dụng qua mức dịch vụ cần thiết, tập trung bác sỹ ở các thànhphố lớn và dẫn đến sự mất công bằng giữu chi phí y tế cao và lợi ích y tế thấp
và chỉ có các cơ sở y tế công đóng vai trò quan trong trong CSSK đặc biệt làdịch vụ tiêm chủng và dự phòng các bệnh truyền nhiễm Tuy nhiên trongnhững năm gần đây, YHCT có khuynh hướng bị thu hẹp lại do chế độ chi trảbảo hiểm cho YHHĐ có xu hướng phổ biến rộng rãi và ưu đãi hơn
Chính phủ Hàn quốc đang cố gắng thực hiện chương trình cải cách hệthống y tế với mục tiêu là công bằng, hiệu quả và hệ thống y tế có chất lượng.Chính phủ đang xem xét việc tách rời kê đơn và bán thuốc, bãi bỏ thị trường y
tế, xác định cơ chế bảo hiểm và thống nhất hoạt động bảo hiểm y tế để đảmbảo sự ổn định về tài chính công bằng trong đóng góp và nâng cao hiệu quảquản lý hành chính
Từ tháng 1/1989, Hàn quốc có hệ thông bảo hiểm y tế; tỷ lệ bảo hiểmtheo đông y chiếm 1,1% tổng số trường hợp điều trị và chiếm 0,6% tổng sốtrợ cấp Số ca điều trị YHCT có bảo hiểm tăng 4,9 lần (từ 320.770 trường hợpnăm 1987 lên 1.558.906 trường hợp năm 1990) [14]
Hiện tại có khoảng 5792 bác sỹ đông y (chiếm 12% tổng số bác sỹ) Có
4208 người công tác ở thành phố, 399 người công tác ở nông thôn và 324người làm ở bệnh viện đa khoa hoăc đông y Số giường chữa bệnh bằng đông
y là 1276(1,05% tổng số giường bệnh) [14]
3.3.14 Australia
Australia cho phép sử dụng YHCT như một trong các liệu pháp thay thếtại cộng đồng Chính phủ đó cú những chính sách phổ cập những biện pháp
Trang 26thay thế này đến toàn cộng đồng Theo kết quả của một số nghiên cứu năm
1995 ở Australia, 48,5% dân số sử dụng ít nhất một loại hình chữa bệnh theophương pháp YHCT, 90% (370/400) cỏc bỏc sỹ thực hành đã khuyến cáongười dân có thể sử dụng một trong mười liệu pháp điều trị thay thế: Châmcứu, thôi miên, thiền, tác động cột sống, thể dục nhịp điệu, Yoga, vi lượngđồng căn, thuốc thảo dược, xoa bóp, ngửi hoa [14]
3.3.15 YHCT ở một số nước châu Âu
Khó có bức tranh tổng quát và cụ thể về tình hình sử dụng YHCT ởChâu Âu Có nhiều ý kiến khác nhau khi tiếp cận YHCT như một biện pháp
bổ sung và thay thế Tuy nhiên cũng có thể thấy YHCT đã được sử dụng ở 51nước Châu Âu Mặc dù hệ thống này không hoàn toàn kết hợp vào dịch vụ
YHHĐ của các nước đó [23]
Ở Tây Âu có sự đối thoại và tôn trọng ý muốn của bệnh nhân nếumuốn sử dụng loại thuốc nào (cổ truyền hay hiện đại)
Ở 28 nước Châu Âu có tổ chức hiệp hội các nhà thực hành YHCT bổsung/thay thế (châm cứu, trung y, vi lượng đồng căn), các nhà sinh thái học
và các nhà sản xuất cây thuốc Nhiều nước chõu õu cú một số hình thức tài trợcông cộng cho YHCT bổ sung/thay thế: ở Tiệp, Đức từ 2004 có chế độ chi trảđiều trị theo YHCT (châm cứu, xoa bóp, vi lượng đồng căn) Có 6 nước Châu
Âu cung ứng điều trị YHCT bổ sung/thay thế trong bệnh viện công [14]
Nhiều nước chõu õu cú một số hình thức đào tạo châm cứu và YHCTTrung Quốc trong đó Hung gari là nước có chương trình giáo dục YHCT bổsung phát triển nhất Các hình thức điều trị theo YHCT bổ sung phổ biến ởChâu Âu là vi lượng đồng căn, điều trị bằng cây thuốc theo thiên nhiên(hướng dẫn ăn uống, tập luyện không dùng thuốc), châm cứu, nắn xương,
khớp và xoa bóp [14]
Trang 27Xu hướng sử dụng YHCT thay thế trong cộng đồng tăng hàng năm ỞĐan Mạch, số người sử dụng YHCT bổ sung tăng từ 23% năm 1987 tới 43%năm 2000 Vi lượng đồng căn ở Pháp tăng từ 16% dân số năm 1987 lên 32%
năm 1992 [14]
Ở Cộng hòa liên bang Nga:
Là một nước có diện tích rộng, hàng trăm dân tộc và nhóm bộ tộc tích lũy nhiều văn hóa cổ truyền trong điều trị và bảo vệ sức khỏe
YHCT được phân loại như sau:
- Loại được thừa nhậnlà khoa y học xếp thành chuyên khoa điều trịbằng tay như xoa bóp và châm cứu
- Loại được thừa nhận là khoa y học nhưng không xếp thành chuyênkhoa điều trị bằng âm nhạc, sinh vật, vi lượng đồng căn, điều trị theothiên nhiên, điều trị xương, các phương pháp chẩn đoán theo YHCT
- Các loại YHCT còn đang xem xét như ayurveda, yoga, nắn bóp cộtsống
Theo khuyến nghị của TCYTTG, nhà nước đã có nhiều biện pháp tổchức hỗ trợ phát triển YHCT vào trong hệ thống y học cộng đồng
Đã có hệ thống quốc gia cấp phép thực hành YHCT và nhiều hiệp hội
về YHCT Liên bang Nga cũng có trung tâm về phương pháp thực nghiệmlâm sàng cổ truyền trong khám và điều trị
Theo thống kê hiện có khoảng 40.000 nhà thực hành YHCT và ít nhất
có 60% dân chúng dùng thuốc dân gian [14]
3.3.16 YHCT ở châu Phi:
Ở các nước châu Phi, châu Mỹ La-tinh, đặc biệt là các bộ lạc người dân
ở đây từ lâu đã biết làm các phương thuốc từ cây cỏ sẵn có tại nơi sinh sống
để phòng và chữa các bệnh thông thường ở cộng đồng mình [34]
Trang 28Bắt đầu từ năm 1981 nhà nước cấp giấy chứng nhận hành nghề và tạo
ra các quy định để bảo vệ quyền lợi cho người hành nghề đồng thời loại bỏnhững người hành nghề bất hợp pháp Hệ thống YHCT thường phối hợp vớiYHHĐ, các phòng khám YHCT không dựa trên sự trợ cấp của chính phủ mà
do chính những người làm YHCT thành lập dưới sự chỉ đạo của hiệp hộiYHCT, đồng thời các phòng khám này được hoà nhập với hệ thống y tế quốcgia Trong các phòng khám YHCT thường có sự hỗ trợ của các bác sỹYHHĐ, các bệnh nhân được lựa chọn các loại hình điều trị thích hợp Tại đâykhông có đủ bác sỹ YHHĐ để phục vụ mọi vùng trong đất nước, do đó thầythuốc YHCT đúng vai trò quan trọng trong CSSK người dân Đồng thời nhànước cũng có thành lập uỷ ban liên kết giữa YHCT và YHHĐ để nâng cao vaitrò CSSK của cộng đồng [35]
Mali
Đã có những thời kỳ những người HNYHCTTN bị đi tù, nhiều thầythuốc tâm huyết cũng đã phải bỏ nghề Nhưng ngày nay YHCT được xếpngang hàng cùng với YHHĐ Những người thuộc thế hệ trước đang ra sứcphục hồi lại nền YHCT, sự tham gia của các phương thuốc cổ truyền đã tạo ra
sự phát triển của y tế trong nước Đài phát thanh góp phần trong công táctuyên truyền các bài thuốc dân gian, do đó YHCT được ứng dụng nhiều hơn.Các phương tiện truyền thống có một sức mạnh đặc biệt tới truyền bá YHCT.Nhà nước có thành lập hiệp hội các thầy thuốc YHCT, có những khuyếnkhích phát triển đề cao một số phương pháp chữa bệnh cổ truyền, đồng thờikhuyến khích người dân trồng thảo dược và đảm bảo được kế mưu sinh của
họ [33]
Trang 29Cộng Hòa Dân Chủ Congo
Đất nước này có văn phòng YHCT của TCYTTG, có hội YHCT, đồngthời có sự liên kết của hội với chính quyền YHCT có vai trò hơn YHHĐ,chính phủ cú chớnh sỏchđầu tư để phát triển YHCT, các dịch vụ tư vấn CSSKđều là YHCT Một số trung tâm YHCTTN hoạt động như một bệnh viênYHHĐ Các trung tâm này hoạt động bằng tiền trợ cấp của TW, do đó ngườidân phải trả tiền KCB rất ít Những người HN YHCTTN còn được tham giaphân phát thuốc cho người bệnh, họ đồng thời làm bào chế thuốc.Tất cả cácthuốc bào chế ra đều được kiểm tra thường xuyên Bộ Y tế giám sát trực tiếpnhững người hành nghề YHCT [35]
Ghana
Tỷ lệ bác sỹ ở đây rất ít, ở thủ đô cứ 10000 người dân mới có 1 bác sỹ.Người dân ở đây khi khám bệnh thường tìm đến các thầy lang Các phòngkhám YHCT còn tham gia bào chế thuốc TCYTTG ủng hộ bào chế các dượcphẩm tại các cơ sở , tại chính địa phương của mình [27]
Cộng Hoà Nam Phi
Sau năm 1994, nền dân chủ được tái lập tại Cộng Hòa Nam Phi đó giỳpquốc gia này tái lập sự phát triển của YDCT
- Xây dựng chính sách phát triển YDCT tại Cộng Hòa Nam Phi và các quốc gia Châu Phi khác
- Thành lập đội quản lý YDCT thuộc văn phòng Chủ tịch nước (CộngHoà Nam Phi)
- Ban đặc nhiệm quản lý YDCT (tương đương với cấp Bộ) cùng với Sở
y tế các địa phương soạn thảo ra các chính sách, quy chế về công tác YDCT(Cộng Hoà Nam Phi)