Nó không những tạo tiền đề cho học sinh có kĩ năng nghe- nói- đọc- viết mà còn rèn cho các em có kĩ năng sơ giản về phân tích tác phẩm văn học, bước đầu giúp các em có năng lực cảm nhận
Trang 12 Tính mới và ưu điểm nổi bật của sáng kiến
3 Đóng góp mới về mặt khoa học của đề tài
1 Những vấn đề quan trọng nhất được đề cập của SK
2 Hiệu quả thiết thực của SK
QUY ƯỚC VIẾT TẮT
Trang 2PHẦN I : MỞ ĐẦU
1 Mục đích của sáng kiến:
Từ xưa đến nay, Văn học luôn có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển nhân cách của con người, bởi: “Văn học là nhân học” Trong trường phổ thông, môn Ngữ văn cũng đã được các cấp, các ngành hết qức quan tâm Nó chiếm thời lượng đáng kể so với các môn học khác Đó là môn học thuộc nhóm khoa học xã hội , có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm, nhân cách học sinh Nó không những tạo tiền đề cho học sinh có kĩ năng nghe- nói- đọc- viết mà còn rèn cho các em
có kĩ năng sơ giản về phân tích tác phẩm văn học, bước đầu giúp các em có năng lực cảm nhận và bình giá văn học Văn học đồng thời cũng là môn công
cụ có mối quan hệ chặt chẽ với các bộ môn khác Do vậy học tốt môn Văn sẽ giúp các em khám phá, tiếp nhận các môn khoa học khác một cách tốt hơn
Môn Ngữ văn trong trường THCS gồm ba phân môn: Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn Trong thực tế học sinh luôn coi môn Ngữ văn là môn khó nhất, dài nhất Theo kết quả điều tra bằng phiếu vào đầu năm học trước nữa , nhiều em chưa thực sự yêu thích môn học ý nghĩa và bổ ích này và càng không thích phần nghị luận văn học
Để học tốt môn này thì đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề đã được
đề cập bàn luận và thực hiện trong nhiều năm qua, đặc biệt trong mấy năm gần đây, với việc thực hiện giảng dạy theo chương trình sách giáo khoa mới thì đổi mới phương pháp dạy học càng được thúc đẩy và phát huy một cách có hiệu
quả
Đứng trước tình trạng đó, tôi và nhiều đồng nghiệp khác đã không khỏi băn khoăn Trong quá trình giảng dạy, tôi đã cố gắng tìm tòi, học hỏi, tìm biện pháp để giúp các em có kĩ năng làm văn nhất là văn nghị luận Chính vì vậy tôi
đã chọn đề tài: “Phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn lớp 9 phục vụ cho việc thi tuyển sinh vào các trường THPT phần Nghị luận văn học”
Thực tế ở lớp dưới các em đã được học về các kiểu văn bản cụ thể
Trang 3Chẳng hạn lớp 7 đã học về văn biểu cảm, về văn nghi luận (trong đó có phép lập luận chứng minh và phép lập luận giải thích) Lớp 8 học tiếp khá kĩ về văn bản nghị luận, về cách nói và viết bài văn nghị luận có sử dụng các yếu tố biểu cảm, tự sự và miêu tả Vì thế các tiết dạy- học phần nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích), nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ ở lớp 9 phải kế thừa, nâng cao kiến thức đã cung cấp, kĩ năng đã rèn luyện ở các lớp trước Sự
kế thừa, nâng cao này cần tăng cường hoạt động thực hành của học sinh Thật
ra, trong một bài nghị luận văn học, người viết thường vận dụng nhiều thao tác,
kĩ năng (giải thích, chứng minh, phân tích, bình giảng ) và nhiều khi khó có thể tách bạch một cách rạch ròi các thao tác kĩ năng Trong thao tác nghị luận này đã có hoặc đang sử dụng thao tác nghị luận kia Nhưng thực tế tại trường THCS của chúng tôi thì học sinh còn yếu ở các kĩ năng, thao tác, vì vậy bài văn nghị luận chưa mang tính thuyết phục cao Do vậy mục đích của bài viết nhằm đưa ra một phương pháp giảng dạy cho phù hợp với đối tượng học sinh, để nâng kĩ năng làm văn nghị luận đồng thời dần nâng cao điểm thi vào THPT
2 Tính mới và ưu điểm nổi bật của sáng kiến :
- Tính mới của sáng kiến: rèn cho học sinh kĩ năng học và làm văn nghị
luận cần phải đi từ những cái căn bản nhất, phát huy tính tích cực và khả năng
sáng tạo của học sinh
- Sáng kiến với các giải pháp ( biện pháp) được trình bày khác, mới so với giải pháp ( biện pháp) cũ trước đây là:
Trước đây, các giải pháp đưa ra đã chú ý tới đối tượng học sinh, phát huy tính tích cực của học sinh Giáo viên cũng đã chú ý tới rèn kĩ năng tìm hiểu đề, tìm ý, kĩ năng viết đoạn và làm bài của học sinh; khi giảng dạy đã có chú ý tới tính tích hợp giữa các phân môn Tuy nhiên, qua quá trình ôn tập cho học sinh tôi nhận thấy ngoài những giải pháp đã thực hiện trên thì giáo viên cần phải chú
ý cả việc rèn cho học sinh kĩ năng trình bày khoa học, ngắn gọn, rõ ràng, mạch lạc và sáng tạo Trong quá trình học và làm văn nghị luận các em cần kết hợp linh hoạt nhuần nhuyễn, tự nhiên giữa phân tích, chứng minh cụ thể với nhận
Trang 4xét, đánh giá khái quát, giữa lý lẽ với dẫn chứng, bình vừa là phương pháp tư duy, vừa là kỹ năng làm bài mà giáo viên cần chú ý rèn luyện cho học sinh Khi
ôn tập kiểu bài nghị luận văn học, giáo viên cũng thực hiện qua 4 bước: Tìm hiểu đề và tìm ý, lập dàn ý, viết văn, sửa lỗi Có như vậy học sinh mới có kỹ năng làm một bài văn thành thạo Với các giải pháp mới sẽ phát huy tối đa tính tích cực, sáng tạo của học sinh, chủ yếu là học sinh hoạt động giáo viên chỉ là người hướng dẫn, gợi mở
- Ưu điểm nổi bật của sáng kiến được áp dụng vào thực tiễn tại đơn vị:
Khi tôi vận dụng phương pháp dạy học như vậy trong quá trình dạy và ôn thi đối với học sinh lớp 9 thì tôi nhận thấy các em đã nắm tương đối chắc được phương pháp làm văn nghị luận Các em đã biết vận dụng lí thuyết vào thực hành điều đó được thể hiện rõ trong các kì thi vào lớp 10 hai năm gần đây đã có những tiến bộ
3 Đóng góp của sáng kiến để nâng cao chất lượng quản lý, dạy và học:
Phần nghị luận văn học được giảng dạy ở học kì II của lớp 9 với thời lượng cho phần giảng dạy lí thuyết không nhiều song yêu cầu về kĩ năng rất cao Trong khi đó mỗi tác phẩm truyện hoặc đoạn trích hay đoạn thơ, bài thơ lại có cách cảm khác nhau Để giúp các em có được kĩ năng tốt nhất trong bài viết này căn cứ vào kinh nghiệm cùng với sự hiểu biết của bản thân tôi cố gắng đi tìm một phương pháp hay nhất để giúp các em làm được những bài văn nghị luận có sức thuyết phục người đọc, người nghe, với hy vọng nó sẽ có tác dụng
ít nhiều cho sự tìm tòi sáng tạo của đồng nghiệp trong quá trình giảng dạy phần nghị luận văn học để giúp học sinh thi vào THPT đạt kết quả cao nhất
- Giúp giáo viên nhận thấy việc hướng dẫn học sinh nhận diện đề và phương pháp làm bài văn nghị luận là hợp lý và cần thiết
- Giúp học sinh nhận diện được đề và có phương pháp làm bài văn nghị luận có hiệu quả cao và ngày càng thấy yêu môn học
Trang 5PHẦN II NỘI DUNG
Chương I THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ MÀ SÁNG KIẾN ĐỀ CẬP ĐẾN
Thứ nhất: Theo đánh giá của nhiều giáo viên có kinh nghiệm khi giảng
dạy phần kiến thức này khó khăn lớn nhất từ phía học sinh là tư duy lập luận logic của các em chưa được định hình Điều này cũng có lý do vì chương trình lớp dưới chủ yếu là văn miêu tả, trần thuật, kể chuyện nên thói quen của các
em vẫn chỉ là tư duy hình ảnh theo phản ánh một chiều đối với hiện thực khách quan Nguyễn Đình Thi đã từng viết: “ Tác phẩm nghệ thuật nào cũng được xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực tại Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ Anh gửi vào tác phẩm một
lá thư, một lời nhắn nhủ, anh muốn đem một phần của mình góp vào đời sống chung quanh” Để cảm nhận được “cái mới mẻ” đó thì học sinh phải cảm thụ được tác phẩm để làm rõ vấn đề Đấy là điều mà văn nghị luận đòi hỏi yêu cầu cao hơn về tính khoa học, tính logic, tính biện chứng Từ đó mà sự tiếp nhận kiến thức mới đối với các em rất hạn chế, ảnh hưởng rất nhiều đến sự lắng đọng kiến thức mà giáo viên muốn truyền thụ đến các em Kiểu bài nghị luận đối với học sinh bậc THCS là kiểu bài khó, với nghị luận văn học lại càng phức tạp hơn Trong thực tế giảng dạy SGK và SGV hướng dẫn còn chung chung nhiều phần chưa bám sát vào yêu cầu của tiết dạy để làm nổi bật vấn đề, một tiết dạy lượng kiến thức nhiều, giáo viên khó định liệu, lựa chọn kiến thức để truyền tải đến học sinh Hơn nữa giờ luyện nói lại càng khó hơn, có tiết luyện nói yêu cầu giải quyết 4 đề bài, trong khi đó học sinh lại không thích học văn, trên lớp chưa chịu tập trung học và làm bài khi giáo viên yêu cầu, vì chúng vừa dài vừa trừu tượng, cho nên nhiều tiết dạy tập làm văn học sinh chưa hiểu bản chất của vấn
đề Do đó học ôn thi vào THPT là việc làm cần thiết để rèn luyện kĩ năng làm văn cho học sinh Bên cạnh đó những giờ dạy phụ đạo học sinh ôn tập cho thi vào THPT tất cả đều tuỳ thuộc vào giáo viên dạy, mỗi giáo viên có một cách dạy khác nhau, nhưng cũng đã đảm bảo kiến thức cho học sinh khi thi Song
Trang 6việc rèn kĩ năng trong các giờ dạy đó lại chưa nhiều Khi đi thi học sinh thường hay trông chờ vào tài liệu, vào những bài cô đã làm mà chưa biết dựa vào dàn
ý, độc lập suy nghĩ để đưa ra những bài làm sâu sắc thực sự là văn của mình
Thứ hai: Thực trạng học sinh hiện nay đa phần rất lười suy nghĩ, lười
viết Bài viết thường rất ngắn, có khi lại viết chưa vào trọng tâm của vấn đề, chỉ nói lan man chưa xác định được yêu cầu của đề bài là gì ? Vì vậy sự cảm thụ văn chương trong học sinh còn hạn chế nhiều, đã vậy chữ viết văn sai chính
tả, viết tắt, viết hoa chưa đúng chỗ ( đặc biệt là các em nam) mà bài văn nghị luận văn chương cần trau chuốt về từ ngữ, từ ngữ cần có sức gợi, tả cao, và đây cũng chính là nguyên nhân làm cho điểm thi vào các trường THPT còn thấp
Thứ ba: Khi đi thi đa phần các em chưa biết phân bố thời gian hợp lí Hầu
hết các em dành thời gian cho phần làm văn còn quá ít cho nên các bài thi còn
dở dang, chưa nêu cảm nhận, đánh giá hết những nội dung tiêu biểu và nghệ thuật đặc sắc trong đoạn thơ, bài thơ hay trong tác phẩm truyện hoặc đoạn trích Thực trạng của vấn đề như đã nêu trên đã có nhiều thày cô quan tâm đưa ra những phương pháp giảng dạy phù hợp Nhưng theo xu thế chung hiện nay học sinh không ham thích học văn Làm thế nào để các em thấy ngày một yêu thích môn học, yêu thích những tác phẩm văn học đã học và muốn tìm đọc những tác phẩm hay của Việt Nam cũng như của thế giới đó là việc làm của tất cả những thày cô đang giảng dạy môn Văn
Trang 7Chương II NHỮNG GIẢI PHÁP ( BIỆN PHÁP) MANG TÍNH KHẢ THI
1 Một số vấn đề chung khi giảng dạy phần nghị luận văn học trong chương trình môn ngữ văn lớp 9
Nghị luận văn học thuộc phân môn tập làm văn được giảng dạy trong chương trình tập làm văn học kỳ II Nghị luận bao gồm 2 kiểu bài chủ yếu: Nghị luận xã hội và nghị luận văn học Trong đó phần nghị luận văn học lại được chia thành 2 dạng bài cụ thể: “ Nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích” và “Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ” Việc phân chia này dựa theo thể loại và đó cũng là các đối tượng, vấn đề phổ biến quen thuộc nhất mà học sinh thường gặp trong làm văn Khi giảng dạy kiểu bài này phải phát huy tinh thần đổi mới theo phương châm tích hợp, cụ thể là:
Trước hết cần thật sự thấm nhuần tư tưởng chủ đạo, yêu cầu bao quát của việc giảng dạy và học tập văn nghị luận hiện nay, trong đó có nghị luận văn học Tại sao không gọi như trước đây là giải thích, chứng minh hay phân tích, bình luận, bình giảng văn học? Thực tế, hầu như không có bài văn nào mà từ đầu đến cuối chỉ tuân theo một yêu cầu, vận dụng một thao tác Đó là các phép lập luận, các thao tác thường được kết hợp, vận dụng khi giải quyết một vấn đề nghị luận Trong một bài nghị luận văn học, người viết phải kết hợp nhiều thao tác, kỹ năng có khi khó tách bạch một cách rạch ròi, giải thích, chứng minh, phân tích hay bình luận Vậy là, khi giảng dạy phần nghị luận văn học cần chú
ý dến tính tổng hợp của tri thức, kỹ năng Các tiết dạy học, nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ ở lớp 9 phải
có sự kế thừa, nâng cao kiến thức đã cung cấp, kỹ năng đã rèn luyện ở các lớp dưới ( phần nghị luận được dạy từ lớp 7 ) Đó chính là thể hiện của tinh thần tích hợp dọc trong nội bộ phân môn tập làm văn ở chương trình bậc THCS Giáo viên cần giúp học sinh rèn luyện kỹ năng, kết hợp đồng thời và linh hoạt nhiều phép lập luận ( giải thích, chứng minh, phân tích ) để làm sáng tỏ vấn
đề, trình bày một cách thuyết phục, hấp dẫn các ý kiến, nhận định của mình về
Trang 8một vấn đề văn học Hơn nữa, đối tượng nghị luận của phần nghị luận văn học lại chính là các văn bản, tác phẩm văn học mà học sinh đã được học trong phân môn văn học, vì thế khi vận dụng vào làm bài nghị luận văn học, các em cần sử dụng tốt những gì đã nhận thức được khi học phần văn học để làm bài Ngoài
ra, để làm tốt bài nghị luận văn học, học sinh cần hiểu rõ về các biện pháp tu từ, các tín hiệu nghệ thuật mà nhà văn , nhà thơ đã sử dụng trong các tác phẩm văn học Muốn có được điều này các em phải nắm chắc kiến thức phân môn Tiếng Việt Đây chính là thể hiện tinh thần tích hợp ngang giữa các phân môn trong
bộ môn Ngữ văn
Trong những năm gần đây một phương châm quan trọng trong dạy học
mà hầu như ai cũng biết là phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh Nhưng từ việc hiểu lý thuyết đến việc thực hành đúng, có hiệu quả thật sự không phải là đơn giản Cần chống lối học vẹt, nói theo từ cách nghĩ đến cách học, cách làm bài Các bài nghị luận trong sách giáo khoa luôn yêu cầu học sinh xác định rõ tinh thần, yêu cầu của cụm từ “ trình bày, suy nghĩ về ”, hoặc
“ cảm nhận của em về ”, “ cảm nhận và suy nghĩ về ” , “ phân tích ” Nghị luận về một vấn đề, một phương diện nào đó của tác phẩm truyện hoặc đoạn trích, nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần xác định một lập trường để phân tích, lý giải, đánh giá bộc lộ ý kiến chủ quan của mình Ngay chữ “ phân tích” trong yêu cầu của một đề văn nghị luận cũng cần hiểu cho đúng, cho thấu đáo
Nó không chỉ là một thao tác, một phép lập luận Không chỉ phân chia vấn đề, đối tượng ra từng bộ phận, khía cạnh để miêu tả, tìm hiểu đặc điểm Phân tích ở đây còn bao hàm cả sự nhận xét, đánh giá, lý giải về vấn đề, đối tượng ấy bằng tư tưởng tình cảm của mình Chẳng hạn trước đề văn nghị luận:” Phân tích nhân vật Phương Định trong truyện ngắn “ Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê Một bài văn làm tốt sẽ không chỉ lần lượt nêu rồi chứng minh từng
vẻ đẹp trong phẩm chất của nhân vật Phương Định như: có lí tưởng sống cao đẹp, dũng cảm, kiên cường, không sợ hy sinh, gian khổ, lãng mạn, lạc quan, yêu đời, yêu cuộc sống Đồng thời với quá trình phân tích từng vẻ đẹp, trình
Trang 9bày từng luận điểm ấy, người viết cần thể hiện sự cảm thụ về các chi tiết nghệ thuật sinh động trong tác phẩm, thể hiện thái độ tình cảm của mình, cần nhận xét đánh giá về cách miêu tả, cách xây dựng nhân vật của nhà văn, cần rút ra những khái quát về ý nghĩa của hình tượng nhân vật Còn với chữ “ cảm nhận”,
“suy nghĩ” thì ngoài kỹ năng phân tích người viết cần chú ý nêu lên ý kiến chủ quan của mình, từ đó liên hệ với cuộc sống xã hội và hành động của bản thân, đặc biệt phải đề cao sự rung cảm của mình khi tìm hiểu tác phẩm Nói như vậy
có nghĩa là bài văn nghị luận văn học cần đề cao cảm thụ, ấn tượng riêng, tính chất cá nhân, cá thể của người viết Giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ vấn đề này để có định hướng làm bài phù hợp với từng đề văn
Bài nghị luận văn học đòi hỏi hệ thống luận điểm mạch lạc, màu sắc cá nhân của các nhận xét, đánh giá, mặt khác bài văn nghị luận văn học cũng yêu cầu tính cụ thể, tính thuyết phục của những luận cứ Nếu cứ sa đà vào dẫn chứng, phân tích cụ thể mà không nâng lên được tầm khái quát, không đúc kết thành các nhận định thì bài văn sẽ nhạt tính tư tưởng, khó gây ấn tượng Mặt khác, nếu cứ nhận định, ngợi ca hay phê phán một cách chung chung mà không qua các căn cứ cụ thể, dẫn chứng sinh động thì bài văn cũng yếu sức thuyết phục dễ trở lên xáo rỗng Một hiện tượng thường gặp khi nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích là học sinh hay sa vào kể lể lan man, ít nhận xét đánh giá cảm thụ, dẫn đến bài viết thiên sang tự sự là chính Kết hợp linh hoạt nhuần nhuyễn, tự nhiên giữa phân tích, chứng minh cụ thể với nhận xét, đánh giá khái quát, giữa lý lẽ với dẫn chứng, bình vừa là phương pháp tư duy, vừa là kỹ năng làm baì mà giáo viên cần chú ý rèn luyện cho học sinh Sách giáo khoa, đặc biệt là các phần ghi nhớ đã định hướng rõ yêu cầu này, cũng như cách thức thực hiện Chẳng hạn, khi nghị luận về một tác phẩm truyện, những nhận xét đánh giá phải xuất phát từ chủ đề, từ ý nghĩa cốt truyện, từ tính cách số phận nhân vật, từ đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm Khi nghị luận về một nhân vật cần phân tích, đánh giá từng phương diện cơ bản của nhân vật được nhà văn phản ánh gắn liền với những chi tiết nghệ thuật đặc sắc Chẳng hạn, khi nghị
Trang 10luận về một đoạn thơ, bài thơ cần làm sáng tỏ nội dung, cảm xúc được thể hiện qua ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu Bài nghị luận cần phân tích các yếu tố để có những nhận xét, đánh giá cụ thế xác đáng Chẳng hạn trước đề bài : Cảm nhận của em về lòng thành kính thiêng liêng đối với Bác qua bài thơ “ Viếng lăng Bác” của Viễn Phương, không ít học sinh lúng túng khi xác định yêu cầu và cách tổ chức làm bài Học sinh phải trả lời được các câu hỏi: Lòng thành kính thiêng liêng đối với Bác trong bài thơ này được diễn tả qua các nhận vật nào? Trong thời gian nào? Ở đâu? Đâu là các chi tiết đặc sắc ( ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu, lời thơ ) thể hiện lòng thành kính ấy? Mình tâm đắc nhất với chi tiết nào? Giá trị nhận thức, ý nghĩa tư tưởng của bài thơ “ Viếng lăng Bác” là gì? Từ việc trả lời đúng các câu hỏi trên lại cần phải xác định rõ, trình bày theo yêu cầu của đề văn như thế nào? Nên kết hợp ra sao? Các thao tác, các phép lập luận được sử dụng là gì?
Như vậy về bản chất của việc dạy và học mảng nghị luận văn học hiện nay vừa đòi hỏi sự thâm nhập , thẩm bình văn bản tác phẩm vừa yêu cầu kỹ năng tổng hợp, khái quát thành một nhận định, đánh giá riêng
2 Phương pháp giảng dạy và ôn tập mảng nghị luận văn học giúp học sinh thi tuyển vào các trường THPT
2.1 Giáo viên cần nhắc lại và nhấn mạnh khái niệm nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích, nghị luận về đoạn thơ, bài thơ để học sinh nắm chắc bản chất của vấn đề từ đó định hướng cho việc làm bài
- Nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích là trình bày những nhận xét đánh giá về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật của một tác phẩm cụ thể
- Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ là trình bày những nhận xét đánh giá của mình về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ ấy
2.2 Giáo viên nêu và phân tích rõ những yêu cầu của mỗi kiểu bài:
- Yêu cầu của bài nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích:
+ Những nhận xét, đánh giá về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích phải xuất phát từ ý nghĩa cốt truyện, từ tính cách số phận nhân vật và nghệ thuật của tác
Trang 11phẩm Người viết phải phát hiện và khái quát được những điều ấy Về nội dung truyện phản ánh thực tế gì? Qua đó nói lên tư tưởng gì? Tư tưởng ấy có ý nghĩa như thế nào đối với đời sống? Về nghệ thuật truyện xây dựng những nhân vật nào, ai là nhận vật trung tâm? Cách thức xây dựng nhân vật như thế nào? Truyện có bố cục tình huống ra sao? Ngôn ngữ kể chuyện có gì đặc sắc ? ( Giáo viên minh hoạ bằng tác phẩm cụ thể)
+ Các nhận xét đánh giá về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích phải được trình bày rõ ràng, đúng đắn, lý lẽ, dẫn chứng phải thuyết phục, dẫn chứng được lấy
từ văn bản tác phẩm, được đặt trong dấu ngoặc kép Việc trích dẫn chứng phải tuyệt đối chính xác
+ Bài viết phải có bố cục mạch lạc ( bố cục ba phần, trong mỗi phần phải có
sự chia tách, các luận điểm phù hợp ), bài văn sinh động gợi cảm, liên kết các ý chặt chẽ, thuyết phục
- Nghị luận về bài thơ, đoạn thơ:
+ Bài nghị luận, cần phân tích để làm nổi bật giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ được thể hiện qua hình ảnh, giọng điệu, ngôn từ Về nội dung cần chỉ rõ bài thơ viết về vấn đề gì, đối tượng hay tình cảm nào? Qua đó gửi gắm tư tưởng gì? Chẳng hạn khi phân tích bài thơ “ Viếng lăng Bác” của Viễn Phương, cần hiểu rõ bài thơ ghi lại tâm trạng và cảm xúc của nhà thơ trong lần đầu tiên
ra thăm lăng Bác, qua đó cho thấy lòng biết ơn, niềm kính yêu, sự trân trọng, ngưỡng mộ của nhà thơ với Bác kính yêu Bài thơ đã truyền tình cảm của Viễn Phương tới bạn đọc đó là niềm kính yêu lãnh tụ, sống học tập và rèn luyện theo tấm gương đạo đức của Người
+ Về nghệ thuật, người viết phải chỉ rõ trong bài thơ đã sử dụng những biện pháp tu từ nào? (8 biện pháp tu từ về từ, 3 biện pháp tu từ về câu ); ngoài ra, trong bài thơ còn có những tín hiệu nghệ thuật nào? ( hình ảnh, ngôn ngữ, cảm xúc, nhịp điệu, giọng điệu, cách sử dụng từ loại, cách viết, cách sử dụng dấu câu ) Ví dụ khi phân tích bài thơ “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật, ngoài việc chỉ ra các biện pháp tu từ được sử dụng như điệp
Trang 12ngữ, so sánh, hoán dụ, ẩn dụ, điệp cấu trúc câu, người viết cần phải chỉ ra được giọng điệu ngang tàn, hóm hỉnh, hồn nhiên, vô tư đầy chất lính, âm điệu chắc khoẻ, hào hùng, cách sử dụng từ phủ định để khẳng định Từ đó làm nổi bật phẩm chất anh hùng, lòng dũng cảm, niềm lạc quan yêu đời và tâm hồn vô tư, trẻ trung đầy chất lính của những người chiến sỹ lái xe Trường Sơn trong thời
2.3 Giáo viên cần nêu rõ bố cục của mỗi kiểu bài
- Nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích:
* Mở bài:
+ Giới thiệu tác giả, tác phẩm ( tên thật, bút danh, năm sinh, năm mất- nếu
có, quê quán, phong cách sáng tác, sự nghiệp văn chương, hoàn cảnh ra đời và nội dung chính của tác phẩm)
+ Nêu vấn đề cần nghị luận ( tuỳ theo yêu cầu từng đề bài )
* Thân bài: Lần lượt phân tích từng luận điểm, dùng luận cứ tiêu biểu
xác thực để làm nổi bật giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm ( thông thường khi phân tích truyện tách riêng nội dung, nghệ thuật)
Ví dụ: Luận điểm 1:
- Dẫn dắt
- Nêu luận điểm
- Trích dẫn chứng
- Nhận xét, đánh giá, nâng cao, chuyển ý
Nếu trong 1 luận điểm có nhiều ý nhỏ thì mỗi ý lại chia tách ra như trên
*Kết bài:
+ Đánh giá khái quát về vấn đề vừa phân tích
Trang 13+ Khẳng định giá trị tư tưởng của vấn đề, sức sống của tác phẩm và tài năng của nhà văn
- Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ
+ Có thể chia đoạn thơ, bài thơ thành từng câu, từng khổ hay từng đoạn để phân tích ( bố cục ngang) Cũng có thể phân tích theo từng ý thơ, hình ảnh thơ
để khai thác ( bố cục dọc) Việc chia tách này tuỳ theo từng bài thơ hoặc yêu cầu của mỗi đề
Ví dụ: Bài thơ “ Đồng chí”, “ Đoàn thuyền đánh cá”, “ Viếng lăng Bác”,
“ Ánh trăng”, “ Mùa xuân nho nhỏ” nên phân tích theo bố cục ngang Bài thơ “ Bếp lửa”, “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính” nên phân tích theo bố cục dọc
+ Có thể tách riêng hoặc kết hợp phân tích nội dung và nghệ thuật, nhưng thông thường với thơ thường kết hợp phân tích cả 2 mặt này
- Trình tự khai thác một khổ thơ, đoạn thơ hay một ý bao gồm:
+ Dẫn dắt
+ Nêu lý lẽ
+ Trích thơ
+ Diễn giải ( nội dung và nghệ thuật)
+ Nhận xét đánh giá, bình, nâng cao, chuyển ý