Nhóm tiến hành phân tích dữ liệu của Việt Nam trong giai đoạn 1970 đến 2007, sau đó sẽgiải thích hàm ý ý nghĩa kinh tế của mô hình hồi quy và nêu ra những chính sách cầnthiết giúp cải th
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN CAO HỌC KHÓA 19
***
ĐỀ ÁN MÔN HỌC KINH TẾ LƯỢNG ỨNG DỤNG
ĐỀ TÀI: XÁC ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU NHẬP BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI Ở VIỆT NAM
GVHD: Nguyễn Trọng Hoài Phùng Thanh Bình
Trang 2TP Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 09 năm 2010
Trang 3MỤC LỤC
TÓM TẮT 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 4
1.1 Các khái niệm cơ bản 4
1.2 Phương pháp ước lượng 5
CHƯƠNG 2: MÔ TẢ DỮ LIỆU PHÂN TÍCH 6
2.1 Đồ thị mô tả sự tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc: 6
2.2 Kiểm định tính dừng 7
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH HỒI QUY 9
3.1 Mô hình các nhân tố tác động đến tốc độ tăng trưởng CGDP và kết quả ước lượng 9 3.2 Các kiểm định của mô hình 11
3.3 Ý nghĩa của các tham số 11
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ 13
Phụ lục 15
Tài liệu tham khảo 29
Trang 4TÓM TẮT
Đối với một quốc gia, thu nhập bình quân đầu người (CGDP: Real Gross DomesticProduct per Capita) là mục tiêu được quan tâm hàng đầu Vì vậy, việc xác định và phântích các yếu tố tác động đến đến tốc độ tăng trưởng CGDP của quốc gia bằng định lượng
là rất cần thiết
Nhóm tiến hành phân tích dữ liệu của Việt Nam trong giai đoạn 1970 đến 2007, sau đó sẽgiải thích hàm ý ý nghĩa kinh tế của mô hình hồi quy và nêu ra những chính sách cầnthiết giúp cải thiện sự tăng trưởng của thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhân tố: (1) chi tiêu tiêu dùng của hộ gia đình, (2) chitiêu đầu tư khu vực tư nhân, (3) chi tiêu tiêu dùng của chính phủ, (4) giá trị xuất khẩu và(5) giá trị nhập khẩu có ý nghĩa ảnh hưởng đến thu nhập bình quân đầu người ở ViệtNam
Nghiên cứu còn một số hạn chế như sau:
(i) Một vài nhân tố có thể ảnh hưởng quan trọng đến CGDP nhưng không được đưa
vào trong mô hình do hạn chế về thu thập dữ liệu
(ii) Số quan sát còn hạn chế nên có thể ảnh hưởng đến tính chính xác trong mô hình
Vấn đề nghiên cứu: Xây dựng mô hình kinh tế lượng để phân tích những tác động, ảnh
hưởng của các yếu tố chi tiêu tiêu dùng (CHKON), chi tiêu chính phủ (GKON), đầu tư
(IKON), xuất khẩu (EXPK), nhập khẩu (IMPK) và dân số (POP) đến thu nhập bình
quân đầu người (GDP) Tất cả các số liệu được tính theo giá cố định nhằm loại bỏ sự ảnh
hưởng của yếu tố lạm phát
Mục tiêu của đề tài: Việc nghiên cứu những yếu tố này giúp ta biết được mức độ ảnh
hưởng của các yếu tố trên đến tăng trưởng CGDP như thế nào
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu tăng trưởng CGDP trong nền kinh tế
bằng cách sử dụng bộ dữ liệu hằng năm của Việt Nam từ năm 1970 đến năm 2007 (số
Phương pháp nghiên cứu: thống kê mô tả và phân tích hồi quy theo phương pháp bình
phương tối thiểu thông thường (OLS)
Trang 5CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Các khái niệm cơ bản
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): là chỉ tiêu phản ánh giá trị bằng tiền của toàn bộ sảnphẩm cuối cùng được sản xuất ra trên lãnh thổ một nước tính trong khoảng thời gian nhấtđịnh, thường là một năm Thu nhập bình quân đầu người của một nước (CGDP) đượctính bằng GDP chia cho tổng số dân của nước đó Do vậy, các nhân tố ảnh hưởng đếnGDP cũng sẽ ảnh hưởng đến CGDP của một quốc gia
Chi tiêu tiêu dùng (CHKON): là tiêu dùng của tất cả các cá nhân (hộ gia đình) trong nềnkinh tế
Chi tiêu chính phủ (GKON): là tổng chi tiêu của chính phủ
Đầu tư (IKON): là đầu tư của các nhà kinh doanh vào cơ sở kinh doanh Đây được coi làtiêu dùng của các nhà đầu tư
Xuất khẩu (EXPK): Kim ngạch xuất khẩu các hàng hóa và dịch vụ
Nhập khẩu (IMPK): Kim ngạch nhập khẩu của hàng hóa và dịch vụ
Tỉ lệ tăng dân số (GPOP): Là tỷ lệ phần trăm số dân tăng trưởng hàng năm trên tổng sốdân của năm trước của quốc gia
Xây dựng một mô hình lý thuyết đơn giản về các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng thunhập bình quân đầu người của một quốc gia Mục tiêu chính của mô hình này là nhằmphân tích tác động của các biến số khác nhau đến thu nhập bình quân đầu người ở ViệtNam Lý thuyết kinh tế cho chúng ta biết tổng sản phẩm quốc nội của một quốc gia làtổng số tiền mà các hộ gia đình trong quốc gia đó chi mua các hàng hóa cuối cùng hay làtổng chi tiêu hàng hóa và dịch vụ cuối cùng hàng năm, bao gồm:
- Chi tiêu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ từ khu vực tư nhân
- Chi tiêu tiêu từ khu vực chính phủ
- Đầu tư từ khu vực tư nhân
- Xuất khẩu ròng
Công thức: GDP = C + I + G + X – M
Như vậy các chỉ tiêu như chi tiêu từ các hộ gia đình, các doanh nghiệp, chính phủ và giá
Trang 6vọng là dấu (+)), nhập khẩu tăng có tác động ngược lại với GDP và CGDP (dấu kỳ vọng
là dấu (-))
Thu nhập bình quân đầu người được tính trên tổng số dân hằng năm của quốc gia nên
yếu tố tỷ lệ tăng dân số sẽ tác động ngược chiều (dấu kỳ vọng là dấu (-))
Do sự hạn chế về số liệu nên mô hình xây dựng ở đây chủ yếu xem xét vai trò các yếu tốchi tiêu trong nền kinh tế và tỉ lệ tăng dân số ảnh hưởng đến thu nhập bình quân đầungười Tất cả các biến số đều được biểu diễn dưới dạng logarit cơ số tự nhiên, do đó ta cóthể biết được phần trăm thay đổi của các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng CGDPnhư thế nào
1.2 Phương pháp ước lượng
Để xác định các nhân tố quyết định tăng trưởng CGDP trong mô hình thực nghiệm, thựchiện theo các bước sau:
Bước 1, thực hiện việc kiểm định tính dừng của các chuỗi thời gian sử dụng trong
mô hình thực nghiệm Các chuỗi này đều ở dạng logarit cơ số tự nhiên và bao gồmthu nhập bình quân đầu người trong nước (LOG_CGDP), chi tiêu khu vực tư nhân(LOG_CHKON), chi tiêu khu vực chính phủ (LOG_GKON), đầu tư khu vực tưnhân (LOG_IKON), giá trị xuất khẩu (LOG_EXPK), giá trị nhập khẩu(LOG_IMPK) và tỉ lệ tăng dân số (LOG_GPOP) Nếu các chuỗi này là khôngdừng (hay có nghiệm đơn vị) thì lấy sai phân cho tới khi nó có tính dừng trước khiđưa vào mô hình thực nghiệm Giữa các chuỗi số không dừng có thể tồn tại mốiquan hệ trong dài hạn, các quan sát kế tiếp có thể có nhiều khả năng phụ thuộcnhau
Bước 2, sử dụng mô hình kinh tế lượng để xem xét mối quan hệ giữa các biến vớităng trưởng CGDP)
Từ cơ sở lý thuyết trên, chúng ta có mô hình ước lượng tổng quát (các biến chưa kiểmđịnh tính dừng) như sau:
LOG_CGDP = β1+ β2* LOG_CHKON + β3*LOG_GKON + β4*LOG_IKON +
β5*LOG_EXPK + β6*LOG_IMPK + β7*LOG_GPOP + Ui
Các hệ số của các biến trong mô hình trên chính là hệ số co giản của từng biến độc lậpvới biến phụ thuộc Ví dụ: với hệ số β2 cho biết khi chi tiêu tiêu dùng của các hộ gia đìnhtăng 1% thì thu nhập bình quân đầu người tăng β2% nếu các yếu tố khác không đổi
Trang 7CHƯƠNG 2: MÔ TẢ DỮ LIỆU PHÂN TÍCH
2.1 Đồ thị mô tả sự tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc:
Đồ thị biểu diễn mối quan hệ tuyến tính của các biến độc lập với biến phụ thuộc dướidạng logarit cơ số tự nhiên:
Trang 8Quan sát các đồ thị ta thấy các biến độc lập đều có quan hệ tuyến tính với biến phụ thuộc.Ngoại trừ biến LOG_GPOP có tác động ngược chiều với LOG_CGDP, các biến còn lạiđều tác động cùng chiều với LOG_CGDP.
2.2 Kiểm định tính dừng
Các chuỗi thời gian sử dụng trong mô hình có thời gian từ năm 1970 đến năm 2007, thuthập từ nguồn World Bank Để kiểm định tính dừng của chuỗi thời gian, ta dựa vào kiểmđịnh ADF (Augmented Dickey-Fuller)
Nhìn vào đồ thị logarit cơ số tự nhiên của các biến số (phụ lục_hình 1) ta thấy các biếnđều có xu thế tăng theo thời gian (chuỗi thời gian không dừng), vì vậy ta thực hiện lấy saiphân của các biến số đến khi nó có tính dừng
Kết quả kiểm định tính dừng trình bày trong Bảng 1 cho thấy sai phân bậc nhất của biếnLOG_CGDP dừng ở mức ý nghĩa 1% với kiểm định ADF (Giá trị trị tuyệt đối của tADF =3,736 lớn hơn trị tuyệt đối của các giá trị tới hạn mức ý nghĩa 1% là 3,626; 5% là 2,945
và 10% là 2.611) Như vậy chuỗi DLOG_CGDP là chuỗi dừng
Tương tự với các biến sai phân bậc một DLOG_CHKON, DLOG_GKON,DLOG_IKON, DLOG_EXPK và DLOG_GPOP dừng ở mức ý nghĩa 1% với kiểm địnhADF (phụ lục_bảng 2, 3, 4, 5, 8) Quan sát đồ thị sai phân bậc một của các biến (phụlục_hình 2) ta thấy các giá trị đều xoay quanh giá trị trung bình và có phương sai khôngthay đổi theo thời gian Xem xét thêm lược đồ tự tương quan của các biến này (phụ lụchình 4), ta thấy trên lược đồ có các giá trị thống kê Q và giá trị P_value thỏa mãn chấpnhận giả thiết các hệ số tương quan bằng không, tức là chuỗi dừng
Đối với chuỗi DLOG_IMPK, xem xét đồ thị sai phân bậc một (phụ lục_hình 2) và kiểmđịnh ADF (phụ lục_bảng 6) của chuỗi này ta thấy chưa có tính dừng vì có yếu tố xu thế
và phương sai thay đổi Vì vậy ta tiếp tục lấy sai phân bậc hai, thực hiện kiểm định tínhdừng ta thấy sai phân bậc hai của chuỗi LOG_IMPK dừng ở mức ý nghĩa 1% với kiểmđịnh ADF (phụ lục _bảng 7) Xem xét đồ thị sai phân bậc hai ta thấy chuỗi có tính dừng(phụ lục_hình 3) Do vậy, chuỗi sai phân bậc hai của giá trị nhập khẩu (D2LOG_IMPK)
sẽ được sử dụng trong mô hình xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng ở ViệtNam
Trang 9Ma trận hệ số tương quan giữa các biến
DLOG_CHKON DLOG_GKON DLOG_IKON DLOG_EXPK D2LOG_IMPK DLOG_GPOP DLOG_CHKON 1.000000 0.518297 0.243356 0.409572 0.234136 0.011133 DLOG_GKON 0.518297 1.000000 0.439653 0.131792 0.047913 0.079624 DLOG_IKON 0.243356 0.439653 1.000000 0.207679 0.423479 -0.428783 DLOG_EXPK 0.409572 0.131792 0.207679 1.000000 0.603211 -0.405126 D2LOG_IMPK 0.234136 0.047913 0.423479 0.603211 1.000000 -0.308826 DLOG_GPOP 0.011133 0.079624 -0.428783 -0.405126 -0.308826 1.000000
Theo bảng ma trận hệ số tương quan trên, ta thấy các cặp biến đều có hệ số tương quannhỏ hơn 0,8 nên không có dấu hiệu đa cộng tuyến khi chạy mô hình hồi quy
Trang 10CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH HỒI QUY
3.1 Mô hình các nhân tố tác động đến tốc độ tăng trưởng CGDP và kết quả ước lượng
Sau khi lấy sai phân để có được các chuỗi dừng ta thực hiện hồi quy theo phương phápOLS bằng Eviews Mô hình ước lượng các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng CGDPcủa Việt Nam được xác định như sau:
Mô hình hồi quy tổng quát:
DLOG_CGDP = β1+ β2*DLOG_CHKON + β3*DLOG_GKON + β4*DLOG_IKON +
β5*DLOG_EXPK + β6*D2LOG_IMPK + β7*DLOG_GPOP + Ui
Mô hình hồi quy mẫu:
DLOG_CGDP = 1+ 2*DLOG_CHKON + 3*DLOG_GKON + 4*DLOG_IKON +
5*DLOG_EXPK + 6*D2LOG_IMPK + 7*DLOG_GPOP + uˆ i
Kết quả hồi quy mô (phụ lục_bảng 9):
DLOG_CGDP = -0.0237 + 0.5275*DLOG_CHKON + 0.1766*DLOG_GKON +0.1224*DLOG_IKON + 0.2161*DLOG_EXPK - 0.1294*D2LOG_IMPK +0.0274*DLOG_GPOP
Trong đó:
DLOG chỉ sai phân bậc một log của thu nhập bình quân đầu người (CGDP), chitiêu tiêu dùng (CHKON), chi tiêu chính phủ (GKON), chi tiêu đầu tư khu vựcdoanh nghiệp (IKON), xuất khẩu (EXPK) và tỉ lệ tăng dân số (GPOP)
D2LOG chỉ sai phân bậc hai log của nhập khẩu (IMPK)
Những tham số không có ý nghĩa thống kê sẽ được loại bỏ dần khỏi mô hình, ở đây ta bỏbiếnDLOG_GPOP vì hệ số ước lượng có giá trị P_value = 0,438 không có ý nghĩa thống
kê Thực hiện kiểm định sự có mặt của biến không cần thiết bằng Eviews (phụ lục_bảng10), vì thống kê F = 0,6185 có xác suất p = 0,438 nên ta chấp nhận giả thiết biếnDLOG_GPOP là biến không cần thiết trong mô hình hồi quy kết quả ước lượng khi loại
bỏ biến DLOG_GPOP như sau:
Trang 11Dependent Variable: DLOG_CGDP
Method: Least Squares
Date: 09/14/10 Time: 13:23
Sample (adjusted): 3 38
Included observations: 36 after adjustments
Residual Actual FittedCác kiểm định sau ước lượng được thực hiện nhằm đảm bảo tính hợp lý của mô hình
Trang 123.2 Các kiểm định của mô hình
Kiểm định tự tương quan:
Kiểm định Durbin-Watson đơn giản:
1 < d = 1,572 < 3 nên mô hình không có tự tương quan
Kiểm định BG (phụ lục_bảng 11), ta thấy nR2 = 3,063 có P_value = 0.2161 lớnhơn mức ý nghĩa 5% nên mô hình không có tự tương quan
Kiểm định sự phù hợp của hàm hồi quy (kiểm định F):
Giá trị F = 89,890 có P_value = 0 nhỏ hơn mức ý nghĩa 5% cho thấy các biến độc lập cóảnh hưởng thật sự tới biến phụ thuộc (CGDP) với mức tin cậy cao
Kiểm định phương sai thay đổi:
Xem xét lược đồ tự tương quan của phần dư (phụ lục_bảng 12) ta thấy các giá trịthống kê Q và giá trị P_value thỏa mãn chấp nhận giả thiết các hệ số tương quanbằng không, tức phần dư là chuỗi dừng Để có đủ cơ sở khẳng định tính dừng củasai số ta kiểm định thống kê ADF (phụ lục_bảng 14), giá trị trị tuyệt đối của tADF =5,764 lớn hơn trị tuyệt đối của các giá trị tới hạn mức ý nghĩa 1% là 3,64; 5% là2,95 và 10% là 2,61 nên chuỗi sai số là chuỗi dừng
Thực hiện hồi quy phần dư theo độ trễ là 1 (phụ lục_bảng 13), kết quả không cótương quan với biến trễ của chính nó
Tương tự với kiểm định White (phụ lục_bảng 15) cũng cho thấy mô hình hồi quykhông xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi (ta thấy nR2 = 16,2626 có P_value =0.7002 lớn hơn mức ý nghĩa 5%)
Kết quả của các kiểm định trên cho thấy mô hình không có bệnh tự tương quan hayphương sai sai số thay đổi Nhìn chung mô hình mô tả khá tốt sự biến động của tốc độtăng thu nhập bình quân đầu người (CGDP) Các biến độc lập có thể giải thích tới 93% sự
sự thay đổi của biến phụ thuộc
3.3 Ý nghĩa của các tham số
Sai phân bậc 1 (ví dụ vào năm 1971):
DLOG_CGDP1971 = LOG_CGDP1971 - LOG_GDP1970
DLOG_CHKON1971 = LOG_CHKON1971 - LOG_CHKON1970
DLOG_GKON1971 = LOG_GKON1971 - LOG_GKON1970
DLOG_IKON1971 = LOG_IKON1971 - LOG_IKON1970
Trang 13Sai phân bậc 2 (ví dụ vào năm 1972):
D2LOG_IMPK1972 = DLOG_IMPK1972 - DLOG_IMPK1971
= (LOG_IMPK1972 - LOG_IMPK1971) – (LOG_IMPK1971 - LOG_IMPK1970)
Biến phụ thuộc DLOG_CGDP có nghĩa là sự thay đổi của thu nhập bình quân đầu người(tính theo logarit cơ số tự nhiên) của năm này so với năm liền kề trước đó Tương tự vớicác biến DLOG_CHKON, DLOG_GKON, DLOG_IKON và DLOG_EXPK cũng có ýnghĩa tương tự ứng với từng biến
Biến sai phân bậc hai D2LOG_IMPK có nghĩa là sự thay đổi giá trị nhập khẩu (tính theochuỗi sai phân bậc một của chuỗi logarit cơ số tự nhiên) của năm này so với năm liền kềtrước đó Ví dụ vào năm 1972 ta có sự thay đổi được tính bằng mức thay đổi của năm
1972 so với năm 1971 trừ mức thay đổi 1971 so với năm 1970 (tính theo logarit cơ số tựnhiên)
tiêu tiêu dùng của năm này so với năm liền kề trước đó) sẽ làm cho thu nhập bình quânđầu người tăng 0,5351% (tính theo % thay đổi thu nhập bình quân đầu người của nămnày so với năm liền kề trước đó) trong điều kiện các yếu tố khác không đổi
Các hệ số 3 =0,1891; 4 = 0,1130; 5 = 0,2063 cũng có ý nghĩa tương tự với các biếngiải thích tương ứng
giá trị nhập khẩu của hai năm liên tiếp nhau, ví dụ vào năm 1972 ta có sự thay đổi đượctính bằng % thay đổi của năm 1972 so với % thay đổi của năm 1971 trừ % thay đổi 1971
so với % thay đổi của 1970) sẽ làm cho thu nhập bình quân đầu người giảm 0,1265%(tính theo % thay đổi thu nhập bình quân đầu người của năm này so với năm liền kề trướcđó) trong điều kiện các yếu tố khác không đổi
Trang 14CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ
Từ phương trình hồi quy phù hợp nhất ta có thể nêu ra vài ý nghĩa kinh tế đối với sự tăngtrưởng thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam Chi tiêu tiêu dùng có tác động mạnhđến sự tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người (hệ số 2 = 0,5351) Điều này cho thấychi tiêu tiêu dùng là một bộ phận quan trọng thúc đẩy tăng trưởng thu nhập bình quân đầungười ở Việt Nam, chi tiêu tăng sẽ kích thích sản xuất Tuy nhiên, khi tiêu dùng tăng cóthể làm cho tỉ lệ tiết kiệm giảm nếu thu nhập không đổi và sẽ ảnh hưởng đến nguồn tàitrợ cho đầu tư phát triển (lý thuyết tăng trưởng của Slow) và tác động đến thu nhập bìnhquân đầu người
Các chương trình chi tiêu của chính phủ giúp cung cấp các hàng hoá công cộng quantrọng như cơ sở hạ tầng và giáo dục, mặc khác chi tiêu chính phủ có thể đẩy nhanh tăngtrưởng kinh tế thông qua việc làm tăng sức mua của người dân và qua đó tăng thu nhậpbình quân đầu người (hệ số 3) Tuy nhiên chi tiêu chính phủ tăng sẽ gây ra tác động lấn
át làm dịch chuyển các nguồn lực từ khu vực sản xuất hiệu quả trong nền kinh tế sangkhu vực chính phủ kém hiệu quả hơn Chi tiêu chính phủ là cần thiết để đảm bảo cho sựtăng trưởng kinh tế như xây dựng cơ sở hạ tầng, luật pháp Nếu chi tiêu chính phủ vượtquá mức cần thiết sẽ gây ra sự phân bổ nguồn lực kém hiệu quả trong nền kinh tế
Hệ số 4 thấp cho thấy sự tác động của đầu tư vào tăng trưởng GDP cũng như CGDP ởViệt Nam là thấp hơn so với các yếu tố khác Nguyên nhân là do hệ số sử dụng vốn(ICOR - Incremental Capital_Output Rate) hay tỉ lệ vốn trên sản lượng của Việt Nam ởmức cao (chỉ số ICOR cho biết muốn có thêm một đơn vị sản lượng trong một thời kỳnhất định cần phải bỏ ra thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư trong kỳ đó) Theo Bộ Kếhoạch và Đầu tư thì hệ số ICOR của Việt Nam trong hai năm 2008 - 2009 khoảng lên tới7-8 lần gấp 2 lần so với các nước trong khu vực, điều này cho thấy tăng trưởng trong đầu
tư của Việt Nam không dựa nhiều vào yếu tố công nghệ
Xuất khẩu được coi là nhu cầu từ bên ngoài Mức độ phụ thuộc của một nền kinh tế vàoxuất khẩu được đo bằng tỷ lệ giữa giá trị nhập khẩu và tổng thu nhập quốc dân Đối vớinền kinh tế của Việt Nam thì xuất khẩu có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế
vì cầu nội địa yếu (hệ số 5 = 0,2063) Nước ta cũng thực thi nhiều chính sách hướng vàoxuất khẩu Tuy nhiên, vì xuất khẩu phụ thuộc vào yếu tố nước ngoài, nên để đảm bảotăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững phải dựa nhiều hơn nữa vào cầu nội địa Khikhủng hoảng kinh tế thế giới năm 2007 nổ ra thì xuất khẩu của Việt Nam đã giảm mạnh.Theo Tổng cục thống kê thì Kim ngạch xuất khẩu cả năm 2009 đạt 56,5 tỷ USD, giảm9,9% so với năm 2008
Trang 15Thu nhập của người dân trong nước càng cao, thì nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụnhập khẩu càng cao, qua đó tác động làm cho GDP giảm cũng như thu nhập bình quânđầu người (CGDP) giảm theo (hệ số 6 = - 0,1265).
Khuyến nghị một số chính sách:
- Kích thích tiêu dùng trong nước nhưng không làm giảm tỉ lệ tiết kiệm trong nềnkinh tế, có biện pháp thu hút nguồn tiết kiệm này để tài trợ cho đầu tư
- Tăng hiệu quả chi tiêu của chính phủ và tập trung vào những lĩnh vực hay ngành
mà cần thiết phải có chính phủ tham gia
- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn (cải thiện hệ số ICOR) bằng cách ứng dụng côngnghệ mới vào trong sản xuât để tăng năng suất lao động, đào tao nguồn nhân lực
- Đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu và nâng cao chất lượng của hàng hóa, tìmkiếm các thị trường xuất khẩu mới để giảm sự phụ thuộc vào các thị trường chínhhiện nay như Mỹ và Châu Á
- Việt nam là nước đang phát triển, việc nhập khẩu các máy móc thiết bị công nghệhiện đại để phục vụ sản xuất là cần thiết trong giai đoạn hiện nay, chính phủ cầnkiểm soát nhập khẩu ở các mặt hàng tiêu dùng xa xỉ để tránh thâm hụt ngoạithương và đó làm giảm thu nhập bình quân đầu người