Những bài viết đó được tập trung trong các công trình: Văn học Việt Nam thế kỉ XX- những vấn đề lịch sử và ly luận Nxb Giáo dục 2004, Văn học Việt Nam sau 1975 - những vấn đề nghiên cứu
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ THU THỦY
VĂN XUÔI VIỆT NAM THỜI KỲ HẬU CHIẾN
(1975-1985)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI - 2013
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ THU THỦY
VĂN XUÔI VIỆT NAM THỜI KỲ HẬU CHIẾN
(1975-1985)Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62.22.34.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS Phan Trọng Thưởng
HÀ NỘI - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
Tác giả luận án
Ngô Thu Thủy
Trang 4MỤC LỤC
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nếu coi lịch sử văn học là một dòng chảy thì năm 1975 là một khúc
ngoặt quan trọng trong dòng chảy văn học Việt Nam hiện đại Khúc ngoặt ấy tạonên mạch chảy mới mạnh mẽ hơn, sâu lắng hơn Những thành tựu sau năm 1986 đãmang đến cho văn chương Việt Nam gương mặt mới, diện mạo mới Nhưng cộinguồn, gốc rễ của sự đổi mới ấy bắt nguồn từ trước đó, từ ngay sau năm 1975.Khoảng thời gian mười năm sau 1975 là một khoảng lặng, một nốt nhạc trầmnhưng chính nó lại tạo nên sự nối tiếp, phát triển của giai đoạn trước và sau con sốlịch sử 1975 Văn học Việt Nam thời kỳ hậu chiến (1975- 1985) là một giai đoạnđặc biệt, vừa tiếp nối giai đoạn trước trên nhiều phương diện, nhiều đặc điểm vừasáng tạo dựa trên những nhận thức mới, cảm hứng mới để tạo ra những dấu hiệuchuyển biến quan trọng của nền văn học Sự tồn tại đan xen của những yếu tố cũ -mới, truyền thống - cách tân… đã tạo nên diện mạo và đặc trưng của giai đoạn này
- giai đoạn giao thời thứ hai trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại - tạo tiền đềtích cực cho những cách tân của thời kỳ đổi mới
1.2 Được coi là thể loại có nhiều thành tựu nhất, văn xuôi đã có những
chuyển biến đáng kể trong việc tiếp cận, chuyển tải hiện thực và trong nghệ thuậttrần thuật Văn xuôi giai đoạn 1975-1985 bắt đầu thể hiện sự chuyển đổi về đề tài,cảm hứng, các phạm trù thẩm mĩ, quan niệm nghệ thuật về hiện thực, về conngười… Bên cạnh những dòng truyền thống, quen thuộc xuất hiện những dòngchảy mới lạ Các gương mặt tiêu biểu như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma
Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Mạnh Tuấn trở thành những người tiền trạm cho
công cuộc đổi mới văn học từ 1986 Văn xuôi 1975-1985 đã có một diện mạo riêng
- vừa là sự nối tiếp văn xuôi chiến tranh vừa là điểm tựa của văn xuôi đổi mới
1.3 Tìm hiểu giai đoạn đầu tiên trong cuộc chuyển đổi tư duy văn học từ sau
năm 1975, chúng tôi có được hình dung đầy đủ và khách quan về lịch sử văn học,
từ đó khẳng định vị trí, tầm vóc của giai đoạn 1975-1985 trong dòng chảy vănchương Việt Nam sau 1975
Trang 6Nghiên cứu văn xuôi Việt Nam thời kỳ hậu chiến (1975-1985) dưới góc độvăn học sử để có cái nhìn khái quát, hệ thống về diện mạo của giai đoạn văn xuôimang tính chuyển tiếp với những đặc trưng và giá trị không nhỏ của nó trong sựvận động và phát triển của văn xuôi, kết quả nghiên cứu giúp cho quá trình giảngdạy, học tập văn học Việt Nam từ 1945 - 1975 đến văn học sau 1975 ở phổ thông
và đại học được sâu sắc hơn
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là văn xuôi Việt Nam 1975-1985 (trong
tương quan so sánh với giai đoạn 1945 - 1975 và giai đoạn sau 1986)
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: luận án nghiên cứu sự vận động của văn xuôihậu chiến thông qua những nét cơ bản của diện mạo và những dấu hiệu đổi mớitrong cảm hứng sáng tác, trong một số phương diện nghệ thuật của văn xuôi1975-1985
- Phạm vi tư liệu: các tác phẩm thuộc các thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn,
ky của các tác giả tiêu biểu trong phạm vi mười năm 1975-1985.
* Số lượng các tác phẩm trong vòng mười năm sau chiến tranh không nhỏ, việc bao quát đầy đủ tư liệu không phải là dễ Vì vậy, những tác phẩm được lựa chọn để nghiên cứu là những tác phẩm được coi là những sự kiện trong đời sống văn học, hoặc có tính vấn đề hoặc tiêu biểu cho một xu hướng văn học bấy giờ… Một số tác phẩm tiêu biểu trước 1975 và sau 1986 của các tác giả cũng được khảo sát để so sánh với các tác phẩm trong giai đoạn 1975-1985.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Khẳng định vị trí của giai đoạn 1975-1985 trong văn học Việt Nam sau 1975
- Khẳng định đóng góp của văn xuôi thời kỳ hậu chiến trong tiến trình vănhọc: kế thừa thành tựu của văn xuôi 1945 - 1975, văn xuôi 1975 - 1985 là sự vậnđộng tất yếu và tích cực của văn xuôi thời kỳ đổi mới
Trang 73.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phác họa diện mạo văn xuôi thời kỳ hậu chiến (qua các chặng đường, cáckhuynh hướng và các thể loại)
- Khảo sát các tác phẩm văn xuôi tiêu biểu giai đoạn 1975-1985 ở hai mảng
đề tài chính (đề tài chiến tranh và đề tài thế sự, đời tư), phân tích tìm ra sự chuyểnđổi trong cảm hứng sáng tác và những dấu hiệu cách tân về nghệ thuật, từ đó chỉ rađặc trưng của văn xuôi Việt Nam thời kỳ hậu chiến: tính chất trung chuyển, tạo đàmạnh mẽ cho văn xuôi sau 1986
4 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng các thao tác phân tích, tổng hợp kết hợp với các phương
pháp khác:
- Phương pháp loại hình: phương pháp này giúp chúng tôi bao quát mảngvăn xuôi 1975 - 1985 ở các thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn, ký xét từ đặc điểm về
đề tài, cảm hứng và những chuyển biến, cách tân về nghệ thuật
- Phương pháp so sánh: được sử dụng để chỉ ra những đặc điểm giống vàkhác nhau của văn xuôi 1975 - 1985 với văn xuôi giai đoạn 1945-1975 và văn xuôisau 1986, từ đó chỉ ra những đóng góp của văn xuôi hậu chiến trong tiến trình vănhọc Việt Nam hiện đại
- Phương pháp hệ thống: nhìn văn xuôi hậu chiến như một hệ thống và đặt
nó trong hệ thống lớn hơn, phương pháp này giúp chúng tôi đánh giá những đặcđiểm và thành tựu của văn xuôi 1975 -1985 một cách khách quan và toàn diện
- Phương pháp liên ngành: phương pháp liên ngành là sản phẩm của tư duy
hệ thống hiện đại, là sự liên kết các phương pháp riêng biệt của nhiều ngành khácnhau Sử dụng phương pháp này, chúng tôi có thể đặt văn xuôi hậu chiến trong mộtcái nhìn đa chiều từ góc độ văn học, lịch sử, xã hội, văn hóa…
5 Đóng góp của luận án
- Luận án cung cấp cái nhìn hệ thống về văn xuôi giai đoạn này trong bướcchuyển của lịch sử văn học, góp phần khẳng định mối quan hệ giữa văn học và đờisống xã hội
Trang 8- Từ phương diện đề tài, luận án tìm hiểu hai mảng đề tài chính (văn xuôiviết về đề tài chiến tranh và văn xuôi viết về đề tài thế sự - đời tư) vừa mang tính kếthừa, tiếp nối văn xuôi trước 1975 vừa tiềm ẩn khát vọng khám phá, đổi mới.Nghiên cứu sự vận động trong cảm hứng sáng tác, luận án phát hiện, lý giải nhữngrạn nứt, những dấu hiệu mới trong khuôn khổ đề tài cũ và những cảm hứng mới.Thông qua những kết nối, so sánh, luận án đã chỉ ra sự vận động, đổi mới về nghệthuật - khởi đầu cho những cách tân nghệ thuật độc đáo trong văn xuôi Việt Namsau 1986 Từ đó, luận án lý giải, khẳng định những đặc trưng của văn xuôi giaiđoạn này và giá trị của nó trong văn xuôi Việt Nam hiện đại: tính giao thời, chuyểntiếp, là tiền đề tích cực cho văn xuôi thời kỳ đổi mới.
- Luận án góp phần khẳng định vị trí quan trọng của giai đoạn 1975-1985trong quá trình chuyển đổi tư duy văn học Việt Nam sau 1975
6 Cấu trúc của luận án
Chương 1: Tổng quan về văn xuôi Việt Nam thời kỳ hậu chiến (1975-1985)
Chương 2: Sự đổi mới của văn xuôi viết về đề tài chiến tranh sau chiến tranh Chương 3: Sự xuất hiện khuynh hướng văn xuôi viết về đề tài thế sự - đời tư
Trang 9NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VĂN XUÔI VIỆT NAM
THỜI KỲ HẬU CHIẾN (1975-1985) 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu về các vấn đề khái quát của văn xuôi Việt Nam thời kỳ hậu chiến (1975-1985)
Năm 1975 trở thành một cột mốc quan trọng trong lịch sử dân tộc Việt Nam,kết thúc chiến tranh, chuyển sang thời kỳ hòa bình, độc lập, tự do Năm 1986 làbước ngoặt đánh dấu công cuộc đổi mới của đất nước Gắn bó với những biếnchuyển chính trị - xã hội, văn học cũng mang những đặc điểm của từng giai đoạnlịch sử Ba mươi năm 1945 - 1975 là giai đoạn văn học chiến tranh hay còn đượcgọi là văn học sử thi, từ 1986 được gọi là văn học đổi mới Vậy thế nào là văn họcthời kỳ hậu chiến?
“Hậu chiến” được hiểu một cách đơn giản là “sau chiến tranh” Như vậy,
thời kỳ hậu chiến được tính từ mốc năm 1975 Tuy nhiên, mỗi người lại có mộtquan điểm khác nhau về độ dài của nó Có người tính mốc kết thúc là năm 1986(trước đổi mới), cũng có người cho rằng thời kỳ hậu chiến kéo dài đến năm 1991…Chúng tôi quan niệm rằng, thời kỳ hậu chiến là khoảng thời gian ngay sau chiếntranh, khoảng thời gian có những đặc điểm lịch sử, xã hội riêng của giai đoạn vừakhắc phục hậu quả chiến tranh, vừa bắt tay xây dựng đất nước Trong văn học, thời
kỳ này vừa tồn tại những đặc điểm của văn học sử thi vừa xuất hiện những đặcđiểm của nền văn học mới
Trong sự vận động của lịch sử, mười năm 1975 - 1985 đánh dấu giai đoạnsau chiến tranh và trước đổi mới Chúng tôi chọn phạm vi mười năm để khoanhvùng đối tượng nghiên cứu của mình, cũng nhằm đặt nó trong sự chuyển tiếp giữavăn xuôi thời chiến và văn xuôi thời bình Vì vậy đặc trưng lớn nhất của văn xuôi1975-1985 là sự chuyển tiếp giữa hai giai đoạn văn học: văn học chiến tranh và vănhọc đổi mới Xem xét văn xuôi 1975-1985 với ý nghĩa gạch nối, người nghiên cứuhoàn toàn có thể so sánh những đặc điểm giống và khác biệt của giai đoạn này vớigiai đoạn 1945 - 1975 và sau 1986 Văn xuôi 1975 - 1985 vừa có thể gọi là văn
Trang 10xuôi hậu chiến vừa có thể coi là văn xuôi tiền đổi mới Như vậy, văn xuôi giai đoạnnày sẽ vừa kế thừa, tiếp nối vừa tự thân vận động để vươn tới sự đổi mới
Được đánh giá là thể loại xung kích trong văn học giai đoạn này, văn xuôitrở thành mối quan tâm hàng đầu của giới nghiên cứu Có khá nhiều ý kiến, bài viếtnghiên cứu một cách khái quát về nội dung, nghệ thuật của văn xuôi sau 1975 nóichung và văn xuôi 1975-1985 nói riêng Những bài viết đó được tập trung trong các
công trình: Văn học Việt Nam thế kỉ XX- những vấn đề lịch sử và ly luận (Nxb Giáo dục 2004), Văn học Việt Nam sau 1975 - những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy (Nxb Giáo dục 2005), Văn học 1975-1985 tác phẩm và dư luận (Nxb Hội nhà văn 1997), Văn học Việt Nam sau 1975 và việc giảng dạy trong nhà trường (Nxb Giáo
dục Việt Nam 2009) và nhiều công trình khác… Nghiên cứu văn học 1975- 1985với tư cách là một giai đoạn khởi động của văn học thời kỳ đổi mới, các nhà nghiêncứu đều chỉ ra những đóng góp của văn học giai đoạn này trong tiến trình vận động
của văn học Việt Nam từ sau 1975: “Những tác phẩm văn xuôi giai đoạn này đa
giúp thu hẹp bớt khoảng cách khá xa giữa văn học với đời sống, tác phẩm và công chúng đồng thời cũng là sự chuẩn bị tích cực cho những chuyển biến mạnh mẽ của văn học khi bước vào thời kỳ đổi mới” [115,11].
Tác giả Nguyễn Văn Long khi nghiên cứu diện mạo, đặc điểm của các thể
loại văn học sau 1975 đã chỉ ra “văn xuôi là khu vực được xem là có nhiều thành
tựu nổi trội và có những hiện tượng tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học”
[115,17] Ông đã phân loại các khuynh hướng chính trong văn xuôi (khuynh hướng
sử thi, khuynh hướng nhận thức lại, khuynh hướng thế sự - đời tư, khuynh hướngtriết luận) và phác họa những nét lớn về sự đổi mới của văn xuôi (quan niệm vềhiện thực, quan niệm nghệ thuật về con người, nghệ thuật trần thuật…) Từ pháchọa của mình, nhà nghiên cứu đã đặt ra một vấn đề có ý nghĩa: “Muốn hình dung chính xác và đầy đủ về diện mạo và đặc điểm của văn xuôi thì còn cần làm rõ hơn các khuynh hướng, các thể tài, các mảng đề tài với cái mới mà nó đem lại cho văn xuôi ba mươi năm qua Để nhận diện và đánh giá đầy đủ hơn những đổi mới về nghệ thuật văn xuôi trên nhiều yếu tố….còn cần đến nhiều công trình nghiên cứu,
Trang 11từ cụ thể đến khái quát” [115,22] Nghiên cứu của chúng tôi hy vọng sẽ đáp ứng
phần nào mong muốn ấy
Ở phạm vi rộng hơn, tác giả Nguyễn Thị Bình trong công trình Văn xuôi
Việt Nam sau 1975- những đổi mới cơ bản đã có những nghiên cứu sắc sảo và
thuyết phục về những đổi mới của văn xuôi sau 1975 trên các phương diện: đổi mớiquan niệm về nhà văn, quan niệm nghệ thuật về con người, đổi mới về thể loại… từ
đó rút ra những nhận xét khái quát nhất về diện mạo và hướng đi của văn xuôi sau
1975 “Chuyên luận khảo sát tương đối công phu, tỉ mỉ các hiện tượng văn học tiêu
biểu, nhưng không bị chìm đi, bị lạc vào những chi tiết, những ngoắt ngoéo, quanh
co riêng của những lối đi còn chưa ổn định của nhiều cây bút Từ những vấn đề cơ bản nhất của nền văn học trên quá trình đổi mới, người viết chú trọng đến những chuyển biến lớn trong y thức của người cầm bút đối với hiện thực, đối với độc giả
và đối với bản thân mình, chú trọng những thay đổi cơ bản nhất trong quan niệm của nhà văn về đối tượng con người, cố gắng lùi ra xa, quan sát toàn cảnh để có những nhận xét khái quát nhất về diện mạo chung và hướng đi chung của văn học”
(Lời giới thiệu chuyên luận của GS Nguyễn Đăng Mạnh) Chuyên luận này đã mộtlần nữa khẳng định sự nổi trội của văn xuôi so với các thể loại khác Viết về giai
đoạn 1975-1985, nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bình đánh giá, đây là “chặng đường
khởi động, chuẩn bị cho cao trào đổi mới” [52,193] với những dấu hiệu tuy mới
manh nha nhưng “là những dự báo đúng đắn” [52,196] và cần thiết cho công cuộc
đổi mới văn học sau 1986 Như vậy, trong công trình này, những nghiên cứu về vănxuôi 1975-1985 đều được đặt trong sự vận động của văn xuôi sau 1975 với tư cách
là một vùng đệm cho văn xuôi đổi mới Thiết nghĩ, với ý nghĩa trong tiến trình vănhọc, với những tác giả, tác phẩm cụ thể, giai đoạn văn xuôi này cần sự quan tâmnghiên cứu nhiều hơn nữa
“Từ 1975 đến nay, trong vòng mười năm, văn xuôi nghệ thuật của chúng ta
đa có những chuyển động đáng kể, vừa không đứt đoạn với văn xuôi trước đó, vừa liên tục tìm tòi để phát triển, cố gắng phản ánh và tìm câu trả lời trước rất nhiều vấn đề khác nhau của đời sống” [47] Khẳng định sự phát triển và thống nhất của
văn xuôi giai đoạn này trong tiến trình văn học, tác giả Lại Nguyên Ân trong bài
Trang 12viết “Thử nhìn lại văn xuôi mười năm qua” [47] đã phân loại văn xuôi 1975-1985 thành bốn mảng thể tài (văn xuôi chiến đấu, văn xuôi sản xuất, văn xuôi phong tục
- lịch sử, văn xuôi tâm ly xa hội), chỉ ra những đóng góp và hạn chế của các mảng
văn xuôi đó Tiếp cận văn xuôi 1975-1985 từ phương diện nội dung, chúng tôi chiavăn xuôi thời kỳ này thành hai mảng đề tài chính: đề tài chiến tranh và đề tài thế sự
- đời tư để chỉ ra sự kế thừa truyền thống của văn xuôi 1945-1975 và những dấuhiệu của quá trình đổi mới văn xuôi sau 1986 Vấn đề này sẽ được triển khai kĩ ởchương 2 và chương 3 của luận án
Nhìn lại quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy một số nhà nghiên cứucoi 1945-1980 là một giai đoạn - giai đoạn văn học sử thi (Phong Lê, Vũ VănSỹ….) Điều đó đồng nghĩa với việc: khoảng năm năm đầu sau 1975, văn học vẫnmang đặc điểm của văn học ba mươi năm trước đó Không bàn cãi đến việc phân
kỳ văn học, chúng tôi quan niệm rằng, năm 1975 đã là một cột mốc rõ ràng Nămnăm 1975-1980, văn học nói chung và văn xuôi nói riêng vẫn vận động theo quántính nhưng đã có những thay đổi so với nền văn học sử thi Những thay đổi ấy đậmdần lên từ 1980-1985 Do đó, nghiên cứu văn xuôi 1975-1985 để chứng minhnhững đặc điểm giống và khác của nó với văn xuôi trước 1975 và sau 1986 là mộtviệc làm cần thiết
Văn xuôi giai đoạn này mang âm hưởng của văn học sử thi bởi nó vẫn dànhmột phần rất lớn cho đề tài chiến tranh Đã có nhiều bài nghiên cứu về đề tài nàytrong văn xuôi (của các tác giả Lê Thành Nghị, Tôn Phương Lan, Nam Hà, BùiViệt Thắng, Hồ Phương ) đăng trên tạp chí Văn nghệ Quân đội, Tạp chí vănhọc… những năm đầu thập kỉ chín mươi Bên cạnh những lời khen có cả những lờichê… nhưng đa số các nghiên cứu đều gặp nhau ở khẳng định: văn xuôi giai đoạnnày đã nhìn chiến tranh ở hai mặt: sáng và tối, nhìn chiến tranh và con người bằngcái nhìn đa diện, khắc phục cái nhìn đơn giản, một chiều của nền văn học sử thi
Xin dẫn nghiên cứu của tác giả Tôn Phương Lan làm ví dụ: “sắc thái của nhân vật
trong văn xuôi chiến tranh có phong phú hơn, phức tạp hơn và tính phản quang của đời sống, thông qua hệ thống nhân vật đa làm cho văn xuôi trở nên sinh động”
[108,15] Năm 2008, trong luận văn thạc sĩ Đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết Việt
Trang 13Nam giai đoạn 1975 - 1985,tác giả Vũ Thị Phương Nga đã đặt các tiểu thuyết viết
về chiến tranh và người lính trong xu hướng vận động đổi mới của văn xuôi để tìmhiểu những đặc trưng nổi bật trong việc khai thác hiện thực chiến tranh và hìnhtượng người lính… Chúng tôi sẽ nghiên cứu vấn đề này một cách cụ thể trongchương 2 của luận án với sự khảo sát ở các thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn và ký
để chỉ ra rằng: có một dòng văn học viết về chiến tranh sau chiến tranh, dòng văn
học khẳng định một con đường nghệ thuật mới: “nhìn thẳng vào hiện thực chiến
tranh, bằng những trải nghiệm và cái nhìn cá nhân, tái hiện lại cái chiều kích đau thương và bộ mặt tàn khốc không thể quy giản của chiến tranh, nói lên tiếng nói cảnh báo về những hiểm họa của chiến tranh để lại sau chiến tranh, nhưng đồng thời, phục dựng lại hình ảnh của những con người bằng sự chịu đựng và sức mạnh anh hùng đa thực sự làm nên sức mạnh cho cuộc kháng chiến, tái sinh lại những khát vọng nuôi dưỡng cả một dân tộc trong chiến tranh”[115,251]
Bên cạnh những nghiên cứu tập trung vào diện mạo của văn xuôi trong mườinăm 1975-1985, một số công trình khác (của các tác giả Nguyễn Đăng Mạnh, HàMinh Đức, Nguyễn Thị Bình, Bích Thu…) lại nghiên cứu các vấn đề khái quát củathể loại, chủ yếu tập trung vào thể loại truyện ngắn… Năm 1995, tác giả Lê Thị
Hường trong công trình luận án Phó Tiến sĩ “Những đặc điểm cơ bản của truyện
ngắn Việt Nam 1975-1995” đã nghiên cứu các đặc điểm cốt truyện và kết cấu, hệ
thống nhân vật, thời gian, không gian nghệ thuật và ngôn ngữ của truyện ngắn
1975-1995 Từ đó, tác giả khẳng định: “Truyện ngắn ngày càng tích lũy được
nhiều giá trị nghệ thuật cả về nội dung lẫn hình thức biểu hiện, mở rộng phạm vi nhận thức của thể loại, đạt đến chỗ hoàn thiện về mặt kỹ thuật, phương thức tiếp cận hiện thực phong phú hơn các giai đoạn trước ” [94] Thiết nghĩ, đó cũng là
thành tựu chung của văn xuôi sau 1975 Năm 2009, tác giả Nguyễn Thị Minh
Nguyệt (Thái Nguyên) đã bảo vệ thành công luận văn Thạc sỹ Truyện ngắn Việt
Nam giai đoạn 1975-1985 với những nghiên cứu khá công phu về những vấn đề
khái quát nhất của thể loại truyện ngắn trong vòng mười năm sau chiến tranh (diệnmạo truyện ngắn, những thay đổi về đề tài, cảm hứng, những đổi mới bước đầu vềnghệ thuật) Đây cũng là một trong những tài liệu tham khảo để chúng tôi tiếp tục
Trang 14hướng nghiên cứu của mình Bài viết “Chặng “khởi động” trong hành trình truyện
ngắn Việt Nam sau 1975” của tác giả Hỏa Diệu Thúy (Nghiên cứu văn học số 7
-2011) đã phác họa giai đoạn khởi đầu của thể loại truyện ngắn với sự được mùa của
thể loại và những dấu mốc sớm nhất của sự đổi mới như Hai người trở lại trung
đoàn của Thái Bá Lợi, Bức tranh của Nguyễn Minh Châu, Có một đêm như thế của
Phạm Thị Minh Thư… Từ những nghiên cứu chung về truyện ngắn, chúng tôi tiếp
tục khảo sát, so sánh thể loại này với tiểu thuyết, ký để khẳng định đóng góp củavăn xuôi giai đoạn 1975 - 1985 trong văn học Việt Nam sau 1975
Các nghiên cứu về văn xuôi thời kỳ hậu chiến thể hiện sự phong phú, đadạng trong cách tiếp cận: từ góc độ lý luận, ngôn ngữ, lịch sử văn học, từ nội dung,
nghệ thuật… Giáo sư Trần Đình Sử nghiên cứu về sự đổi mới của tư duy nghệ
thuật và hình tượng con người; nhà nghiên cứu Trần Cương tìm hiểu tính nhân dân
trong văn học, giáo sư Phong Lê khai thác con người mới và nhân vật tích cực…
Cảm hứng bi kịch trong một số tiểu thuyết tiêu biểu viết về chiến tranh sau 1975 là
đối tượng nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Hương [91] Nghiên cứu cảm hứng bikịch trong cái nhìn về hiện thực, cái nhìn về số phận con người, các biện pháp nghệ
thuật thể hiện cảm hứng… tác giả đã khẳng định: “Sự vận động của cảm hứng
sáng tác về đề tài chiến tranh trong tiểu thuyết sau 1975 đa đem lại cho tiểu thuyết nói riêng và văn học thời kỳ này nói chung một diện mạo mới” [91] Tiếp tục
hướng nghiên cứu này, ở chương 2, luận án của chúng tôi sẽ khai thác sự thay đổitrong các tác phẩm về đề tài chiến tranh được sáng tác trước và sau 1975, từ âmhưởng sử thi đến vấn đề số phận dân tộc và số phận con người…
Đánh giá chung về văn học 1975-1985, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã
nhận xét: “Nhìn chung có thể khẳng định được là nền văn học nước ta thập kỉ vừa
qua đánh dấu sự biến đổi đáng kể trong tư duy văn học và đang ở vào thời kỳ mới, thời kỳ hứa hẹn một sự khám phá và tái hiện hình tượng con người nhiều mặt trong tất cả chiều sâu phong phú của nó” [123,491] Nhận xét của ông có thể coi là một
cái nhìn khái quát về sự chuyển biến trong văn xuôi thời kỳ hậu chiến: sự thay đổi
tư duy nghệ thuật và sự quan tâm đa diện, đa chiều đến con người
Trang 15Như vậy, đa số nghiên cứu về văn xuôi 1975 - 1985 đều nằm trong nhữngnghiên cứu về văn xuôi sau 1975, số lượng công trình, bài viết đề cập trực tiếp đếnvăn xuôi giai đoạn này không nhiều Tuy nhiên, có thể thấy, các nghiên cứu đềukhẳng định tính tiên phong, vai trò tích cực, chủ động của văn xuôi trong quá trìnhđổi mới văn học Mặc dù vậy, việc xem xét văn xuôi giai đoạn 1975 - 1985 nhưmột đối tượng nghiên cứu cụ thể, toàn diện (về nội dung, nghệ thuật và ý nghĩatrong tiến trình văn học) vẫn là vấn đề cần được quan tâm, nghiên cứu.
1.1.2 Những nghiên cứu về các tác giả, tác phẩm cụ thể trong văn xuôi Việt Nam 1975-1985
Các tác giả được chọn nghiên cứu nhiều nhất trong giai đoạn này là NguyễnMinh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn, Lê Lựu… Có thể
nói đây chính là những cánh chim báo bao, đem lại những khám phá đầu tiên về
vùng đất mới của văn học Sáng tác của họ được bạn đọc đón nhận với cái nhìn đachiều Trong phạm vi luận án, chúng tôi quan tâm đến những nghiên cứu ghi nhận
những dấu hiệu đổi mới mà họ đã mang lại trong văn xuôi.
Các nghiên cứu về các tác phẩm cụ thể như: tiểu thuyết Cha và Con và…,
Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người (Nguyễn Khải), Đất trắng (Nguyễn Trọng
Oánh), Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Đứng trước biển, Cù lao Tràm (Nguyễn Mạnh Tuấn), Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Thời xa
vắng (Lê Lựu), …các tập truyện ngắn: Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành,
Bến quê (Nguyễn Minh Châu), Gió từ miền cát (Xuân Thiều) Hai người trở lại
trung đoàn (Thái Bá Lợi), truyện ngắn Ma Văn Kháng, Đỗ Chu, Bảo Ninh… ký:
Tháng ba ở Tây Nguyên (Nguyễn Khải), Rất nhiều ánh lửa (Hoàng Phủ Ngọc
Tường), Ky sự miền đất lửa (Nguyễn Sinh - Vũ Kỳ Lân)… Các nghiên cứu này
phần lớn đều nêu lên cảm nhận về nội dung, nghệ thuật, phương diện đổi mới củatừng tác phẩm, qua đó góp phần khẳng định xu thế tất yếu của thể loại cũng nhưcủa văn học Việt Nam trong giai đoạn này
Nhìn từ đặc trưng thể loại, tác giả Nguyễn Thị Bình (Văn xuôi Việt Nam
1975-1995 những đổi mới cơ bản) đã nhận thấy ưu điểm, vai trò đột phá của ký.
Những ký sự đầu tiên về đề tài chiến tranh Tháng ba ở Tây Nguyên (Nguyễn Khải),
Trang 16Rất nhiều ánh lửa (Hoàng Phủ Ngọc Tường), Ky sự miền đất lửa (Nguyễn Sinh
-Vũ Kỳ Lân)… đã đem lại “cảm giác tin cậy bởi chiến tranh được nhìn ở cự li gần
và tác giả tỏ ra không né tránh mặt gai góc của hiện thực” [52,212] Xu hướng viết
về sự thật: sự thật đời sống, sự thật tâm trạng con người đã được khai mở bằng việcthể hiện một cách trực diện những mất mát, hy sinh gian khổ của cuộc chiến ác liệt
Ở Ky sự miền đất lửa, “lần đầu tiên trong một tác phẩm văn học, sự ác liệt của
cuộc chiến tranh, cái giá máu xương của những chiến thắng được thể hiện ở mức
độ mà trước đó chưa có tác phẩm nào nêu lên được” [108] Với đặc trưng thể loại,
ký có nhiều ưu thế tái hiện hiện thực, truyền thông tin và tình cảm nóng hổi đến
người đọc “Tháng ba ở Tây Nguyên có thể xem là thiên ky sự chính luận - tư liệu
nổi bật nhất vì sự sắc sảo nhạy bén cũng như sức hấp dẫn của nó” [103] Mặc dù
tính thông tin, sự kiện, thời sự chi phối, song tác phẩm ký vẫn mang trong mìnhtính văn học nghệ thuật rất rõ.Ky sự miền đất lửa của Nguyễn Sinh - Vũ Kỳ Lân là
một trong những trường hợp: “có thể làm cho tác phẩm mang đầy đủ chất văn học
mà không nhất thiết phải xây dựng thành tiểu thuyết” [47,16].
Những khai mở này đã tạo tiền đề cho sự xuất hiện mạnh mẽ của phóng sự
1986 - 1996, vệt phóng sự tiêu biểu như một cuộc bùng phát lần thứ hai của phóng
sự trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại Với tính chất nhanh nhạy, sắc bén; cáinhìn trung thực vào bản chất sự thật; với sức thuyết phục của giọng điệu và ưu thếđặc biệt trong việc phơi bày, mổ xẻ, phanh phui để kiến nghị với dư luận về nhữnghiện tượng xã hội phức tạp, các phóng sự của Phùng Gia Lộc, Trần Huy Quang,
Hoàng Hữu Các, Trần Khắc, Minh Chuyên… sau này đã nhìn thẳng vào sự thật với
tinh thần dân chủ và những khát khao đổi mới xã hội
Quá trình đổi mới tiểu thuyết sau 1975 đã bắt đầu từ những sáng tác đầu tiên
về chiến tranh: Miền cháy (Nguyễn Minh Châu), Trong cơn gió lốc (Khuất Quang Thụy), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Năm 1975, họ đa sống như thế (Nguyễn Trí Huân), Họ cùng thời với những ai (Thái Bá Lợi)… Loạt bài viết về đề tài chiến
tranh và viết về các tác phẩm cụ thể đã chứng minh một điều rất rõ: bối cảnh mới
đã giúp nhà văn “khắc phục phần nào cái nhìn dễ dai, giản đơn, có điều kiện soi
Trang 17chiếu hiện thực qua những hy sinh, mất mát và có thể khám phá sâu hơn những va đập của hoàn cảnh vào tâm ly con người” [52,193]
Viết về cuộc chống càn gay go, ác liệt của một trung đoàn, Đất trắng của
Nguyễn Trọng Oánh vẫn thuộc mô hình tiểu thuyết sử thi song đã chú trọng tínhchân thật của tác phẩm khi phản ánh hai mặt của chiến tranh: thắng - thua, được -mất… Đặc biệt tác phẩm gây chấn động dư luận khi đề cập đến sự chiêu hồi, phản
bội của một phó chính ủy phân khu Đất trắng đã đặt ra hàng loạt câu hỏi: Thế nào
là phản ánh sự thật? Một nửa sự thật có còn là chân ly? “Tác phẩm có làm ai hoang mang hay run sợ không? Tác phẩm có làm cho mọi người nhận thức sai lệch
về chiến tranh không?” Câu trả lời là “Hoàn toàn ngược lại!” [64] Bởi đó là sự
thật của chiến tranh khốc liệt: nếu mỗi con người không vượt qua chính mình thìcon đường dẫn đến sự phản bội, chiêu hồi là không tránh khỏi Và bởi đó cũng chỉ
là những hiện tượng cá biệt, một bộ phận nhỏ nhoi trong lớp lớp người vẫn đangkiên cường, vững chãi trên trận tuyến chống quân thù Chiến tranh là như vậy.Những ai đó run sợ, đớn hèn trước hoàn cảnh khắc nghiệt sẽ tự bán đi nhân phẩmcủa chính mình Đó cũng là một lời cảnh báo về sự thật trong chiến tranh để mỗi tổchức, mỗi con người không lơi lỏng luyện rèn Trong cuộc kháng chiến vĩ đại củadân tộc, dù phải hy sinh, gian khổ, phải gồng mình lên… nhưng quân và dân ta đã
thể hiện ý chí kiên cường, bất khuất để chiến thắng kẻ thù “Nếu hoàn cảnh dữ dội
trên đây là đá thử vàng đối với bản lĩnh và phẩm chất của quân đội ta, thì việc chọn một hoàn cảnh như thế để miêu tả cũng là một thử thách đối với ngòi bút tác giả” [123,95] Như vậy, thành công của Nguyễn Trọng Oánh chính là nhà văn đã
dám chọn hoàn cảnh khốc liệt để đánh giá nhân vật, vừa nhìn thẳng vào mặt tráicủa chiến tranh, vừa khẳng định lập trường kiên định và vững vàng của dân tộc Đócũng là một khẳng định chắc chắn về sức mạnh của dân tộc trong cuộc kháng chiến
ác liệt chống lại kẻ thù tàn bạo, hùng mạnh nhất thế giới
Tác phẩm của Nguyễn Minh Châu - “người mở đường tinh anh và tài năng” (Nguyên Ngọc) đã được bạn đọc đón nhận và gây khá nhiều tranh cãi Tồn tại hai
luồng ý kiến trái chiều khá rõ về tác phẩm của nhà văn quân đội Trong cuộc traođổi về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu trên Báo văn nghệ số 27, 28/1985, các nhà
Trang 18văn, nhà nghiên cứu đã chỉ ra những hạn chế trong sáng tác của Nguyễn Minh
Châu Nhà văn Xuân Thiều phát biểu: “Có cảm giác như Nguyễn Minh Châu đa
sao nhang những cách viết chân thực dung dị trước kia để tìm tòi một loại truyện luận đề Nhưng luận đề trong truyện của anh hay còn bị dàn trải Anh ham nói nhiều điều mà chưa tập trung vào điều chủ yếu Bởi thế rất khó nắm bắt chủ đề tư tưởng của thiên truyện” [123,324] Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn cho rằng:
“một số truyện y cứ đan chằng chéo vào nhau, văn cứ dính vào nhau, nó là dấu hiệu một cái gì dang dở chưa hoàn thành Một khía cạnh khác là ở vài truyện ngắn
… màu sắc đạo đức quá rõ, quá lộ” [123,327] Đây cũng là những nhược điểm mà
chính Nguyễn Minh Châu đã thừa nhận trong cuộc trao đổi Tuy nhiên, với những
gì Nguyễn Minh Châu đã tìm tòi, thể nghiệm, giới nghiên cứu và độc giả đều ghi
nhận: “Anh muốn từ cái hàng ngày, cái thường ngày vượt ra khỏi cái gì đa khô
cứng, cái gì như đa thành định kiến, kể cả bản thân mình để đi tìm điều anh mong ước, đi tìm vấn đề và cách thể hiện mới” [123,335] Thiết nghĩ đó là điều đáng quý
ở nhân cách của người cầm bút Nguyễn Minh Châu và cũng là xu hướng chung củavăn học giai đoạn 1975 - 1985: bắt đầu từ sự bứt ra từ cái cũ để vươn tới tìm tòi cái
mới Sau 1975, đi qua Miền cháy, Những người đi từ trong rừng ra, Lửa từ những
ngôi nhà, Nguyễn Minh Châu đã có hành trình chuyển đổi thú vị: từ văn xuôi viết
về hào hùng chiến tranh sang văn xuôi tâm lý - thế sự Trên hành trình sáng tạo ấy,
“nhà văn như đang dẫn dắt các nhân vật của mình trong những tìm tòi đạo đức, nhằm khẳng định và biện minh cho những cách sống tốt đẹp cần lựa chọn giữa cuộc đời bình thường hàng ngày Sự chuyển hướng về thể tài của Nguyễn Minh Châu không phải là trường hợp cá biệt Ngược lại, nó là trường hợp chung của văn xuôi, phù hợp với một tương quan chung giữa thời đại và văn học” [47,23].
Truyện ngắn Bức tranh (1982) đã đánh dấu sự đổi mới âm thầm và quyết liệt ấy của Nguyễn Minh Châu Hai tập truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc
hành và Bến quê đã “tiếp cận đời sống từ góc độ đạo đức - thế sự, dùng thước đo nhân bản để soi ngắm con người” [52,195] Có thể nói, Nguyễn Minh Châu là một
trong những gương mặt tiêu biểu, là cây bút tiên phong xuất sắc trong công cuộc
đổi mới văn học Từ những bài phê bình, tiểu luận sắc sảo như Viết về chiến tranh
Trang 19(1978), Các nhà văn quân đội và đề tài chiến tranh (1979), Nhà văn, nhân vật, bạn
đọc, Hay đọc lời ai điếu cho một nền văn nghệ minh họa (1987)… đến những tácphẩm của mình, Nguyễn Minh Châu đều kiên trì, bền bỉ một lối đi mới, cách viếtmới với tư duy nghệ thuật mới
Đồng hành với Nguyễn Minh Châu là Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn,
Ma Văn Kháng… với những trăn trở, tìm tòi, sáng tạo
Trong hành trình sáng tác của mình, Nguyễn Khải đã có sự chuyển đổi khá
rõ Nhân vật ưa thích của Nguyễn Khải thường là những con người thông minh, sắcsảo, hay triết lý, đối thoại, bàn luận Trước 1975, nhà văn quan tâm nhiều đến cácvấn đề tư tưởng, chính trị nên nhân vật của ông được khai thác trên bình diện con
người chính trị Môn (Xung đột), Nam (Hay đi xa hơn nữa), Biên (Tầm nhìn xa), Huân (Mùa lạc)… đều là những sản phẩm của một thời kỳ mới, những con người mới… Sau 1975, đi qua Cái thời lang mạn, Nguyễn Khải hướng ngòi bút vào đời
sống thế sự, nhân vật của ông được soi ngắm trên bình diện con người cá nhân
trong đời thường, với sự chiêm nghiệm và triết lý về nhân sinh Với Cha và Con
và…, Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người…, “văn xuôi Nguyễn Khải đa tự vượt lên so với chính mình và so với đồng nghiệp xung quanh, trở nên già dặn, sâu sắc hơn hẳn Những câu chuyện cuộc đời ở đây đang như muốn mang tải ngày càng nhiều những sự tổng kết về cách sống, về triết ly sống Trí thức và xa hội, trí thức
và chính trị, quá khứ đẹp đẽ hôm qua và cách sống hôm nay - là những vấn đề thường trở đi trở lại trên các trang văn xuôi Nguyễn Khải” [47,22]
Nguyễn Mạnh Tuấn là một hiện tượng khá nổi bật trong văn xuôi giai đoạn
này Với Năm hòa bình đầu tiên, Những khoảng cách còn lại, Đứng trước biển, Cù
lao Tràm, Nguyễn Mạnh Tuấn được bạn đọc đón nhận ở cả hai phía khen và chê:
khen hết lời và chê thẳng thắn… Đã có nhiều cuộc tranh luận xung quanh tác phẩmcủa Nguyễn Mạnh Tuấn Những hạn chế trong sáng tác của anh có thể thấy khá rõ:
“hầu hết các nhân vật của Nguyễn Mạnh Tuấn đều đa có hình dáng và cốt cách, nhưng chưa phải đa có đủ chiều sâu và độ chín của những điển hình Nói cách khác thì nhiều nhân vật của anh vẫn còn sơ lược” [142,94] hay “tình trạng có phần lỏng lẻo của bố cục, cái phong cách buông thả trong ngôn ngữ nhân vật,
Trang 20hoặc lối dẫn truyện lắm khi tùy tiện…” [142,95] Tuy nhiên, đa số bạn đọc đều
nhận thấy hiệu ứng mạnh mẽ và tích cực của văn Nguyễn Mạnh Tuấn Anh “viết
văn không phải để làm văn chương mà để trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh vì cuộc sống hôm nay” [123,395], “tác phẩm hấp dẫn người đọc chính ở chỗ buộc người đọc phải suy nghĩ, giải đáp những vấn đề của cuộc sống chứ không phải đọc sách để thưởng thức, nhấm nháp từng câu văn” [123,396] Tác phẩm của Nguyễn
Mạnh Tuấn nhìn thẳng vào những cái cũ, cái lạc hậu, thủ cựu, quan cách, đả kích,phá vỡ nó Nhiệt tình và dũng khí của nhà văn Nam Bộ đã tạo nên khí thế sôi nổi
của làn sóng chống tiêu cực, nhìn thẳng vào sự thật trong văn học, làm cho văn học gần gũi hơn với cuộc sống Phải nói rằng, những Cù lao Tràm, Đứng trước biển…
khiến người đọc thực sự thích thú bởi tính nóng bỏng của vấn đề và nhiệt huyết củatác giả nhưng hiệu ứng của tác phẩm chỉ có tính thời sự, trong hoàn cảnh khi đó
Tác phẩm của Nguyễn Mạnh Tuấn mang tính phóng sự, tính báo chí là vì thế Ở Cù
lao Tràm, Đứng trước biển… chất báo nhiều hơn chất văn Đó vừa là ưu điểm vừa
là hạn chế của ngòi bút Nguyễn Mạnh Tuấn
Nhìn chung, các tác phẩm của Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh
Tuấn… đã “ tiếp tục mở rộng biên độ cho bức tranh đời sống và quan niệm nghệ
thuật về con người….” thể hiện “y thức đổi mới của các nhà văn” [52,196] Những
cuộc tranh luận, những dư luận trái chiều về các tác giả, tác phẩm đã cho thấy tìnhhình nghiên cứu sôi nổi về một giai đoạn văn học đang trong thời kỳ khó khăn củamùa gieo hạt đầu tiên trên mảnh đất mới khai phá Đó là cơ sở để chúng tôi đặtnghiên cứu của mình ở cái nhìn toàn diện về các tác giả, tác phẩm nhằm khẳng địnhnhững đóng góp tích cực của các hiện tượng văn học trong chặng đường khởi động
Gắn với các nhà văn, các tác phẩm tiêu biểu của văn xuôi giai đoạn này,nhiều nghiên cứu (của các tác giả Nguyễn Thị Bình, Phong Lê, Trần Đình Sử,Nguyễn Đăng Mạnh…) hướng về sự đổi mới trong quan niệm về hiện thực (từ hiệnthực của các sự kiện, biến cố lịch sử sang hiện thực về con người, từ cái nhìn mộtchiều đến cái nhìn đa chiều), đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người (từ conngười công dân đến con người thế sự, đời tư, con người với các quan hệ nhân sinh
Trang 21đa dạng và phức tạp), đổi mới quan niệm về văn xuôi (cấu trúc trần thuật, phạm trùthẩm mĩ, ngôn ngữ, giọng điệu) Một số luận văn, luận án cũng khai thác cácphương diện cơ bản của các tác phẩm thời kỳ này Tác giả Đỗ Phương Thảo chọn
Nghệ thuật tự sự trong sáng tác của Ma Văn Kháng làm đối tượng nghiên cứu
[153] với những khảo sát công phu về các đặc điểm nhân vật, cốt truyện, trần thuậttrong các tác phẩm mang tính sử thi và các tác phẩm thế sự, đời tư của Ma VănKháng Từ cái nhìn của lĩnh vực ngôn ngữ, tác giả Đỗ Thị Hiên [80] đã nghiên cứu
Ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu,
chỉ ra những đóng góp về ngôn ngữ của hai tác gia này Nghiên cứu Vấn đề con
người và thời gian trong tiểu thuyết hậu chiến Việt Nam [95] (qua hai tác phẩm cụ
thể: Thời xa vắng của Lê Lựu và Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh), tác giả Đinh
Thị Huyền đã chỉ ra sự xuất hiện một kiểu nhân vật mới trong tiểu thuyết về đề tàichiến tranh: nhân vật bi kịch, sự thể hiện thời gian (thời gian tuyến tính, một chiều
theo cuộc đời nhân vật trong Thời xa vắng, thời gian đa tuyến, dòng ý thức… trong
Nỗi buồn chiến tranh…) Các tác giả Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn
Khải, Nguyễn Trí Huân, Lê Lựu, Thái Bá Lợi… cùng với các tác phẩm tiêu biểucủa họ đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều luận án, luận văn thạc sỹ, khóaluận tốt nghiệp của sinh viên Thông qua sáng tác của Nguyễn Minh Châu, NguyễnKhải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn, tác giả Nguyễn Thị Huệ trong luận án
của mình đã nghiên cứu những dấu hiệu đổi mới trong văn xuôi Việt Nam từ 1980
đến 1986 [88] (chuyển đổi trong quan niệm về hiện thực và con người, chuyển đổi
cảm hứng nghệ thuật, tư duy tiểu thuyết, không gian, thời gian nghệ thuật và ngônngữ…) Với những nỗ lực đổi mới, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma VănKháng, Nguyễn Mạnh Tuấn đã trở thành những điểm nhấn độc đáo, định hìnhnhững phong cách văn xuôi tiêu biểu của giai đoạn văn học này
Có thể nói đây là những nghiên cứu khá toàn diện về văn xuôi sau 1975 nóichung và văn xuôi 1975-1985 nói riêng, tạo cơ sở để chúng tôi tiếp tục con đườngnghiên cứu của mình, từ đó khẳng định đóng góp của văn xuôi thời kỳ hậu chiếntrong tiến trình văn học
Trang 22Như vậy, văn xuôi 1975-1985 đã trở thành một đối tượng nghiên cứu đượccác nhà lý luận, phê bình, các nhà nghiên cứu quan tâm, bàn luận Tuy nhiên, có
thể thấy, chỉ có hai công trình: Văn học 1975-1985, tác phẩm và dư luận [123] và Luận văn thạc sỹ Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975-1985 [137] đề cập trực
tiếp đến văn xuôi giai đoạn này Nhưng cả hai công trình đó mới chỉ dừng lại ởcái nhìn riêng lẻ về các tác giả, tác phẩm cụ thể và một số đặc điểm của thể loạitruyện ngắn
Các công trình, bài viết khác đã đề cập đến việc đánh giá khái quát về diệnmạo chung của văn xuôi hoặc các vấn đề của tiểu thuyết, truyện ngắn, ký hoặc cáctác giả, tác phẩm tiêu biểu của văn xuôi giai đoạn này, chưa có công trình nàonghiên cứu hệ thống về sự vận động đổi mới của văn xuôi hậu chiến - bước đầutiên trong cuộc chuyển đổi hệ hình tư duy của văn học Việt Nam sau 1975 Điểmdừng đó chính là điểm xuất phát cho những nghiên cứu của chúng tôi: đặt văn xuôi1975-1985 trong một cái nhìn toàn diện, hệ thống để phục dựng và lý giải sựchuyển động của một thời kỳ quan trọng trong văn học Việt Nam hiện đại, từ đókhẳng định đóng góp của văn xuôi giai đoạn này trong ý nghĩa là một giai đoạnchuyển tiếp từ văn xuôi chiến tranh đến văn xuôi thời kỳ đổi mới
1.2 Diện mạo văn xuôi 1975-1985 trong bước chuyển của lịch sử văn học
1.2.1 Sự vận động của lịch sử xã hội và văn học
1.2.1.1 Sự vận động của lịch sử xa hội
Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc đã kết thúc vàgiành thắng lợi vẻ vang, mở ra một thời kỳ mới - thời kỳ độc lập, tự do, hòa bìnhthống nhất, thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước
Sau ba mươi năm chiến tranh, dân tộc Việt Nam bước vào một chặng đườngmới Bên cạnh những thuận lợi của sự thống nhất đất nước, Việt Nam phải đối mặtvới rất nhiều khó khăn sau chiến tranh Khi “khúc khải hoàn vừa tấu xong, khi xúc
cảm manh liệt về chiến công tuyệt đỉnh tạm lắng xuống thì thực trạng của Đất nước sau chiến tranh với tất cả những đổ nát, ngổn ngang, bộn bề, nhức nhối của
nó đa xuất hiện, đòi hỏi một sự nhận thức, sự đối mặt với những vấn đề phức tạp đang diễn ra” [165,3] Không ai lường hết sự gian truân sau những năm tháng dài
Trang 23chiến tranh Trong chặng đầu tiên trên con đường độc lập, tự do, thống nhất đấtnước, người Việt Nam bắt đầu đối mặt với vô vàn thách thức, hậu quả nặng nề củachiến tranh Đất nước bị tàn phá, cơ sở hạ tầng bị xuống cấp nghiêm trọng Mấtmát, hy sinh, tổn thất về vật chất và tinh thần, xung đột về hệ ý thức giữa hai miềnNam - Bắc, giữa các chế độ, giai cấp, thậm chí giữa những người ruột thịt trongmột gia đình, tệ nạn xã hội của “thế giới tự do” … đã tạo nên thực trạng ngổnngang, bề bộn, nhức nhối Nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá,kìm hãm đã làm cho đất nước ta trở thành một trong những nước kém phát triểntrên thế giới Quy luật trong chiến tranh không còn phù hợp với thời bình Nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung - cơ chế quản lý quan liêu bao cấp đã phát huy được sứcmạnh vật chất, nguồn lực ở hậu phương miền Bắc trong chiến tranh - giờ đây đãbộc lộ nhiều bất cập, trì trệ Cuộc sống thời bình lại gai góc, phức tạp hơn thờichiến
Trong kháng chiến, tất cả hướng về cái chung, đồng lòng, đồng sức hướng
về chiến thắng Giờ đây, hiện thực cuộc sống đã làm con người có những thay đổitrong tâm tư, tình cảm Những lo toan, tính toán, những khó khăn buộc con ngườiphải căng mình lên đối mặt với những vun vén cá nhân Chủ nghĩa anh hùng vẫnđược khơi dậy, nuôi dưỡng và phát huy trong xã hội, trong cộng đồng nhưng hiệnthực xã hội phức tạp đã khiến một bộ phận không nhỏ chán nản, hoài nghi thậm chímất niềm tin, không có động lực để phấn đấu Bộ phận không nhỏ ấy không chỉgồm những người đã từng sống trong xã hội cũ mà còn có cả những người lính trở
về từ chiến tranh, những người đã một thời dám hy sinh tất cả cho cách mạng
Những bất cập, những vấn đề nhức nhối, bức xúc trong đời sống văn hóa
-xã hội - tinh thần như muốn phá vỡ khuôn khổ vốn chật hẹp, bức bối của hiện thựccuộc sống Thực tế này cộng với những sai lầm mang nặng tính chủ quan, duy ý chítrong nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về cải tạo xã hội và xâydựng chủ nghĩa xã hội theo một mô hình đã lỗi thời… đã dẫn đến cuộc khủnghoảng kinh tế xã hội trầm trọng Sản xuất trì trệ, đời sống nhân dân sa sút, tiêu cực
xã hội lan rộng…, đặc biệt, sau thất bại của cuộc tổng điều chỉnh giá - lương - tiền
Trang 24(cuối 1985), những chủ trương, chính sách lỗi thời không còn lý do để tồn tại Cần
có sự thay đổi toàn diện chứ không phải là sự chắp vá, sửa chữa Nhu cầu ấy đượcđặt ra khẩn thiết, cấp bách, trở thành vấn đề sống còn của dân tộc Việt Nam
Cùng với sự phá hoại từ bên trong của các thế lực phản động, thù địch là sựchống phá quyết liệt cách mạng Việt Nam từ các thế lực bên ngoài, trong đó có sựcấm vận của chủ nghĩa đế quốc Chiến tranh biên giới phía Tây Nam và biên giớiphía Bắc nổ ra, dai dẳng, ác liệt suốt hàng nghìn kilômét đường biên Nếu trongcuộc kháng chiến chống Mỹ, dân tộc Việt Nam phải gồng mình lên để chống lại kẻthù mạnh nhất, tàn bạo nhất thế giới thì trong cuộc chiến tranh này, dân tộc ta phảicăng mình ra hai đầu đất nước để chống lại kẻ thù rất gần ta, sát ta và tường tận vềchúng ta Toàn dân tộc lại huy động mọi nguồn lực theo lệnh tổng động viên đểchiến đấu, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ thân yêu của Tổ quốc
Thù trong, giặc ngoài, sự bao vây cấm vận của chủ nghĩa đế quốc đã tácđộng mạnh mẽ đến sự ổn định và phát triển của Việt Nam, đặt nước ta đứng trướcthời khắc khắc nghiệt trong lịch sử Từ những năm cuối của thập kỉ bảy mươi, tìnhhình kinh tế - xã hội của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô xuấthiện sự trì trệ và mất ổn định Sự khủng hoảng kinh tế - xã hội ấy chuyển thànhkhủng hoảng chính trị ở các nước này trong thập kỉ sau, dẫn đến hàng loạt các nước
xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ Liên Xô thực hiện chủ trương cải tổ mạnh mẽ,toàn diện năm 1985 Công cuộc cải tổ này đã không đem lại kết quả như mục tiêu
đề ra mà càng làm cho Liên Xô lún sâu vào khủng hoảng
Những chuyển động nội tại trong lòng xã hội Việt Nam và những tác động từbên ngoài tới đất nước ta sau chiến tranh là những nguyên nhân dẫn đến công cuộcđổi mới toàn diện năm 1986 Đại hội Đảng toàn quốc lần VI đã đề ra đường lối đổimới đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Sự đổi mới do Đảng takhởi xướng và lãnh đạo được xem như bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc Với
phương châm đổi mới đồng bộ và toàn diện, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật,
đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đảng ta đã nghiêm khắc tự phê bình những
chủ trương, chính sách sai lầm, chủ quan, duy ý chí, nóng vội và đề ra đường lốiphát triển mới Chủ trương và quyết tâm xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu
Trang 25bao cấp để hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hộichủ nghĩa, phát triển nền kinh tế hàng hóa, kinh tế nhiều thành phần là những chủtrương lớn, thực sự đổi mới đã từng bước đưa nước ta vào thế ổn định, ra khỏikhủng hoảng và phát triển trên con đường xây dựng đất nước.
Giống như một cuộc lột xác đau đớn để có sự trưởng thành mạnh mẽ, đấtnước ta, dân tộc ta đã chuyển mình để bắt kịp với quy luật của sự phát triển Nhưmột tất yếu, văn học không thể đứng ngoài guồng quay ấy, phản ánh và đóng vaitrò tích cực đẩy mạnh bước đi của dân tộc trong tiến trình đổi mới, thực hiện côngcuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc
Đại hội văn nghệ Trung Quốc lần thứ tư (tháng 10 năm 1979) đã mở ra mộtgiai đoạn mới với tinh thần giải phóng tư tưởng, mở cửa, cải cách, sáng tạo cái mới,tạo nên giai đoạn “phản tư” rất có ý nghĩa trong văn học Trung Quốc Công cuộcđổi mới của Liên Xô năm 1985 diễn ra mạnh mẽ với tư tưởng đổi mới, tinh thầndân chủ của thời kỳ “cải tổ”… Tất cả những yếu tố đó đã tác động sâu sắc đến vănhọc Việt Nam
1.2.1.2 Sự vận động của văn học
Là bộ phận nhạy cảm nhất của xã hội, văn học nghệ thuật cũng không thể
đứng yên trước sự chuyển mình của đất nước “Nền tảng của mọi sự đổi mới trong
văn học thời kỳ này bắt nguồn từ sự tự y thức của văn học, tức là giác ngộ của văn học về vai trò của nó trong xa hội, quan hệ giữa văn học và chính trị, y nghĩa của
nó đối với con người” [167].
Tư duy văn học cũ ngày càng không lột tả được hết hiện thực cuộc sốngtrong thời kỳ mới Văn học cần có thời gian suy ngẫm để định vị tư thế và cách thểhiện của mình Sự lật trở của tư duy nghệ thuật đã làm cho mối quan hệ giữa vănhọc - hiện thực có sự thay đổi về chất Hiện thực đời sống đa dạng, muôn màumuôn vẻ đã tràn vào văn học không một rào cản nào ngăn được Ngay sau năm
1975, mặc dù vẫn tiếp tục mạch sử thi về đề tài chiến tranh song cách nhìn mới về
hiện thực chiến tranh đã được thể hiện trong các loại hình văn học, từ thơ, văn xuôi
đến kịch Với những trường ca của Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, thơ
Tố Hữu, Chế Lan Viên , kịch của Vũ Dũng Minh, Đào Hồng Cẩm, Tất Đạt , có
Trang 26thể thấy dấu hiệu của sự chuyển biến trong cách nhận thức vấn đề, cách lựa chọn vàkhai thác đối tượng, cách diễn tả những khoảnh khắc và tâm lý phổ biến trongchiến tranh
“Thật ra, ngay từ sau khi ky kết Hiệp định ngừng bắn năm 1973, với những
vở kịch như: Đôi mắt (Vũ Dũng Minh), Đại đội trưởng của tôi (Đào Hồng Cẩm) những dấu hiệu của cái nhìn mới đối với hiện thực chiến tranh đa được bộc lộ Người ta thấy tác động hai mặt của chiến tranh, thấy được cái anh hùng tồn tại bên cạnh cái bình thường, thậm chí tầm thường ở mỗi con người” [165] Dưới cái
nhìn toàn diện của các tác giả, con người trong chiến tranh hiện lên chân thật hơn
và vẻ đẹp của họ mang chất “người” hơn bởi hành trình tâm lý của họ được phảnánh trung thực từ thấp hèn đến cao cả, từ bình thường đến phi thường… Những do
dự của đại đội trưởng Hùng (Đại đội trưởng của tôi), bác sĩ Hải (Đôi mắt)… là
những diễn biến tâm lý có thật Kịch 1975-1985 đã nâng tầm vóc con người trongchiến tranh lên một tầm cao mới, bởi sau những phân vân, do dự ấy là những quyếtđịnh đúng đắn, cao thượng xứng đáng với phẩm chất và lương tâm người chiến sĩ
Tiếng hát tuyệt vời của Đào Hồng Cẩm là vở kịch viết về một câu chuyện tình yêu
trong chiến tranh, một số phận trong muôn vàn số phận bên đường chiến tranh:trong ranh giới mỏng manh giữa sự sống và cái chết, cô gái đã dâng hiến tất cả chochàng trai - người chiến sĩ chuẩn bị bước vào cuộc chiến tranh ác liệt Chàng trai hysinh, để lại giọt máu của mình trong cô Cô gái tiếp tục sống, dũng cảm vượt lên vàhoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình trong chiến tranh: đưa đón bộ đội vàthương binh qua sông Gan dạ, trách nhiệm, cô xứng đáng được phong anh hùng.Nhưng mầm sống trong bụng cô dần lớn lên, cô phải đối mặt với định kiến của dưluận Kịch tính được đẩy lên mức cao trào khi phẩm chất anh hùng mâu thuẫn vớitình riêng chưa được khuôn khổ của đạo lý chấp nhận Cô gái đã quyết tâm bảo vệgiọt máu của người yêu với niềm tin, khát vọng sống và sự thủy chung son sắt, bởingười chiến sĩ ấy đã bước vào cuộc chiến một mất một còn hết sức bình thản, kiêncường, sự sống ấy trong cô cần phải được giữ gìn, nâng niu, trân trọng Dù lựachọn hướng giải quyết đó, cô sẽ không được công nhận là anh hùng, thậm chí phải
Trang 27chịu búa rìu của dư luận nhưng có lẽ trong sâu thẳm trái tim mỗi người, hành độngcủa cô gái bình thường ấy xứng đáng được tôn vinh gấp trăm ngàn lần bởi trái tim
cô, tình yêu của cô được xây đắp bởi cả lý trí và tình cảm
Nhận thức mới về hiện thực chiến tranh, quan tâm hơn đến số phận conngười, văn học những năm đầu sau chiến tranh đã đến gần hơn với độc giả Đóchính là sự khởi đầu của đổi mới, tạo nên một diện mạo mới của văn học sauchiến tranh
Nhìn chiến tranh từ góc độ cá nhân, các tác phẩm viết về đề tài này không
chỉ “làm sáng rõ những cội nguồn sâu xa nhất đa làm nên sức mạnh thúc đẩy cuộc
chiến đấu trường kỳ của nhân dân ta tới chiến thắng” (Thiếu Mai) mà còn nêu
được những tổn thất, mất mát của dân tộc mà trước đây văn học chưa có điều kiện
phản ánh Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh được viết dưới góc độ “Tay tôi
nâng một tâm sự con người” (Một mình một mâm cơm/Ngồi bên nào cũng lệch/Chị tôi chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền …), Thanh Thảo viết Những người đi tới biển “trên cấp độ những cuộc đời, những mảnh đời vô tận của nhân dân, một nhân dân rất cụ thể, bằng xương bằng thịt” [123,484] Chiến tranh đã trở thành nỗi
day dứt, trăn trở khôn nguôi trong các nhà thơ Viết về chiến tranh, tiếng thơ sauchiến tranh của Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Nguyễn Đức Mậu… không chỉ làm thứcdậy cái hào khí của một thời đã qua mà còn khai thác sâu hơn tâm trạng, nỗi niềmcủa những người lính, những người phụ nữ trong và sau chiến tranh
Có thể nói, văn học đã trăn trở tìm đến cái mới ngay sau năm 1975 Tuynhiên, phải đến quãng đầu những năm tám mươi, văn học mới thực sự bắt kịp với
lịch sử “Xuất hiện một khoảng chân không văn học…vẫn còn cái dư thừa, cái đuôi
kéo dài của thời kỳ văn học trước, tạm gọi là văn học chiến tranh… theo quán tính.
Và lại có, manh nha, vật chất mới còn rất loang, tất nhiên đang vận động, đang hình thành… khó nhọc, chậm chạp nhưng về xu thế lâu dài là hứa hẹn” [134] Khoảng chân không văn học ấy đã chứng tỏ “chúng ta có một nền văn học không
hề tầm thường” [134] Văn học 1975 - 1985 đã tiếp nối tư duy văn học trong chiến
tranh và thai nghén một tư duy văn học mới Khuynh hướng sử thi và cảm hứng
lãng mạn bao trùm văn học thời chiến đã từng bước nhường chỗ cho cảm hứng thế
Trang 28sự, đời tư Vấn đề chiến tranh, số phận, đạo đức, nhân cách, những kiểu tư duy, làm
ăn cũ đều được nhìn nhận từ các góc cạnh khác nhau với ý nghĩa nhân văn mới.Những bất ổn, đổi thay, những mâu thuẫn xung đột gay gắt giữa tiến bộ và lạc hậu,giữa cái đúng, cái hợp quy luật và cái lỗi thời, những số phận riêng tư, những cảmxúc cá nhân… đều được phản ánh sâu sắc và nhân bản trong văn học
Ngay sau năm 1975, quan điểm, cách viết mới đã hình thành nhưng những tưtưởng và lối viết cũ vẫn còn tồn tại Cũng chính trong bối cảnh đó, đã xuất hiệnnhững thay đổi trong tư tưởng dẫn đến những cuộc tranh luận gay gắt, những cuộctìm tòi văn học ráo riết trong cả sáng tác lẫn lý luận phê bình Cuộc “nhận đường”diễn ra lần thứ hai trong văn học Khởi xướng từ những phát biểu của Nguyễn
Minh Châu trong bài Viết về chiến tranh (1978): “Hình như trong y niệm sâu xa
của người Việt Nam chúng ta, hiện thực của văn học có khi không phải là cái hiện thực đang tồn tại mà là cái hiện thực mọi người đang hi vọng, đang mơ ước” [60],
Hoàng Ngọc Hiến đã đưa ra vấn đề chủ nghĩa hiện thực phải đạo (Về một đặc điểm
của văn học nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua - Văn nghệ số 23, ra ngày
9/6/1979) - quan niệm đã gây ra bao nhiêu sóng gió trên văn đàn Việt Nam, đã gặpnhiều phản ứng gay gắt, dữ dội… Phát biểu của Hoàng Ngọc Hiến về đối tượng
miêu tả chủ yếu của văn chương bấy lâu nay (cái hiện thực phải - là chứ không phải cái hiện thực đang - là…) chính là đóng góp quan trọng, tác động mạnh mẽ
đến tư duy sáng tác của các nhà văn Nhờ đó mà văn học có những tiếng nói trung
thực hơn, gắn bó hơn với cuộc đời (Tản mạn thời tôi sống - Nguyễn Trọng Tạo,
Tướng về hưu - Nguyễn Huy Thiệp, Bước qua lời nguyền - Tạ Duy Anh, Nỗi buồn chiến tranh - Bảo Ninh…)
Như vậy, sự vận động của văn học thể hiện trước hết ở sự vận động của tưduy nghệ thuật Ý thức đổi mới đã thể hiện khá rõ ở chính các nhà văn Có thể nói,con số 1975 đã trở thành dấu mốc chia sự nghiệp sáng tác của nhiều tác giả nhưNguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Lê Lựu… thành hai giai đoạn khác nhau Sau
năm 1975, đọc “lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”, vẫn khao khát
kiếm tìm hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn con người nhưng Nguyễn Minh Châu
không còn say đắm chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những con người lý tưởng trong Cửa
Trang 29sông, Dấu chân người lính, Mảnh trăng cuối rừng… mà ông đi tìm những hạt ngọc đạo đức nằm trong chính bản thân con người với cuộc đấu tranh giữa phần thiện và
ác, sáng và tối, trong chính những nghịch lý của đời sống… Từ ánh trăng bàng
bạc, lãng mạn trong Mảnh trăng cuối rừng, từ Dấu chân người lính hào hùng,
Nguyễn Minh Châu đã phản ánh hiện thực cuộc sống với cái nhìn đa chiều Nếu
Miền cháy đánh dấu bước chuyển mình của Nguyễn Minh Châu từ cảm hứng sử thi
đầy chất lãng mạn, anh hùng sang chủ nghĩa hiện thực tỉnh táo với sự thật khắc
nghiệt sau chiến tranh đòi hỏi con người cần phải có bản lĩnh vững vàng thì Lửa từ
những ngôi nhà phản ánh bộ mặt khắc khổ của những người lính vốn là anh hùng
xông pha trận mạc nhưng lại ngỡ ngàng trước lo âu thường nhật, xa lạ với đời sốnghòa bình Bước ra từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ là cuộc sống đời thường
mặn chát, nhọc nhằn, cay cực (Chiếc thuyền ngoài xa) Hiện thực nghiệt ngã ấy sau này được miêu tả rõ hơn ở Cỏ lau, Phiên chợ Giát… Vẻ đẹp con người hiện hữu
trong chính cuộc sống đời thường muôn màu ấy
Với đặc trưng thể loại, văn xuôi tỏ ra thích ứng với hoàn cảnh mới hơn cả
Sự vận động, nối tiếp của các xu hướng sáng tác trong văn xuôi mười năm đầu sauchiến tranh đã chứng minh điều đó
1.2.2 Diện mạo văn xuôi thời kỳ hậu chiến
Diện mạo của một giai đoạn văn học không phải là sự cộng gộp đơn giản cácgiai đoạn phát triển, các hiện tượng văn học hay các thể loại của nó… Mỗi giaiđoạn văn học đều có diện mạo với quy luật và đặc điểm riêng Dựa vào các chặngđường phát triển, sự vận động của các khuynh hướng và các thể loại, chúng tôi
muốn nhận diện một cách khái quát nhất về sinh thể văn xuôi 1975 -1985 với sự
vận động về cả nội dung và hình thức nghệ thuật để chuẩn bị những tiền đề cho đổimới văn học
1.2.2.1 Các chặng đường phát triển
Văn xuôi nửa cuối thập kỉ bảy mươi
Những năm cuối thập kỉ bảy mươi, văn học dường như vẫn còn được kíchthích bởi niềm vui chiến thắng Giống như một cỗ xe khổng lồ đang chạy theo quántính vượt qua ranh giới lịch sử, văn học quãng thời gian này vẫn tiếp tục khai thác
Trang 30đề tài chiến tranh, theo hướng tổng kết lịch sử, tổng kết sự kiện Khoảng năm nămđầu sau chiến thắng năm 1975, văn xuôi về cơ bản vẫn tiếp tục phát triển theonhững quy luật và những cảm hứng chủ đạo trong thời kỳ chiến tranh Nhữngchiêm nghiệm sâu sắc từ sau cuộc chiến đã giúp nhà văn có cách nhìn nhận, mô tảmới về chiến tranh, tầm vóc các sự kiện và con người trong cuộc chiến
“Về mặt lịch sử, văn học chiến tranh Việt Nam đa cung cấp cho các nhà sử học và xa hội một bức tranh sáng rõ về thực tế của cuộc chiến… Văn học Việt Nam viết về chiến tranh thực sự đa chạm đến trái tim người Mỹ” (Văn học chiến tranh Việt Nam - một cái nhìn khái quát của Gabrielle Schrader, http://helium.com) Đó
là lời nhận xét của người Mỹ về văn học Việt Nam viết về chiến tranh Thật vậy,văn học viết về chiến tranh sau chiến tranh đã có hướng khai thác mới mẻ so vớivăn học viết về chiến tranh trong chiến tranh Trên cơ sở của chủ nghĩa nhân đạo,chiến tranh đã được nhìn nhận như một biến cố bất thường, phi nhân đạo bởi nhữngmất mát, bi thảm trong số phận con người Nhưng cũng chính chiến tranh, chínhmôi trường hủy diệt ấy lại là lò lửa thử thách ý chí con người, là môi trường kiểmchứng các giá trị tinh thần tốt đẹp của con người và xã hội
Đó cũng là cách nhìn ở Đất trắng, Ky sự miền đất lửa, Trong cơn gió lốc,
Miền cháy Chiến tranh đã được nhận thức và lý giải ở những chiều sâu khám
phá và chất lượng nghệ thuật mới Điều này đã được nhà văn Nga I.U.Bondarev
phát biểu một cách thuyết phục: “Trong những truyện viết về chiến tranh, điều
đặc biệt lí thú đối với tôi là xem những người lính ở tiền tuyến hàng ngày, hàng giờ khắc phục bản thân mình như thế nào Theo tôi đó là phẩm chất anh hùng trong chiến tranh Con người trong chiến tranh mà không cảm thấy những tình cảm tự nhiên trước sự nguy hiểm và nguy cơ có thể chết thì đó là một hiện tượng không bình thường Trong trường hợp này khó có thể trở thành nghệ thuật hiện thực được” [165,5]
Bên cạnh âm hưởng sử thi về cuộc kháng chiến vĩ đại và những người con
ưu tú của dân tộc, văn xuôi, đặc biệt là tiểu thuyết đã đi vào mô tả, khám phá nhữngdiễn biến tinh vi nhất trong tâm lý con người thời chiến Trong pho sử thi viết vềchiến tranh của dân tộc Việt Nam anh hùng, đã xuất hiện những con người hoang
Trang 31mang, dao động, xuất hiện những kẻ phản bội xấu xa ở chính hàng ngũ của ta.Trong những trang viết lãng mạn, hào hùng, đã xuất hiện khá nhiều sự thô ráp, trầntrụi của bom đạn, máu lửa chết chóc… Những góc nhìn cận cảnh đã phản ánhchiến tranh như nó vốn có, khiến người ta nhìn chiến tranh toàn diện, sâu sắc hơn,thấm thía cái giá chúng ta đã phải trả để có được hòa bình, từ đó trân trọng và biếtgiữ gìn hơn hạnh phúc đang có trong tay Sử thi không còn vẹn nguyên màu xanhlãng mạn, huyền thoại mà đã nhuốm màu thế sự, sử thi chỉ còn là cái nền, để từ đó,
ý chí con người được tô đậm Cái mới đã manh nha xuất hiện trong những trangviết đa màu ấy Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, hàng loạt tác phẩm viết về đề tài
chiến tranh đã có sự vận động, thay đổi Từ rất sớm, những tác phẩm như Miền
cháy (Nguyễn Minh Châu), Hai người trở lại trung đoàn (Thái Bá Lợi), Ky sự miền đất lửa (Nguyễn Sinh - Vũ Kỳ Lân) đã mang trong mình những đóng góp
báo hiệu cho xu hướng vận động của văn học trước khi bước vào thời kỳ đổi mới.Khoảng năm năm cuối thập kỉ bảy mươi, văn xuôi vẫn vận động theo quán tính (lấylịch sử, sự kiện làm điểm quy chiếu) nhưng đã có ý thức vượt quán tính (quan tâm
hơn đến số phận con người) Khả năng khai thác những diễn biến nội tâm phức tạp,
những mối quan hệ éo le, những số phận bi kịch trong và sau chiến tranh… đã
khiến tác phẩm chân thật hơn, gần gũi hơn với độc giả Trong cơn gió lốc (Khuất Quang Thụy), Nắng đồng bằng (Chu Lai), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Ky sự
miền đất lửa (Nguyễn Sinh- Vũ Kỳ Lân), Năm 1975 họ đa sống như thế (Nguyễn
Trí Huân), Hai người trở lại trung đoàn, Họ cùng thời với những ai (Thái Bá Lợi),
Miền cháy (Nguyễn Minh Châu)… là những tác phẩm mang trong mình những dấu
hiệu mới mặc dù cái mới ấy chỉ là những “dự cảm, trăn trở nhưng nó có sức ám
ảnh, đòi bạn đọc phải suy nghĩ nghiêm túc” [52,194]
Những dấu hiệu manh nha ấy chính là dự báo đầu tiên cho cao trào tiểu
thuyết viết về chiến tranh sau này mà đỉnh cao của nó là Nỗi buồn chiến tranh của
Bảo Ninh, hàng loạt tiểu thuyết của Chu Lai… Văn xuôi viết về chiến tranh sau
1986 bên cạnh cảm hứng bi tráng đã xuất hiện yếu tố của cảm hứng bi kịch
Văn xuôi nửa đầu thập kỉ tám mươi
Trang 32Nửa đầu những năm tám mươi, văn học dường như chững lại, thai nghén, để
có những nỗ lực tìm tòi đổi mới đầu tiên Văn học trở về với khuynh hướng thế sự
“Cuộc đời đa sự, con người đa đoan” (Nguyễn Minh Châu) buộc văn học phản ánh
hiện thực trong cái nhìn nhiều chiều, đa diện Cảm hứng đời tư đã khiến các tác giảchuyển mối quan tâm từ các vấn đề lớn lao của thời đại, của dân tộc sang khám phánhững tình cảm thầm kín, riêng tư của mình và mọi người trong cuộc sống thườngnhật
Trả lời báo Văn nghệ về công cuộc đổi mới, nhà văn Nguyên Ngọc nói: “Tôi
hiểu đổi mới chẳng phải là bịa ra một cái gì mới, chưa từng có, mà là trở lại nhìn nhận hiện thực sao cho tỉnh táo hơn, khách quan hơn, hiện thực hơn, hiện thực đúng như nó có, không tô vẽ, không che giấu, cũng không cắt xén” Những dấu
hiệu dự báo đổi mới ấy đã manh nha từ ngay sau khi đất nước giành chiến thắng và
trở thành xu hướng rõ rệt từ khoảng đầu thập kỉ tám mươi “Đọc lời ai điếu cho
một giai đoạn văn nghệ minh họa” [55], văn học trở lại đúng chức năng, ý nghĩa
của mình, tiếp cận cuộc sống từ nhiều hướng, dám nhìn thẳng vào sự thật, đi thẳngvào những vấn đề nóng bỏng của xã hội Đó cũng là sự vận động khách quan củavăn học, phù hợp với sự vận động của lịch sử
Khi văn học cần những ăng ten mới để bắt vào hiện thực đời sống thì văn học - báo chí ra đời Cù lao Tràm - cuốn tiểu thuyết đầy chất phóng sự của Nguyễn Mạnh Tuấn là một trong những ăng ten ấy “Nó kéo văn học đang thánh thót ở bè
cao xuống cái trần tục đời thường nhờ đó bắt một cái vòi có lưu lượng mạnh của hiện thực ngổn ngang mới ùa tràn vào văn học, đem lại sinh khí cho văn học”
[134] Tác phẩm của Nguyễn Mạnh Tuấn đã khơi nguồn cho xu hướng văn học
“nhìn thẳng vào sự thật” phát triển mạnh mẽ từ đầu thập kỉ tám mươi Tuy nhiên,
xu hướng văn học này mang chất phóng sự, báo chí nên chỉ có giá trị trong mộtthời điểm nhất định Bên cạnh đó, âm thầm nhưng bền bỉ là mảng văn xuôi viết về
đời sống con người, lấy con người làm trung tâm phản ánh Người đàn bà trên
chuyến tàu tốc hành và Bến quê của Nguyễn Minh Châu, Mùa lá rụng trong vườn
của Ma Văn Kháng, Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người của Nguyễn Khải,
Trang 33Cuộc đời bên ngoài của Vũ Huy Anh là những phát hiện phong phú về con người
- con người cá nhân phức tạp, lưỡng diện…
Văn học nửa đầu những năm tám mươi gắn liền với sự thay đổi quan niệm
về hiện thực, “từ hiện thực của các sự kiện, biến cố lịch sử đến hiện thực về con
người, từ cái nhìn một chiều đến cái nhìn nhiều chiều” [52,204] Hiện thực không
phải là hiện thực mơ ước, hiện thực được lý tưởng hóa như trong văn học
1945-1975 Hiện thực cuộc sống như chính nó đang tồn tại đã được phát hiện, mổ xẻ.Những mặt trái còn khuất lấp, những cái xấu, cái lỗi thời được phản ánh một cáchtrực diện, không né tránh Đó cũng là cái nhìn khách quan, toàn diện của văn xuôihậu chiến để hướng tới một hiện thực tốt đẹp hơn
Bức tranh của Nguyễn Minh Châu là cuộc tự vấn lương tâm để nhìn rõ
“khuôn mặt bên trong của chính mình” Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng)
là cuộc khủng hoảng của một mô hình gia đình đã từng là mẫu mực ở giai đoạn
trước, khi “lối sống ích kỉ buông thả theo những dục vọng thấp hèn, coi tiền là trên
hết, bất chấp mọi nguyên tắc, luật lệ của đạo đức xa hội đang có nguy cơ xâm nhập vào từng gia đình, làm đảo lộn tất cả những gì trước đây cho là thiêng liêng, cao cả” (Hà Minh Đức) Hàng loạt truyện ngắn của Ma Văn Kháng, Đỗ Chu, Lê
Minh Khuê, Bảo Ninh… đã tiếp cận hiện thực cuộc sống từ cái nhìn đa chiều, rútgần khoảng cách giữa văn học và cuộc đời Tiểu thuyết của Nguyễn Khải, NguyễnMạnh Tuấn phản ánh quá trình đấu tranh với cái cũ, cái tiêu cực để hòa hợp và pháttriển trong cuộc sống mới…
Sự thay đổi quan niệm về hiện thực trong văn xuôi nửa đầu những năm támmươi đã dẫn đến những thay đổi đầu tiên trong quan niệm nghệ thuật về con người.Con người từ điểm nhìn lịch sử đã được đặt trong điểm nhìn thế sự, đời tư, trởthành tâm điểm soi chiếu lịch sử Bắt đầu từ Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng…con người tự thú, con người phức tạp, lưỡng diện… đã xuất hiện, khác với kiểu conngười đơn diện trước 1975 Dấu hiệu đổi mới này đã mang lại cho văn xuôi hàngloạt biểu hiện khác nhau của quan niệm nghệ thuật về con người trong văn xuôi sau1986: con người tự nhiên, con người bi kịch, con người cô đơn, con người tâmlinh… trong văn xuôi Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Hồ Anh
Trang 34Thái… Đổi mới ấy mang lại sự phong phú, đa dạng trong thế giới nhân vật, trongnhận thức thẩm mĩ của văn xuôi.
Chính trong quãng thời gian này đã diễn ra sự vận động ở chiều sâu của đời
sống văn học với những trăn trở, tìm tòi, “khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng
tạo những gì chưa có” (Nam Cao) của những nhà văn chân chính Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê, Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người (Nguyễn Khải), Đứng trước biển, Cù lao tràm (Nguyễn Mạnh Tuấn), Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng), Thời xa vắng (Lê Lựu)… là những thể nghiệm đầu tiên với sự chuyển đổi đề tài, cảm hứng
và những sáng tạo mới trong nghệ thuật trần thuật
Nhìn lại văn xuôi thời kỳ hậu chiến, chúng ta thấy văn xuôi giai đoạn này đã
kế thừa và phát huy những giá trị của văn học thời kỳ trước Đồng thời, nhận thứcđược những bất cập của cơ chế, sự vênh lệch giữa tư duy và thời đại để phản ánhhiện thực cuộc sống và từ đó phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng của dân tộc Hiệnthực phản ánh của văn học nói chung và văn xuôi nói riêng không chỉ là hiện thựccách mạng, là các biến cố, sự kiện trọng đại mà còn là hiện thực đời sống thườngngày với các quan hệ cá nhân chồng chéo, là những mảnh đời, số phận riêng tư, lànhững khát vọng cao cả lẫn dục vọng tầm thường, niềm vui và nước mắt, hạnhphúc và bi kịch…
Văn xuôi thời kỳ hậu chiến thể hiện rõ quy luật vận động của văn học - quyluật kế thừa và sáng tạo Sự kế thừa thành công những thành quả của văn xuôi1945-1975 và những dấu hiệu cách tân chuẩn bị cho công cuộc đổi mới đã thể hiệnkhá rõ nét ở văn xuôi giai đoạn chuyển giao này Sự thay đổi trong quan niệm vềhiện thực và con người đã thể hiện ý thức đổi mới sâu sắc của các nhà văn Nhưvậy, văn xuôi 1975-1985 là giai đoạn chuẩn bị âm thầm nhưng tích cực cho côngcuộc đổi mới văn học sau 1986
1.2.2.2 Các khuynh hướng chính
Khái niệm khuynh hướng “ghi nhận tính cộng đồng về cơ sở tư tưởng thẩm
mĩ của nội dung nghệ thuật, tính cộng đồng này quy định bởi sự gần gũi trong cách hiểu của các nhà văn đối với các vấn đề của đời sống, bởi sự giống nhau về các
Trang 35tình thế xa hội, thời đại, văn hóa, nghệ thuật [127, 737] Theo nhà nghiên cứu Hà
Minh Đức, “khuynh hướng văn học có liên quan đến nhiều phương diện của sáng
tác như: thái độ của nhà văn đối với hiện thực, với cách xây dựng nhân vật, với thị hiếu thẩm mĩ, với lí tưởng thẩm mĩ, với cảm hứng sáng tạo…” [70,259] Sau năm
1975, sự thay đổi về lịch sử, xã hội, sự thay đổi tư duy nghệ thuật, thị hiếu tiếpnhận… đã tác động đến sáng tác của các nhà văn Căn cứ vào đề tài, cảm hứng,chúng tôi phân chia các khuynh hướng văn xuôi thời kỳ này như sau:
Khuynh hướng viết về chiến tranh với cái nhìn bi tráng
Sự vận động của văn học không phải bao giờ cũng bắt kịp với sự vận độngcủa lịch sử Sau 1975, dường như có một sự lệch pha giữa văn học và đời sống.Khoảng cách giữa văn học với thực tại lịch sử và công chúng đã khiến các nhà vănphải nhìn nhận lại cách viết của mình Câu hỏi chi phối văn học lúc này không chỉ
là viết cái gì? mà còn là viết như thế nào? Đề tài chiến tranh vẫn có sức hút mạnh
mẽ với ngòi bút, đặc biệt với những nhà văn chiến sĩ, những người đã trải qua cuộcchiến bằng chính những trải nghiệm của mình Vậy thì viết về chiến tranh sau chiếntranh như thế nào? Câu hỏi đặt ra buộc nhà văn phải ý thức rõ, đã qua rồi thời kỳvăn học sử thi đầy lãng mạn, đã đến lúc phải hình thành ngôn ngữ mới để phản ánhhiện thực phức tạp của cuộc sống
“Cuộc chiến tranh càng lùi xa, kí ức về chiến tranh càng hiện rõ và được cô đọng Nhưng cuộc chiến tranh đi vào trang sách của các nhà văn lại phải được mở rộng những chiều kích khác nhau của nó Bởi giờ đây, người đọc có quyền được nhận thức về hai cuộc chiến tranh vô cùng khốc liệt đa qua như chính nó từng hiện diện” [115,219-220] Thiết nghĩ, nhu cầu của người đọc là chính đáng và yêu cầu
đổi mới với nhà văn là cần thiết Sẽ là thiếu sót và phiến diện nếu thế hệ trẻ sinh ratrong hòa bình chỉ được biết về chiến tranh với không khí hào hùng, với nhữngchiến công và chiến thắng, chỉ biết hân hoan hưởng tự do mà không biết rằng nóđược đánh đổi bằng xương máu của hàng triệu triệu con người
Chiến tranh đi qua, lòng người bình tâm trở lại, người ta thừa nhận mất máttrong chiến tranh là điều không thể tránh khỏi Văn học giai đoạn này nhìn nhận lạicuộc chiến bằng cái nhìn hiện thực là cách để trân trọng và phát huy những gì đã
Trang 36có, là khẳng định: dân tộc ta đã vượt lên tất cả - gian khổ, ác liệt, hy sinh - để chiếnthắng Mở rộng phạm vi hiện thực và quan tâm đến số phận con người chính lànhững nỗ lực đầu tiên của văn xuôi viết về chiến tranh thời kỳ hậu chiến Hầu hếtcác tác phẩm văn xuôi thuộc khuynh hướng này đều khai thác chiến tranh với cáinhìn bi tráng Đó chính là sự đổi mới mà văn xuôi trước 1975 chưa vươn tới được.
Cái bi là một phạm trù thẩm mĩ, gắn với buồn, đau thương, mất mát,
“tráng” là mạnh mẽ, hào hùng, cương quyết… Văn học 1945-1975 thiên về cái
“tráng”, về chí khí mạnh mẽ, hào hùng của dân tộc, cái “bi” hầu như rất ít xuất
hiện, nếu có cũng chỉ là nền để tô đậm cái “tráng” Sau 1975, với sự thay đổi quan niệm về hiện thực, văn học đã nghiêng về khai thác cái bi nhiều hơn, tuy nhiên ở giai đoạn 1975-1985, cái bi và tráng vẫn đan xen với nhau, khai thác cái
bi để khẳng định cái tráng Sau 1986, cái bi đã không còn âm hưởng bi tráng mà
thiên về cảm hứng bi kịch
Giai đoạn 1975-1985, cái nhìn bi tráng được khai thác gắn liền với đề tài
chiến tranh, bi ở sự chết chóc, hủy diệt của chiến tranh, ở những số phận đau
thương trong và sau chiến tranh, ở những hậu quả ghê gớm của chiến tranh còn để
lại đến hôm nay; tráng ở chí khí của con người, vượt qua tất cả để giành chiến
thắng, ở sự vươn lên số phận ngay trong cuộc sống đời thường Sự phản ánh đachiều ấy đã góp phần đem lại cái nhìn toàn diện về chiến tranh, khiến đời sốngchiến tranh trở nên chân thật và chiến tranh trở về đúng nghĩa của nó
Chiến tranh đã được mô tả, khắc họa trong những hoàn cảnh ác liệt, vớinhững sự thật trần trụi, với diễn biến tâm lý phức tạp của cán bộ, chiến sĩ, vớinhững số phận bi thảm, những vết thương sâu thẳm trong trái tim con người trong
và sau cuộc chiến Khai thác chiến tranh ở phạm trù cái bi, văn xuôi thời kỳ hậuchiến thể hiện cảm hứng nhân đạo sâu sắc Những trang viết về chiến tranh với cáinhìn chân thực, sinh động đã cung cấp cho bạn đọc về một hiện thực không bị lýtưởng hóa, hiện thực như nó vốn có Đó là điều cần thiết và hợp quy luật, bởi chođến tận bây giờ, chiến tranh đã lùi xa gần bốn mươi năm nhưng hậu quả nặng nềcủa nó vẫn như cái vòi bạch tuộc bám chặt con người Vẫn còn đó những mảnh đất
xác xơ, những số phận bi thảm vì bom đạn; có những người lính trở về với “vết
Trang 37chân tròn trên cát”, với thương tích, bệnh tật và những cảnh đời éo le, thầm lặng,
cô đơn; nhiều người lính đã mãi mãi nằm lại chiến trường, để lại trong biết bao giađình, bao con người nỗi day dứt, ngóng đợi, để lại những hành trình đi tìm ngườithân, đồng đội trong khó nhọc, gian truân… ; có những đứa trẻ lớn lên mang đầy dịtật… bởi chúng là nạn nhân của chất độc màu da cam
Trong văn xuôi 1945-1975, người đọc nhớ về cuộc kháng chiến của dân tộcvới những người con ưu tú: chị Út Tịch (Người mẹ cầm súng), anh Nguyễn Văn Trỗi (Sống như Anh), chị Sứ (Hòn đất), anh hùng Núp (Đất nước đứng lên)…,với
mối tình đẹp, lãng mạn như huyền thoại của Nguyệt - Lãm (Mảnh trăng cuối rừng),
với hình ảnh con người Tây Nguyên chịu nhiều đau thương nhưng kiên cường, quật
khởi (Rừng xà nu)… Những mất mát, đau thương là nền tảng để vút lên ý chí, sứcmạnh của con người Sau 1975, văn học dường như trầm lại Mở ra trước mắtngười đọc những chiến dịch rộng lớn, những cuộc chiến kéo dài với bao khó khăn,gian khổ, với rất nhiều mất mát, hy sinh Đó là cuộc chiến đấu trên đường 13 để giữvững vùng chiến lược Tàu Ô, là chiến dịch giải phóng Phước Long, chiến dịch Hồ
Chí Minh lịch sử trong Đất miền Đông của Nam Hà, là những chặng đường hành quân gian khổ, những cuộc chiến khốc liệt trong Nắng đồng bằng của Chu Lai,
Trong cơn gió lốc của Khuất Quang Thụy, Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh, Biển gọi của Hồ Phương…Trên những chặng đường ấy, người lính phải đối mặt với
rất nhiều khó khăn, thử thách Chiến tranh đồng nghĩa với sự hủy diệt Bất cứ ngườilính nào cũng phải chuẩn bị tinh thần đối mặt với cái chết, với đau thương có thểxảy ra bất cứ lúc nào với mình và với người thân Một trận bom Mỹ ném vàotrường học khiến gần một trăm thầy cô giáo và các em học sinh chết và bị thương,
có những em nhỏ đã không tìm thấy xác (Đất miền Đông) Một trận đánh cướp đi
mạng sống của người thanh niên 20 tuổi (người thanh niên sinh ra chưa được biếtmặt cha và người cha còn chưa biết con mình là trai hay gái) sau khi anh mới đoàn
tụ với cha mình sau hơn hai mươi năm xa cách, lần gặp mặt đầu tiên cũng là lần
gặp mặt cuối cùng (Trong cơn gió lốc), mỗi lần bắt đầu một chuyến tàu mới, nhổ
neo dấn thân vào cuộc hành trình tuyệt mật, đầy rẫy gian khó, nguy hiểm bởi cuộc
chiến không cân sức là những chiến sĩ tàu không số sẵn sàng chấp nhận cái chết khi
Trang 38cần thiết và thực tế, để bảo vệ con đường Hồ Chí Minh trên biển, rất nhiều chiến sĩ
đã hy sinh anh dũng trong cuộc chiến ác liệt đó (Biển gọi)…
Nhưng những mất mát, đau thương ấy không làm nhụt chí con người Sứcmạnh dân tộc vẫn tỏa sáng Những cánh rừng, những cung đường bị cày xới cònkhét mùi bom đạn nhưng vẫn sáng ngời ý chí và tinh thần lạc quan Tình yêu đấtnước, khát vọng tự do, tình đồng đội, tình quân dân, tình yêu đôi lứa… đã quyệnvào nhau, tiếp thêm sức mạnh chiến đấu, thêm động lực giúp người lính đứng vữngtrên trận tuyến để bảo vệ từng tấc đất của quê hương Tráng chí hào hùng của ngườilính vẫn được tô đậm từ những phẩm chất anh hùng: ý chí kiên định, ngoan cường,lòng trung thành tuyệt đối, lòng gan dạ, đức hy sinh… Hình ảnh trung đội gió lốcquả cảm, những chiến sĩ đặc công, trinh sát, giao liên, du kích, những chiến sĩ hảiquân… dù là nhân vật chính hay phụ, dù xuất hiện nhiều hay ít… đều lấp lánh vẻđẹp của con người Việt Nam trong chiến tranh Sức mạnh tập thể được nhân lên từnhững người chiến sĩ quả cảm ấy chính là lý do khiến một dân tộc nhỏ bé có thểđánh thắng những kẻ thù hùng mạnh, ngông cuồng, tàn bạo
Nhìn chiến tranh ở cả hai chiều sáng và tối, ở những chiến công và những
gian khổ, hy sinh, văn xuôi 1975-1985 đã mở thêm một “lối rẽ mới trên dặm dài
chiến tranh” (Nguyễn Hòa), giúp người đọc nhìn sâu hơn vào hai cuộc chiến đã
qua của dân tộc Cuộc chiến ấy có vinh quang nhưng cũng đầy mất mát, hy sinh, cócay đắng, ngọt ngào, có tình yêu trong sáng, đẹp đẽ nhưng cũng có những toan tínhthấp hèn, có phẩm chất cao thượng và cũng có những dục vọng tầm thường….Nhận thức mới về chiến tranh để hiểu hơn về quá khứ, về cái giá phải trả cho độclập, tự do của Tổ quốc, để trân trọng hiện tại và suy ngẫm về tương lai, về tráchnhiệm của mỗi cá nhân với đất nước, dân tộc Làm được điều đó, văn học đã thựchiện đúng chức năng của mình: hướng con người tới cái đích của chân, thiện, mỹ
Khuynh hướng thế sự, đời tư
Trong Dẫn luận nghiên cứu văn học, nhà nghiên cứu Pôxpêlôp đã phân chia thể loại tự sự thành ba nhóm thể tài, dựa theo ba nhóm chủ đề: chủ đề lịch sử dân
tộc, chủ đề thế sự và chủ đề đời tư.
Trang 39Thể tài lịch sử dân tộc tập trung “miêu tả con người trong quá trình tham
gia tích cực vào các sự kiện của đời sống dân tộc (trong chiến tranh giải phóng dân tộc, trong phong trào cách mạng…) Nếu nhân vật được miêu tả trong nhóm
thể tài này là những con người mà “hành động và khát vọng của họ gắn liền với lợi
ích và lí tưởng tập thể chung của dân tộc” [71,395] thì “các tính cách trong thể tài thế sự thường mang tính đại diện: các nhân vật là những đại biểu của môi trường mình, là sự thể hiện các khuyết điểm hoặc phẩm chất tốt đẹp của môi trường xa hội ấy” [71,398]; còn trong thể tài đời tư, nhân vật được miêu tả trong “sự phát triển tính cách của những con người cá biệt trong quan hệ của nó với hoàn cảnh”
[71,401], đó là “cuộc đời và số phận của những con người riêng lẻ… trong mối
xung đột với hoàn cảnh chung quanh” [71,392]
Như vậy, sự phân biệt rõ rệt nhất giữa các nhóm thể tài là đối tượng miêu tả
của nhà văn, trong nhóm thể tài lịch sử dân tộc, con người được phản ánh trong
mối quan hệ với các sự kiện trọng đại của lịch sử, hành động của họ gắn liền với lợi
ích cộng đồng Trong nhóm thể tài thế sự - đời tư, con người được nhìn nhận trong
mối quan hệ với môi trường nhỏ xung quanh và hoàn cảnh riêng của nó, cái được
nhà văn nhấn mạnh là tính cách, số phận cá nhân. Khuynh hướng thế sự - đời tưđược hình thành từ đó
Trong văn xuôi 1945-1975, các tác phẩm chủ yếu thuộc thể tài lịch sử dân
tộc, phản ánh chủ đề lịch sử dân tộc: “tập trung vào những sự kiện có y nghĩa
quyết định đối với vận mệnh lịch sử của các dân tộc và các quốc gia, những sự kiện gắn liền với hoạt động có y nghĩa to lớn của những con người xuất chúng, dám nhận lấy trách nhiệm bảo vệ quyền lợi này khác của dân tộc” [71,391] Hoàn
cảnh chiến tranh đã chi phối mạnh mẽ đến văn học, do đó, guồng quay của chiếntranh đã tác động đến mọi thể loại văn học
Sau 1975, đất nước được giải phóng, cái TA cộng đồng không phải là sứmệnh duy nhất đặt lên vai mọi người, bởi lúc này, vai trò của cái TÔI, của cánhân được nhấn mạnh Sự chuyển đổi từ thể tài lịch sử dân tộc sang thể tài thế sự
- đời tư là một bước chuyển hợp lý Khuynh hướng thế sự - đời tư xuất hiện chủyếu trong văn học từ đầu thập kỉ tám mươi, khi các vấn đề của đời sống hàng
Trang 40ngày và vấn đề đạo đức, nhân cách con người trở thành đối tượng khám phá chínhcủa văn học Nhu cầu nhận thức mới xuất hiện, mọi vấn đề trong quá khứ, nhữngbất cập của hiện tại đều được nhìn nhận bằng cảm hứng nghiên cứu, phân tích.Con người được soi ngắm bằng thước đo nhân bản trong quá trình vươn tới vàhoàn thiện nhân cách
Khám phá đời sống muôn màu, muôn vẻ trong cái hàng ngày, trong quan hệthế sự - đời tư, văn xuôi đã tạo nên sức thuyết phục với độc giả Những biến cố, sựkiện không còn là trung tâm chú ý mà chỉ là đường viền cho số phận nhân vật.Những câu chuyện hàng ngày, những cảnh ngộ bình thường, những quan hệ nhânsinh phức tạp, rối rắm, những khát khao tự nhiên và bản năng nhất của con người…đều được soi chiếu trên trang viết Từ đó, nhà văn tìm đến, chắt chiu từng vẻ đẹptâm hồn con người, hướng con người tới cái đẹp, cái thiện Tác phẩm của Ma VănKháng, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Thái Bá Lợi, Lê Minh Khuê, Bùi Hiển,Ngô Thị Kim Cúc… là những sáng tác như vậy
Nguyễn Khải chú ý tới sự lựa chọn của cá nhân để thích ứng với cuộc sống
hiện tại (Cha và Con và là thái độ trước tôn giáo và cuộc đời, Gặp gỡ cuối năm
là thái độ trước cuộc sống mới, Thời gian của người lại là cách sống với quan
niệm tích cực về thời gian), Nguyễn Mạnh Tuấn nhạy cảm với những vấn đề bứcthiết, quan hệ trực tiếp, máu thịt với người dân miền Nam (những xung đột nghiệt
ngã giữa hai ý thức hệ trong Những khoảng cách còn lại, những yếu kém trong quản lý kinh tế ở Đứng trước biển, nhu cầu đổi mới nông thôn Nam Bộ trong Cù
lao Tràm), Nguyễn Minh Châu quan tâm tới cuộc đấu tranh giữa phần sáng - tối,
trong - đục ở mỗi con người, tới vấn đề đạo đức, nhân cách (tập truyện Người
đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê), Ma Văn Kháng, Dương Thu Hương
hướng ngòi bút về quan hệ giữa các cá nhân trong gia đình, về các vấn đề tìnhyêu, hạnh phúc
“Từ chỗ đứng quen thuộc như lâu nay vẫn gọi là hướng ngoại” nhà văn đã
“chuyển dần sang cái nhìn từ bên trong, lấy chính cái đốm lửa leo lét từ số phận
cá nhân mà soi ra xa hội, cuộc đời” [105] Viết về cái hàng ngày, về con người