1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân trong công cuộc đổi mới hiện nay ở việt nam

83 1,3K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân trong công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam
Người hướng dẫn PHT. Hà Lê Dũng
Trường học Trường Đại học Khoa học Huế
Chuyên ngành Chính trị học
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 838 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy tôi chọn đề tài “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân trong công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu tốt nghiệp của mình

Trang 1

Tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy,

cô giáo trong Khoa Lý luận Chính trị Trường Đại học Khoa học Huế đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt những năm học vừa qua.

-Đặc biệt, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy Hà Lê Dũng - người đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp này.

Xin chân thành cảm ơn!

Huế, tháng 05 năm 2011 Sinh viên: Nguyễn Thị Mai Lê

Trang 2

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Tôn giáo xét như một sinh hoạt tinh thần là niềm tin vào các lực lượngsiêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trựcgiác và tác động qua lại một cách siêu thực (hay hư ảo) với con người,nhằm

lý giải những vấn đề trên trần thế, cũng như thế giới bên kia Niềm tin đóđược biểu hiện rất đa dạng, tùy thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vậnhành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộngđồng xã hội hay tôn giáo khác nhau Với tư cách là một thực thể xã hội, và làmột hình thái ý thức xã hội, tôn giáo phản ánh thế giới khách quan một cáchhoang đường và hư ảo Do nguồn gốc ra đời của mình, tôn giáo mang trongmình tính chất chính trị đặc biệt Khi xã hội giai cấp xuất hiện, giai cấp cầmquyền đã lợi dụng tính chất đặc biệt này của tôn giáo biến nó trở thành công

cụ chính trị nhằm bóc lột quần chúng nhân dân lao động cũng như bảo vệquyền lợi của giai cấp mình Vì vậy, tôn giáo đã trở thành vấn đề chính trịnhạy cảm và luôn được các nhà khoa học nghiên cứu

Tôn giáo luôn tồn tại hai mặt đó là nhu cầu về tín ngưỡng, tôn giáo chânchính của nhân dân và một bộ phận lợi dụng mục đích của tôn giáo để mêhoặc quần chúng nhân dân Phân biệt được đâu là tôn giáo chân chính vàđâu là giả trang tôn giáo, chúng ta mới tránh được khuynh hướng tả hayhữu trong quá trình quản lý, ứng xử với những vấn đề nảy sinh từ tínngưỡng, tôn giáo

Có thể nhận thấy nhu cầu về tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu về tinh thầnchính đáng của đồng bào có đạo và tồn tại lâu dài, khó có thể mất đi Tất cả mọihành vi, biểu hiện vi phạm diều này là trái với tư tưởng của chủ nghĩa Mác -Lênin xuất phát từ lợi ích giai cấp, dân tộc và anh ninh quốc gia Đối với nhànước xã hội chủ nghĩa phải thường xuyên đấu tranh chống lại các nhân tó phảnđộng trong tôn giáo để bảo vệ sự vững chắc của nhà nước cách mạng

Trang 3

Ngày nay, các thế lực phản động quốc tế đang lợi dụng tôn giáo dể thựchiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm tiến hành bạo loạn lật đổ, xóa

bỏ chủ nghĩa xã hội ở các nước xã hôi chủ nghĩa còn lại trên thế giớ trong

đó có Việt Nam Với xu thế hội nhập ngày hôm nay, Việt Nam cũng nhưcác quốc gia khác đã mở rộng cánh cửa hội nhập với thế giới Nhưng sựhòa nhập này không những đem đến cho Việt Nam một luồng gió mới.Song không phải tất cả mọi vấn đề đều có lợi thế mà nó còn đặt ra nhiềuvấn đề cần phải giải quyết Mỗi một quốc gia đều có những nét riêng vềvăn hóa, chính trị, nhưng sự du nhập tràn lan của văn hóa nước ngoài khiếncho người dân khó có thể lựa chọn được những kiến thức về văn hóa, xãhội…phù hợp với trình độ nhận thức của bản thân mình Tôn giáo vì thếngày càng trở nên nhạy cảm và dễ bị kẻ thù lợi dụng Nó đặt ra một bàitoán mới về chính sách tôn giáo phù hợp cho Đảng và nhà nước ta Nhưngnhững thủ đoạn của kẻ thù ngày càng tinh vi, sức phá hoại ngày càng lớnhơn Vì vậy, vấn đề nhận thức sự đúng đắn trong chính sách tôn giáo ngàycàng trở nên quan trọng Không phải ai cũng có đủ năng lực để nhận thứcđúng đắn, biết tiếp thu vấn đề một cách chính xác mà không bị “hòa tan”vào “nó” hoặc sẽ không đi nhầm đường Kẻ thù cũng đã lợi dụng sự hòanhập này để tiến hành âm mưu của mình Một bộ phận nhỏ người dânkhông có lập trường vững chắc đã bị lung lay trước luận điệu của kẻ thù Tôn giáo đã và đang trở thành một điểm nóng và nhạy cảm trong đường

lối xây dựng đất nước hiện nay Vì vậy tôi chọn đề tài “Vận dụng tư tưởng

Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân trong công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam” để làm đề tài nghiên cứu tốt nghiệp của

mình

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài.

Mấy năm gần đây Đảng và Nhà nước ta đang phát động cuộc thi tìm hiểu

và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, vì vậy các triết lí trong tưtưởng của Người được rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu và viết tham luận

Trang 4

Trong bài viết “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện chính

sách đoàn kết tôn giáo ở Việt Nam”, Thạc sỹ Nguyễn Văn Siu - Học viện

chính trị quân sự đã chỉ ra được tư tưởng của Hồ Chí Minh trong vấn đềđoàn kết trong tôn giáo, chỉ rõ sự đoàn kết này dựa trên cơ sở kết hợp cáclợi ích chung của toàn xã hội Ngoài ra, ông còn chỉ rõ tư tưởng của Ngườikhi nhận định “Đảng Cộng sản chẳng những không tiêu diệt tôn giáo màcòn bảo hộ tôn giáo Đảng Cộng sản chỉ tiêu diệt tội ác người bóc lộtngười” Bên cạnh đó ông còn đề cập đến việc xây dựng các chính sách vềtôn giáo hiện nay dựa trên nhận định về vấn đề tôn giáo của Người

Cũng về tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo, nhà sư Tuệ Quang

lại đề cập đến cái nhìn mới về vấn đề này trong bài viết “Tư tưởng Hồ Chí

Minh về vấn đề tôn giáo” Trong bài viết, ông đã đề cập đến tiền đề của sự

ra đời tư tưởng về tôn giáo trong hệ tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như nộidung về tư tưởng này

Trong bài viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo ở Việt Nam”, Thạc

sỹ Hoàng Ngọc Vĩnh lại đề cập đến các chính sách và quan điềm về tôngiáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tiến sỹ Phạm Huy Thông , trong bài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về công

tác tôn giáo” lại đề cập đến các quan điểm của Người trong việc tiến hành

công tác tôn giáo sao cho phù hợp, chính xác và đạt hiệu quả cao nhất.Tuy các bài viết, các nghiên cứu đều đế cập đến một mặt nhất định vềvấn đề tôn giáo trong tư tưởng Hồ Chí Minh, song tựu chung lại ta vẫn thấyđược nổi bật lên là vấn đề đoàn kết trong tôn giáo cũng như những nhậnđịnh tiến bộ, đúng đắn về vấn đề tôn giáo

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tự do tín ngưỡng tôn giáo

- Chính sách về tôn giáo, tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước ta trongcông cuộc đổi mới xây dựng đất nước hiện nay

Trang 5

3.2 Phạm vi nghiên cứu.

Khóa luận này chỉ đề cập đến tư tưởng về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của

Hồ Chí Minh và việc vận dụng của Đảng ta vào công cuộc đổi mới xâydựng đất nước hiện nay

4 Mục đích, nhiệm vụ.

4.1 Mục đích

Làm sáng tỏ chính sách, đường lối chỉ đạo về tôn giáo của Đảng và Nhànước ta, cũng như sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo,tín ngưỡng vào tong công cuộc dổi mới xây dựng đất nước Chỉ ra được âmmưu của kẻ thù khi lợi dụng chiêu bài “tự do tín ngưỡng, tôn giáo” nhằmlật đổ thành quả cách mạng của quần chúng nhân dân cũng như Đảng vàNhà nước

4.2 Nhiệm vụ:

Luận văn có hai nhiệm vụ chủ yếu

- Khái quát tư tưởng của Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng và tôn giáo

- Làm sáng tỏ sự vận dụng của Đảng ta những tư tưởng này của Ngườivào công cuộc đổi mới hiện

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Ngoài phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là phương pháp cấu trúc hệ thống, lịch

sử, lôgíc, luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như so sánh,phân tích tổng hợp

Trang 6

6 Đóng góp của đề tài.

Khóa luận là sự tìm hiểu thêm của bản thân về vấn đề tự do tín ngưỡng,tôn giáo của Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng ta vào công cuộc đổimới hiện nay

Là sự hệ thống lại các kiến thức các nghiên cứu của các nhà khoa học

khác dực trên hiểu biết của bản thân.

Do vậy, khóa luận không có đóng góp gì đáng kể đối với vấn đề mà bảnthân đã lựa chọn

7 Kết cấu.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo, khóa luận gồm có 2

chương 5 tiết.

Trang 7

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1:

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH

HỒ CHÍ MINH VỀ TỰ DO TÍN NGƯỠNG CỦA NHÂN

DÂN

1.1 Các tiền đề hình thành quan điểm tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong

tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành và phát triển trên nền tảng chủnghĩa Mác - Lênin Trên nền tảng đó, những quan điểm lý luận của Chủ nghĩaMác - Lênin về tôn giáo nói chung và vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo nóiriêng là điểm xuất phát cho những tư tưởng của Hồ Chí Minh về sau khi luậngiải trong điều kiện hoàn cảnh mới của cách mạng Việt Nam

Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tôn giáo không chỉ là hình thái ý thức xãhội mà còn là một thực thể xã hội có quá trình phát sinh và phát triển của

nó Cơ sở đầu tiên dẫn đến sự hình thành của tôn giáo là sự tác động củacác yếu tố kinh tế - xã hội

Khi xã hội công xã nguyên thủy còn tồn tại, trình độ của lực lượng sảnxuất và điều kiện sinh hoạt vật chất còn thấp kém, con người luôn cảm thấyyếu đuối và bất lực trước sự hùng vĩ cũng như khắc nghiệt của mẹ thiênnhiên Cho nên, người nguyên thủy đã gắn những sức mạnh siêu nhiên cho

tự nhiên Rồi con người càng phát triển, xã mội mới ra đời, ngoài sức mạnhcủa tự nhiên, lúc này sức mạnh xã hội đã xuất hiện Và có những lúc conngười cũng không hiểu được nguyên nhân của sức mạnh ấy Lúc này đây,

xã hội đã mất đi “quy luật vàng” từ thời công xã nguyên thủy Xã hội cógiai cấp, xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, những mâu thuẫn đốikháng dần hình thành và ngày càng phát triển Trong xã hội có giai cấp đối

Trang 8

kháng, các mối quan hệ xã hội ngày càng phức tạp, con người càng chịu tácđộng bởi nhiều yếu tố tự phát, ngẫu nhiên, may rủi, bất ngờ…với nhữnghậu quả khó lường nằm ngoài ý muốn và khả năng điều chỉnh của mình.Một lần nữa con người lại bị động, bất lực trước lực lượng tự phát nảy sinhtrong lòng xã hội Cùng với sự bần cùng về kinh tế, cộng thêm sự áp bức vềchính trị, những bất công xã hội luôn luôn hiện diện, sự thất vọng cũng nhưbất lực trong các cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp bị trị con người ta đãdần tin vào tôn giáo.

Ngoài ra, sự xuất hiện của tôn giáo còn do sự nhận thức của con người

về thế giới khách quan Và đây là một quá trình phức tạp, đầy mâu thuẫn.Nhận thức của con người là một quá trình thống nhất giữa nội dung kháchquan và mặt ý thức chủ quan Một mặt, hình thức phản ánh đa dạng, phongphú bao nhiêu thì con người càng có khả năng nhận thức đầy đủ, sâu sắc vềthế giới khách quan bấy nhiêu: mặt khác, do đặc điểm của quá trình nhậnthức: từ cảm giác, tri giác, biểu tượng, khái niệm, phán đoán, đến suy luậnkhông chỉ tạo ra khả năng nhận thức đầy đủ thế giới mà còn có thể phảnánh sai làm và rời xa hiện thực

Bên cạnh đó sự ra đời của tôn giáo còn có sự ảnh hưởng của yếu tố tâm

lý, tình cảm của con người Đối với sự ra đời và tồn tại của tôn giáo đãđược các nhà triết học cổ đại nghiên cứu, họ thường đưa ra các luận điểmnhư: “Sự sợ hãi tạo ra thần linh”, V.I.Lênin tán thành các phân tích trên và

bổ sung thêm: “Sự sợ hãi trước thế lực mù quáng của tư bản - mù quáng vìquần chúng nhân dân không thể đoán được nó - là thế lực bất cứ lúc nàotrong đời sống của người vô sản và tiểu chủ, cũng đe dọa đem lại cho họ vàđang đem lại cho sự phá sản “đột ngột”, “bất ngờ”, “ngẫn nhiên”, làm cho

họ phải diệt vong, biến họ thành một người ăn xin, một kẻ bần cùng, mộtgái điếm và dồn họ vào cảnh chết đói, đó chính là nguồn gốc sâu xa của tôngiáo hiện đại” Nhưng không phải chỉ có sự sợ hãi trước sức mạnh tự phátcủa tự nhiên và xã hội mới dẫn con người đến nhờ cậy ở thần linh, mà ngay

Trang 9

cả những tình cảm tích cực như lòng biết ơn, sự kính trọng, tình yêuthương… trong mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người vớicon người cũng được thể hiện qua các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo.

Do vậy, tôn giáo sẽ còn tồn tại lâu dài, nhưng không phải là hiện tượng

xã hội vĩnh hằng, bất biến Tôn giáo có tính lịch sử của nó, nó có bước khởiđầu, biến động và có thể sẽ mất đi khi mà: “ Con người không chỉ mưu sự,

mà còn làm cho thành sự nữa, thì khi đó, cái sức mạnh xa lạ cuối cùng hiệnnay vẫn còn đang phản ánh có tính chất tôn giáo cũng sẽ mất đi, vì khi đó

sẽ không có gì để phản ánh nữa” [1; 12 - 13]

Ngoài ra, tôn giáo còn mang tính quần chúng Tính quần chúng của tôngiáo không chỉ biểu hiện ở số lượng tín đồ các tôn giáo chiếm tỉ lệ trongdân số mà còn ở chỗ tôn giáo là một trong các hình thức sinh hoạt văn hóatinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân lao động Dù tôn giáohướng con người hi vọng vào hạnh phúc hư ảo ở thế giới bên kia, song nóluôn luôn phản ánh khát vọng của người bị áp bức về một xã hội tự do,bình đẳng bác ái Tôn giáo là một trong những nhu cầu tinh thần của bộphận không nhỏ quần chúng nhân dân lao động

Không chỉ thế, tôn giáo còn mang một tính chất đặc biệt Đó là tínhchính trị Khi còn ở thời kì công xã nguyên thủy, tôn giáo chỉ phản ánhnhận thức hồn nhiên, ngây thơ của con người về bản thân và thế giới quanhmình Nhưng, khi xuất hiện giai cấp thì tôn giáo thường phản ánh lợi íchgiai cấp và đấu tranh giai cấp Tính chính trị của tôn giáo chỉ có khi xã hội

đã phân chia giai cấp, khi có những lực lượng chính trị lợi dụng tôn giáo vìmục đích ngoài tôn giáo Trong lịch sử đương đại, những cuộc chiến tranhtôn giáo đã và đang xảy ra, thực chất vẫn là xuất phát từ những lợi ích vậtchất của những lực lượng xã hội khác nhau Trước khi có cuộc đấu tranhgiữa các giai cấp trên mặt trận kinh tế, chính trị, quân sự… thường diễn racác cuộc đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng gắn với tôn giáo Nhữngcuộc đấu tranh trên hệ tư tưởng tôn giáo luôn là một bộ phận của đấu tranh

Trang 10

giai cấp Và, khi xã hội xuất hiện giai cấp thì tôn giáo luôn bị các giai cấpthống trị bóc lột sử dụng như một công cụ quan trọng để bảo vệ lợi ích củamình.

Vì vậy để có thể có cách ứng xử với tôn giáo cho đúng đắn, các nhàkinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đề ra các nguyên tắc ứng xử vớitôn giáo

Thứ nhất: khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo, phải

gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ, gây dựng xã hội mới

Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng: muốn thay đổi ý thức

xã hội, trước hết cần phải thay đổi bản thân tồn tại xã hội; muốn xóa bỏ ảotưởng nảy sinh trong tư tưởng con người, phải xóa bỏ nguồn gốc sinh ra ảotưởng ấy Đấu tranh chống những biểu hiện tiêu cực trong tôn giáo là giántiếp đấu tranh với cái thế giới đang cần có ảo tưởng Điều cần thiết trướchết là phải xác lập được một thế giới hiện thực không có áp bức, bất công,nghèo đói và thất học… cùng những quan hệ nảy sinh trong xã hội chỉ cóthông qua quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới nhằm nâng caođời sống vật chất, tinh thần và trì tuệ cho con người thì mới có khả năng gạt

bỏ dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo trong đời sống xã hội

Sự thống nhất về lợi ích dân tộc, giai cấp và quốc gia sẽ tạo điều kiệntiến tới sự thống nhất về tư tưởng và hành động

Dĩ nhiên, điều đó không có nghĩa là lãng quên hay từ bỏ cuộc đấu tranhtrên lĩnh vực tư tưởng mà ngược lại, cần quan tâm và coi trọng việc tuyêntruyền, giáo dục thế giới quan khoa học duy vật khoa học một cách thườngxuyên dưới nhiều hình thức Nhưng công tác tuyên truyền, giáo dục phảigắn liền và phục vụ cho công cuộc xây dựng xã hội mới

Thứ hai: tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng và không tín

ngưỡng của nhân dân

Trong XHCN, việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, vàkhông tín ngưỡng là một nguyên tắc Quyền ấy, không chỉ thể hiện về

Trang 11

mặt pháp lý mà còn được thực hiện trên thực tiễn một cách nhất quán,lâu dài trong xã hội XHCN Nội dung cơ bản của quyền tự do tín ngưỡng

và không tín ngưỡng trong hệ thống tư tưởng Chủ nghĩa Mác – Lênin là:

“Mỗi người đều phải được hoàn toàn tự do không những muốn theo tôngiáo nào thì theo, mà còn phải có quyền truyền bá bất kỳ tôn giáo nào,hoặc thay đổi tôn giáo” Nhà nước XHCN thừa nhận và đảm bảo cho mọicông dân bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ Các tôn giáo được Nhànước công nhận đều bình đẳng trước pháp luật Mọi người cần có ý thứctôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, và không tín ngưỡng củangười khác; đồng thời chống lại những phần tử lợi dụng tín ngưỡng, tôngiáo để hoạt dộng đi ngược lại với lợi ích dân tộc và những kẻ hành nghề

sự khác biệt Vì vậy, cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét,đánh giá và ứng xử đối với những vấn đề có liên quan đến tôn giáo

Có những tôn giáo khi mới xuất hiện, nó biểu hiện như một phong tràobảo vệ lợi ích của người nghèo, người bị áp bức và nô lệ Nhưng rồi, tôngiáo ấy lại biến thành công cụ của giai cấp thống trị bóc lột Có những giáo

sĩ suốt đời hành đạo theo xu hướng đồng hành cùng với dân tộc; nhưngcũng có những người lại hợp tác với các thế lực phản động đi ngược lại vớilợi ích của quốc gia Có những vị chân tu luôn “Kính chúa yêu nước”, thiếttha muốn sống “tốt đời đẹp đạo”; nhưng lại có những người sẵn sàng hisinh quyền lợi của Tổ quốc cho lợi ích của bọn ngoại bang Điều đó khiếncho nhà nước XHCN luôn cần phải có thái độ, cách ứng xử phù hợp vớitừng đối tượng, từng trường hợp cụ thể, như Lênin đã nhắc nhở: “Người

Trang 12

mác - xít phải biết chú ý đến toàn bộ tình hình cụ thể”, khi giải quyết vấn

đề tôn giáo

Thứ tư: cần phải phân biệt hai mặt nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo và lợi

dụng tín ngưỡng, tôn giáo

Tôn giáo luôn tồn tại hai mặt là: nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo chânchính của nhân dân và một bộ phận lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo vì mụcđích phi tôn giáo

Để phân biệt rõ được hai mặt này, trên thực tế không hề đơn giản,nhưng lại rất cần thiết Vì có phân biệt được hai mặt đó mới tránh khỏikhuynh hướng tả hoặc hữu trong quá trình quản lý, ứng xử với những vấn

đề nảy sinh từ tín ngưỡng, tôn giáo Nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo là mộtnhu cầu về tinh thần chính đáng của đồng bào có đạo và nó sẽ còn tồn tạilâu dài Mọi biểu hiện vi phạm quyền ấy là trái với tu tưởng của chủ nghĩaMác - Lênin

Xuất phát từ lợi ích giai cấp, dân tộc và an ninh quốc gia, nhà nướcXHCN phải thường xuyên đấu tranh loại bỏ các yếu tố chính trị phản độngcòn tồn tại trong tôn giáo

Như vậy, những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về nguồngốc, bản chất của tín ngưỡng, tôn giáo là cơ sở hình thành thế giới quan,phương pháp luận khoa học trong tư duy Hồ Chí Minh về tôn giáo cũngnhư tự do tôn giáo, tín ngưỡng Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin

đã chỉ rõ được bản chất, nguồn gốc, tình chất của xã hội, khẳng định tôngiáo còn tồn tại lâu dài dưới chủ nghĩa xã hội và sẽ mất đi khi không còn

cơ sở tồn tại

Đây là những luận điểm quan trọng và cần thiết, đồng thời nó quyếtđịnh bản chất cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh về tôngiáo, tự do tôn giáo Bởi chính chủ nghĩa Mác - Lênin đã trang bị choNgười thế giới quan và phương pháp luận khoa học trong việc nghiên cứu,xem xét để đi đến nhận thức và giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo phù

Trang 13

hợp với điều kiện lịch sử Việt Nam và xu hướng chung đúng đắn nhất.Ngoài việc lấy quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin làm thế giới quan

và phương pháp luận khoa học, Hồ Chí Minh còn kế thừa những giá trịtruyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và nhân loại, trực tiếp là những tưtưởng tích cực, tiến bộ của các tôn giáo trên thế giới

Được sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước, có thể nói

Hồ Chí Minh đã được tiếp cận với những giá trị tốt đẹp của dân tộc mộtcách sâu sắc từ rất sớm Đó là: truyền thống kiên cường, bất khuất trongđấu tranh chống giặc ngoại xâm; cần cù sáng tạo trong lao động; coitrọng đạo lý, yêu chuộng hòa bình, đoàn kết, gắn bó trong cộng đồnglàng nước Việt Nam Có thể xem, chủ nghĩa yêu nước là cơ sở hàng đấuhình thành nên tư tưởng của Người nói chung và về tôn giáo nói riêng.Nhưng trong đó, cơ sở quan trọng nhất để hình thành nên tư tưởng về tự

do tín ngưỡng, tôn giáo phải kể đến yếu tố coi trọng đạo lý, cũng nhưyêu thương đòan kết, gắn bó trong cộng đồng làng nước của dân tộc ViệtNam Sự gắn bó này, đã không phân biệt người có đạo với kẻ không theođạo Họ vẫn đối xử với nhau bình đẳng thân thiết, không có bất kì sự kìthị nào Điều này đã tạo nên khối đại đoàn kết vững chắc trọng mọi cuộcđấu tranh chống lại mọi kẻ thù Và Hồ Chí Minh đã nhận ra được chângiá trị này từ rất sớm, từ đó dần hình thành nên tư tưởng về tự do tínngưỡng trong hệ thống tư tưởng của Người

Mặt khác, chúng ta thấy rằng Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong mộtquốc gia là điểm giao lưu của nhiều văn hóa khác nhau Vì vậy, những giátrị văn hóa này góp phấn tạo nên hệ tư tưởng của Người Việt Nam là mộtquốc gia nằm ở bán đảo Đông Dương, là nơi giao nhau của các tuyếnđường hàng hải quan trọng Ngoài ra, đây còn là nơi giao thoa của nhiềuvăn hóa khác nhau: Phật giáo từ Ấn Độ, Phật giáo Trung Hoa, Nho giáo,Đạo giáo…Từ nền tảng này, Hồ Chí Minh đã có điều kiện tìm hiểu và amhiểu một cách sâu sắc về đời sống của người dân lao động Đây là một

Trang 14

trong những cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về tìn ngưỡng, tôngiáo.

Như đã nói ở trên Việt Nam là một đất nước đa dạng về văn hóa, là nơigiao thoa của nhiều văn hóa khác nhau Vì vậy, từ rất sớm Người đã đượcbiết đến văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ và chịu sự ảnh hưởng của tư tưởngNho giáo, Phật giáo từ các nền văn hóa đó, cũng như chịu sự tác động từđời sống sinh hoạt hàng ngày của gia đình và xã hội Đối với Phật giáoNgười đã tiếp nhận các tư tưởng về lòng bao dung, nhân ái, độ lượng, bìnhđẳng bác ái, vô ngã vị tha, đại từ đại bi Để từ đó thấy được rằng mọi ngườiđều có quyền tự do, không chỉ trong đời sống vật chất mà cả trong đời sốngtinh thần mà đặc trưng nhất đó là đời sống tín ngưỡng, tôn giáo Đối vớiNho giáo, Hồ Chí Minh đã tiếp thu các phạm trù “Cần - Kiệm – Liêm -Chính”, “Chí công vô tư”, “Nhân – Nghĩa - Lễ - Trí - Tín”, và các quanđiểm như “Dân vi quý”, “Kỉ sở bất dục vất thi ư nhân” Những quan điểm

và phạm trù này đã hình thành trong Hồ Chí Minh tư tưởng đối nhân xửthế, coi trọng mọi người như nhau, nhất là “điều mình không muốn thìđừng làm cho người ” Đây là nền tảng của việc hình thành nền tảng tưtưởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo Sau này, Người cònđược tiếp xúc với những tôn giáo khác trên thế giới như Thiên chúa…Trong Thiên chúa giáo Người tìm thấy tấm lòng bao dung cao cả, tha thứcho chính kẻ thù của mình

Sau này, trong quá trình tìm đường cứu nước Hồ Chí Minh đã được tiếpxúc với nhiều tư tưởng tiến bộ trên thế giới Những tư tưởng này đã gópphần hình thành nên hệ tư tưởng của Người Hồ Chí Minh đã tiếp cận các

tư tưởng tiến bộ trên thế giới như “Tư tưởng tự do - bình đẳng - bác ái”,

“Nhân quyền và dân quyền” trong cách mạng tư sản Pháp; tư tưởng tự dobình đẳng trong “Tuyên ngôn độc lập ” của nước Mỹ năm 1776 Có thể nóinhững tư tưởng tiến bộ này đóng vai trò quyết định trong việc hình thànhnên lí luận tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo Vì vậy mà

Trang 15

trong bản “Tuyên ngôn độc lập” nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm

1945, Hồ Chí Minh đã viết:

"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họnhững quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, cóquyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc"

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ.Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đềusinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng vàquyền tự do

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm

1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phảiluôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”

Thông qua “Tuyên ngôn độc lập”, Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ tư tưởngcủa mình về tự do, dân chủ

Tiền đề cuối cùng hình thành nên tư tưởng tự do tín ngưỡng, tôn giáotrong tư tưởng Hồ Chí Minh là từ thực tiễn, tình hình về tín ngưỡng tôngiáo ở Việt Nam đặt ra yêu cầu để giải quyết Do đặc điểm tự nhiên vàhoàn cảnh lịch sử, trong quá trình hình thành và phát triển của dân tộc đãtác động, ảnh hưởng lớn đến tình hình tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam Cóthể khái quát những đặc điểm đó là: Việt Nam là một quốc gia có nhiều tínngưỡng, tôn giáo khác nhau, bao gồm cả tôn giáo ngoại lai (Thiên Chúagiáo, Tin Lành, Phật giáo, Hồi giáo…) và tín ngưỡng, tôn giáo nội sinh(Cao Đài, Hòa Hảo và các hình thức tín ngưỡng như thờ cúng ông bà, tổtiên, thần, thánh…); các tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có tính đan xen,hòa đồng, khoan dung; các tôn giáo du nhập luôn bị “khúc xạ” bởi văn hóaViệt Nam; tính trội của yếu tố “nữ” trong hệ thống tín ngưỡng, tôn giáoViệt Nam; các tín đồ tôn giáo ở Việt Nam hầu hết là nhân dân lao động…Những đặc điểm trên là cơ sở thực tiễn để hình thành những quan điểm của

Trang 16

Người về vấn đề tôn giáo.

Ta cũng nhận thấy rằng trước khi trở thành người cộng sản, Hồ Chí Minh

đã hấp thụ được những yếu tố tích cực từ văn hóa truyền thống, tâm lý dân tộc

và những tư tưởng tích cực, tiến bộ được phản ánh trong kinh, sách của cáctôn giáo trên thế giới Những tư tưởng này đã có ảnh hưởng lớn tạo nên nétđặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo: coi tín ngưỡng, tôn giáo làvăn hóa, nhận biết được giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo, sự khoan dung,

độ lượng, tinh thần đoàn kết không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo…làm cơ sở

để tập hợp rộng rãi quần chúng theo Đảng làm cách mạng

Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo là kết quả

sự vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về tínngưỡng, tôn giáo vào điềm kiện cụ thể nước ta; đồng thời, là kết quả kếthừa và phát triển các giá trị văn hóa trong tín ngưỡng, truyền thống tốt đẹpcủa dân tộc và tinh hoa văn hó nhân loại; cũng như trước đòi hỏi thực tiễnđấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam nhằm thực hiện giải phóngdân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người.Một nhà báo nước ngoài nhận xét về Hồ Chí Minh đã được cố Thủtướng Phạm Văn Đồng nhắc lại: “ Hình ảnh của Hồ Chí Minh đã hoànchỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triếthọc của Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của một người chủgia tộc, tất cả được bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên” [ 12; 19] Vớinhận xét trên ta đã thấy được nguồn gốc hình thành nên tư tưởng Hồ ChíMinh về tôn giáo nói chung và tự do tín ngưỡng, tôn giáo nói riêng mộtcách hoàn chỉnh và giàu hình ảnh nhất

1.2 Các nội dung cơ bản trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh

về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo, ta thấychúng được hình thành qua hai giai đoạn, nhưng chủ yếu là từ sau Cáchmạng tháng 8 năm 1945 Tư tưởng về tín ngưỡng, tôn giáo của Người là

Trang 17

kim chỉ nam để Đảng, Nhà nước ta vạch ra đường lối chính sách về tínngưỡng tôn giáo phù hợp với tình hình thực tế ở Việt Nam.

1.2.1 Về vai trò xã hội của tín ngưỡng tôn giáo:

Hồ Chí Minh cho rằng tín ngưỡng, tôn giáo là một thành tố văn hoá.Người xác định tín ngưỡng, tôn giáo là một bộ phận cấu thành của văn hoá

và là di sản của văn hoá nhân loại Người rất coi trọng việc bảo tồn các disản văn hóa dân tộc, trong đó có di sản văn hóa tôn giáo cả vật thể và phivật thể Để xây dựng nền văn hoá mới Việt Nam, Hồ Chí Minh trân trọng,chắt lọc, kế thừa những giá trị quý báu của truyền thống văn hoá dân tộc,tinh hoa văn hoá nhân loại, trong đó có các giá trị của tôn giáo Người đãgạn lọc, tiếp thu tất cả những giá trị của tín ngưỡng tôn giáo như đạo lí

“uống nước nhớ nguồn” của đạo thờ ông bà, tổ tiên; triết lí nhân sinh củaNho, Phật, Lão Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh cũng phê phán những hiệntượng phản văn hoá trong các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ tác dụng quan trọng của tín ngưỡng, tôn giáo với sự hình thành đạo đức của con người Người đã tìm thấy cái chung củacác tôn giáo là đều phản ánh khát vọng tự do và hạnh phúc của quần chúng

bị áp bức, đau khổ, thấy rõ tính nhân văn của các tôn giáo chân chính làhướng tín đồ, hướng nhân loại tới bình đẳng, bác ái, khuyên con người làmđiều thiện, loại trừ cái ác Người rút ra : “Chúa Giê su dạy : Đạo đức là bácái; Phật Thích Ca dạy : Đạo đức là từ bi; Khổng Tử dạy : Đạo đức là nhânnghĩa” Người còn chỉ rõ khát vọng cao cả của các tôn giáo là: “mục tiêucao cả của Phật Thích Ca và Chúa Giê Su đều giống nhau: Thích Ca và Giê

Su đều muốn mọi người có cơm ăn, áo mặc, bình đẳng, tự do và thế giớiđại đồng” Người đã kế thừa rất nhiều các khái niệm, phạm trù của đạo đứctôn giáo đối với giáo dục con người, nhất là giáo dục xây dựng đạo đức chođội ngũ cán bộ cách mạng

Nhận thấy tín ngưỡng, tôn giáo có ảnh hưởng không nhỏ đối với chínhtrị, kế thừa tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã vạch trần

Trang 18

thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của bọn thực dân Pháp Trong quá trình lãnh đạocách mạng, Người luôn phê pháp những thế lực chính trị lợi dụng tôn giáo

vì mục đích phản động Song, Hồ Chí Minh quan tâm hơn đến vấn đề khaithác mặt tích cực của tín ngưỡng, tôn giáo để thu hút đồng bào tôn giáotham gia sự nghiệp cách mạng chung của toàn dân tộc Khi miền Bắc giảiphóng xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người thường nêu lên sự tương đồngnhất định giữa mục tiêu của chủ nghĩa xã hội và kỳ vọng của những ngườisáng lập ra các tôn giáo Người đã nêu phương châm: “Đạo pháp - Dân tộc

- Chủ nghĩa xã hội” Từ sự phân tích trên cho thấy, Hồ Chí Minh nhận thứcsâu sắc vai trò xã hội của tín ngưỡng, tôn giáo bao hàm cả mặt tích cực vàtiêu cực Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Người luôn tìm cách hạn chếmặt tiêu cực, khai thác mặt tích cực của tín ngưỡng, tôn giáo để phục vụcho mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

1.2.2 Về mối quan hệ giữa tôn giáo và dân tộc, đức tin tôn giáo và lòng yêu nước:

Hồ Chí Minh đã giải quyết mối quan hệ này trên tinh thần của khối đạiđoàn kết toàn dân vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Làngười hiểu rõ truyền thống yêu nước của người dân Việt Nam Mục tiêuxây dựng một nước Việt nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ vàgiàu mạnh là ý nguyện cao cả của Hồ Chí Minh, đồng thời là nguyện vọngthiết tha của đồng bào các dân tộc Việt nam Đối với tôn giáo, Người luônđặt tôn giáo trong quan hệ với dân tộc, luôn đánh giá đúng mức, đầy đủ vaitrò của tín ngưỡng, tôn giáo trong đời sống tinh thần của xã hội Nhất quánquan điểm tín ngưỡng tự do, Lương Giáo đoàn kết là vấn đề vừa có ý nghĩacấp bách vừa là vấn đề cơ bản lâu dài để thực hiện mục tiêu của cách mạng

Từ quan niệm trên về dân tộc và tín ngưỡng, tôn giáo, Hồ Chí Minh đã giảiquyết một cách thấu đáo quan hệ tín ngưỡng tôn giáo với dân tộc; giữa đứctin tôn giáo và lòng yêu nước Kế thừa lịch sử, xuất phát từ thực tiễn ViệtNam, từ góc độ một nền văn hoá thống nhất trong đa đạng của cộng đồng

Trang 19

các dân tộc Việt nam, đã giải quyết mối quan hệ giữa tín ngưỡng, tôn giáovới dân tộc trong điều kiện mới Vấn đề giải phóng dân tộc được Hồ ChíMinh đặt lên hàng đầu Người đã chỉ rõ khi nào dân tộc được độc lập, nhândân được tự do thì các tín đồ mới thực sự làm chủ tôn giáo của mình Theo

Hồ Chí Minh, đối với người Việt nam dù theo tôn giáo nào thì đức tin tôngiáo và lòng yêu nước là hai vấn đề không có gì mâu thuẫn mà có sự thốngnhất Người nói : “một công dân chân chính yêu nước đồng thời cũng lànhững chân chính tín đồ của đức Giê Su” Người không chỉ dừng lại ở sựtương đồng giữa đức tin tôn giáo với lòng yêu nước của người Việt namnói chung Người còn làm rõ, chỉ ra đức tin tôn giáo không đối lập mà còntrùng hợp với mục tiêu, lí tưởng cộng sản Như vậy, theo Tư tưởng Hồ ChíMinh tín ngưỡng, tôn giáo và dân tộc, đức tin tôn giáo và lòng yêu nướcđối với đồng bào theo tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta hoàn toàn không đốilập với nhau mà có sự thống nhất trên cơ sở lợi ích chung là giành độc lậpdân tộc, xây dựng một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc

1.2.3 Về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo:

Theo Tư tưởng Hồ Chí Minh thì quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo thểhiện chủ yếu ở hai mặt:

Thứ nhất : quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải được khẳng định về

mặt pháp lí : với tư các là người đứng đầu Chính phủ Việt Nam Dân ChủCộng Hòa, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo việc soạn thảo Hiến Pháp 1946, trong

đó khẳng định mọi công dân Việt nam có quyền tự do tín ngưỡng Và HồChí Minh đã trực tiếp soạn thảo và ban hành các Sắc lệnh về tôn giáo nhưSắc lệnh ngày 18/2/1946, Sắc lệnh về tôn giáo ngày 14/6/1955 Đây là cácSắc lệnh tương đối hoàn chỉnh về tôn giáo, khẳng định rõ quyền tự do tínngưỡng, tôn giáo là quyền được pháp luật Việt nam bảo hộ; đồng thời tạo

cơ sở pháp lý cho công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước và cho các hoạtđộng về tín ngưỡng, tôn giáo trên lãnh thổ Việt Nam

Thứ hai: quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải được bảo đảm trên thực

Trang 20

tế Để quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện hoá trong đời sốngcủa đồng bào các tôn giáo, theo Hồ Chí Minh phải có các điều kiện cơ bản

là : một là, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó Đảng và Nhànước là nhân tố quan trọng nhất Hai là, phải đặt trong quá trình cải tạo xãhội cũ, xây dựng xã hội mới xã hội chủ nghĩa Bằng lôgíc Đạo và Đời, phầnhồn phải gắn với phần xác, Hồ Chí Minh đề ra phương châm “tốt đời - đẹpđạo”, bởi “phần xác” có được no ấm thì “phần hồn” mới được thong dong

Từ đó, Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào tín đồ của các tôn giáo tích cực thamgia vào sự nghiệp thống nhất đất nước, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnhphúc Ba là , phải xây dựng, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân,trong đó đặc biệt là đoàn kết Lương - Giáo

1.2.4 Về công tác tôn giáo:

Hồ Chí Minh trong vai trò là người đứng đầu Đảng, Nhà nước rất chútrọng đến chính sách tôn giáo Tư tưởng về chính sách tôn giáo của Hồ ChíMinh được hình thành từ truyền thống văn hoá dân tộc, quan điểm về dântộc của chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn cách mạng Việt nam Thực chất

tư tưởng về chính sách tôn giáo của Hồ Chí Minh là nhằm xây dựng, củng

cố khối đại đoàn kết toàn dân, vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xãhội Cho nên chính sách tôn giáo theo tư tưởng của Người thể hiện tínhnhất quán lâu dài, thực sự tôn trọng đối với các tôn giáo và sự mềm dẻokhéo léo trong xử lí các vấn đề tôn giáo

Về đoàn kết tôn giáo, đoàn kết dân tộc, trọng tâm là đoàn kết Lương Giáo Đoàn kết là một tư tưởng cơ bản, bao trùm có ý nghĩa quyết định sựthành công trong cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh Đối với tôn giáothì sự chân tình và bền vững như là một điều kiện tiên quyết để thực hiệnđoàn kết Cơ sở của đoàn kết Lương - Giáo theo Tư tưởng Hồ Chí Minhchính là sự đồng nhất với nhau vì mục tiêu độc lập tự do của dân tộc HồChí Minh đã đưa ra những giải pháp có ý nghĩa lí luận và thực tiễn thựchiện đoàn kết Lương - Giáo đó là : xây dựng hệ thống chính trị trong vùng

Trang 21

-có đồng bào tôn giáo, làm tốt công tác vận động với các chức sắc và tín đồtôn giáo, tích cực đấu tranh chống bọn đế quốc, phản động lợi dụng tôngiáo Điều đặc biệt trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng là pháttriển đảng viên ở chính tín đồ tôn giáo Thông qua sự chỉ đạo công tác tôngiáo và thông qua chính hoạt động thực tiễn của Người, có thể khái quát tưtưởng về vận động các chức sắc tôn giáo và đồng bào tôn giáo của Hồ ChíMinh trên mấy điểm sau:

Hồ Chí Minh trong tư tưởng, tình cảm và hoạt động của mình luôn có

sự nhất quán tôn trọng sự bình đẳng, không phân biệt đối xử, hoặc côngkích bất kỳ tôn giáo nào

Hồ Chí Minh luôn biểu lộ sự tôn trọng, quan tâm đối với các chức sắctôn giáo và tìm cách tốt nhất để tranh thủ họ; song cũng có thái độ xử sựdứt khoát “kiên quyết trừng trị những kẻ mượn tiếng đạo, làm nhục Chúa,làm hại dân”

Hồ Chí Minh luôn chăm lo đến đời sống của đồng bào tôn giáo, chămsóc cả “phần xác” và “phần hồn”

Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến các vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ

ở các vùng đồng bào Công giáo

Trên đây là tư tưởng cơ bản về tín ngưỡng, tôn giáo của Hồ Chí Minh

Có thể rút ra thực chất Tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo làvận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo để giải quyết vấn đề tínngưỡng, tôn giáo ở VN một cách đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với hoàncảnh lịch sử văn hoá và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng giảiphóng dân tộc, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội

Trong vai trò là người đứng đầu Đảng và Nhà nước, Hồ Chí Minh rấtchú trọng đến chính sách tôn giáo Tư tưởng về chính sách tôn giáo của HồChí Minh được hình thành từ truyền thống văn hoá dân tộc, quan điểm vềdân tộc của chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn cách mạng Việt nam Thựcchất tư tưởng về chính sách tôn giáo của Hồ Chí Minh là nhằm xây dựng,

Trang 22

củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội Cho nên chính sách tôn giáo theo tư tưởng của Người thể hiệntính nhất quán lâu dài, thực sự tôn trọng đối với các tôn giáo và sự mềmdẻo khéo léo trong xử lí các vấn đề tôn giáo.

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo Sự tồn tại và hoạtđộng của các tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt của đời sống kinh

tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng và an ninh của đất nước Nhậnthức rõ điều đó, kế thừa những giá trị tinh hoa của truyền thống văn hóadân tộc và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn ViệtNam, Hồ Chí Minh đã sớm hình thành nên tư tưởng tự do tín ngưỡng, tôngiáo Năm 1927, trong tác phẩm Đường Cách mệnh, ở bài viết “Cách tổchức Công hội”, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Ai là thợ thuyền thì được vàohội, dù tin Phật, tin đạo, tin cộng sản, tin vô chính phủ, tin gì cũng mặc,miễn là theo đúng quy tắc hội là được” Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạocách mạng Việt Nam, Người luôn khẳng định: Tự do tín ngưỡng, tôn giáo

là một trong những quyền cơ bản của con người, là quyền lợi của nhân dân;mọi hạn chế, vi phạm quyền ấy là đi ngược lại với xu thế tiến bộ của xã hội

và Chính phủ phải đảm bảo thực thi quyền đó Sau này, trên cương vị Chủtịch Đảng, Chủ tịch Nước, trong các bài nói, bài viết, các văn bản, sắclệnh… quan trọng, Hồ Chí Minh luôn thể hiện rõ tư tưởng nhất quán củaĐảng và Nhà nước ta là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo củanhân dân Sự tôn trọng ấy không chỉ thể hiện trên văn bản, lời nói mà cảtrên hành động thực tiễn

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 3-9-1945, trongphiên họp đầu tiên của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch

Hồ Chí minh nêu 6 nhiệm vụ cấp bách; trong đó, Người đề nghị Chính phủtuyên bố: “Tín ngưỡng tự do và Lương Giáo đoàn kết” Trong cuộc tổngtuyển cử bầu ra các Đại biểu Quốc hội khóa I, Người tuyên bố: hễ ai làngười muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ ai là công dân thì

Trang 23

đều đi bầu cử, không chia rẽ gái, trai, giàu, nghèo, tôn giáo, nòi giống, giaicấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam đều có hai quyền trên.

Để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân được thựcthi, Hồ Chí Minh cho rằng, về nguyên tắc: hoạt động của các tổ chức tôngiáo phải tuân theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ Với tinh thần đó,Người chỉ đạo Chính phủ xây dựng các chủ trương, giải pháp tổ chức thựchiện có hiệu quả các quyền đó trong đời sống hiện thực của đất nước; đồngthời, Người đã trực tiếp ký, ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định cụthể về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người dân Hiến pháp đầutiên (thông qua ngày 2-3-1946) của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ghirõ: mọi công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng; Sắc lệnh số 234/SLngày 14-6-1955 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, Điều 1 đã ghi: Chính phủbảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng, quyền theo hoặc khôngtheo bất cứ tôn giáo nào, quyền “tự do giảng đạo tại cơ quan Công giáo”.Điều 5 của Sắc lệnh này còn thừa nhận các tổ chức tôn giáo có quyền mởtrường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo Trên cơ sở nguyêntắc đã nêu, Người xử lý một cách hết sức mềm dẻo và thành công các vấn

đề nảy sinh trong quan hệ giữa các tôn giáo, giữa lương - giáo, giữa tôngiáo với chính quyền

Đoàn kết tôn giáo, đoàn kết lương - giáo là một nội dung quan trọngtrong chiến lược đại đoàn kết của Hồ Chí Minh nhằm thực hiện thành côngmục tiêu cơ bản của cách mạng Việt Nam: độc lập dân tộc và CNXH.Người luôn nhắc nhở những người cộng sản: bên cạnh việc luôn thực thàtôn trọng tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, phải coiđoàn kết là sức mạnh, là phương châm, là nguyên tắc, là sợi chỉ đỏ xuyênsuốt trong giải quyết các vấn đề tôn giáo ở nước ta Người cho rằng: đoànkết của chúng ta là rộng rãi, lâu dài, là một chính sách dân tộc, không phải

là một thủ đoạn chính trị Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độclập của Tổ quốc, ta phải đoàn kết để xây dựng nước nhà Ai có đức, có sức,

Trang 24

có lòng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân thì ta phải đoàn kết với họ.

Để thực hiện tư tưởng đoàn kết tôn giáo, đoàn kết lương - giáo, Hồ ChíMinh đã chỉ ra cơ sở của sự đoàn kết đó chính là những nét tương đồnggiữa các tôn giáo và sự tương đồng giữa đức tin của các tôn giáo với đạođức, niềm tin của những người cộng sản Theo Người, ở Việt Nam, đồngbào có tín ngưỡng, tôn giáo, hay không theo tín ngưỡng, tôn giáo nào, đều

“đồng lòng” phấn đấu vì mục tiêu độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúccủa nhân dân; và trong thực tế, đồng bào có đạo luôn kề vai, sát cánh cùngnhân dân cả nước xây dựng nên truyền thống dựng nước và giữ nước hàohùng của dân tộc Chỉ khi đất nước có độc lập thì tôn giáo mới có tự do,cũng như khi tín ngưỡng, tôn giáo gắn liền với độc lập, tự do của Tổ quốc

và dân tộc, việc đạo gắn với việc đời, việc nước, thì đức tin của tôn giáo vàlòng yêu nước của mỗi người dân mới được gắn kết chặt chẽ với nhau tạonên sức mạnh tổng hợp xây dựng đất nước ngày càng giầu mạnh

Chúng ta có thể thấy được tính đoàn kết lương giáo trong tư tưởng HồChí Minh là: trước hết muốn đoàn kết những người có tín ngưỡng, tôn giáokhác nhau phải đặt lợi ích của dân tộc, lợi ích toàn dân lên trên hết Phảitôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân; khắcphục những mặc cảm, định kiến và chống âm mưu chia rẽ của bọn phảnđộng Phải phân biệt được nhu cầu tín ngưỡng chân chính của đồng bào cóđạo để đáp ứng kịp thời; với việc lợi dụng tín ngương, tôn giáo của cácphần tử phản động để phê phán, đấu tranh Phải chú ý kế thừa giá trị nhânbản của tôn giáo, trân trọng những người thành lập các tôn giáo lớn, tranhthủ giáo sĩ, quan tâm đến giáo dân; độ lượng, vị tha với những người lầmlỗi; đấu tranh kiên quyết với bọn phản động lợi dụng tôn giáo Chủ tịch HồChí Minh không những chú trọng mà còn chỉ rõ về công tác vận động quầnchúng có tín ngưỡng rằng: muốn làm tốt công tác tôn giáo, phải ra sứctuyên truyền, giải thích cho đồng bào tín đồ các tôn giáo hiểu õ chính sáchcủa Đảng và Chính phủ để họ tự giác thực hiện và đấu tranh chống âm mưu

Trang 25

lợi dụng tôn giáo của địch Người thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảngviên “Khi phát động quần chúng, cán bộ phải hết sức chú ý những điều đó.Sai một ly đi một dặm, nơi nào dân cũng tốt, lương cũng như giáo; nhưng

vì có những cán bộ không biết tỏ chức, không biết giải thích, tuyên truyền,lại tự tư tự lợi, không cảnh giác để bọn phản động chui vào các đoàn thể rồiphá hoại”[ 1; 20] Do vậy,phải nghiên cứu sâu sắc tình hình thực tế, hiểu rõphong tục tập quán, truyền thống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân để gâytình cảm với quần chúng

Tuy nhiên, để trên phát huy những vấn đề trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã chỉ rõ và luôn thể hiện sự tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng,tôn giáo; đồng thời chống âm mưu lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo Tự do tínngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo là một trong những quanđiểm quan trọng trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về tôn giáo Tư tưởng đóđược thể hiện nhất quán và trong lý luận và thực tiễn của Người, và đã trởthành nguyên tắc nền tảng xuyên suốt trong chính sách đối với tôn giáo củaĐảng và Nhà nước ta Tư tưởng đó đã thâm nhập sâu rộng vào quần chúng,cán bộ, đảng viên nói riêng

Trong Hiến pháp 1946 tại điều 7, chương II, Người viết: Tất cả côngdân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, đều được tham gia chínhquyền và công , tại điều thứ 10 nêu rõ Công dân Việt Nam có quyền: Tự dongôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do

cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài, mọi người công dân Việt Nam

“có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”.Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhândân Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy Mọi công dân có hay không

có tín ngưỡng, tôn giáo đều được hưởng mọi quyền lợi của ngưởi công dân(kể cả trong bầu cử người vào cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước)

và phải làm mọi nghĩa vụ của công dân Trong khi đó, các nhà tu hànhđược tự do giảng đạo tại các cơ sở thờ tự Khi truyền bá tôn giáo, các nhà

Trang 26

tu hành có nhiệm vụ giáo dục cho các tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ của người công dân, ý thức tôn trọng chính quyền và pháp luật Nhà nước Songsong với việc giảng đạo thì việc các tôn giáo xuất bản và phát hành sách cótính chất tôn giáo nhưng cần phái tuân theo luật xuất bản, được mở trườngđào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo của mình Bên cạnh đó,pháp luật Việt Nam có nhiệm vụ bảo hộ những nơi thờ tự, các trường giáo

lý của tôn giáo, các di sản văn hoá có trong tôn giáo Tuy nhiên, phải trừngtrị những kẻ lợi dụng tôn giáo để phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhândân, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại sự đoàn kết, ngăn cản tín đồ làmnghĩa vụ công dân, xâm phạm đến tín ngưỡng và tự do tư tưởng của ngườikhác hoặc làm những việc trái với pháp luật Người nhấn mạnh: “Bảo vệ tự

do tín ngưỡng, nhưng kiên quyết trừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo để phảnChúa, phản nước” Vì vậy, Người luôn giáo dục các bộ, đảng viên tôn trọngcác phong tục tập quán, tín ngưỡng của mọi người Hồ Chí Minh luôn nhắcnhở các thế hệ sau phải ghi lòng tạc dạ công ơn của các bậc tiền bối, phảibiết “uống nước nhớ nguồn” và khơi dậy trong mỗi con người chúng taphải biết tự hào về nguồn gốc con Rồng cháu Tiên

Người đã từng nhấn mạnh rằng: “Tín đồ Phật giáo tin ở Phật; tín đồGiatô tin ở Đức Chúa Trời; cũng như chúng ta tin ở đạo Khổng Đó lànhững vị chí tôn nên chúng ta tin tưởng” Đồng thời Người đã chỉ ra rằng,mặc dù thế giới quan của người cách mạng khác với thế giới quan tôn giáo,song không vì vậy mà đối đầu, nghi kỵ nhau, ngược lại, phải tôn trọng đứctin của mỗi người.[ 9 ; 120]

Khẳng định chủ trương của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “tự do tín ngưỡng,lương giáo đoàn kết” từ năm 1945, Đảng và Nhà nước chủ trương tôn trọngtôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo, trong khẩu hiệu: Sống tốt đời đẹpđạo, sống phúc âm giữa lòng dân tộc, Dân tộc - Đạo pháp - Xã hội chủnghĩa Một tinh thần đoàn kết giữa các tôn giáo được đề cao Chủ tịch HồChí Minh cho rằng: người Công giáo có thể vào Đảng Lao động Việt Nam,

Trang 27

“người tôn giáo nào vào cũng được, miễn là trung thành, hăng hái làmnhiệm vụ, giữ đúng kỷ luật của Đảng Nước ta kinh tế lạc hậu, kỹ thuậtkém, tôn giáo là duy tâm, cộng sản là duy vật, nhưng trong điều kiện hiệntại, người theo đạo vẫn vào Đảng được” Hồ Chí Minh không đấu tranh loạitrừ tôn giáo, mà chỉ đấu tranh loại trừ những kẻ lợi dụng tôn giáo chống lạilợi ích của dân tộc Thậm chí người chăm lo đến nguyện vọng của người cóđạo là “phần xác ấm no, phần hồn thong dong”[ 1; 35] Người vận độngđồng bào các tôn giáo tham gia kháng chiến, kiến quốc, nhưng cũng tạođiều kiện cho các tôn giáo được sinh hoạt tự do theo pháp luật - thể hiệnqua việc Người ký nhiều sắc lệnh liên quan đến tôn giáo.

Qua những phân tích trên ta có thể tổng kết lại nội dung cơ bản về quyền

tự do tín ngưỡng trong tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm những điểm sau:Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhândân Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy Mọi người ViệtNam đề có quyền theo một tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào HồChá Minh viết: “ mọi công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng, theohoặc không theo một tôn giáo nào ”.[ 1; 40]

Tôn trọng tự do tín ngưỡng, nhưng kiên quyết trừng trị những kẻ lợidụng tôn giáo phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân, tuyên truyềnchiến tranh, phá hoại đoàn kết, ngăn trở tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâmphạm đến tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng của người khác là trái phápluật Người đã nhấn mạnh: “Bảo vệ tự do tín ngưỡng, nhưng kiên quyếttrừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo để phản Chúa, phản nước”

Bài trừ tên nạn mê tín dị đoan phải đi đôi với việc xây dựng nếp sốngvăn hóa mới, xây dựng thuần phong mỹ tục Việc đấu tranh khắc phụcchống mê tín dị đoan phải tế nhị, tránh thô bạo

Chú trọng đến tín ngưỡng truyền thống ở Việt Nam, nhất là tín ngưỡngthờ cúng tổ tiên Vì thờ cúng tổ tiên vừa là tín ngưỡng, vừa là đạo lý làmngười, đồng thời cũng là nét đẹp truyền thống của văn hóa dân tộc

Trang 28

Các nhà tu hành được tự do giảng đạo tại các cơ sở thờ tự Khi truyền bátôn giáo các nhà tu hành có nhiệm vụ giáo dục cho các tín đồ lòng yêunước, nghĩa vụ của người công dân, ý thức tôn trọng chính quyền, phápluật của Nhà nước.

Mọi công dân có hay không có tín ngưỡng, tôn giáo đều được hưởngmọi quyền lợi của người côn dân (kể cả trong bầu cử người vào cơ quanquyền lực cao nhất của Nhà nước) và phải làm mọi nghĩa vụ của ngườicông dân

Các tôn giáo được xuất bản và phát hành kinh sách có tính chất tôn giáo,nhưng phải tuân theo Luật xuất bản, được mở trường đào tạo những ngườichuyên hoạt động tôn giáo của mình

Những nơi thờ tự và các đồ thờ, các trường giáo lý của tôn giáo đượcpháp luật bảo hộ Các di sản văn hóa có trong tôn giáo cần được bảo vệ,giữu gìn Liên quan tới vấn đề này, khi nói về Hiến Pháp năm 1946 - Hiếnpháp được xây dựng trực tiếp dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh,Người đã nhấn mạnh: “Trong Hiến Pháp nước ta đã định rõ: Tín ngưỡng tự

do Nếu ai làm sai Hiến pháp…sẽ bị trừng phạt”

Để việc thực hiện tự do tín ngưỡng góp phần tích cực vào việc phát triển

xã hội, nội dung tự do tín ngưỡng phải được luật hóa Bởi vì, những quyđịnh pháp luật có liên quan tới tín ngưỡng, tôn giáo vừa là điều kiện, vừa làcông cụ thực hiện tự do tín ngưỡng

Bằng sự sáng tạo của bản thân dựa trên nền tảng cơ sở lí luận của Chủnghĩa Mác - Lênin về tôn giáo, Hồ Chí Minh đã xây dựng nên lí luận về tự dotín ngưỡng, tôn giáo trong hệ tư tưởng của mình Đây được xem như là sự vậndụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể ở ViệtNam Lí luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành kim chỉ nam cho Đảng

và Nhà nước ta trong công cuộc đổi mới, xây dựng XHCN ở Việt Nam

Trang 29

CHƯƠNG 2:

TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO TRONG CÔNG

CUỘC ĐỔI MỚI HIỆN NAY Ở VIỆT NAM

2.1 Thực trạng tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay ở Việt Nam.

2.1.1 Quan niệm về tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân ta.

Tôn giáo là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, còn tồn tại lâu dàitrong đời sống tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân Bất kì tôngiáo nào cũng đều hướng thiện Đó là ước muốn của các tín đồ tôn giáocũng như của tất cả mọi con người trên trái đất này Tôn giáo xuất hiện là

do sự bần cùng về kinh tế, nạn áp bức về chính trị, sự hiện diện của nhữngbất công xã hội, cùng với những thất vọng, bất lực trong cuộc đấu tranhgiai cấp của giai cấp bị trị Do đó, tôn giáo là nơi gửi gắm nguyện vọng củanhân dân Đối với nhân dân ta, tôn giáo là cội nguồn tâm linh, là chỗ dựatinh thần cho những khó khăn trong cuộc sống Mặt khác đại đa số bộ phậnnhân dân coi tôn giáo là con đường để hướng tới cuộc sống Chân - Thiện -

Mỹ Bên cạnh đó, có một số bộ phận nhỏ nhân dân lại xem tôn giáo là mêtín, dị đoan, hiểu nhầm về quan điểm của tôn giáo, lợi dụng tôn giáo đểmưu lợi riêng cho mình Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về tôn giáosong, tôn giáo, tín ngưỡng trong đời sống của nhân dân ta luôn mang những

ý nghĩa tốt đẹp

Từ quan điểm về tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Hồ Chí Minh nhân dân

ta đã vận dụng nó vào trong đời sống tinh thần của mình Nhân dân ta đã tự

do lựa chọn tôn giáo , tín ngưỡng phù hợp với bản thân cũng như thể hiệnquyền tự do về tín ngưỡng, tôn giáo Song phổ biến hơn cả vẫn là tínngưỡng thờ cúng tổ tiên là truyền thống lâu đời của đất nước ta Mặt khác,tín ngưỡng này là đặc trưng riêng biệt, một nét văn hóa độc đáo chỉ có ởViệt Nam, vì vậy một số đồng bào theo các đạo như Thiên Chúa, Tin

Trang 30

Lành… đều đã yêu cầu ngoài việc thờ phụng Chúa còn được quyền thờcúng tổ tiên.

Chủ yếu, nhân dân ta đều tuân thủ và làm theo những quy định chung và

tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Hồ Chí Minh, sự vận dụng này hầu nhưđều là sự tuân theo và tôn trọng các tư tưởng, quan điểm đó mà thôi

2.1.2 Thực trạng tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay ở Việt Nam

Việt Nam từ xưa đến nay là một nước nông nghiệp, là nơi giao nhau củanhiều nền văn hóa lớn trên thế giới, cũng như các tín ngưỡng, tôn giáo Vớinguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, và luôn phải sẵn sàng đương đầuchống lại các kẻ thù xâm lược, chống sự đồng hóa của các dân tộc xâmlăng Có thể nói, dân tộc Việt Nam là một dân tộc có tính cố kết cộng đồngdân tộc cao, lòng yêu nước nồng nàn, cũng như khả năng tiếp biến văn hóangoại sinh Việt Nam đã góp phần tạo nên một nền văn minh thực vật, đá -đồng độc đáo Tiêu biểu là nền văn minh Đông Sơn, đây là tiền đề để hìnhthành một quốc gia dân tộc Nhà nước Văn Lang (4000 năm - thực tế làkhoảng 2500) ra đời và sau đó được thay thể bởi nhà nước Âu Lạc(257.TCN) Sau đó, dân tộc ta đã trải qua cuộc đấu tranh chống ngàn nămBắc thuộc và kết thúc với sự ra đời của nhà Ngô (938) Trong thời kì nàyđời sống tôn giáo nổi trội lên việc thờ các thiên thần và một số nhân thần làcác vị anh hùng có công với đất nước trong truyền thuyết của người Việt.Ngoài ra còn tồn tại đạo Tổ tiên, tôn thờ các vị thần có công với cộng đồng

từ gia đình, dòng họ đến làng xã, bản mường, đất nước với các lễ thức nôngnghiệp theo chu kì sản xuất, tập trung từ mùa thu hoạch qua tết đến các hộiđầu xuân trước khi bước vào đầu mùa sản xuất, xuất hiện ý niệm thờ trời,sau đó là thờ đất, và các nhân thần là các tướng lĩnh thời kì Hùng Vươngdựng nước và các anh hùng đấu tranh trong cuộc đấu tranh chống Bắcthuộc với nhiều hình thái tôn giáo sơ khai như: tôtem giáo, các loại mathuật, đạo phù thủy với nhiều dạng khác nhau cùng các yếu tố tôn giáo nhưcầu tự, điềm, kiêng cữ

Trang 31

Bên cạnh đó các nền văn minh lớn như Trung Hoa, Ấn Độ đã đưa vàoViệt Nam đạo Phật, đạo Nho, đạo Giáo khoảng thừ những năm đầu côngnguyên và được người dân đón nhận theo tâm thức của mình và lại rất khácnhau giữa người dân lao động và tầng lớp trên trong xã hội Nhưng sự dunhập này không có nghĩa là các tôn giáo trên vẫn giữ được nguyên bản thểban đầu mà nó đần dần được Việt hóa, chung sống với các tôn giáo bản địadưới các dạng khác nhau.

Sang đến đầu thiên niên kỉ thứ II, chế độ phong kiến đã trở nên vữngchắc, yêu cầu lúc này là xây dựng một nhà nước thần quyền quyện vớivương quyền, theo mô thức sản xuất cống nạp, mà theo thuật ngữ của Mác

là phương thức sản xuất châu Á, một kiểu phong kiến phương Đông Điềunày đã làm biến đổi diện mạo tôn giáo trên phạm vi toàn quốc Các triềuđại phong kiến thời kì này đã xây dựng một hệ thống tôn giáo từ trungương đến địa phương theo hai tuyến lãnh thổ và huyết thống, với ba mối

quan hệ nước – làng - gia đình, mang đậm tính dân tộc.

Việc cúng tế trong các triều đại phong kiến rất được chú ý đến Nhiềubuổi tế trời đất có nghi thức của triều đình là lập đàn tế giao hay thườngđược gọi là Nam Giao Có thể nói khái niệm Trời và Đất xuất hiện từ trướckhi các tôn giáo phương Đông ra đời, và đã được lí giải để nâng cao thànhtriết lí Trời và Đất là tương ứng với lãnh thổ mỗi quốc gia Trong tâm thứctôn giáo của người dân phương Đông, Trời là bầu trời xanh ngắt trên cao, làmột đấng siêu nhiên không hình dáng, không tiểu sử, chứa sức mạnh to lớnchi phối vạn vật, là người đỡ đầu cho các vị vua phong kiến, và là vị thầncủa quốc gia Vua là hóa thân của thần được cử xuống cai trị thiên hạ Trờicòn được biết đến với nhiều cái tên khác nhau như: Ngọc Hoàng Thượng

Đế, Ngọc Đế… cùng với các vị thần trợ giúp Tuy nhiên hình tượng Trờitrong tâm thức người Việt luôn có nét bình dị, gần gũi, thân thiện với các câuchuyện dân gian lưu truyền như “Con cóc là cậu ông Trời”…

Đạo Tổ Tiên theo huyết thống làm vững vàng thêm hệ thống các thần

Trang 32

linh theo tuyến lãnh thổ, vì có công lớn với dòng họ, đồng thời cũng cócông với làng với nước Gia đình - Làng bản - Đất nước là một mối liên kếtthống nhất và là trục chính của tâm thức tôn giáo Việt Nam.

Xem xét lịch sử xuyên suốt của các triều đại phong kiến ta thấy rằng:Tuy triều đình có ưu ái một tôn giáo, lúc đầu là Phật, sau là Nho giáo, song

ta nhận thấy một điều chiến tranh tôn giáo chưa bao giờ xuất hiện ở ViệtNam Đây là một đặc trưng rất riêng, rất Việt Sau này khi đạo Kitô gianhập vào cộng đồng tôn giáo Việt Nam, nó đã từng bị triều đình ngăn cản,biến nó thành cuộc đấu tranh mang màu sắc chính trị cao độ Đó là cuộcđấu tranh giữa người bảo vệ dân tộc và kẻ xâm lăng, kéo dài từ thế kỉ XIXqua thời kì Pháp thuộc, hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp cũngnhư cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ Tác động đó dẫn đến sự ưu ái của

kẻ thù xâm lược với Công giáo Các phong trào đấu tranh đòi tự do tôngiáo đã nổ ra như phong trào chấn hưng Phật giáo (1920-1930), cộng thêm

đó là sự ra đời của các tôn giáo mới như đạo Cao Đài (1926), Hòa Hảo(1939) là sự phản ánh tất yếu đối với mối quan hệ giữa Công giáo và kẻ thùxâm lược Đạo Phật một thời kỳ chống lại ý đồ biến Công giáo thành quốcgiáo dưới chế độ Mỹ - Diệm Đạo Tin Lành là do hội liên hiệp truyền báPhúc âm Mỹ (C.M.A) truyền vào Việt Nam từ năm 1911 và phát triểnmạnh dưới thời Mỹ - ngụy, trung thành với chính phủ Mỹ Sau ngày thốngnhất đất nước, tình hình đời sống đổi khác Các tôn giáo được độc lập về tổchức, không còn thấy bóng các chức sắc tôn giáo người nước ngoài Vớitinh thần đoàn kết giữa những người dân thuộc các tôn giáo khác nhau vàkhông thuộc tôn giáo nào, tất cả đều chỉ có một chí hướng là chung sức xâydựng đất nước giàu mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, hàn gắn lạinhững chia rẽ còn tồn tại đây đó do chính sách chia để trị của kẻ thù, gây rabởi một số thủ lĩnh tôn giáo còn muốn tìm chỗ dựa của các thế lực bênngoài Chỉ có tấm lòng yêu nước chân chính, một tấm lòng thực sự vì dân,

vì nước, hướng thiện, trừ ác, chỉ có một lòng khoan dung rộng mở, từ bi,

Trang 33

bác ái mới xa lánh được những âm mưu xảo quyệt của kẻ xấu trong vàngoài nước muốn lợi dụng tôn giáo.

Thêm vào đó, trước xu thế thế tục hóa, đi đôi với sự khủng hoảng mangtính toàn cầu, ở nước ta đã bắt đầu nảy sinh hiện tượng tôn giáo mới, những

âm mưu truyền bá đạo trái phép, thiếu trong sáng của các tôn giáo giả hiệunhư đạo Vàng Chứ, đạo Thìn Hùng ở các vùng dân tộc người Mông, Dao,hay như đạo Tin lành Đêga ở Tây Nguyên Cần cảnh giác trước những âmmưu lợi dụng chính sách tự do tôn giáo để hoạt động tôn giáo mang tínhchất chính trị, nằm trong âm mưu diễn biến hòa bình của kẻ thù dân tộc.Hiện nay ở nước ta có 32 tổ chức tôn giáo [1; 115 - 116] Gồm các tổchức tôn giáo sau

1 Giáo hội Phật giáo Việt Nam

2 Giáo hội Công giáo Việt Nam

3 Ban Trị sự TW Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo

4 Ban đại diện cộng đồng Hồi giáo TP Hồ Chí Minh

5 Ban đại diện Cộng đồng Hồi giáo tỉnh An Giang

6 Ban đại diện Cộng đồng Hồi giáo tỉnh Tây Ninh

7 Hội đồng Sư

8 Hội thánh Cao đài Tây Ninh

9 Hội thánh Cao đài Tiên Thiên

10 Hội thánh Cao đài Chơn lý

11 Hội thánh Cao đài Bạch y

12 Hội thánh Cao đài Chiêu minh Long Châu

13 Hội thánh Cao đài Minh chơn đạo

14 Hội thánh Cao đài Ban chỉnh

15 Hội thánh Cao đài Cầu kho Tam quan

16 Hội thánh Truyền giáo Cao đài

17 Giáo hội Phật đường Nam tông Minh sư đạo

18 Minh lý đạo-Tam tông Miếu

Trang 34

19 Tổng hội HTTL VN ( Việt Nam).

20 Tổng Liên hội HTTL VN ( Việt Nam )

21 Hội truyền giáo Cơ đốc Việt Nam

22 Hội truyền giáo Cơ đốc Phục lâm Việt Nam

23 Tổng hội Báp tít VN (Ân điển-Nam phương)

24 Hội thánh Mennonite Việt Nam

25 Hội thánh Liên hữu Cơ đốc Việt Nam

26 Hội thánh Tin lành Trưởng lão Việt Nam

27 Hội thánh Báp tít Việt Nam ( Nam phương)

28 Hội thánh Phúc Âm Ngũ Tuần

29 Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam

30 Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa

31 Bửu Sơn Kì Hương

32 Đạo Ba Hải

Trong số các tôn giáo ở Việt Nam, Phật giáo có số tín đồ đông đảo

nhất Theo thống kê của Ban Tôn giáo chính phủ Việt Nam năm 2005, hiện

có gần 10 triệu tín đồ Phật giáo, (còn theo số liệu thống kê của Giáo hộiPhật giáo Việt Nam, cả nước có gần 45 triệu tín đồ đã quy y Tam bảo, có

839 đơn vị gia đình Phật tử) và khoảng 44.498 tăng ni; hơn 14.775 tự, viện,tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường trong cả nước Ngoài ra từ 80% đến90% dân số Việt Nam mang thiên hướng Phật giáo

Có hai nhánh Phật giáo ở Việt Nam là Đại thừa và Tiểu thừa Phật giáoĐại thừa lần đầu tiên từ Trung Quốc vào tới vùng đồng bằng châu thổ sôngHồng của Việt Nam từ khoảng năm 200 và trở thành tôn giáo phổ biến nhấttrên toàn đất nước, trong khi Phật giáo Tiểu thừa từ Ấn Độ du nhập vàophía nam đồng bằng sông Cửu Long từ khoảng năm 300 - 600 và trở thànhtôn giáo chính ở vùng đồng bằng phía nam Việt Nam

Có thuyết khác lại cho rằng Phật giáo bắt đầu truyền vào Việt Nam trongkhoảng thế kỉ thứ ba đến thế kỉ thứ hai trước công nguyên từ Ấn Độ theo

Trang 35

đường biển chứ không phải từ Trung Hoa, Lúc đầu Phật giáo tại Việt nam(đồng bằng châu thổ sông Hồng) mang màu sắc của Phật giáo Tiểu thừanhưng về sau do ảnh hưởng của Trung Hoa mời chuyển dần thành Đại thừaTới ngày nay, Phật giáo đã trở thành tôn giáo phổ biến nhất tại ViệtNam, chiếm đa số tại hầu hết các tỉnh của Việt Nam.

Phật giáo Đại thừa được nhiều người thừa nhận là tôn giáo chính củangười Việt, người Hoa và một số dân tộc thiểu số sinh sống ở miền núi phíaBắc như Mường, Thái, Tày Phật giáo Đại thừa tại Việt Nam có ba tôngphái chính là Thiền tông, Tịnh Độ tông và Mật tông Trong thực tế Phậtgiáo Đại thừa ở Việt Nam tồn tại hòa hợp với Đạo giáo, Khổng giáo và cácđức tin bản địa như tục thờ cúng tổ tiên, thờ Mẫu

Trong khi đó Phật giáo Tiểu thừa lại được coi là tôn giáo chính củangười Khmer

Công giáo, hay Thiên Chúa giáo La Mã, lần đầu tiên tới Việt Nam vào

thời nhà Lê mạt (đầu thế kỉ 16 tại Nam Định) bởi những nhà truyền giáoTây Ban Nha và Bồ Đào Nha, trước khi Việt Nam là một thuộc địa củaPháp Pháp khuyến khích người dân theo tôn giáo mới bởi họ cho rằng nó

sẽ giúp làm cân bằng số người theo Phật giáo và văn hoá phương Tây mới

du nhập..Đầu tiên, tôn giáo này được lan truyền trong dân cư các tỉnh venbiển Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, sau đó lan tới vùngchâu thổ sông Hồng và các vùng đô thị

Theo thống kê từ 2005 ở Việt Nam có khoảng 5,5 triệu tín đồ Cônggiáo, và khoảng 6.000 nhà thờ tại nhiều nơi trên đất nước

Số giám mục người Việt được Tòa Thánh tấn phong trong 80 năm thờiPháp thuộc là 4 người, trong 30 năm chiến tranh (1945-1975) là 33 người ở cảhai miền, từ năm 1976 đến 2004 là 42 người Vatican đã có thỏa thuận vớichính phủ Việt Nam về việc không chỉ trích hay nói xấu lẫn nhau, không hỗtrợ bên thứ ba để chống lại nhau; khi tấn phong giám mục hoặc các chứcphẩm cao hơn, Vatican sẽ tham khảo ý kiến của chính phủ Việt Nam

Trang 36

Cao Đài, hay Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, là một tôn giáo bản địa Việt

Nam do Ngô Văn Chiêu, Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc thành lập năm

1926, với trung tâm là Tòa Thánh Tây Ninh Tôn giáo này thờ Đức CaoĐài (hay Thượng Đế), Phật và Chúa Giê-su Cao Đài là một kiểu Phật giáocải cách với những nguyên tắc thêm vào của Khổng giáo, Lão giáo vàThiên chúa giáo Các tín đồ Cao Đài thi hành những giáo điều như khôngsát sanh, sống lương thiện, hòa đồng, làm lành, lánh dữ, giúp đỡ xungquanh, cầu nguyện, thờ cúng tổ tiên và thực hành tình yêu thương vạn loạiqua việc ăn chay với mục tiêu tối thiểu là đem sự hạnh phúc đến cho mọingười, đưa mọi người về với Thượng Đế nơi Thiên Giới và mục tiêu tốithượng là đưa vạn loại thoát khỏi vòng luân hồi

Hiện có khoảng 2,4 triệu tín đồ Cao Đài tại Việt Nam, phân bố chủ yếutại các tỉnh Nam bộ (Đặc Biệt là Tây Ninh) và khoảng 30.000 tín đồ nữasống ở Hoa Kỳ, Châu Âu và Úc

Hòa Hảo, hay Phật giáo Hòa Hảo, là một tôn giáo Việt Nam gắn chặt

với truyền thống Phật giáo, do Huỳnh Phú Sổ thành lập năm 1939 tại làngHòa Hảo, quận Tân Châu (nay là An Giang), Châu Đốc

Đạo Hoà Hảo phát triển ở miền Tây Nam Bộ, kêu gọi mọi người sốnghòa hợp Tôn giáo này đánh giá cao triết lý "Phật tại tâm", khuyến khíchnghi lễ thờ cúng đơn giản (chỉ có hoa và nước sạch) và loại bỏ mê tín dịđoan Những buổi lễ được tổ chức rất đơn giản và khiêm tốn, không có ănuống, hội hè Lễ lộc, cưới hỏi hay ma chay không cầu kỳ như thường thấy

ở những tôn giáo khác Đạo không có tu sĩ, không có tổ chức giáo hội màchỉ có một số chức sắc lo việc đạo và cả việc đời

Hiện có khoảng 1,3 triệu tín đồ Hòa Hảo tập trung chủ yếu ở miền TâyNam Bộ (Đặc biệt là tứ giác Long Xuyên)

Tin Lành được truyền vào Việt Nam năm 1911 Đầu tiên, tôn giáo này chỉ

được cho phép tại các vùng do Pháp quản lý và bị cấm tại các vùng khác Đếnnăm 1920, Tin Lành mới được phép hoạt động trên khắp Việt Nam Năm

Trang 37

2004, số tín đồ Tin Lành ở Việt Nam vào khoảng 1 triệu người chủ yếu tậptrung ở Thành phố Hồ Chí Minh, khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc.

Về Hồi giáo,người ta cho rằng Hồi giáo đã được truyền vào Việt Nam

đầu tiên là khoảng thế kỉ 10, 11, ở cộng đồng người Chăm Năm 2004, tạiViệt Nam có khoảng 60.000 tín đồ Hồi giáo, chủ yếu ở Bình Thuận, NinhThuận, An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh Có haigiáo phái Hồi giáo của người Chăm: người Chăm ở Châu Đốc, TP Hồ ChíMinh, Tây Ninh và Đồng Nai theo Hồi giáo chính thống, còn người Chăm

ở Bình Thuận, Ninh Thuật theo phái Chăm Bà Ni

2.2 Sự vận dụng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong công cuộc đổi mới hiện nay của Đảng và Nhà nước ta.

2.2.1 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chính sách tôn giáo ở Việt Nam.

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, vừa có tôn giáo ngoại lai (Phậtgiáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Tin Lành), vừa có tôn giáo nội sinh (CaoĐài, Hòa Hảo) Vì vậy, giải quyết vấn đề về tôn giáo mà trọng tâm là chínhsách tôn giáo là một trong những nội dung đặc biệt quan trọng trong tưtưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo

Nhận thức đầy đủ vai trò của đồng bào tín đồ và chức sắc các tôn giáo là

cơ sở cho việc xác định chính sách tôn giáo, điều kiện có ý nghĩa quantrọng hàng đầu để thực hiện đoàn kết, tập hợp đông đảo quần chúng tín đồ

và chức sắc tôn giáo vào sự nghiệp chung của dân tộc Hiểu rõ điều đó, HồChí Minh đặc biệt quan tâm đến việc sớm ban hành chính sách tôn giáo.Chính vì thế, ngày 14-6-1955, Người đã kí sắc lện số 234-SL, ban hànhchính sách tôn giáo của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhằm thựchiện tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng tôngiáo của nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết lương - giáo và giữa các tôngiáo Đây là văn kiện pháp lý quan trọng đầu tiên thể hiện quan điểm về

Trang 38

chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta.

Theo Người, tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyền thuộc về quyền tự

do, dân chủ của công dân, do đó, mọi công dân đề có quyền theo hoặckhông theo một tôn giáo nào; những người có tín ngưỡng, tôn giáo đượcquyền ứng cử và bầu cử mà không hề có một sự phân biệt; quyền tự do tínngưỡng còn thể hiện ở nội dung tích cực đáu tranh với những biểu hiện viphạm quyền đó với bất kì ai Bởi tín ngưỡng, tôn giáo là niềm tin thiêngliêng cao cả trong đời sống tinh thần của giáo dân, chi phối tâm tư tìnhcảm, hành vi của họ Xúc phạm niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng là xúc phạmtín đồ, làm tổn hại, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, là mắc mưu thâm độccủa kẻ thù

Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh đã luôn luôn tôntrọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào Bản thân Người, trongmỗi cử chỉ, lời nói, việc làm đều thể hiện sự thông hiểu, thái độ tôn trọng,tình cảm chân thành, sự cảm thông sâu sắc đối với đồng bào các tôn giáo.Người cũng luôn nhắc nhở cán bộ không được xúc phạm tín ngưỡng, tôngiáo của đồng bào Vì vậy, Hồ Chí Minh đã viết: “Mọi người có quyền tự dotin đạo hay không tin, không ai được cưỡng bách và khinh rẻ họ… Ngàynay, chính sách của Đảng Cộng Sản là bảo hộ tôn giáo, và ngày sau cũngnhư vậy Đảng Cộng Sản chỉ tiêu diệt tội ác người bóc lột người”[9 ; 140].Đúng như lời nhận xét của một linh mục khi phân tích các sự kiện liên quanđến vị Giám mục - cố vấn của Chính phủ: “ Các lời lẽ của Cụ phê phán giáohội không bao giờ chạm đến khía cạnh Đức tin, mà chỉ nằm trong phạm vicác vấn đề cơ chế và chính trị” [9 ; 141]

Xanhtơni- một quan chức cấp cao của Chính phủ Pháp ở Đông Dương,nhân vật đối thoại chủ yếu với Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1945-1946cũng thừa nhận: “Về phần tôi, phải nói rằng, chưa bao giờ tôi có cơ sở đểnhận thấy trong các chương trình cử Cụ Hồ Chí Minh một dấu vết nào, dùrất nhỏ của sự công kích, đa nghi hoặc chế giễu đối với một tôn giáo bất kì

Trang 39

nào” [10 ; 19].

Những quan điểm cơ bản của Người về chính sách tôn giáo đã trở thànhnền tảng tư tưởng cho chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trongcách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay

2.2.2 Chỉ đạo cơ bản của Đảng Cộng Sản Việt Nam về công tác tôn giáo hiện nay.

Quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh về tôn giáo nói chung và công tác tôn giáo nói riêng trong quátrình tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, nhất là tình hình hiện nay,Đảng ta luôn dặc biệt quan tâm và coi trọng việc chỉ đạo công tác tôn giáonhằm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôngiáo của nhân dân được thực hiện

Trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992,

Điều 70 quy định: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theohoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo được tự do bình đẳng trướcpháp luật Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luậtbảo hộ Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụngtín ngưỡng, tôn giáo đẻ làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước” [8;40] Trên cơ sở đó, pháp luật của Nhà nước ta đã xác định rõ chính sách cụthể đối với tôn giáo ở nước ta là:

Mặt khác, với tư cách là công dân, mọi tín đồ có quyền công dân, đều

Trang 40

bình đẳng trước pháp luật về quyền lợi và ngĩa vụ công dân; không bị phânbiệt đối xử vì lý do tín ngưỡng trong mọi sinh hoạt xã hội, xóa bỏ mọithành kiến vì lý do đức tin; thực hiện đoàn kết mọi tín đồ trong khối địađoàn két toàn dân tộc.

Nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng của tín đồ thông qua việc tăngcường công tác giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin trong đồng bào có đạo;

mở rộng việc thu hút đồng bào có đạo vào các tổ chức quần chúng; pháthuy tiềm năng của nhân dân lao động và trí thức tôn giáo trong xây dựngcuộc sống mới và làm tròn ngĩa vụ công dân

Đối với chức sắc tôn giáo:

Đội ngũ chức sắc tôn giáo là nòng cốt của các giáo hội, họ giữ vai trò, vịtrí quan trọng trong quá trình hành đọa, quản đạo và truyền đạo Đồng thời,

họ còn giữ vai trò chủ yếu trong mối quan hệ giữa giáo hội và Nhà nước,giữa niềm tin tôn giáo của họ với ý thức chính trị và đạo đức xã hội, giữagiáo hội của họ với các giáo hội tôn giáo khác, cũng như giữ mối quan hệgiữa giáo hội của họ ở trong nước với các tổ chức giáo hội ở nước ngoài…

Do vậy, chính sách cụ thể đối với chức sắc tôn giáo là một khâu hết sứcquan trọng trong hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước ta

Đối với việc xét duyệt công nhận pháp nhân tôn giáo.

Nhà nước xem xét để cho phép trong từng trường hợp, khi: các giáo hội,các hệ phái tôn giáo có đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc; có tônchỉ, mục đích, điều lệ phù hợp với pháp luật Nhà nước; có tổ chức thíchhợp và có bộ máy nhân sự đảm bảo tốt cả mặt đạo và mặt đời

Về chương trình hoạt động: chức sắc phụ trách tôn giáo ở cơ sở (chùa,nhà thờ, thánh thất, thánh đường) phải đăng kí với chính quyền cơ sở (xã,phường) về tổ chức, nhân sự; về chương trình hoạt động tôn giáo thường lệ

Tổ chức và hoạt động tôn giáo bất thường, cũng phải thông báo, đăng

kí, hoặc được chấp thuận trước của chính quền địa phương

Đối với các hoạt động xã hội, văn hóa - từ thiện của tôn giáo.

Ngày đăng: 06/01/2014, 15:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Dân Vận Tỉnh ủy Nghệ An (2010), Tài liệu về công tác tôn giáo, Vinh Khác
2. Bộ Chính Trị (2003), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
3. Bộ Chính Trị (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
4. Lê Thanh Hà (2010), Giáo trình tôn giáo học, nxb Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh Khác
5. Đặng Nghiêm Vạn (2007) , Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
6. Hoàng Ngọc Vĩnh (2009), Giáo trình tôn giáo học đại cương, nxb Đại học Huế, Huế Khác
7. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1946 (2008), nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
8. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 (2008), nxb chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
9. Hỏi đáp tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc, tôn giáo (2008), nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Khác
10. Hồ Chí Minh về vấn đề tín ngưỡng tôn giáo (1998),nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Khác
11. Hội đồng biên soạn Quốc Gia (1999), Triết học Mác – Lênin, nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
12. Phạm Văn Đồng (1999), Hồ Chí Minh – Một con người, một thời đại, một sự nghiệp, nxb Sự thật, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w