Nguyễn Bá Linh 2005, Tư tưởng Hồ Chí Minh – độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội đã làm rõ tư tưởng độc lập dân tộc là ngọn cờ bách chiến, bách thắng của c
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
-NGUYỄN THỊ HIỀN
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN TRIẾT HỌC
Huế, 05 - 2011
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘITRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện: Th.s Phan Doãn Việt Nguyễn Thi Hiền
Triết K31
Huế, 05 - 2011
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ 4
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
5 Đóng góp của đề tài 5
6 Kết cấu 5
CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI 6
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội 6
1.1.1 Truyền thống văn hóa dân tộc 6
1.1.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại 8
1.1.3 Chủ nghĩa Mác - Lênin 11
1.2 Vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh 13
1.2.1 Nhận thức của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội 13
1.2.2 Mối quan hệ biện chứng giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh 17
1.2.3 Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là hướng tới giải phóng dân tộc, giai cấp và con người triệt để 24
CHƯƠNG 2: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI
Trang 4CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC
HIỆN NAY 26
2.1 Công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay 26
2.1.1 Khái quát công cuộc đổi mới ở Việt Nam 26
2.1.2 Đặc trưng của công cuộc đổi mới ở nước ta 29
2.1.3 Triển vọng của sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam 36
2.2 Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sơ sở lý luận để giải quyết đúng đắn mối quan hệ dân tộc và giai cấp 39
2.3 Nắm vững độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong hội nhập kinh tế quốc tế 43
2.3.1 Độc lập về chính trị - kinh tế 43
2.3.3 Độc lập về văn hóa 49
2.3.4 Độc lập về đối ngoại 52
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cuộc đời cao đẹp và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Bác Hồ đã trởthành “huyền thoại ngay từ khi Người còn sống” là niềm tự hào chung củadân tộc ta và của nhân loại Nhiều thập kỷ qua, đã có bao lời đành giá, ca ngợiNgười của các tổ chức quốc tế, của các chính khách và các nhà hoạt độngchính trị xã hội, của các nhà văn, các nhà báo, các nhà nghiên cứu…Ngoài ra,cũng đã có nhiều cuộc Hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế được tổ chức,hàng chục công trình nghiên cứu đồ sộ được tiến hành, hàng trăm cuốn sách,hàng nghìn bài viết của các nhà khoa học… nhằm tìm hiểu ngày một đầy đủhơn về một con người mà tên gọi và cuộc đời đã trở thành hình ảnh của dântộc, và sự nghiệp đã trở thành biểu tượng của thời đại Song có lẽ tất cả nhữngđiều ấy còn chưa đủ để trả lời cho câu hỏi của một nhà thơ: “Vì sao trái đấtnặng ân tình Nhắc mãi tên người – Hồ Chí Minh”
Tư tưởng Hồ Chí Minh là hình mẫu tuyệt vời về sự vận dụng mộtcách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh đặc thù của Việt Nam.Người đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa xã hội nhờ có sự giác ngộchủ nghĩa Mác – Lênin và nắm bắt được xu thế tất yếu của thời đại Độclập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư tưởng
Hồ Chí Minh Người đã khẳng định không phải một lần rằng, chỉ có chủnghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đềđộc lập dân tộc, mới có thể mang lại tự do, hạnh phúc thực sự cho nhândân, mới xóa bỏ vĩnh viễn áp bức, bóc lột và nô dịch, mới giải quyết tậngốc vấn đề giải phóng con người, giải phóng xã hội Lựa chọn con đường
xã hội chủ nghĩa cho sự phát triển của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã mởđường cho sự phát triển mới của nước ta, đặt cách mạng Việt Nam vào quỹđạo của cách mạng vô sản
Trang 6Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn khẳng định độc lập dân tộcgắn liền với chủ nghĩa xã hội Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội 1991 của Đảng nêu rõ: “Nắm vững độc lập dântộc và chủ nghĩa xã hội, đó là bài học xuyên suốt quá trình cách mạng nước
ta Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết thực hiện chủ nghĩa xã hội vàchủ nghĩa xã hội là cơ sở đảm bảo vững chắc cho độc lập dân tộc”
Nhìn lại 20 năm đổi mới, trong Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương tại Đại hội X, Đảng ta khẳng định rõ: “Trong quá trình
đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trênnền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Đổi mới khôngphải từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà làm cho chủ nghĩa xã hội đượcnhận thức đúng đắn hơn, và được xây dựng có hiệu quả hơn Đổi mớikhông phải xa rời mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triểnchủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tưtưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng”[7, 70] Nhưvậy, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu chính trị không thayđổi, dù trong bất cứ giai đoạn nào, hoàn cảnh nào của cách mạng ViệtNam
Trong công cuộc đổi mới đất nước, cả nước đang đi lên xây dựngchủ nghĩa xã hội thì vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hộivẫn giữ nguyên tính cấp thiết của nó
Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi chọn “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ ChíMinh là một vấn đề khá quen thuộc Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu
về tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Trang 7với nhiều cách tiếp cận khác nhau Như công trình nghiên cứu của các tác
giả: Nguyễn Bá Linh (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh – độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Vũ Đình Hòe, Bùi Đình Phong (đồng chủ biên) (2010), Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb chính trị quốc gia, Hà Nội.
Nguyễn Bá Linh (2005), Tư tưởng Hồ Chí Minh – độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội đã làm rõ tư tưởng
độc lập dân tộc là ngọn cờ bách chiến, bách thắng của cách mạng ViệtNam, thêm vào đó là những vận dụng sáng tạo của Hồ Chí Minh về lý luậncon đường đi lên chủ nghĩa xã hội Việt Nam
Gần đây nhất là công trình Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thuộc chương trình khoa học cấp bộ trọng điểm: Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay giai đoạn 2008 –
2009 của Vũ Đình Hòe và Bùi Đình Phong (đồng chủ biên) đã tập trung
làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóngdân tộc là cơ sở lý luận cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập tự do củadân tộc Việt Nam Quá trình hình thành hệ thống quan điểm của Hồ ChíMinh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc bắt đầu hìnhthành từ khi Người ra nước ngoài tìm đường cứu nước Dưới ánh sáng củachủ nghĩa Mác – Lênin gắn với quá trình hoạt động thực tiễn sôi nổi, phongphú, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc mang bảnchất cách mạng và khoa học, soi sáng con đường sự nghiệp đấu tranh giànhđộc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam, từ cách mạng tháng Tám năm
1945 qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống lại hai đế quốc to là Pháp
và Mỹ, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Tư tưởng xuyênsuốt như triết lý phát triển xã hội Việt Nam của Hồ Chí Minh là trong hoàncảnh nước thuộc địa thì nhiệm vụ trước tiên là đấu tranh giành cho kỳ đượcđộc lập dân tộc Nhưng nếu nước độc lập mà dân không được hạnh phúc tự
Trang 8do, thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì Đề tài tập trung phân tích hệthống quan điểm Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, lấy đó làm cơ sở lýluận xây dựng và hoàn thiện chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Dưới ánh sáng
tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, cách mạng Việt Nam từ năm
1954 trở đi, trước hết là ở miền Bắc, đã từng bước giành được những thắnglợi có ý nghĩa lịch sử Từ năm 1954 đến năm 1964, sự nghiệp xây dựng chủnghĩa xã hội ở miền Bắc dưới ánh sáng tư tưởng và sự chỉ đạo trực tiếp của
Hồ Chí Minh, đất nước, xã hội và con người đều đổi mới Những thành tựu
to lớn của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã khẳng định cách mạng
xã hội chủ nghĩa đóng vai trò quyết định nhất đối với sự nghiệp giải phóngmiền Nam, thống nhất Tổ quốc Thế giới đổi thay, nhưng tư tưởng Hồ ChíMinh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vẫn còn nguyên giá trị vànóng hổi tính thời sự
Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước,chúng tôi tập trung nghiên cứu sự vận dụng của Đảng cộng sản Việt Nam
về tư tưởng “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” của Hồ ChíMinh trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, thể hiện rõ nhất đó là độclập về chính tri – kinh tế, về văn hóa, và về đối ngoại, đồng thời là cơ sở đểĐảng ta giải quyết đúng đắn mối quan hệ dân tộc và giai cấp hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ
* Mục đích: Làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội và sự vận dụng của Đảng ta trong công cuộc đổi mới ởViệt Nam hiện nay
* Nhiệm vụ:
- Phân tích nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội
Trang 9- Làm rõ sự vận dụng của Đảng cộng sản Việt Nam về tư tưởng độclập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong công cuộc đổi mới nước tahiện nay.
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủnghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đềđộc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài có sử dụng nhất quán các phươngpháp cụ thể như phân tích, tổng hợp, lôgic và lịch sử, khái quát hóa, hệthống hóa, so sánh…
5 Đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần nghiên cứu làm phong phú thêm tư liệu tư tưởng HồChí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và đặc biệt làlàm rõ sự vận dụng của Đảng ta về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay Đề tài có thể làm tài liệutham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này
6 Kết cấu
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 2chương, 5 tiết
Trang 10CHƯƠNG 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC
GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI
1.1 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
1.1.1 Truyền thống văn hóa dân tộc
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam, thậthiếm có những thời kỳ hòa bình lâu dài mà đó là những cuộc đấu tranh liêntiếp chống bọn xâm lược bên ngoài để bảo vệ nền độc lập của đất nước,những cuộc nổi dậy của nông dân chống bọn phong kiến trong nước Vìvậy dân tộc Việt Nam luôn có ý thức giữ nước, luôn luôn sẵn sàng đấutranh bảo vệ Tổ quốc
Những cố gắng lớn lao của nhân dân ta từ thể kỷ này sang thể kỷkhác nhằm chinh phục thiên nhiên và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược đểsống còn, để dựng nước và giữ nước, để đưa đất nước phát triển đã tôiluyện nên những truyền thống yêu nước, ý chí kiên cường, đoàn kết vàthống nhất, độc lập và tự chủ, yêu lao động và sáng tạo, bền bỉ và lạc quan.Bởi vậy, chủ nghĩa yêu nước là truyền thống quý báu của dân tộc ViệtNam Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Từ xưa đến nay, mỗi khi tổ quốc bị xâm lăngthì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, tolớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bánnước và lũ cướp nước” [35, 484 - 485]
Tới giữa thể kỷ XIX, xã hội Việt Nam trải qua những thay đổi lớnlao Để bảo vệ những quyền lợi ích kỷ của giai cấp mình, tập đoàn phong
Trang 11kiến Việt Nam, mà đại biểu là triều đình nhà Nguyễn, đã đầu hàng và thừanhận sự đô hộ của thực dân Pháp Có thể nói, giai cấp phong kiến ViệtNam đã không dám đi cùng với nhân dân, phát động nhân dân kháng chiến
để bảo vệ độc lập và chủ quyền dân tộc Thời kỳ đó, giai cấp phong kiếnViệt Nam càng bộc lộ rõ hơn sự thối nát và bản chất phản động của nó
Từ một quốc gia độc lập, thống nhất, có chủ quyền, Việt Nam biếnthành một nước thuộc địa, bị chia cắt và tên gọi cũng bị xóa đi trên bản đồthế giới Trong bài báo viết năm 1924 về Cách mạng Nga và các dân tộcthuộc địa, Hồ Chí Minh đã viết rằng: “con đỉa thực dân Pháp” thò ra hai cáivòi, vừa hút máu nhân dân lao động Pháp vừa hút máu nhân dân Việt Nam.Dưới ách áp bức và bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp và bọn phong kiếntay sai, nhân dân Việt Nam bị biến thành nô lệ của chủ nghĩa tư bản Pháp
Triều đình nhà Nguyễn đã đầu hàng thực dân Pháp, mặc dù bị khủng
bố và đàn áp khốc liệt nhưng nhân dân Việt Nam vẫn tiếp tục cầm vũ khí tiếnhành cuộc chiến đấu anh dũng chống lại những kẻ cướp nước và những tênbán nước Phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp lan rộng ra khắp cảnước Với ý chí nhất định không chịu làm nô lệ, không chịu khuất phục nhândân ta đã anh dũng đứng lên chống thực dân, phong kiến dành độc lập chodân tộc Tuy nhiên, tất cả các phong trào yêu nước lúc bấy giờ đều thất bại
Thiên tài của Nguyễn Ái Quốc chính là ở chỗ, vượt lên tầm nhìn bịràng buộc của ý thức hệ Nho giáo hay hệ tư tưởng cải lương tư sản của cácbậc sĩ phu, những nhà yêu nước đương thời, Người đã mang đến cho dântộc Việt Nam sự thức tỉnh mới mang tính thời đại Là người yêu nước,thương dân, Nguyễn Ái Quốc sớm nhận ra sự giả dối giữa lời nói và hànhđộng của những kẻ nhân danh văn minh để khai hóa cho dân tộc mình.Người hướng tới việc tìm cho ra nguồn gốc của mọi nỗi đau của dân tộc từbản chất kẻ thù - chủ nghĩa thực dân xâm lược Trong quá trình tìm đườngcứu nước, cứu dân, từ khảo nghiệm, đúc kết kinh nghiệm trong nước và thế
Trang 12giới, Người đã thâu tóm lý luận thời đại để hình thành nên một chiến lược,một đường hướng cách mạng có khả năng giải quyết những đòi hỏi kháchquan đang đặt ra lúc bấy giờ của dân tộc Việt Nam Theo đó, Người khẳngđịnh rằng: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đườngnào khác con đường cách mạng vô sản”, “chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủnghĩa cộng sản mới giải phóng các dân tộc bị áp bức và những người laođộng trên thế giới khỏi ách nô lệ” [23, 314] Đó là con đường đấu tranh lâudài, gian khổ và phức tạp, đòi hỏi tất cả mọi người phải kiên định: “Trongcuộc đấu tranh một mất một còn giữa một bên là giai cấp công nhân, nhândân lao động và các dân tộc bị áp bức với một bên là bọn đế quốc cùng bè
lũ tay sai bán nước, bọn phong kiến địa chủ và tư sản phản động, nhân dâncác nước cần có tinh thần cách mạng triệt để, luôn luôn giương cao ngọn cờcủa chủ nghĩa anh hùng cách mạng, không sợ gian khổ, hy sinh, kiên quyếtđấu tranh đến cùng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Từ đó Ngườixác định con đường phát triển của cách mạng nước ta gắn độc lập dân tộcvới chủ nghĩa xã hội mà trong Cương lĩnh chính trị, Người viết: “Làm cáchmạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”
1.1.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại
Về phương diện thực tiễn – lịch sử, khẳng định của Hồ Chí Minh vềcon đường đi lên chủ nghĩa xã hội của cách mạng Việt Nam, độc lập dântộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được đặt trên một nền hiểu biết sâu rộnglịch sử của các cuộc cách mạng đã từng diễn ra trên thế giới Trong tácphẩm “Đường cách mệnh”, Hồ Chí Minh chia các cuộc cách mạng đóthành ba loại: A Tư bản cách mệnh (như cách mệnh Pháp năm 1789), B.Dân tộc cách mệnh (như cách mệnh Ý 1859), C Giai cấp cách mệnh (nhưcách mệnh Nga 1917) Để đánh giá vị trí lịch sử và chức năng xã hội củacác cuộc cách mạng dân chủ tư sản, đặc biệt là cách mạng Pháp 1789 vàcách mạng Mỹ 1776, Hồ Chí Minh nhìn thấy và phát hiện rằng: Các cuộc
Trang 13cách mạng đó đều là cách mạng tư sản và là những cuộc cách mạng khôngtriệt để, chẳng hạn “Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 nămnay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ
hai”[21, 270] Hoặc như cách mạng Pháp 1789 mặc dầu được xem là một
cuộc cách mạng tư sản điển hình, nhưng “cũng như cách mạng Mỹ, nghĩa
là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa dân chủ,
kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa.Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn mưu cách mệnhlần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức”[21, 280]
Trong quan niệm của Hồ chí Minh, tiêu chí hàng đầu để đánh giá tínhtriệt để của một cuộc cách mạng không phải là những lý tưởng, khẩu hiệuđược nêu ra, mà là quy mô giải phóng quần chúng lao động bị áp bức Cáchmạng dân chủ tư sản, do bản chất của nó, chỉ là sự thay thế một hình thức ápbức, bóc lột khác, đại bộ phận người lao động vẫn sống kiếp ngựa trâu Logícphát triển khách quan của lịch sử tất yếu dẫn đến một cuộc cách mạng khácnhằm xóa bỏ sự thống trị của giai cấp tư sản, được quần chúng lao động từ địa
vị làm thuê thành người chủ chân chính thật sự của xã hội Do những nhu cầunội tại khách quan, cách mạng Việt Nam không và sẽ không thể lặp lại nhữngvết lăn của cách mạng Mỹ 1776 và cách mạng Pháp 1789
Qua quá trình tìm tòi và khảo nghiệm, Hồ Chí Minh đã chọn cáchmạng tháng Mười Nga, rằng chỉ có cách mạng Nga 1917 chỉ rõ con đường
đi tới của cách mạng Việt Nam Trong cái nhìn của Hồ Chí Minh, cáchmạng tháng Mười Nga là một cuộc cách mạng giai cấp, nằm trong dòngchảy liên tục của quá trình giải phóng con người Xét về bản chất, cáchmạng tháng Mười như là một sự nổi trội, vượt xa và khác hẳn các cuộccách mạng từng diễn ra trong lịch sử trước đó Đúng như nhận định của HồChí Minh: “Trong thế giới bấy giờ chỉ có cách mạng Nga là thành công vàthành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc, tự do,
Trang 14bình đẳng thật, không phải bình đẳng và giả dối như đế quốc Pháp khoekhoang bên An Nam Cách mệnh Nga đã đuổi được Vua, tư bản, địa chủ,rồi lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làmnên cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc và tư bản trong thế giới” [21, 280].Tính triệt để và nội dung nhân đạo của cách mạng tháng Mười sau này cònđược Hồ Chí Minh khẳng định lại Nhờ cuộc cách mạng đó mà nhân dânlao động đã làm chủ nước nhà, những dân tộc nhỏ yếu giành được độc lập,ruộng đất trở về tay người cày.
Từ trong nội dung, cách mạng tháng Mười đồng thời giải quyết hàngloạt các mâu thuẫn và thực hiện cùng một lúc sự nghiệp giải phóng giai cấp
và dân tộc, giải phóng lao động và con người – biến người nô lệ thành người
tự do Nền dân chủ Xô viết với những thiết chế của mình đã vĩnh viễn xóa
bỏ những cơ sở kinh tế, đẻ ra tình trạng áp bức, bất công, bất bình đẳng xãhội, thủ tiêu chế độ người bóc lột người Từ đây con người được hoàn toànkhẳng định với tư cách là chủ thể sáng tạo thực sự của lịch sử, các nhu cầu,lợi ích của nó được thỏa mãn, phẩm giá được tôn trọng Lý tưởng nhân đạo
“Vì con người, cho con người, do con người” được cách mạng tháng Mườithực hiện một cách trọn vẹn trong đời sống thực tế và nâng lên một trình độmới: Chủ nghĩa nhân đạo hiện thực Cộng sản chủ nghĩa
Sự so sánh về mặt lý luận và kinh nghiệm kiểm chứng lịch sử củanhiều chế độ xã hội đương đại đã tạo cho sự lựa chọn con đường phát triểncách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh có sức nặng thuyết phục, dễ đi vàolòng người Chính sự so sánh này đã dẫn Hồ Chí Minh đến một nhận thứckhông thể khác được: cách mạng Việt Nam muốn thực hiện một cách triệt
để không có con đường nào khác con đường cách mạng tháng Mười Chủtrương “làm cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng để đi tới xãhội cộng sản, là cả một quá trình nhận thức về lý luận và thực tiễn, suy
Trang 15ngẫm và so sánh để rồi cuối cùng có một quyết định lựa chọn dứt khoát cóảnh hưởng đến vận mệnh và tương lai của dân tộc
1.1.3 Chủ nghĩa Mác - Lênin
Về phương diện lý luận, Hồ Chí Minh tìm thấy nhiều câu trả lời chotình thế cách mạng Việt Nam trong lý luận của Lênin, đặc biệt là nhữngvấn đề về dân tộc và thuộc địa, về khả năng và triển vọng tương lai của cácdân tộc phương Đông Trong những điều kiện lịch sử mới, Lênin đã pháttriển tư tưởng cách mạng không ngừng của Mác, Ăngghen, luận chứng mộtcách toàn diện khả năng đi tới chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển
tư bản chủ nghĩa của các dân tộc thuộc địa, có nền kinh tế lạc hậu, kémphát triển Trên nền lý luận chung đó, Hồ Chí Minh đã lĩnh hội những vấn
đề mấu chốt, cần thiết nhất cho nhân dân mình, dân tộc mình
Xuất phát từ đặc điểm một nước thuộc địa và truyền thống dân tộc,
Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo tư tưởng cách mạng không ngừng củaMác, Ăngghen và Lênin bằng việc đề ra đường lối cách mạng dân tộc dânchủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội, không qua chế độ tư bản chủ nghĩa.Đây là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thuộc phạm trù cách mạng vôsản do giai cấp công nhân lãnh đạo nhằm mục đích đấu tranh cho độc lậpdân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội
So với Lênin, điểm mới trong tư tưởng cách mạng không ngừng của
Hồ Chí Minh là giai cấp công nhân không phải tiến hành hai cuộc cáchmạng chính trị như cách mạng Nga và cách mạng Trung Quốc Sự thốngnhất biện chứng giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, giải phóngcon người được biểu hiện ở ngay trong nội dung cuộc cách mạng Cáchmạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội là một quá trìnhphát triển không ngừng của hai nhiệm vụ chiến lược trong một cuộc cách
Trang 16mạng được tiến hành liên tục, xen kẽ và thúc đẩy lẫn nhau: giải phóng dântộc về mặt chính trị và giải phóng dân tộc về mặt kinh tế Như vậy, cáchmạng không ngừng ở Việt Nam là một quá trình đấu tranh và biển đổi liêntục, có thay đổi một phần về đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nhưngkhông thay đổi phương hướng, mục tiêu, động lực, lực lượng và giai cấplãnh đạo.
Tư tưởng cách mạng không ngừng của Hồ Chí Minh – độc lập dântộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội gắn liền với nhau là tổng hợp những quanđiểm chiến lược về chính trị, lý luận, về nhận thức và hành động của toànĐảng, toàn dân ta trong tiến trình cách mạng
Hơn thế nữa, trong hoàn cảnh lịch sử của chính đất nước và bản thân,sinh ra và lớn lên trong thời đại mà những mâu thuẫn bên trong của chủnghĩa tư bản, đế quốc đang gay gắt và sự vùng dậy của cách mạng phươngĐông, phát triển song song với phong trào đấu tranh của vô sản và lao động
ở các nước tư bản chủ nghĩa, Người sớm nhận ra mâu thuẫn cơ bản giữachủ nghĩa đế quốc với các dân tộc thuộc địa, giữa các đế quốc với đế quốc
và mối quan hệ giữa các thuộc địa với chính quốc và giữa các thuộc địa vớinhau Người hiểu sâu sắc quan điểm nổi tiếng của Lênin khi cho rằng bướcvào thời đại của đế quốc chủ nghĩa và cách mạng vô sản, cách mạng thuộcđịa tuy vẫn mang nội dung dân tộc dân chủ nhưng không còn thuộc phạmtrù cách mạng tư sản kiểu cũ mà đã trở thành cách mạng tư sản dân chủkiểu mới, trở thành một bộ phận khăng khít của cách mạng vô sản, do Đảngcủa giai cấp vô sản lãnh đạo Hồ Chí Minh nói: “Trong phạm vi thời đạingày nay cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận khăng khít của cáchmạng vô sản trên phạm vi thế giới”
Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không cócon đường nào khác con đường cách mạng vô sản” Theo Hồ Chí Minh,cách mạng vô sản với cách mạng giải phóng dân tộc là hai dòng thác của
Trang 17một quá trình cách mạng Hai dòng thác ấy không chắn ngang nhau hoặcchảy ngược chiều nhau mà là hợp lưu trong dòng thác chung của cáchmạng thế giới Với quan niệm đó, Người luôn tìm các nhân tố thống nhấtcủa hai dòng thác và chính Người là người đầu tiên thực hiện thành công sựhợp lưu đó trong quá trình cách mạng Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám
1945 đến hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giảiphóng hoàn toàn đất nước
1.2 Vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh
1.2.1 Nhận thức của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyênsuốt cách mạng Việt Nam, là một trong những nội dung cơ bản, cốt lõitrong tư tưởng Hồ Chí Minh, là một nhân tố quyết định thắng lợi của cáchmạng việt Nam gần tám thập kỷ qua Nhận thức của Hồ Chí Minh về độclập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội đã trải qua một cuộc hành trình,khảo nghiệm đầy gian khổ của Người, nhận thức đó dựa trên cơ sở củatruyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại và chủ nghĩa Mác– Lênin để hình thành
Trước hết, theo Hồ Chí Minh độc lập dân tộc là quyền độc lập thực
sự, độc lập hoàn toàn về chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh quốc gia, toànvẹn lãnh thổ… Quyền độc lập dân tộc là thiêng liêng, bất khả xâm phạm
Do vậy, bất cứ thế lực nào xâm lược đều bị đánh trả, bất cứ kẻ nào phá hoạiđều bị trừng trị Lập trường và quan điểm trên của Hồ Chí Minh được thểhiện nhất quán và kiên quyết giữ vững trong bất cứ tình huống nào Đầutháng 2 năm 1946, Người nói với tướng R Xalăng và cũng là với chínhphủ Pháp: “Độc lập về câu chữ đối với tôi không quan trọng Điều quantrọng đối với tôi là nội dung của nó Tất nhiên chúng tôi muốn có nhiều sự
Trang 18giao lưu kinh tế, các quan hệ văn hóa rộng hơn, muốn cán bộ, kỹ sư Pháplàm việc trong mọi lĩnh vực, nhưng chúng tôi cũng muốn làm chủ ở nướcmình…cho dù cả thế giới chống lại chúng tôi, chúng tôi cũng không thểchấp nhận làm nô lệ” [10, 130-131].
Nền độc lập thực sự và hoàn toàn phải được thực hiện một cách triệt
để theo nguyên tắc: nước Việt Nam của người Việt Nam, mọi vấn đề thuộcquyền quốc gia Việt Nam đều do nhân dân Việt Nam tự giải quyết Nhândân Việt Nam quyết không chấp nhận bất cứ sự can thiệp xâm lược nào củanước ngoài Mọi sự ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam đều được hoan nghênh vàghi nhận Mọi sự áp đặt xâm phạm chủ quyền quốc gia đều bị từ chối Đócũng là một trong những vấn đề trọng yếu có tính nguyên tắc Như Hồ ChíMinh đã nói với Anđrê Blăngsê, phóng viên báo Le Monde, tháng 1 năm1946: “Chúng tôi đã sẵn sàng có nhiều điều nhân nhượng, nhất là về mặtkinh tế Điều chúng tôi muốn có ở các nhà giáo thì được, thầy tu thì không;
là cộng tác viên, học trò thì được, là nô lệ thì không; giáo sư, nhà báo thìđược, là nô lệ thì không; giáo sư, nhà báo, bác sĩ, kỹ sư chúng tôi cần cónhiều không cần các viên quan cai trị nữa” [2, 105]
Độc lập dân tộc bao giờ cũng phải gắn với hòa bình, thống nhất đấtnước Người nhấn mạnh: Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một.Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi
Độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do, hạnh phúc của nhân dân Đây
là vấn đề cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc Đó cũng làhoài bão, lý tưởng cao đẹp mà Hồ Chí Minh theo đuổi trong suốt cuộc đờihoạt động cách mạng, với mục tiêu cao nhất là làm cho nước ta được hoàntoàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áomặc, ai cũng được học hành Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập,Người chỉ rõ: “… nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc,
Trang 19tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” [30,56] “Dân chỉ biết rõ giá trịcủa tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ” [30, 152].
Độc lập cho dân tộc mình đồng thời phải tôn trọng và ủng hộ cuộcđấu tranh cho độc lập, tự do của các dân tộc khác, phải nêu cao tinh thầnquốc tế trong sáng, chống lại mọi biểu hiện hẹp hòi, vị kỷ, sô vanh nước lớn
Quan niệm đó đã hướng Hồ Chí Minh đi theo con đường chủ nghĩa
xã hội, vì chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản “mới cứu nhân loại,đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc của sự tự
do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất” [29, 461] Vì vậy,
“cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủnghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn” [34, 30]
Hồ Chí Minh không đưa ra một định nghĩa về chủ nghĩa xã hội vớinhững mục tiêu đầy đủ, toàn diện, hoàn chỉnh của một mô hình lý tưởngđược xây dựng sẵn trong tư tưởng, nhận thức để từ đó “bắt thực tiễn phảikhuôn vào” Ở Người, chủ nghĩa xã hội không chỉ là lý tưởng mà còn làphong trào hiện thực với những mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể, thiết thực, đápứng nguyện vọng của nhân dân và phù hợp với thực tiễn nước ta TheoNgười: “Xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càngtốt, đó là chủ nghĩa xã hội” [33, 159], “chủ nghĩa xã hội là làm cho mọingười dân được ấm no, hạnh phúc và học hành tiến bộ” [33, 97], “nói mộtcách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dânlao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được
ấm no và sống cuộc đời hạnh phúc” [33, 17] Như vậy theo Hồ Chí Minh,chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ để “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”
Về chính trị, chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội do nhân dân laođộng làm chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân, địa vị cao nhất là dân.Dân có quyền, đồng thời có trách nhiệm và nghĩa vụ của người làm chủ
Trang 20Người chỉ rõ: “…chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa là chế độ
do nhân dân lao động làm chủ…” [32, 291]
Về kinh tế, chủ nghĩa xã hội có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lựclượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu,nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân Theo
Hồ Chí Minh “chủ nghĩa xã hội là lấy nhà máy, xe lửa, ngân hàng…làm củachung” [31, 226] và chủ nghĩa xã hội “gắn liền với sự phát triển khoa học và
kỹ thuật, với sự phát triển văn hóa của nhân dân” [32, 586]
Về văn hóa, chủ nghĩa xã hội là một xã hội phát triển cao về văn hóa,đạo đức, trong đó con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bấtcông, có cuộc sống tinh thần phong phú, có điều kiện để phát triển hết mọikhả năng của mình Bởi vì, “…chỉ có trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗingười mới có điều kiện để cải thiện đời sống của riêng mình, phát huy tínhcách riêng và sở trường riêng của mình” [32, 291]
Chủ nghĩa xã hội là một xã hội công bằng “một xã hội không có chế
độ người bóc lột người, một xã hội bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải laođộng và có quyền lao động, ai làm nhiều thì hưởng nhiều, làm ít hưởng ít,không làm không hưởng” [32, 23]; các dân tộc đều bình đẳng, miền núiđược giúp đỡ để tiến kịp miền xuôi; về đối ngoại, chủ nghĩa xã hội là hòabình, hữu nghị, làm bạn với tất cả các nước
Như vậy, quan niệm của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội có sự gắn bó thống nhất và quan hệ biện chứng với nhau Đótuy là hai giai đoạn kế tiếp nhau của một quá trình cách mạng, nhưng lạikhông tách rời nhau, mà giai đoạn trước là sự chuẩn bị điều kiện cho giaiđoạn sau và giai đoạn sau là sự kế tục và hoàn thiện các mục tiêu của giaiđoạn trước Với Hồ Chí Minh, sức mạnh của yếu tố dân tộc không chỉ làsức mạnh truyền thống vốn có, mà đã phát triển, nâng lên một tầm cao mới,nhờ biết kết hợp lý tưởng xã hội chủ nghĩa Thực tế đã chứng minh, trong
Trang 21các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ giành độc lập củađất nước, lý tưởng xã hội chủ nghĩa đã góp phần nhân lên sức mạnh tinhthần của dân tộc, giúp nhân dân ta vượt qua bao gian khổ, hy sinh, hoàn
Trong suốt quá trình cách mạng đó, mối quan hệ biện chứng thể hiện ở
chỗ, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở đảm bảo vững chắc cho độc lập dân tộc Nghiên
cứu mối quan hệ biện chứng giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong tưtưởng Hồ Chí Minh được thể hiện qua mối quan hệ giữa ba cuộc cách mạng:cách mạng dân tộc, cách mạng dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa Cóthể nói đây là một quá trình phát triển liên tục của cách mạng nước ta
Trước hết, là mối quan hệ giữa cách mạng dân tộc với cách mạng dân chủ Có thể lấy cách mạng Nga và cách mạng Trung Quốc làm điểm so
sánh Nước Nga sa hoàng là một nước độc lập, đế quốc tư bản bậc trung
Vì là nước độc lập, cho nên cách mạng Nga không phải giải quyết vấn đềdân tộc Tuy vậy, cách mạng Nga năm 1917 đã trải qua hai lần giải quyếtchính quyền: Cách mạng tháng Hai (1917) chính quyền rơi vào tay giai cấp
tư sản; thắng lợi của cách mạng tháng Mười (7/11/1917), công nông Ngamới giành được chính quyền về tay mình Ở Trung Quốc những năm 1937–
Trang 221945, Quốc – Cộng hợp tác lần thứ hai để chống phát xít Nhật Sau khiNhật Bản đầu hàng Đồng minh (8/1945), chính quyền thuộc về Quốc dânĐảng do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo Đến ngày 1/10/1949, sau khi quângiải phóng nhân dân Trung Quốc đẩy Quốc dân Đảng ra Đài Loan, chínhquyền mới thuộc về tay công nông.
Ở Đông Dương, căn cứ tình hình tiến triển cách mạng chung trên thếgiới, trong Nghị quyết về cách mạng Đông Dương (9–1929), Quốc tế Cộngsản chỉ rõ: Trong giai đoạn đầu của cuộc cách mạng đó chỉ có thể tư sảndân chủ, nghĩa là trong giai đoạn đó nó chưa thể giải quyết những vấn đềtrực tiếp xã hội chủ nghĩa… Tính chất của nó, cách mạng Đông Dươngphải là và sẽ là một cuộc cách mạng ruộng đất và phản đế
Việt Nam là nước thuộc địa, nửa phong kiến, nghĩa là hoàn cảnhkhác Nga và Trung Quốc, nên đòi hỏi Hồ Chí Minh phải vận dụng sáng tạokinh nghiệm cách mạng Nga, cách mạng Trung Quốc và Nghị quyết củaQuốc tế cộng sản trong tiến trình cách mạng Việt Nam nhằm đảm bảothắng lợi, đồng thời góp phần vào thắng lợi chung của cách mạng thế giới
Do đó, khi thành lập Đảng, Hồ Chí Minh “chủ trương làm tư sản dân quyềncách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” Cuộc cáchmạng mà Hồ Chí Minh chủ trương mang tính chất một cuộc cách mạng vôsản ở nước thuộc địa, nửa phong kiến, có nền kinh tế chưa phát triển Cuộccách mạng đó có ba nhiệm vụ cơ bản được tiến hành khăng khít với nhau,nhưng không nhất loạt ngang hàng nhau:
Một là, đánh đuổi thực dân đế quốc Pháp, giành lại độc lập cho dân tộc;Hai là, đánh đổ chính quyền tay sai của thực dân Pháp (phong kiếnđương quyền, tầng lớp đại địa chủ và đại tư sản việt Nam) thực hiện khẩuhiệu “người cày có ruộng” và các quyền dân chủ cơ bản cho nhân dân
Trang 23Ba là, tiến hành từng bước xây dựng đất nước độc lập, không ngừngnâng cao đời sống vật chất và văn hóa cho nhân dân, hướng theo mục đích
“đi tới xã hội cộng sản”
Ba nhiệm vụ cơ bản nói trên được chỉ đạo thực hiện lồng ghép khăngkhít, xen kẽ với nhau thành hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng:
- Chiến lược giải phóng dân tộc chủ yếu về mặt chính trị - độc lậpdân tộc
- Chiến lược giải phóng dân tộc chủ yếu về mặt kinh tế - tức là xâydựng chủ nghĩa xã hội
Khi đất nước đã giành được độc lập toàn vẹn và tiếp tục sự nghiệpxây dựng chủ nghĩa xã hội thì hai nhiệm vụ chiến lược đó có vị trí ngượclại là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc
Hai nhiệm vị chiến lược nói trên là nội dung của chiến lược cách mạngdân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội Đó là chiến lược của cáchmạng Việt Nam – độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có mối quan hệ biệnchứng không thể tách rời: không có độc lập thực sự thì không thể xây dựngđất nước theo xã hội xã hội chủ nghĩa Mặt khác, xây dựng chủ nghĩa xã hội
để đi tới xã hội cộng sản thành công thì độc lập dân tộc thực sự vững bền và
vị thế của đất nước vững vàng, đời sống vật chất và tinh thần của mọi ngườidân sẽ được bảo đảm và không ngừng được nâng cao Cho nên giành độc lậpdân tộc là mục tiêu trước mắt và xây dựng chủ nghĩa xã hội “để đi tới xã hộicộng sản” là mục tiêu lâu dài của cách mạng Việt Nam
Bởi độc lập dân tộc là mục tiêu trước mắt nên trong Kính cáo đồng bào từ nước ngoài gửi về (6/6/1941), Nguyễn Ái Quốc đã viết: “Trong lúc
này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy Chúng ta phải đoàn kếtlại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nướcsôi lửa bỏng” [24, 198] Quán triệt tư tưởng đó, Nghị quyết của Hội nghịBan Chấp hành Trung ương lần thứ tám (5-1941) đã khẳng định: “Trong
Trang 24lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòiđược độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc giadân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấpđến vạn năm cũng không đòi lại được” [8, 113].
Vị trí của độc lập dân tộc như C.Mác đã từng dạy: Không khôi phụclại độc lập và thống nhất cho từng dân tộc thì về phương diện quốc tếkhông thể thực hiện được sự đoàn kết của giai cấp vô sản và sự hợp tácgiữa các dân tộc để đạt được mục tiêu chung là giải phóng toàn thể xã hộikhỏi ách bóc lột, áp bức và khỏi những cuộc đấu tranh giai cấp
Theo Hồ Chí Minh, trong sự nghiệp giành độc lập dân tộc, thì vấn đềdân tộc và vấn đề dân chủ là hai nhiệm vụ cơ bản cần được tiến hành khăngkhít với nhau, nhưng không tiến hành song song nhất loạt ngang nhau Ưutiên vấn đề dân tộc vì đó là sự nghiệp giải phóng toàn dân, không phân biệtgiai cấp, dân tộc, tôn giáo, giàu nghèo Hễ ai là người Việt Nam đều được đổiđời, từ người dân mất nước thành người làm chủ đất nước Còn vấn đề dânchủ phải phục vụ cho nhiệm vụ dân tộc Do vậy, để huy động lòng yêu nướccủa giai cấp nông dân và các tầng lớp địa chủ vừa và nhỏ vào việc cứu nước,ngay trong Cương lĩnh thành lập Đảng, Hồ Chí Minh đã viết: “Đảng phải thuphục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào dân cày nghèo làm thổđịa cách mạng, đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến” [24, 3]
Khi có điều kiện tiến hành cách mạng ruộng đất, Hồ Chí Minh chủtrương dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liênhiệp với phú nông, tiêu diệt chế độ bóc lột phong kiến từng bước và cóphân biệt, phát triển sản xuất, đẩy mạnh kháng chiến Theo Hồ Chí Minh,trong khi thực hiện cải cách ruộng đất phải phân biệt đỗi đãi với địa chủ tùythái độ chính trị của mỗi người Nghĩa là dùng chính sách phân biệt: tịchthu, trưng thu, trưng mua, kêu gọi hiến điền để tự cải tạo thành phần xã hội
mà không dùng chính sách tịch thu cả loạt hay trưng thu cả loạt Chính
Trang 25sách cải cách ruộng đất nói trên của Người vừa thỏa mãn yêu cầu của nôngdân về ruộng đất, vừa củng cố liên minh công nông và trí thức, vừa củng cố
và phát triển Mặt trận dân tộc thống nhất Chủ trương đúng đắn ấy rất có
“lợi cho kháng chiến và lợi cho sản xuất”
Trên thực tế, sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945,chính quyền mới đã chia cho dân nghèo không có ruộng hoặc thiếu ruộng,tạm cấp ruộng đất vắng chủ cho nông dân cày cấy, chia lại công điền, côngthổ cho cả nam lẫn nữ và buộc chủ ruộng phải giảm tô 25% cho nông dân
Ngoài dân chủ về kinh tế, các mặt dân chủ khác như dân chủ chính trịcũng được triệt để thực hiện Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, ngày 6 tháng
1 năm 1946, toàn dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên đã tham gia tổng tuyển cửbầu ra Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Quốc hội đã bầu chínhphủ do chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu Các nhân sĩ, trí thức của dân tộc, dùtrước đây có tham gia chính quyền thực dân, phong kiến nhưng có lòng yêunước đều được chính quyền mới trọng dụng Đại bộ phận nhân tài đất nước,các đảng phái yêu nước đã đoàn kết dưới ngọn cờ đỏ sao vàng, quyết tâmkháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công Những việc làm nói trên chothấy, Hồ Chí Minh nắm vững tư tưởng của Ăngghen về vấn đề dân chủ rằng,trước hết cách mạng phải tạo ra một chế độ dân chủ và nhờ đó mà trực tiếphoặc gián tiếp tạo ra quyền thống trị chính trị của giai cấp vô sản Sau này,
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thểgiải quyết mọi khó khăn” [28, 249]
Tiếp theo là mối quan hệ giữa cách mạng dân tộc dân chủ với cách mạng xã hội chủ nghĩa Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên chủ
nghĩa xã hội mà Hồ Chí Minh chủ trương không phải là một cuộc cáchmạng dân chủ tư sản kiểu mới, trong đó nhiệm vụ phản phong làm trước
nhiệm vụ phản đế như Chỉ thị Quốc tế Cộng sản về cách mạng Đông Dương (12/ 1929) và Luận cương Chính trị (10/1930) đã chỉ ra
Trang 26Theo Hồ Chí Minh, tư sản dân quyền cách mệnh và thổ địa cáchmệnh để đi tới xã hội cộng sản lấy nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai làmđối tượng đấu tranh và xóa bỏ trước tiên Nhiệm vụ chống phong kiến “rảira” làm từng bước, nhằm phục vụ mục tiêu giải phóng dân tộc Sau khigiành chính quyền đã về tay nhân dân, nhà nước tiếp tục thực hiện phầncòn lại của nhiệm vụ dân chủ
Hơn nữa, tư sản dân quyền cách mệnh và thổ địa cách mệnh để đi tới
xã hội cộng sản như Hồ Chí Minh vạch ra không phải trải qua hai cuộccách mạng chính trị, hai lần giành chính quyền như cách mạng Nga và cáchmạng Trung Quốc Đường lối cách mạng Việt Nam do Hồ Chí Minh vạch
ra mang tính chất một cuộc cách mạng không ngừng hay một cuộc cáchmạng xã hội do giai cấp công nhân và đảng tiên phong của nó tiến hành ởmột nước thuộc địa, nửa phong kiến Cuộc cách mạng đó thực hiện kết hợpchặt chẽ nhiệm vụ dân tộc với nhiệm vụ dân chủ cũng như kết hợp nhiệm
vụ dân tộc dân chủ với nhiệm vụ xây dựng đất nước theo con đường tiếndần lên xã hội xã hội chủ nghĩa “để đi tới xã hội cộng sản”
Sau khi chính quyền về tay nhân dân, thiết lập chế độ dân chủ nhândân, thực hiện chuyên chính dân chủ nhân dân – một hình thức biểu hiệncủa chuyên chính vô sản Trên nền tảng liên minh công nông và trí thứcdưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Lao Động Việt Nam, nhà nướcdân chủ nhân dân kết hợp kháng chiến với kiến quốc Về kiến quốc, Nhànước đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện từng bước cải cách kinh
tế, văn hóa, xã hội, con người, nhằm phục vụ quốc kế dân sinh, nâng caotừng bước đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhândân lao động Đó là thực hiện từng bước nhiệm vụ giải phóng dân tộc vềmặt kinh tế
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thắng lợi, bên cạnh nhữngquyền lợi kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội được cách mạng đem lại cho
Trang 27nhân dân, Hồ Chí Minh không ngừng quan tâm đến đời sống thực tế củanhân dân Người đã nói: Chúng ta đấu tranh được tự do, độc lập rồi mà dân
cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì Từ khi nước nhàđộc lập, Hồ Chí Minh chủ trương kết hợp giữ nước với dựng nước, xâydựng nền kinh tế độc lập tự chủ, tự cung tự cấp Hồ Chí Minh chỉ rõ thựchiện tự cung, tự cấp trong kháng chiến chống thực dân Pháp không phải là
bế quan tỏa cảng với nước ngoài, cũng không phải xóa bỏ tất cả hệ thốngphân công sản xuất, hoặc không còn việc lưu thông điều hòa kinh tế giữacác địa phương với nhau Người chỉ rõ, nước ta còn nghèo, muốn sungsướng thì phải tự lực cánh sinh, cần cù lao động, cần kiệm xây dựng nướcnhà Năm 1947 khi nói về mục đích của cách mạng, Hồ Chí Minh viết:
“1 Mục đích: Làm cho người nghèo thì đủ ăn Người đủ ăn thì khágiàu Người khá giàu thì giàu thêm Người nào cũng biết chữ, người nàocũng biết đoàn kết, yêu nước
2 Cách làm: Đem tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân” [25, 65].
Để thực hiện ý nguyện đó của nhân dân, Hồ Chí Minh chỉ rõ, tất cảcác chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước là không ngừng nâng caođời sống của nhân dân “Chính sách của Đảng và chính phủ là phải hết sứcchăm lo đến đời sống của nhân dân Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ cólỗi; nếu dân rét là Đảng và chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chínhphủ có lỗi…Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh, thì chính sách của ta dù có hay
mấy cũng không thực hiện được” [26, 572] Song song với việc nâng cao
đời sống nhân dân, Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng từng bước nền móngcủa chủ nghĩa xã hội
Như vậy, xem xét mối quan hệ biện chứng giữa độc lập dân tộc vàchủ nghĩa xã hội thông qua những nhiệm vụ cụ thể của từng thời kỳ, chúng
ta sẽ thấy mọi nhiệm vụ được thực hiện đều xoay quanh một cái trục cótính quy luật: cứu nước và dựng nước gắn bó chặt chẽ không tách rời
Trang 28Xét về nội dung và tính chất thì ở thời kỳ nào cách mạng Việt Namcũng mang ba nội dung: dân tộc, dân chủ, và chủ nghĩa xã hội Ở giai đoạn
1930 – 1975 chủ nghĩa xã hội vừa là lý tưởng định hướng, vừa là mục tiêu
cụ thể và biện pháp tiến lên, phát triển của đất nước, của dân tộc Điều đóđược thể hiện trong các chủ trương phát triển kinh tế, nâng cao đời sốngcủa người dân: thanh toán nạn mù chữ, phát triển văn hóa, giáo dục, khoahọc, nâng cao dân trí, đào tạo con người mới xã hội chủ nghĩa, đào tạonhân tài cho đất nước, tổ chức ngân hàng quốc gia Việt Nam, phát triển các
cơ sở công nghiệp quốc doanh, thương nghiệp quốc doanh, phát triển kinh
tế hợp tác xã; cải tạo, giúp đỡ và hướng dẫn các nhà tư sản dân tộc nước takinh doanh phục vụ quốc kế dân sinh…
Trong Báo cáo sửa đổi Hiến pháp trình bày trước Quốc hội (18 12
-1959), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Nước Việt Nam dân chủ cộng hòatiến dần từ chế độ dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội bằng cách pháttriển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, biến nền kinh tếlạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nôngnghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến Chính sách kinh tế củanước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là không ngừng phát triển sản xuất đểnâng cao mãi đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân” [27, 588]
Những nhiệm vụ kinh tế, văn hóa, xã hội và con người nói trên đềunhằm gây mầm mống và từng bước tạo tiền đề kinh tế lẫn tiền đề chính trị,
xã hội cho xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
1.2.3 Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là hướng tới giải phóng dân tộc, giai cấp và con người triệt để
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội để đi tới giải phóngdân tộc, giai cấp và con người là điểm nổi bật nhất, là thực chất của tưtưởng Hồ Chí Minh Là một nhà tư tưởng, nhà lý luận mácxít sáng tạo lớncủa cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh một mặt đã thấu hiểu tinh tế lập
Trang 29trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về đấu tranh giai cấp và cáchmạng vô sản để kiên trì sự lựa chọn lý tưởng và con đường xã hội chủnghĩa cho sự phát triển của cách mạng Việt Nam; mặt khác, Người đã cónhững phát hiện độc đáo và sáng tạo về phương pháp, bước đi và cách làm
để thực hiện lý tưởng và mục tiêu đó ở Việt Nam, phù hợp với đặc điểm vàđiều kiện lịch sử cụ thể của nước ta
Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định, chỉ có chủ nghĩa xã hội vàchủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt đế vấn đề độc lập dân tộc,mới có thể đem lại tự do và hạnh phúc thực sự cho nhân dân, chỉ có chủnghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới xóa bỏ vĩnh viễn ách áp bức, bóclột và thống trị của chủ nghĩa tư bản, mới thực hiện được giải phóng hoàntoàn và triệt để đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động của tất cảcác dân tộc trên thế giới Người viết: Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thìmới giải phóng được dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sựnghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới
Bằng thực tiễn hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh làmphong phú thêm cách tiếp cận chủ nghĩa xã hội khi hiểu bản chất của chủnghĩa xã hội là sự giải phóng con người, sự giải phóng kết tinh trong đó lýtưởng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội
Chúng ta có thể thấy vấn đề giải phóng dân tộc và con người quacách diễn đạt của Hồ Chí Minh về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, một xãhội vì dân tộc, vì con người trong khái niệm cặp đôi của nó Người quanniệm: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nước mạnh” [31,226], “làcho mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do” [31,396], “là làmcho mọi người được ấm no, hạnh phúc và học hành tiến bộ” [33, 97] Chủnghĩa xã hội là “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thầnngày càng tốt” [33, 591] Những mục tiêu cụ thể trên đây được Hồ ChíMinh khái quát một cách súc tích và nhất quán khi Người khẳng định: “Xã
Trang 30hội chủ nghĩa không có bóc lột và áp bức dân tộc” [31,559], là “một xã hội
đảm bảo cho đất nước phát triển rực rỡ một cách nhanh chóng chưa từngthấy, đưa quần chúng lao động đến một cuộc sống xứng đáng, vẻ vang vàngày càng phồn vinh, làm cho mọi người lao động có một Tổ quốc tự do,hạnh phúc và hùng cường, hướng tới chân trời tươi sáng mà trước kiakhông thể nghĩ tới” [31, 560]
Trang 31CHƯƠNG 2 ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG
HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI
ĐẤT NƯỚC HIỆN NAY
2.1 Công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
2.1.1 Khái quát công cuộc đổi mới ở Việt Nam
Việt Nam bước vào sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước và tiếnhành như một cuộc cách mạng thực sự chỉ bắt đầu từ năm 1986 Nhưngtrước đó, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách pháttriển kinh tế mang tính chất đổi mới Những đổi mới này vừa đáp ứng đòihỏi của thực tiễn, vừa là bước tìm tòi, thử nghiệm con đường phát triển củaViệt Nam Mặc dù, ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (năm 1960),Đảng Cộng sản Việt Nam đã chú trọng vấn đề phát triển kinh tế và xâydựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội Nhưng lúc đó và cảsau này, khi cả nước đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội thì vấn đề phát triểnkinh tế của Việt Nam có nội dung cốt lõi là thực hiện công nghiệp hóa xãhội chủ nghĩa và trên cơ sở đó, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủnghĩa xã hội Chủ trương này là phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Namlúc đó nhưng càng về sau, nhất là khi cả nước đi vào xây dựng chủ nghĩa
xã hội thì nó càng bộc lộ sự yếu kém trong nhận thức và vận dụng một cáchsáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vàotừng giai đoạn phát triển cụ thể của cách mạng Việt Nam Đó là vấn đề
Trang 32nông nghiệp, nông dân khi đất nước chuyển giai đoạn nhưng trên thực tế lạikhông được coi trọng, không nhìn thấy tầm chiến lược của nó trong sự pháttriển nền kinh tế - xã hội ở một nước sản xuất nông nghiệp Sự kéo dài chủtrương đó, hơn nữa lại có sai lầm trong thực hiện đã làm cho nền kinh tếViệt Nam thực sự rơi vào một cuộc khủng hoảng Vì vậy, công cuộc đổimới của Việt Nam có xuất phát điểm trước hết từ chính yêu cầu phát triểnnội tại của đất nước Nó được bắt nguồn từ nhu cầu thực tiễn phát triển đấtnước, từ tâm tư, nguyện vọng của nhân dân lao động, từ kinh nghiệm sángtạo của một số cơ sở, địa phương Trên cơ sở nhận thức lại chủ nghĩa xã hội
và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng cộng sản vànhân dân Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa từ năm 1986
Đến nay, sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam đã tiến hành được trên 20
năm Qua mỗi giai đoạn đổi mới (5, 10, 15, 20 năm), Đảng và Nhà nước taluôn có sự tổng kết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn nhằm rút ra những bàihọc và kinh nghiệm cho những giai đoạn phát triển tiếp theo Có thể nói,con đường đổi mới ở Việt Nam vừa thể hiện sự trung thành, vừa là sự tìmtòi và vận dụng một cách sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh về xây dựng chủ nghĩa xã hội
Nhìn lại con đường phát triển của Việt Nam trước và từ khi đổi mớiđến nay dưới góc độ phát triển kinh tế - xã hội, có thể nói Việt Nam đã trảiqua những thời kỳ quan trọng như sau:
- Giai đoạn 1979 – 1985: Thời kỳ mà khủng hoảng kinh tế - xã hộingày càng trầm trọng, nhất là sau khi thực hiện chính sách giá – lương –tiền năm 1985 mà hậu quả của nó làm cho cuộc khủng hoảng đạt đến đỉnhđiểm vào đầu năm 1986 Đây cũng là thời kỳ xuất hiện những sáng tạo vềphương thức quản lý kinh tế cả trong sản xuất nông nghiệp lẫn công nghiệp
ở một số địa phương trong cả nước
Trang 33- Giai đoạn 1986 – 1990: Bước đầu giải quyết được những hậu quảcủa cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nhờ thực hiện những chủ trương vàchính sách đổi mới toàn diện của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
- Giai đoạn 1991 – 1996: Việt Nam ra khỏi khủng hoảng và liên tụcphát triển ổn định với tốc độ tăng trưởng GDP khoảng trên 8%
- Giai đoạn 1991 – 1999: Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tàichính ở châu Á nên tốc độ tăng trưởng GDP giảm xuống còn khoảng 5%
- Giai đoạn 2000 – 2007: Việt Nam chính thức ra khỏi khủng hoảngkinh tế - xã hội và đạt sự phát triển ổn định trên tất cả các mặt, các lĩnh vựccủa đời sống kinh tế - xã hội với tốc độ tăng trưởng liên tục đạt khoảng 8%,
tỷ lệ lạm phát luôn giữ ở một con số (khoảng 5 – 6%)
- Giai đoạn từ năm 2008 đến nay: Do ảnh hưởng của cuộc khủnghoảng kinh tế - tài chính thế giới, kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn, tốc
độ tăng trưởng giảm xuống còn khoảng trên 6% (tháng 9 năm 2009)
Trên thực tế, tiến trình thực hiện công cuộc đổi mới ở Việt Nam luôndiễn ra trong bối cảnh thế giới vừa thuận lợi, vừa phải đối phó với không ítkhó khăn do tác động chung từ sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa đến sựcấm vận về kinh tế của Mỹ và sau này là hai cuộc khủng hoảng tài chính thếgiới Tuy nhiên, cho đến nay, sự phát triển ổn định về kinh tế, xã hội đã ngàycàng chứng tỏ sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam đã đi đúng hướng và phù hợpvới thực tiễn xã hội Việt Nam Những bài học chính của công cuộc đổi mới ởViệt Nam được Đảng Cộng sản Việt Nam tổng kết lại là: Kiên trì chủ nghĩa
xã hội; kết hợp chặt chẽ đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị; phát triển kinh
tế gắn liền với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội và thực hiện đổi mớitrong nước với việc mở cửa quan hệ với tất cả các nước trên thế giới trên tinhthần giữ vững chủ quyền, độc lập dân tộc Đây là những bài học có tính kháiquát chung cho sự nghiệp đổi mới toàn diện ở Việt Nam, còn xét từng lĩnhvực đổi mới, như đổi mới kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, đối ngoại, quốc