1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề sở hữu trí tuệ trong hoạt động đầu tư nước ngoài những hạn chế và giải pháp cho doanh nghiệp việt nam

23 889 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề sở hữu trí tuệ trong hoạt động đầu tư nước ngoài những hạn chế và giải pháp cho doanh nghiệp Việt Nam
Tác giả Nhóm Học Viên G9: 81-90 CH QTKD K6.2
Trường học Đại học Ngoại Thương
Chuyên ngành Pháp Luật Kinh Doanh Quốc Tế
Thể loại Tiểu Luận
Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 261 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp và các nhà đầu tư cũng như thực hiện cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO, hệ thống văn bản và thực thi pháp luật của Việt Nam

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

PHẦN MỞ ĐẦU 2

PHẦN NỘI DUNG 4

CHƯƠNG I: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 4

1 Một số khái niệm về quyền sở hữu trí tuệ và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 4

1.1 Quyền sở hữu trí tuệ 4

1.2 Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ: 4

2 Cơ sở pháp lý 5

2.1 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005: 5

2.2 Luật đầu tư: 6

2.3 Bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ theo các công ước quốc tế: 6

2.4 Hiệp định TRIPS 7

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VIỆC BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TUE NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 10

1 Một số thành tựu: 10

2 Những hạn chế: 10

2.1 Vấn đề đăng ký bảo hộ quyền SHTT: 10

2.2 Hệ thống pháp luật về SHTT và thực thi quyền SHTT còn nhiều hạn chế:.14 2.3 Về tình trạng vi phạm quyền SHTT tại Việt Nam: 17

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỐNG VI PHẠM QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 19

1 Nhóm giải pháp đối với cơ quan nhà nước 19

2 Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp: 19

PHẦN KẾT LUẬN 21

TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

Sở hữu trí tuệ đang ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng thúc đẩy pháttriển khoa học, công nghệ và kinh tế của đất nước cũng như tiến trình hội nhập sâurộng vào nền kinh tế thế giới Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ không còn là nội dung xa

lạ với các doanh nghiệp và toàn xã hội Các đối tượng như sáng chế, kiểu dáng,nhãn hiệu, phần mềm máy tính, bản quyền tác phẩm văn học nghệ thuật đã trởthành tài sản trí tuệ rất có giá trị góp phần quan trọng làm tăng sức cạnh tranh củacác doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế

Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ Mặc dù có sựảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng chúng ta đã thực hiện thành côngcác mục tiêu phát triển kinh tế và đưa Việt Nam đạt mục tiêu là quốc gia có mứcthu nhập trung bình trên thế giới Nền kinh tế Việt Nam đã và đang hội nhập sâurộng với nền kinh tế thế giới, đặc biệt là từ khi nước ta gia nhập Tổ chức Thươngmại thế giới WTO Cùng với đà phát triển chung của nền kinh tế là sự phát triển củacác doanh nghiệp Việt Nam Trong những năm gần đây, số lượng các doanh nghiệpViệt Nam đã gia tăng không ngừng và nhanh chóng phát triển cả về số lượng lẫnquy mô Một số doanh nghiệp nước ta đã thực hiện đầu tư ra nước ngoài để mởrộng thị trường và tìm kiếm các cơ hội kinh doanh tại các thị trường tiềm năng

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp và các nhà đầu

tư cũng như thực hiện cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO, hệ thống văn bản

và thực thi pháp luật của Việt Nam về quyền sở hữu trí tuệ ngày càng được hoànthiện Tuy nhiên, vẫn còn có những tồn tại và hạn chế liên quan đến vấn đề quyền

sở hữu trí tuệ mà chúng ta cần phải khắc phục, không chỉ từ các cơ quan ban hành

và thực thi luật mà còn từ chính các doanh nghiệp Việt Nam

Với những lý do đó, nhóm số 9 nghiên cứu đề tài tiểu luận “Vấn đề sở hữu

trí tuệ trong hoạt động đầu tư nước ngoài Những hạn chế và giải pháp cho doanh nghiệp Việt Nam” Mục tiêu của tiểu luận là đưa ra một số giải pháp chống

vi phạm quyền sở hữu trí tuệ cho doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanhnghiệp đầu tư nước ngoài Các giải pháp được đưa ra dựa trên việc tìm hiểu và

Trang 3

nghiên cứu thực trạng hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay.Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của Tiểu luận được chia thành baphần như sau:

- Phần I: Cơ sở pháp lý về quyền sở hữu trí tuệ và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

- Phần II: Thực trạng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay

- Phần III: Một số giải pháp chống vi phạm quyền sở hữu trí tuệ cho cácdoanh nghiệp Việt Nam

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG

HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

1 Một số khái niệm về quyền sở hữu trí tuệ và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

1.1 Quyền sở hữu trí tuệ

Điều 4, khoản 1 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định: “Sở hữu trí tuệ (SHTT) làquyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyềnliên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống câytrồng”

Điều 2 (8) của Công ước thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) kýngày 14-7-1967 quy định: “Sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền liên quan đến các tácphẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; các cuộc biểu diễn của nghệ sĩ biểu diễn,các bản ghi âm và các chương trình phát sóng; các sáng chế trong tất cả các lĩnhvực sáng tạo của con người; các khám phá khoa học; các kiểu dáng công nghiệp;các nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ và các tên thương mại; bảo hộ chống lại

sự cạnh tranh không lành mạnh; và tất cả các quyền khác nảy sinh từ kết quả củahoạt động trí tuệ thuộc các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học và công nghiệp”

1.2 Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ:

Từ góc độ vật chất, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là nhằm đảm bảo cho ngườisáng tạo có thể khai thác giá trị kinh tế từ các sản phẩm sáng tạo của mình để bùđắp lại công lao sáng tạo

Nhìn chung, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ bao gồm các quy định, chính sách,biện pháp cho phép chủ thể quyền SHTT hoặc cơ quan có thẩm quyền sử dụng cácbiện pháp cần thiết nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của chủ thể nắm giữ quyền

sở hữu trí tuệ

Dưới góc độ chủ thể quyền, việc bảo vệ quyền SHTT sẽ bảo đảm việc xử lý,ngăn chặn và ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền; dưới góc độ xã hội, bảo vệ

Trang 5

quyền SHTT có tác dụng kích thích, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, tạomôi trường đầu tư, kinh doanh an toàn và lành mạnh; dưới góc độ quốc tế, bảo vệquyền SHTT luôn là mối quan tâm to lớn không chỉ ở từng quốc gia mà ở cả bìnhdiện quốc tế.

2 Cơ sở pháp lý

2.1 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005:

Năm 2003, Luật Sở hữu Trí tuệ đã được đưa vào chương trình làm luật củaQuốc hội Bản dự thảo đầu tiên được hai Cục SHTT thuộc Bộ Khoa học Công nghệ

và Cục Bản Quyền tác giả thuộc Bộ Văn hoá Thông tin soạn thảo và được đưa raxin ý kiến đóng góp của nhân dân Nhiều hội thảo đóng góp ý kiến xây dựng Luật

Sở hữu Trí tuệ đã được tổ chức, thu hút đông đảo sự quan tâm của các chuyên giapháp luật trong và ngoài nước Mặc dù còn nhiều ý kiến khác nhau, và dự thảo cuốicùng trình Quốc hội cũng chưa thể hoàn chỉnh, việc ban hành một đạo luật thốngnhất về Sở hữu Trí tuệ đã trở nên cấp thiết, và lộ trình làm luật của Việt Nam phục

vụ cho việc gia nhập WTO là không thể trì hoãn

Tại kỳ họp Quốc hội Khoá X, Kỳ họp thứ 10, vào ngày 29 tháng 11 năm 2005,Luật Sở hữu Trí tuệ (Luật SHTT – Luật Số 50/2005/QH10) đã được Quốc hội banhành, có hiệu lực từ ngày 01/07/2006

Luật Sở hữu trí tuệ đã tiếp thu được các giá trị của nhiều quy phạm pháp luậttrong hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền sở hữu trí tuệ, đã được thẩm địnhtrong thực tiễn Lợi ích của các chủ thể sáng tạo, khai thác sử dụng và công chúnghưởng thụ đã được điều chỉnh khá hài hoà Các quy phạm pháp luật đã tương thíchvới hầu hết các điều ước quốc tế có liên quan, các Hiệp định song phương đảm bảothuận lợi cho việc hội nhập vào cộng đồng quốc tế.Tính minh bạch, rõ ràng và khảthi cũng đã thể hiện khá rõ tại các điều luật Lợi ích quốc gia thể hiện tại các điềuluật đã được Ban soạn thảo, các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội quantâm trong suốt quá trình chuẩn bị, soạn thảo và thông qua luật sở hữu trí tuệ Nhưvậy đây là lần đầu tiên, Việt Nam có một đạo luật riêng về sở hữu trí tuệ được ban

Trang 6

Luật SHTT được chia thành 6 phần , trong đó phần V có nội dung về bảo vệquyền sở hữu trí tuệ là phần được coi là đổi mới mạnh mẽ nhất trong các qui định

về sở hữu trí tuệ từ trước đến nay, đi thẳng vào vấn đề mà Việt Nam còn bị cácnước coi là yếu kém: thực thi quyền sở hữu trí tuệ Tuân thủ các cam kết về thực thiquyền sở hữu trí tuệ qui định tại Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ và Thỏa ướcTRIPS

2.2 Luật đầu tư:

Luật Đầu tư được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá

XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 Luật có liệu lực thi hành từngày 01/7/2006

Vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động đầu tư nước ngoài cũng đãđược quy định tại trong luật như sau:

- Điều 3, khoản 12: “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vàoViệt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầutư”

- “Điều 7 Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động đầu tư; bảo đảm lợi íchhợp pháp của nhà đầu tư trong việc chuyển giao công nghệ tại Việt Nam theo quyđịnh của pháp luật về sở hữu trí tuệ và các quy định khác của pháp luật có liênquan.”

2.3 Bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ theo các công ước quốc tế:

Hệ thống pháp luật quốc tế về quyền Sở hữu trí tuệ (SHTT) được hình thành

từ cuối thế kỷ 19 với sự ra đời của hai điều ước nền tảng là Công ước Paris về bảo

hộ sở hữu công nghiệp (năm 1883) và Công ước Bern về bảo hộ tác phẩm văn học

và nghệ thuật (năm 1886) Tiếp đó, hàng loạt các công ước quốc tế về các vấn đềkhác liên quan đến quyền SHTT đã được ký kết như: Thỏa ước Madrid về đăng kýquốc tế đối với nhãn hiệu (năm 1891), Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn,nhà sản xuất bản ghi âm và các tổ chức phát sóng (năm 1961), Công ước về bảo hộgiống cây trồng mới (năm 1961), Hiệp định hợp tác về bằng phát minh sáng chế

Trang 7

(năm 1970), Công ước Brussels về việc phân phối tín hiệu mang chương trìnhtruyền qua vệ tinh (năm 1974), Sự ra đời của các điều ước quốc tế nói trên ngàycàng khẳng định vai trò của quyền SHTT đối với các hoạt động đầu tư, sản xuất vàthương mại ở từng quốc gia cũng như trong quan hệ kinh tế quốc tế, đóng góp đáng

kể vào việc đặt nền tảng và sự phát triển của hệ thống bảo hộ quyền SHTT trênphạm vi toàn cầu Song, do đặc thù của các công ước là tính cưỡng chế yếu nên trênthực tế, các công ước đã được phê chuẩn vẫn không thể thực hiện có hiệu quả mụctiêu bảo hộ quyền SHTT Các công ước quốc tế phần lớn chỉ đề cập tới trình tự bảo

hộ quyền SHTT quốc tế, còn yêu cầu pháp lý đối với các quốc gia lại hạn chến nên

đã không đưa ra được một tiêu chuẩn quốc tế về bảo hộ quyền SHTT, đồng thời cáccông ước quốc tế phần lớn chỉ chế định quyền SHTT đối với một loại hình tài sảntrí tuệ nhất định mà không có những quy định toàn diện phạm vi hiệu lực về quyềnSHTT; và phần lớn các công ước quốc tế về quyền SHTT không hề đề cập đến cácbiện pháp giải quyết tranh chấp về quyền SHTT Những hạn chế này đã ảnh hưởngkhông nhỏ đến hiệu quả thực thi quyền SHTT và là một trong những tiền đề dẫn tới

sự hình thành Hiệp định về Các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyềnSHTT (TRIPs) trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

2.4 Hiệp định TRIPS

Hiệp định TRIPS (Trade Related Aspects of Intellectual Property Rights) haycòn gọi là Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền SHTTcủa WTO được ký kết vào ngày 15/04/1994 và chính thức có hiệu lực vào ngày1/1/1995 TRIPS ra đời nhằm giải quyết một cách toàn diện vấn đề bảo hộ quyềnSHTT Với Hiệp định này, lần đầu tiên những quy định về quyền SHTT được đưavào hệ thống thương mại đa biên và sẽ "góp phần thúc đẩy việc cải tiến, chuyểngiao và phổ biến công nghệ, mang lại lợi ích cho cả người sáng tạo và người sửdụng công nghệ cũng như lợi ích kinh tế - xã hội nói chung và đảm bảo sự cân bằnggiữa quyền lợi và nghĩa vụ" (Điều 7, Hiệp định TRIPs)

Nội dung Hiệp định TRIPS:

Trang 8

Toàn bộ nội dung của Hiệp định TRIPS được chia thành 7 phần và là nhữngnguyên tắc cơ bản và mức độ bảo hộ tối thiểu mà mỗi quốc gia thành viên WTOphải bảo đảm cho quyền SHTT của các quốc gia thành viên khác

Phần I của hiệp định đưa ra các điều khoản chung và các nguyên tắc cơ bản,đặc biệt là cam kết đối xử quốc gia mà theo đó các công dân của các nước thànhviên phải được đối xử không kém ưu đãi hơn so với công dân của các chính nướcthành viên đó về vấn đề quyền sở hữu trí tuệ Phần này cũng đưa ra điều khoản đối

xử tối huệ quốc, là một điều khoản mới trong thỏa thuận sở hữu hữu trí tuệ quốc tế,theo đó bất kỳ thuận lợi nào mà một thành viên dành cho các công dân của mộtthành viên khác cũng phải được ngay lập tức và vô điều kiện áp dụng cho công dâncủa tất cả các thành viên khác, ngay cả khi sự đối xử này ưu đãi hơn đối xử mà màthành viên đó dành cho chính công dân của nước mình

Phần II nêu rõ về nội dung từng quyền sở hữu trí tuệ, các tiêu chuẩn liên quanđến khả năng đạt được, phạm vi và việc sử dụng các quyền sở hữu trí tuệ. Các lĩnhvực thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định TRIPS bao gồm: Bản quyền và cácquyền có liên quan, nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp,bằng sáng chế, sơ đồ bố trí mạch tích hợp và bảo hộ thông tin bí mật

Phần III của Hiệp định đặt ra vấn đề thực thi quyền sở hữu trí tuệ Theo đó,các quốc gia thành viên có nghĩa vụ phải áp dụng các thủ tục thực thi quyền SHTTmột cách bình đẳng, công bằng, hiệu quả Các quyết định xử lý phải bảo đảm tínhminh bạch và quyền kháng cáo, khiếu nại của đương sự và việc bồi thường thiệt hạiphải mang tính chất đền bù đối với người bị thiệt hại và giáo dục đối với người xâmphạm

Phần IV của Hiệp định đề cập đến các thủ tục để đạt được và duy trì cácquyền SHTT và thủ tục liên quan theo yêu cầu của các bên liên quan

Phần V của Hiệp định đề cập đến vấn đề ngăn ngừa và giải quyết các tranhchấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ Tranh chấp phát sinh liên quan đến Hiệpđịnh TRIPs là quy định quan trọng nhất trong lĩnh vực này và sẽ được giải quyếttheo quy định của Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (DSB) Điều 63 yêu cầu

Trang 9

các thành viên WTO phải công bố, hoặc ít nhất cho công chúng tiếp cận bằng ngônngữ quốc gia, tất cả các luật, quy định, quyết định xét xử cuối cùng và quyết địnhhành chính giải quyết vụ việc liên quan đến việc đăng ký, bảo hộ, thực thi, ngănchặn lạm dụng quyền SHTT Ngoài ra, các thành viên phải công bố mọi thỏa thuận

đã ký với các thành viên WTO khác trong lĩnh vực quyền SHTT

Phần VI là các điều khoản chuyển tiếp Theo đó, Hiệp định nới rộng thời hạn

áp dụng liên quan đến quyền SHTT cho các nước đang và kém phát triển Điều 66của Hiệp định quy định: “Những Thành viên là nước phát triển phải tạo động lực đểkhuyến khích các doanh nghiệp và các tổ chức trong lãnh thổ của mình chuyển giaocông nghệ cho những Thành viên là nước kém phát triển để giúp họ tạo ra một nềntảng công nghệ bền vững và có khả năng phát triển

Phần VII và các quy định về cơ chế; điều khoản cuối cùng Theo đó, hội đồngTRIPS sẽ được thành lập để điều hành việc thực thi hiệp định và sự tuân thủ của cácthành viên đối với hiệp định Ngoài ra, phần này cũng quy định vấn đề bảo hộ cácđối tượng đang tồn tại, điều khoản xem xét lại và sửa đổi, bảo lưu và những ngoại

lệ về an ninh

Trên đây là những cơ sở pháp lý quan trọng liên quan đến quyền sở hữu trítuệ Đó đều là những nguồn luật quan trọng để giúp các doanh nghiệp, đặc biệt làcác doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ đối với cáctài sản trí tuệ của công ty mình Đồng thời, đó cũng là những nguồn luật cơ bản đểđiều chỉnh và là căn cứ để xử lý các hành vi vi phạm hoặc các tranh chấp liên quanđến quyền sở hữu trí tuệ

Trang 10

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VIỆC BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TUE NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

1 Một số thành tựu:

Hoạt động bảo hộ quyền SHTT ở nước ta được bắt đầu triển khai từ nhữngnăm 80, nhưng chỉ từ khi Quốc hội ban hành bộ Luật Dân sự (năm 1995) thì hoạtđộng này mới bắt đầu tiến triển Đặc biệt, từ khi Quốc hội ban hành Luật SHTT(năm 2005) và Việt Nam là thành viên chính thức của WTO thì hoạt động này trởnên sôi động với tất cả các dạng tài sản trí tuệ được bảo hộ, bao gồm: bản quyền tácgiả và các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ vàchỉ dẫn địa lý, giống cây trồng mới

Từ năm 2005 đến nay, việc đăng ký và cấp chứng nhận bảo hộ tăng bình quânhằng năm 20% Về quyền tác giả, nhiều cuốn sách hay của nước ngoài đã được muabản quyền tác giả để dịch và xuất bản ở trong nước Về quyền sở hữu công nghiệp,đăng ký nhãn hiệu hàng hóa tăng 25% - 30%, đăng ký bảo hộ các sáng chế cũngtăng 10% - 15%, nhưng phần lớn (chiếm trên 65%) là của nước ngoài đăng ký ởViệt Nam Thời gian được cấp chứng nhận quyền SHTT sau khi hoàn tất thủ tục chỉtrong hai tháng (nếu không xảy ra tranh chấp), đây là những kết qủa khá ấn tượng Trong những nhận định đánh giá, nhất là đánh giá của một số đối tác quantrọng trong kinh tế (đầu tư, thương mại) trong quá trình đàm phán gia nhập WTOcủa Việt Nam là EU, Thụy Sĩ, Nhật Bản, Mỹ và Australia đều có chung nhận địnhrằng Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng các văn bản pháp luật vềSHTT nhưng vấn đề thực thi là một điểm yếu cần phải khắc phục

2 Những hạn chế:

2.1 Vấn đề đăng ký bảo hộ quyền SHTT:

Các doanh nghiệp chưa nhận thức đầy đủ về vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là đăng ký quyền SHTT:

Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chưa chú trọng đến vấn đề bảo hộ quyềnSHTT để bảo vệ cho tài sản trí tuệ và thành quả của doanh nghiệp mình như quyền

Trang 11

tác giả, nhãn hiệu, bằng sáng chế, v.v Có một số doanh nghiệp đã thực hiện đăng

ký trong nước nhưng chưa chú trọng đến đăng ký quyền SHTT tại thị trường mụctiêu hoặc đăng ký với các tổ chức quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ Đã có một sốdoanh nghiệp Việt Nam phải trả những bài học đắt giá do nhận thức hạn chế về vấn

đề bảo hộ quyền SHTT cho tài sản trí tuệ của doanh nghiệp mình Ví dụ điển hình

là trường hợp của Võng xếp Duy Lợi Tháng 8/2002, doanh nghiệp tư nhân võngxếp Duy Lợi do ông Lâm Tấn Lợi làm giám đốc đã bị yêu cầu dừng sản xuất vàxuất khẩu đối với sản phẩm võng xếp của công ty Mặc dù, ông Lợi đã làm đúngtrình tự và đăng ký quyền SHTT đối với sản phẩm “Khung mắc võng” do ông sángchế tại Việt Nam Tuy nhiên, một nhóm có tên Miki của Nhật Bản đã nhanh tayđăng ký với Cơ quan sáng chế của Nhật Bản bằng sáng chế giải pháp hữu ích

“Khung võng tiện dụng” giống hệt với sáng chế của ông Lợi Vì vậy, nhóm Miki đãkiện công ty Duy Lợi vì “xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp” và yêu cầu công tyngừng sản xuất và xuất khẩu sản phẩm võng xếp của công ty, và nếu công ty vẫntiếp tục sản xuất và xuất khẩu vào thị trường Nhật thì phải trả cho họ 4 USD/1 sảnphẩm Ngoài ra, nhóm Miki còn đe dọa sản phẩm của Duy Lợi sẽ bị cấm xuất khẩusang 112 quốc gia thành viên của Hiệp hội sáng chế Quốc tế Công ty Duy Lợi đãphải thuê luật sư và đấu tranh để đòi lại quyền SHTT đối với sản phẩm võng xếpcủa công ty Vào tháng 3 năm 2003, thương hiệu võng xếp Duy Lợi mới được trảlại tên và khai thông tại thị trường Nhật Bản, nhưng niềm vui chẳng bao lâu, mộtcuộc tranh chấp quyền sở hữu tương tự lại xảy ra với Duy Lợi, lần này cam go hơn,phức tạp hơn vì nó xảy ra tại Mỹ

Tháng 9/2001, Doanh nghiệp tư nhân võng xếp Duy Lợi xuất một containerhàng sang Mỹ, sau đó không thấy đơn đặt hàng nào từ Mỹ nữa Nhờ luật sư tra cứutrên mạng, ông Lâm Tấn Lợi, Giám đốc Công ty Duy Lợi, phát hiện doanh nhânngười Đài Loan Chung Sen Wu (cư trú tại Đài Loan) đã đăng ký bằng sáng chế ở

Mỹ cho chiếc võng xếp có kiểu dáng giống hệt võng xếp của Duy Lợi Chính bằngsáng chế này đã “khóa cánh cửa” thị trường Mỹ đối với Duy Lợi và nhiều doanhnghiệp khác Từ tháng 5/2004 ông Lợi đã gửi đơn sang Mỹ yêu cầu Cơ quan sáng

Trang 12

chế và nhãn hiệu Mỹ (USPTO) huỷ hiệu lực bằng sáng chế mà cơ quan này đã cấpcho ông Chung Sen Wu với lý do là ông Lâm Tấn Lợi đã được Cục Sở hữu trí tuệViệt Nam cấp bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp từ ngày 23/3/2000 trong khiông Chung Sen Wu nộp đơn xin cấp bằng sáng chế tại Mỹ vào ngày 15/8/2001 Sauhơn 1 năm đấu tranh, năm 2005, USPTO đã hủy hiệu lực bằng sáng chế đã cấp choông Chung Sen Wu Ông Lợi cùng với luật sư của mình một lần nữa tìm lại được sựcông bằng cho thương hiệu Võng xếp Duy Lợi nhưng đồng thời doanh nghiệp đãphải bỏ ra những chi phí và công sức rất lớn để theo đuổi hai vụ kiện

Ngoài trường hợp của võng xếp Duy Lợi, các doanh nghiệp lớn như Công ty

Cà phê Trung Nguyên, Tổng công ty thuốc lá Việt Nam (Vinataba), Công ty cổphần Sữa Việt Nam (Vinamilk), Công ty may Việt Tiến, v.v cũng đã phải trả nhữngbài học đắt giá do nhận thức chưa đầy đủ về vấn đề bảo hộ quyền SHTT đối với cáctài sản trí tuệ của công ty như bằng sáng chế, nhãn hiệu, tên thương mại, v.v tại thịtrường quốc tế Năm 2002, Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam (Vinataba) đã bị Công

ty Sumatra (trụ sở chính tại Indonesia) kiện vì đã bán sản phẩm nhãn hiệu Vinatabatại thị trường Lào và Campuchia Sau một thời gian tìm hiểu, Vinataba mới biếtrằng, nhãn hiệu của mình đã bị “đánh cắp”, vì Sumatra đã “nhanh chân” đăng kýtên sản phẩm mà chẳng có một bao thuốc lá nào bán ra thị trường Vì vậy, đểthương hiệu được công nhận tại hai thị trường trên, Vinataba đã phải bỏ ra hàng tỷđồng để tham gia “cuộc chiến pháp lý” Tuy nhiên, với những thị trường xa,Vinataba đành phải nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu (do chi phí cho việc giành lạithương hiệu quá tốn kém) Đối với trường hợp của Trung Nguyên, tháng 7/2000,Công ty Cà phê Trung Nguyên sang Mỹ để tiếp cận Rice Field với mục đích đưasản phẩm của mình vào thị trường Mỹ Mặc dù vẫn đang trong quá trình thươngthảo, nhưng nhãn hiệu Trung Nguyên đã bị phía Rice Field nhanh chân nộp đơnđăng ký nhãn hiệu với các cơ quan chức năng Mỹ và Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới(WIPO) Cuối cùng, sau 2 năm ròng rã thương thảo, Trung Nguyên mới đòi lạiđược quyền bảo hộ đối với nhãn hiệu Trung Nguyên, nhưng đổi lại công ty này phảichấp nhận để Rice Field làm nhà phân phối sản phẩm của Trung Nguyên tại Mỹ

Ngày đăng: 06/01/2014, 15:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w