Cơ sở lý luận của sự nghiệpđổi mới đó chính là tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác-Lênin làm nềntảng tư tưởng và kim chỉ nan cho mọi hoạt động của toàn Đảng, toàn dân ta.Trong thực tiễn
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của chính bản thân, em xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô giáo khoa Lý luận Chính trị - Trường Đại học Khoa học Huế, những người đã truyền đạt, vun đắp kiến thức cho em trong suốt bốn năm học vừa qua.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Tiến sĩ Hồ Minh Đồng, người đã trực tiếp hướng dẫn và dìu dắt em trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Em cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã nhiệt tình ủng hộ và vun đắp cho khoá luận này được hoàn thành như ngày hôm nay.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, tuy nhiên khoá luận cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, có nhiều vấn đề đã và đang nảy sinh mà bản thân chưa cập nhật được Vậy rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Quý thầy cô và toàn thể các bạn để khoá luận đạt kết quả tốt hơn.
Huế, tháng 05 năm 2011
Sinh viên Hoàng Nữ Lê Mai
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của đề tài khoá luận 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của khoá luận 6
6 Đóng góp của khoá luận 7
Chương 1 8
KHÁI LUẬN CHUNG VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC 8
1.1 Quan niệm về con người trong triết học trước Mác 8
1.2 Quan niệm về con người trong triết học Mác - Lênin 8
1.2.1 Bản chất con người 8
1.2.2 Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội 10
1.2.3 Vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử 11
1.3 Một số vấn đề về con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá 12
Chương 2 13
XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở QUẢNG BÌNH HIỆN NAY VỚI VIỆC PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI 13
2.1 Khái quát về tình hình Quảng Bình trong thời kỳ hiện nay 13
2.1.1 Kinh tế 13
2.1.2 Văn hoá - xã hội 15
2.1.3 Quốc phòng - an ninh 16
2.2 Đặc điểm và vai trò của nhân tố con người Quảng Bình trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay 16
2.2.1 Đặc điểm của nhân tố con người Quảng Bình trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay 16
2.2.2 Vai trò của nhân tố con người Quảng Bình trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay 18
2.3 Thực trạng và giải pháp phát huy nhân tố con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Quảng Bình hiện nay 20
2.3.1 Thực trạng nhân tố con người hiện nay ở Quảng Bình 20
2.3.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nhân tố con người ở Quảng Bình hiện nay 21
KẾT LUẬN 23
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài khoá luận
Triết học đã nghiên cứu nhiều vấn đề, song vấn đề trung tâm của nó,vấn đề con người vẫn luôn được đề cao Điều đó thể hiện ngay trong địnhnghĩa: “Triết học là hệ thống những lý luận chung nhất của con người về thếgiới, về vai trò của con người trong thế giới ấy” Việc tìm hiểu, nghiên cứu vềthế giới chung quy lại đều phục vụ việc tìm hiểu con người, phát triển conngười Xã hội loài người càng phát triển thì vấn đề con người càng được đánhgiá cao và tìm hiểu sâu sắc Ví dụ như thời cổ đại người ta tôn thờ những thếlực siêu nhiên, con người chỉ là kẻ tôi tớ phụng sự ý trời Nhưng đến thời hiệnđại, con người đã trở thành những kẻ chinh phục thế giới bằng trí tuệ và nănglực của mình Ở mỗi nấc thang phát triển của loài người, vấn đề con người lạiđược nhìn nhận ở những khía cạnh, mức độ khác nhau Ở thời đại hiện nay,vấn đề con người là vấn đề trung tâm, quyết định đối với sự phát triển củamột đất nước Và với Việt Nam thì vấn đề này càng trở nên cấp thiết do ViệtNam đang trong quá trình đổi mới, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước theo xu hướng xã hội chủ nghĩa Cơ sở lý luận của sự nghiệpđổi mới đó chính là tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác-Lênin làm nềntảng tư tưởng và kim chỉ nan cho mọi hoạt động của toàn Đảng, toàn dân ta.Trong thực tiễn của những năm qua, với việc áp dụng quan điểm của chủnghĩa Mác - Lênin nói chung và triết học Mác - Lênin nói riêng về vấn đề conngười trong quá trình đổi mới, thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước theo xu hướng xã hội chủ nghĩa; Việt Nam đã đạt được nhữngthành tựu to lớn rất đáng hoan nghênh Vì vậy việc khai thác, nghiên cứu triếthọc Mác-Lênin về vấn đề con người là một nhiệm vụ hết sức quan trọng vàcấp bách Trong khi đó, trước yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiệnđại hoá, sự tác động của cơ chế thị trường đang bộc lộ nhiều bất cập về con
Trang 4người cho sự phát triển đất nước Làm thế nào để phát huy có hiệu quả vai trònhân tố con người trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện naynói chung và với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở Quảng Bình nóiriêng? Đây là vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng đang được nghiên cứumột cách có hệ thống, cơ bản, kịp thời nhằm tìm kiếm giải pháp phù hợp Do
đó để đánh giá đúng con người Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệphoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế - xã hội hiện nay phải dựa trên nhữngquan điểm, góc nhìn của triết học Mác - Lênin Bởi nội dung triết học Mác -Lênin về con người đề cập đến nhiều vấn đề đó là: Bản chất của con người làtổng hoà của các mối quan hệ xã hội, mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, vaitrò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử Việc nắm vững vàvận dụng tốt quan điểm triết học Mác - Lênin về con người ở nước ta hiện nay
là một công việc cực kỳ quan trọng và cấp bách nhằm thực hiện thắng lợi sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đó là sự hiểu biết sâu sắc và vận dụnglinh hoạt quan điểm, tư tưởng của triết học Mác - Lênin nhằm xây dựng vàphát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và chuẩn bị những con người có đầy
đủ năng lực và đạo đức cách mạng để phục vụ mục tiêu dân giàu nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đặc biệt với Quảng Bình là một tỉnh ởkhu vực Bắc Trung Bộ có nền kinh tế - xã hội còn nghèo, điều kiện xây dựng
và phát triển gặp nhiều khó khăn, trở ngại nên yêu cầu của việc nghiên cứu
đề ra những mục tiêu, chính sách đúng đắn để phát triển đưa nền kinh tế - xãhội ở Quảng Bình đi lên là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp bách
Với ý nghĩa đó, tôi chọn: “Vấn đề phát huy nhân tố con người trong
quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở Quảng Bình hiện nay”
làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu của khoá luận
Vấn đề nghiên cứu con người Việt Nam từ lâu đã được đề cập đến và làmối quan tâm chung của nhiều ngành khoa học, kể cả một số ngành khoa học
tự nhiên, công nghệ và các ngành khoa học xã hội nhân văn Từ mỗi góc độ
Trang 5của mình, các nhà khoa học chuyên ngành đã tiếp cận được ở mức độ tươngđối sâu sắc về các vấn đề liên quan đến con người Việt Nam, tính cách dântộc Việt Nam, đến việc giáo dục và phát triển con người Việt Nam trong thời
đại mới Các công trình nghiên cứu tiêu biểu như Xã thôn Việt Nam (Nxb Văn Sử Địa, Hà Nội, 1959) và Tìm hiểu tính cách dân tộc (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1963) của GS Nguyễn Hồng Phong, Giá trị tinh thần truyền
thống của dân tộc Việt Nam của GS Trần Văn Giàu (Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội, 1980);…đã tập trung vào nghiên cứu những đặc điểm và giá trị củacon người Việt Nam truyền thống, từ giác độ của khoa học lịch sử, dân tộchọc Các công trình đó đã hệ thống hoá và khái quát hoá hệ tư tưởng, hệ thốngđạo đức và tính cách của con người Việt Nam trong truyền thống (bao gồmcác mặt tích cực, tiêu cực) Từ đó các nhà nghiên cứu đã đặt ra yêu cầu cấpthiết phải kế thừa và phát huy những giá trị, loại bỏ những phản giá trị trongtruyền thống để xây dựng, phát triển con người Việt Nam trong điều kiện xãhội mới
Trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước, từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đến nay,chúng ta đã thu được nhiều thành tựu mới trong việc nghiên cứu con ngườiViệt Nam Chúng ta đã tìm hiểu, khám phá sâu sắc hơn con người Việt Namnhằm động viên, khai thác mạnh mẽ, hiệu quả các tiềm năng của mỗi conngười, mỗi tập thể lao động và của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam vào tiếntrình đưa nước ta sớm ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành một nướccông nghiệp theo hướng hiện đại, vì mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ văn minh” tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội,cũng như mở ra khả năng mới để con người Việt Nam được phát triển phongphú, tự do, toàn diện trong mối quan hệ hài hoà giữa cá nhân và cộng đồng,giữa xã hội và tự nhiên Thời gian qua đã có nhiều kết quả nghiên cứu trực
tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến đề tài “Vấn đề phát huy nhân tố con người
trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở Quảng Bình hiện
Trang 6nay”, là cơ sở cung cấp các nguồn tư liệu, số liệu giúp cho việc thực hiện đề
tài được thuận lợi và thành công nhất
Trước hết là các kết quả nghiên cứu về con người Việt Nam được thểhiện qua các đề tài nghiên cứu thuộc chương trình nghiên cứu khoa học cấpNhà nước giai đoạn từ những năm 1990 đến nay: Chương trình nghiên cứumang mã số KX.07 “Con người là mục tiêu và động lực của phát triển kinh tế
- xã hội” (giai đoạn 1991 - 1995); chương trình khoa học xã hội mã số KHXH
- 04 “Phát triển văn hoá, xây dựng con người trong thời kỳ CNH, HĐH đấtnước” (giai đoạn 1996 - 2000); chương trình nghiên cứu mang mã số KX05
“Phát triển văn hoá, con người và nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH, HĐH”(2001 - 2005); chương trình nghiên cứu trọng điểm cấp Nhà nước mang mã
số KX.03/06 - 10 “Xây dựng con người và phát triển văn hoá Việt Nam trongtiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế” (2006 - 2010)
Nhiều công trình nghiên cứu đã được xuất bản thành sách phản ánh kếtquả nghiên cứu của các đề tài thuộc chương trình khoa học cấp Nhà nước nói
trên Tiêu biểu là các công trình: Các giá trị truyền thống và con người Việt
Nam hiện nay do GS Phạm Huy Lê và GS TSKH Vũ Minh Giang (chủ
biên), Chương trình KX07, Đề tài KX07 02, Hà Nội, tập I 1994, tập II
-1996; Công trình Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào CNH,
HĐH của GS, VS Phạm Minh Hạc (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001);
Công trình Về phát triển toàn diện con người thời kỳ CNH, HĐH do GS, VS.
Phạm Minh Hạc chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001); Tập Kỷyếu hội thảo khoa học quốc tế Nghiên cứu văn hoá, con người, nguồn nhânlực đầu thế kỷ XXI của Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nướcKX05 (Hà Nội, 2003)…Các công trình này đã đề cập đến các phương hướngnghiên cứu con người, nguồn nhân lực và phát triển nguồn lực con người ViệtNam cả trên bình diện lý luận và thực tiễn; xác nhận tầm quan trọng của nhân
tố con người trong sự nghiệp đổi mới; phân tích thực trạng phát triển conngười, phát triển nguồn nhân lực và định hướng phát triển con người, phát
Trang 7triển nguồn nhân lực trong thời kỳ xây dựng nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế Bên cạnh việc nghiên cứu
về con người Việt Nam nói chung, cũng đã có nhiều đề tài, sách báo, tạpchí… bàn đến vấn đề con người Quảng Bình, các bài viết này chủ yếu bàn vềcon người với tư cách là nguồn lực quan trọng, là mục tiêu trong quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội ở Quảng Bình hiện nay
Với việc thực hiện nghiên cứu đề tài “Vấn đề phát huy nhân tố con
người trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở Quảng Bình hiện nay” một mặt kế thừa kết quả nghiên cứu về con người Việt Nam của
các nhà nghiên cứu đi trước, mặt khác tập trung nghiên cứu nội dung phát huynhân tố con người trong mối tương quan với phát triển văn hoá, kinh tế - xãhội ở Quảng Bình trong điều kiện đẩy mạnh quá trình CNH, HĐH hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài là tiến hành nghiên cứu cơ bản, có hệ thống và sâuhơn quan điểm triết học Mác - Lênin về con người Từ đó vận dụng những giátrị của triết học Mác - Lênin để làm sáng tỏ một số vấn đề có tính quy luậtnhằm phát huy nhân tố con người trong quá trình xây dựng và phát triển kinh
tế - xã hội ở Quảng Bình hiện nay
Để đạt được mục đích trên, đề tài có các nhiệm vụ sau:
- Trình bày và làm rõ quan điểm của triết học, nhất là triết học Lênin về vấn đề con người
Mác Phân tích đặc điểm và vai trò của con người trong việc phát triển kinhtế-xã hội hiện nay ở Quảng Bình Từ đó đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằmphát huy nhân tố con người một cách có hiệu quả nhất, thúc đẩy nền kinh tế -
xã hội tỉnh nhà ngày một phát triển nhanh hơn, bền vững hơn
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh, quán triệt quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng vàNhà nước, thành tựu khoa học hiện đại về vai trò con người
Trang 8Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, các phương pháp cơbản: Lôgic - lịch sử, quy nạp - diễn dịch, phân tích - tổng hợp các phươngpháp cụ thể như: thống kê, so sánh
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của khoá luận
- Quan điểm của triết học Mác - Lênin về con người.
- Con người Quảng Bình hiện nay trong quá trình xây dựng và phát triểnnền kinh tế - xã hội
6 Đóng góp của khoá luận
Hệ thống hoá, xác định rõ khái niệm: con người, phát huy nhân tố conngười và một số khái niệm khác, từ đó khái quát giá trị lý luận và thực tiễncủa quan điểm triết học Mác - Lênin về con người
Làm nổi bật đặc điểm, vai trò của con người ở Quảng Bình hiện naytrong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội
7 Kết cấu của khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của khoá luận có 2chương, 6 tiết
Chương 1: Khái luận chung về con người trong triết học
1.1 Quan niệm về con người trong triết học trước Mác
1.2 Quan niệm về con người trong triết học Mác - Lênin
1.3 Một số vấn đề về con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiệnđại hoá
Chương 2: Xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở Quảng Bình hiện nay với việc phát huy nhân tố con người
2.1 Khái quát về tình hình ở Quảng Bình hiện nay
2.2 Đặc điểm và vai trò của nhân tố con người Quảng Bình trong quátrình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay
2.3 Thực trạng và giải pháp phát huy nhân tố con người trong quá trìnhphát triển kinh tế - xã hội ở Quảng Bình hiện nay
Trang 9Chương 1 KHÁI LUẬN CHUNG VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC
1.1 Quan niệm về con người trong triết học trước Mác
Từ xưa cho đến nay khái niệm “con người” luôn là câu hỏi lớn xuất hiện
ở nhiều hệ thống triết học Tuỳ thuộc vào thế giới quan và phương pháp luậnkhác nhau mà hình thành nên những quan điểm duy vật hay duy tâm và cuộcđấu tranh giữa các quan điểm ấy cũng là một vấn đề trung tâm của lịch sử tưtưởng triết học
Quan niệm về con người trong triết học phương Đông
Trong quá trình phát triển, các quốc gia ở phương Đông đã hình thành hệthống các quan điểm về thế giới tương đối hoàn chỉnh, góp phần không nhỏvào kho tàng tri thức của nhân loại Song, với đặc trưng là “hướng nội” nênnhững quan điểm về con người, về xã hội loài người là những vấn đề được đềcập đến nhiều hơn cả
Quan điểm về con người ở phương Đông được hình thành rất sớm vàđược thể hiện một cách có hệ thống từ thế kỷ VI tr.CN trong các học thuyếttriết học Nội dung các quan điểm này rất đa dạng, song những vấn đề màngười phương Đông tập trung đề cập đến là những vấn đề thuộc về nguồngốc, bản tính của con người, đạo làm người và mẫu hình con người lý tưởng.Trong tính đa dạng, phong phú của các hệ tư tưởng, trước hết phải nói đến cácquan điểm của Ấn Độ và Trung Quốc mà tiêu biểu là các quan điểm của triếthọc Phật giáo và triết học Nho gia
- Quan điểm về con người trong triết học Phật giáo: Triết học Phật giáo
ra đời khi nội dung của kinh Vêđa và Upanisad đang chi phối mạnh mẽ đờisống tinh thần của người Ấn Độ Mặc dù chịu ảnh hưởng nhiều tư tưởng củacác kinh này song Phật giáo phủ nhận vai trò của Đấng Sáng tạo (Brahman),phủ nhận cái Tôi (Atman) của con người
Trang 10Triết học Phật giáo quan niệm: thế giới tự tại, tự nhiều yếu tố trong đó có
sắc và có danh Sắc, danh hội tụ tạo nên con người song bản chất của thế giới
là vô thường nên sự hội tụ của sắc và danh cũng chỉ diễn ra trong một thời gian nhất định Điều này chứng tỏ không có cái tôi vĩnh hằng.
Trong quá trình tồn tại, người nào cũng có trần tục tính và Phật tính
Trần tục tính là tính tham, sân, si; là vô minh, ái dục Phật tính là tính giác
ngộ về cõi niết bàn, về cõi chân như Đây là điểm khác nhau cơ bản giữa con
người và vạn vật Với quan điểm trên, Phật giáo thừa nhận bản tính của conngười vốn tự có cái ác và cái thiện
Vẫn theo quan điểm của triết học Phật giáo, cũng trong quá trình tồn tại,cuộc đời con người do chính bản thân con người quyết định qua quá trình tạo
nghiệp Tạo nghiệp thiện là từng bước xoá bỏ tham, sân, si; từng bước xoá bỏ
vô minh, loại trừ ái dục để trở thành người trong suốt về tâm linh, không bị
tác động bởi các cám dỗ của cuộc đời và sau khi chết thoát khỏi vòng luân
hồi, nghiệp báo Tuỳ vào từng mức độ thấp, cao khác nhau mà con người đã
đạt được trong quá trình tạo nghiệp thiện mà họ được suy tôn là La Hán, BồTát hay là Phật
Con đường tu luyện để trở thành La Hán, Bồ Tát hay Phật cũng được coi
là đạo làm người Đấy là quá trình thực hiện hệ thống những yêu cầu mà giới,
định, tuệ đã quy định.
- Quan điểm về con người trong triết học Nho gia: Triết học Nho gia chịu ảnh hưởng nhiều tư tưởng của Kinh Dịch Theo tư tưởng này, lúc âm -
dương phân định, thanh khí làm trời, trời là chúa tể của vũ trụ; trọng khí làm
đất; con người và vạn vật được tạo thành từ sự hỗn hợp giữa khí thanh và khítrọng trong khoảng giữa âm - dương nhưng con người bẩm thụ tính trời nênbản tính con người là thiện
Con người cũng như vạn vật chịu sự chi phối của mệnh trời, nhưng con
người có thể cải thiện nó qua hoạt động tu dưỡng mình trong cuộc sống Hiểumệnh trời, sống theo mệnh trời và tự tu dưỡng mình là đạo làm người
Trang 11Quan điểm về đạo làm người được Nho giáo thể hiện qua thuyết Chính
danh Theo thuyết này, tương ứng với từng danh, từng cặp danh là một hệ
thống những yêu cầu mà con người phải thực hiện Những yêu cầu chung
nhất và cũng là những yêu cầu cơ bản nhất của danh “người” (nhân) là ngũ
thường, gồm: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; trong đó nhân là gốc và lễ là phương
tiện để thực hiện và thể hiện nhân
Sống chính danh và giúp đỡ người khác chính danh được coi là quân tử mẫu người lý tưởng mà tất cả các nhà Nho đều quan niệm rằng, cuộc sống
-của họ là cuộc sống tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ để giúp đời.
Nhìn chung, quan điểm về con người trong các học thuyết triết họcphương Đông thể hiện rất phong phú, nhưng đều mang nặng tính duy tâm Về
cơ bản, các học thuyết đã lấy đạo đức làm nền tảng để giải quyết những vấn
đề trong cuộc sống; song nội dung các nguyên tắc, các chuẩn mực đạo đức,quan điểm về bản tính con người, đạo làm người và hình mẫu con người lạirất đa dạng chứa đựng những tư tưởng giống nhau, khác nhau và thậm chí đốilập nhau Tất cả những tư tưởng này đều tồn tại lâu dài trong lịch sử và giữvai trò nền tảng mà trên đó các thế hệ sau tiếp tục hoàn thiện để thể hiện quanđiểm của mình
Quan niệm về con người trong triết học phương Tây
Suốt chặng đường dài lịch sử triết học phương Tây từ Cổ đại Hy Lạp trảiqua giai đoạn Trung cổ, Phục hưng và Cận đại đến nay, những vấn đề triếthọc về con người vẫn là một đề tài trung tâm, tranh luận chưa chấm dứt
Lược khảo các quan điểm về con người trong triết học phương Tây đượcthực hiện theo các giai đoạn trên và theo hai khuynh hướng duy vật, duy tâm
- Thời cổ đại: Tiêu biểu cho quan điểm về con người ở phương Tây cổ
đại là những tư tưởng của người Hy Lạp Ở Hy Lạp, các nhà duy vật đầu tiên
là các nhà triết học tự nhiên đã coi con người như một bộ phận cấu thành thếgiới Xuất phát từ quan điểm thế giới do một hay một số chất tạo nên, các nhàduy vật thời kỳ này cũng quan niệm con người được bắt nguồn từ một hay
Trang 12một số chất đó Theo Talét, chất đó là nước; Anaximen: không khí; Hêraclít:lửa; Xênôphan: đất và nước…
Tiêu biểu cho quan điểm duy vật thời kỳ này là quan điểm củaEmpêđôclơ và của Lơxíp, Đêmôcrít Empêđôclơ cho rằng nguồn gốc của thếgiới là lửa, không khí, đất và nước Những yếu tố này hoà hợp với nhau, trảiqua bốn thời kỳ tiến hoá đã sinh ra sự sống Mọi sự sống đều có lý tính nhưngcon người là sự sống có lý tính cao nhất, thông minh nhất và đặc biệt conngười có đôi tay để thực hiện lý tính của mình Lơxíp và Đêmôcrít quan niệmbản nguyên của thế giới là nguyên tử nên các ông cũng khẳng định con người
là sản phẩm của sự kết hợp các nguyên tử Con người có linh hồn, song linhhồn cũng do các nguyên tử tạo nên và đã dạy bảo bàn tay con người hoạtđộng để đưa con người từ mông muội đến văn minh
Đối lập với quan điểm của các nhà triết học duy vật, những người theochủ nghĩa duy tâm lại truy tìm nguồn gốc và bản chất của con người từ nhữnglực lượng siêu tự nhiên Tiêu biểu là Xôcrát và Platôn Theo Xôcrát, thế giới
do thần tạo ra và thần đã an bài cho thế giới Con người không nên tìm hiểuthế giới vì như thế là xúc phạm thần Con người hãy tìm hiểu về chính bảnthân mình Platôn cho ý niệm có trước tất cả, là nguồn gốc của tất cả Ý niệmtồn tại vĩnh viễn và bất biến Con người gồm hai phần độc lập với nhau là thểxác và linh hồn Thể xác được tạo thành từ đất, nước, lửa, không khí nên cóthể mất đi Khi con người chết, linh hồn thoát khỏi thể xác về với thế giới ýniệm của mình để đến một lúc nào đấy linh hồn lại nhập vào một thể xác mớitạo ra một người mới Nhận thức của con người là sự hồi tưởng lại những gì
mà ý niệm đã có
Theo Platôn, linh hồn bất tử gồm lý tính, lý trí và tình cảm Tương ứngvới ba bộ phận này là ba đẳng cấp người: các nhà triết học và các nhà cầmquyền -binh sĩ - dân tự do Nô lệ không phải là người mà chỉ là những công
cụ biết nói nên không có linh hồn
Trang 13- Thời trung cổ: Thời trung cổ là thời hệ tư tưởng Cơ đốc giáo giữ vai trò
thống trị nên quan điểm về vai trò toàn năng của Chúa Trời cũng giữ vai tròthống trị Tiêu biểu cho tư tưởng ở thời kỳ này là quan điểm của TômátĐacanh
Tômát Đacanh quan niệm thế giới do Chúa Trời sáng tạo ra từ hư vô vàcon người là hình ảnh của Chúa, được Chúa đặt sống ở trung tâm vũ trụ Conngười có thể xác và linh hồn bất tử Linh hồn này được Chúa tạo ra cùng sựtạo ra thể xác con người Chúa sắp xếp thế giới theo trật tự từ các sự vậtkhông có linh hồn đến con người, thần thánh và cao nhất là Chúa Đây là trật
tự chặt chẽ, bất biến Trong trật tự đó, con người được Chúa chia thành nhữngđẳng cấp nhất định mà bất cứ một biểu hiện nào muốn vượt lên đẳng cấp caohơn đều mang tội với Chúa
Quan điểm về con người nói riêng và triết học của Tômát Đacanh nóichung được Giáo hội Thiên Chúa giáo coi là hệ thống tư tưởng duy nhất đúng
và được Giáo hội sử dụng làm hệ tư tưởng chính thống của mình
Có thể nói, con người trong triết học thời trung cổ đã bị tước đoạt hếttính tự nhiên, năng lực và sức mạnh Hình ảnh con người trở nên nhỏ bé, yếuđuối, vật vờ, tạm bợ trong thế giới hữu hình dưới quyền lực vô biên của ĐấngSáng tạo
Hệ tư tưởng thời trung cổ đã bóp chết ý chí muốn vươn lên tự khẳngđịnh mình, tự giải phóng mình mà nhiều nhà tư tưởng thời cổ đại đã đề cậpđến
- Thời Phục hưng và cận đại: Từ thời Phục hưng trở đi các nhà triết học duy tâm và thần học vẫn bắt nguồn từ ý niệm, tinh thần tuyệt đối, cái tôi…để
xây dựng quan điểm của mình đối lập với quan điểm duy tâm và thần học,những giá trị văn hoá bị vùi dập hàng nghìn năm bắt đầu được khôi phục vàphát triển trong các học thuyết triết học duy vật
Ở Italia, tư tưởng “con người hãy thờ phụng chính bản thân mình, hãychiêm ngưỡng vẻ đẹp của chính mình” đã dấy lên thành khẩu hiệu; thuật ngữ
Trang 14“nhân đạo” ra đời từ thời cổ đại trở thành phạm trù trung tâm của triết học;khuynh hướng đề cao vai trò của trí tuệ, tự do, bình đẳng thể hiện rõ nét trongquan điểm của Brunô, Galilê, Tômát Morơ, Tômađô Campanenla…
Ở Anh, Bêcơn coi thể xác con người là sản phẩm của tự nhiên, là thựcthể vật chất, còn tinh thần là thứ vật chất chỉ tồn tại trong óc người vận độngtheo thần kinh và mạch máu, song chính thứ vật chất ấy đã đem lại cho conngười sức mạnh tiềm tàng là tri thức Hốpxơ gọi con người là “vật thể tựnhiên” - lực lượng đã làm ra “vật thể nhân tạo” là xã hội
Ở Pháp, Rútxô quan niệm bản tính con người là tự do và lịch sử nhânloại không tuân theo ý muốn của bất kỳ thế lực nào mà là kết quả hoạt độngcủa con người mang bản tính tự do ấy Điđrô coi con người là đỉnh cao nhấttrong quá trình tiến hoá lâu dài của giới tự nhiên; coi trí tuệ và đạo đức là sảnphẩm của hoàn cảnh xã hội và coi sức mạnh của con người nằm trong tri thứckhoa học
Ở Hà Lan, Xpinôda cho rằng, giới tự nhiên là thực thể duy nhất, tồn tạitheo chính mình, con người là sản phẩm của giới tự nhiên Triết học có nhiệm
vụ chính là giúp con người có học thức để nhận thức giới tự nhiên, làm theogiới tự nhiên và làm theo những lý tưởng đạo đức cao đẹp…
Nét nổi bật trong triết học thời Phục hưng và cận đại là sự phủ nhậnquyền lực của Đấng Sáng tạo, đề cao sức mạnh của con người, đề cao vai tròcủa lý trí, đề cao các giá trị và đề cao tư tưởng vì con người
Triết học thời Phục hưng và cận đại không chỉ ảnh hưởng tích cực đến
sự phát triển của triết học sau này mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều cuộccách mạng nổ ra ở Tây Âu và trên toàn thế giới
- Thời hiện đại: Vấn đề con người trong triết học phương Tây hiện đại
thể hiện rõ nét qua các quan điểm của phân tâm học, chủ nghĩa nhân vị, chủnghĩa thực dụng, chủ nghĩa phê phán, hiện tượng học, chú giải học, chủ nghĩahiện sinh, chủ nghĩa cấu trúc…Tư tưởng của những học thuyết này tạo nên
Trang 15trào lưu triết học nhân bản phi lý tính, trong đó chủ nghĩa hiện sinh giữ vai tròtrọng yếu.
Theo trào lưu này thì hoặc bản năng tính dục là cơ sở quan trọng nhấtcho mọi hành động của con người (quan điểm của phân tâm học); hoặc chỉ có
“nhân vị” mới là bản thể chân thực nhất vì nhờ có quan hệ với “nhân vị” màphần thế giới còn lại mới có ý nghĩa (quan điểm của chủ nghĩa nhân vị); hoặcchỉ có cá nhân con người mới hiểu được sự tồn tại của mình nên chỉ có cánhân mới “hiện sinh”, con người cần thoát khỏi sự ràng buộc của xã hội, củanhững cá nhân khác để thể hiện giá trị hiện sinh của mình (quan điểm của chủnghĩa hiện sinh)…
Nhìn chung, các học thuyết thuộc trào lưu triết học nhân bản phi lý tínhcũng như những học thuyết khác ở phương Tây hiện đại đều coi những yếu tố
về tinh thần như nhu cầu bản năng, vô thức, tri thức, tình cảm…là bản chấtcủa con người Con người thường được tuyệt đối hoá về mặt cá nhân Mốiquan hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng, cá nhân với xã hộithường được đề cập ở góc độ hoài nghi, bi quan, bế tắc…Tất cả những điều
ấy phản ánh sự khủng hoảng về mặt giá trị của con người trong xã hội phươngTây hiện đại
Mặc dù đã có nhiều tư tưởng tiến bộ hơn, nhưng nhìn chung các quanđiểm triết học trước Mác và ngoài mácxít còn có một hạn chế cơ bản là phiếndiện trong phương pháp tiếp cận lý giải các vấn đề triết học về con người,cũng do vậy trong thực tế lịch sử đã tồn tại lâu dài quan niệm trừu tượng vềbản chất con người và những quan niệm phi thực tiễn trong lý giải nhân sinh,
xã hội cũng như những phương pháp hiện thực nhằm giải phóng con người.Những hạn chế đó đã được khắc phục và vượt qua bởi quan niệm duy vật biệnchứng của triết học Mác-Lênin về con người
Trang 161.2 Quan niệm về con người trong triết học Mác - Lênin
về con người còn phiến diện, hạn chế Khi triết học Mác ra đời, những hạnchế đó đã được giải quyết, triết học Mác đã khẳng định con người hiện thực là
sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội
Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là giới tự nhiên.Cũng do đó, bản tính tự nhiên của con người bao hàm trong nó tất cả bản tínhsinh học, tính loài của nó Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầutiên quy định sự tồn tại của con người Vì vậy, có thể nói: Giới tự nhiên là
“thân thể vô cơ của con người”; con người là một bộ phận của tự nhiên; là kếtquả của quá trình phát triển và tiến hoá lâu dài của môi trường tự nhiên
Là động vật cao cấp nhất, tinh hoa của muôn loài, con người là sản phẩmcủa quá trình phát triển hết sức lâu dài của thế giới tự nhiên Tuy nhiên, cầnkhẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định bảnchất con người Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa con người với thế giớiloài vật là phương diện xã hội của nó Trong lịch sử đã có những quan niệmkhác nhau phân biệt con người với loài vật, như con người là động vật sửdụng công cụ lao động, là “một động vật có tính xã hội”, hoặc con ngườiđộng vật có tư duy Những quan niệm trên đều phiến diện chỉ vì nhấn mạnhmột khía cạnh nào đó trong bản chất xã hội của con người mà chưa nêu lênđược nguồn gốc của bản chất xã hội ấy
Trang 17Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đềcon người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của
nó, mà trước hết là lao động sản xuất ra của cải vật chất C.Mác vàPh.Ăngghen đã nêu lên vai trò của lao động sản xuất ở con người: “Có thểphân biệt con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằngbất cứ cái gì cũng được Bản thân con người bắt đầu bằng sự tự phân biệt vớisúc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt củamình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định Sảnxuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sảnxuất ra chính đời sống vật chất của mình”[16,29]
Thông qua hoạt động sản xuất vật chất, con người đã làm thay đổi, cảibiến giới tự nhiên: “Con vật chỉ sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì táisản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên” [19, 137]
Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất;hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của conngười Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cảivật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình; hình thành và phát triểnngôn ngữ và tư duy; xác lập quan hệ xã hội Bởi vậy, lao động là yếu tố quyếtđịnh hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhâncách cá nhân trong cộng đồng xã hội
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và pháttriển của con người luôn luôn bị quyết định bởi ba hệ thống quy luật khácnhau, nhưng thống nhất với nhau Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật
về sự phù hợp cơ thể với môi trường, quy luật về sự trao đổi chất, về ditruyền, biến dị, tiến hoá quy định phương diện sinh học của con người Hệthống các quy luật tâm lý hình thành và vận động trên nền tảng sinh học củacon người như hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí Hệ thống cácquy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người
Trang 18Ba hệ thống quy luật trên cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoànchỉnh trong đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội Mốiquan hệ sinh học và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinhhọc và nhu cầu xã hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở; nhucầu tái sản xuất xã hội; nhu cầu tình cảm; nhu cầu thẩm mỹ và hưởng thụ cácgiá trị tinh thần.
Với phương pháp luận duy vật biện chứng, chúng ta thấy rằng quan hệgiữa mặt sinh học và mặt xã hội, cũng như nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hộitrong mỗi con người là thống nhất Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên củacon người, còn mặt xã hội là đặc trưng bản chất để phân biệt con người vớiloài vật Nhu cầu sinh học phải được “nhân hoá” để mang giá trị văn minhcon người, và đến lượt nó, nhu cầu xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề củanhu cầu sinh học Hai mặt trên thống nhất với nhau, hoà quyện vào nhau đểtạo thành con người viết hoa, con người tự nhiên - xã hội
Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các quan hệ xã hội
Một con người bao hàm trong nó ba quan hệ: quan hệ với tự nhiên, quan
hệ với xã hội và quan hệ với bản thân con người đó Quan hệ với tự nhiêntrong đời sống hàng ngày được biểu hiện qua các hoạt động có tính xã hộinhư lao động chế biến, đánh bắt, nuôi trồng… Chính vì vậy có thể nói quan
hệ con người với con người là mối quan hệ bản chất, quy định bản chất conngười
Mỗi con người đều được sinh ra và lớn lên trong những hoàn cảnh kinh
tế - xã hội cụ thể, trong những thời điểm nhất định Và trong điều kiện đó,bằng hoạt động thực tiễn như ăn uống, lao động, nghỉ ngơi… con người thamgia vào các quan hệ xã hội (quan hệ giai cấp, tầng lớp, quan hệ gia đình, bạn
bè, quan hệ kinh tế, chính trị…) và qua đó con người mới bộc lộ bản chất xãhội của mình
Trang 19Để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên luận đề
nổi tiếng trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc: “Bản chất con người
không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tínhhiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” [16,11] Luận đề này khẳng định rằng, không có con người trừu tượng, thoát lymọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội Con người luôn luôn cụ thể, xácđịnh, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhấtđịnh Trong điều kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, conngười tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thểlực và tư duy trí tuệ Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó con ngườimới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình
Điều cần lưu ý là luận đề trên khẳng định bản chất con người là tổng hoànhững mối quan hệ xã hội không có nghĩa là bác bỏ mặt sinh học của conngười mà muốn nhấn mạnh tính cụ thể, xác định của bản chất con người trongnhững điều kiện xã hội cụ thể Hơn nữa, càng ngày mặt sinh học và mặt xãhội càng trở nên thống nhất, nên mặt sinh vật không bị phủ định mà ẩn chứatrong mặt xã hội, trong những quan hệ xã hội Mặt tự nhiên tồn tại trong sựthống nhất với mặt xã hội; ngay cả việc thực hiện những nhu cầu sinh vật ởcon người cũng đã mang tính xã hội Quan niệm bản chất con người là tổnghòa những quan hệ xã hội mới giúp cho chúng ta nhận thức đúng đắn, tránhkhỏi cách hiểu thô thiển về mặt tự nhiên, cái sinh vật ở con người
Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử
Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại conngười Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hoá lâu dài củagiới hữu sinh Song, điều quan trọng là ở chỗ con người không chỉ là sảnphẩm mà còn là chủ thể của lịch sử, tạo nên lịch sử cho mình một cách có ýthức C.Mác đã khẳng định: “Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng conngười là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục cái học thuyết ấyquên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà
Trang 20giáo dục cũng cần phải được giáo dục”[16, 10] Qua đó Mác khẳng định, tựbản thân con người làm thay đổi điều kiện sống của mình, Con người laođộng, tác động vào giới tự nhiên làm thay đổi môi trường sinh thái, tạo ra củacải vật chất phục vụ đời sống, làm thay đổi điều kiện kinh tế - xã hội Ví dụnhư trong thế kỷ XVII, XVIII, nền đại công nghiệp phát triển thải chất độccông nghiệp vào môi trường , làm ô nhiễm môi trường, gây ảnh hưởng tới bầukhí quyển, nguồn nước trên thế giới và hậu quả của nó còn đến giờ Nhưngđồng thời, nền đại công nghiệp sản xuất ra khối lượng hàng hoá khổng lồ, vớinhiều phát minh vĩ đại phục vụ tích cực cho đời sống con người, làm cho chấtlượng cuộc sống được nâng cao rõ rệt, tạo điều kiện thúc đẩy xã hội pháttriển Vậy hoạt động lao động sản xuất là điều kiện cho sự tồn tại của conngười, vừa là phương thức làm biến đổi đời sống và bộ mặt xã hội Trên cơ sở
đó, con người cần có ý thức trong hoạt động vật chất và tinh thần nhằm thúcđẩy xã hội phát triển phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra
Trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên, Ph.Ăngghen cũng cho rằng:
“Thú vật cũng có một lịch sử, chính là lịch sử nguồn gốc của chúng và lịch sửphát triển dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng Nhưnglịch sử ấy không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dựvào việc làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết vàkhông phải do ý muốn của chúng Ngược lại, con người càng xa cách xa convật, hiểu theo nghĩa hẹp của từ này bao nhiêu thì con người lại càng tự mìnhlàm ra lịch sử của mình một cách có ý thức bấy nhiêu” [17, 476]
Như vậy, với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn,tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận độngphát triển của lịch sử xã hội Thế giới loài vật dựa vào những điều kiện có sẵncủa tự nhiên.Con người thì ngược lại, thông qua hoạt động thực tiễn của mình
để làm phong phú thêm thế giới tự nhiên, tái tạo lại một tự nhiên thứ hai theomục đích của mình
Trang 21Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử củamình Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch
sử của chính bản thân con người Hoạt động lao động sản xuất vừa là điềukiện cho sự tồn tại của con người, vừa là phương thức để làm biến đổi đờisống và bộ mặt xã hội Trên cơ sở nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội, conngười thông qua hoạt động vật chất và tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từthấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra Không cóhoạt động của con người thì cũng không tồn tại quy luật xã hội, và do đó,không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người
Không có con người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giaiđoạn phát triển nhất định của xã hội Do vậy, bản chất con người, trong mốiquan hệ với điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận động biến đổi, cũng phảithay đổi cho phù hợp Bản chất con người không phải là một hệ thống đóngkín, mà là hệ thống mở, tương ứng với điều kiện tồn tại của con người Mặc
dù là “tổng hoà các quan hệ xã hội”, con người có vai trò tích cực trong tiếntrình lịch sử với tư cách là chủ thể sáng tạo Thông qua đó, bản chất conngười cũng vận động biến đổi cho phù hợp
Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phảilàm cho hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn Hoàn cảnh đóchính là toàn bộ môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theokhuynh hướng phát triển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có
ý nghĩa định hướng giáo dục Thông qua đó, con người tiếp nhận hoàn cảnhmột cách tích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khácnhau: hoạt động thực tiễn, quan hệ ứng xử, hành vi con người, sự phát triểncủa phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy, các quy luật nhận thức hướng conngười tới hoạt động vật chất Đó là biện chứng của mối quan hệ giữa conngười và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã hội loài người
Trang 221.2.2 Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội
Quan hệ giữa cá nhân và xã hội là vấn đề có vị trí quan trọng đặc biệttrong các học thuyết về xã hội Các tác phẩm của các nhà kinh điển Mác -Lênin đã đề cập đến vấn đề này một cách toàn diện, sâu sắc có hệ thống trên
cơ sở của chủ nghĩa duy vật lịch sử C.Mác đã đúc kết lịch sử và tìm ra lờigiải đáp đúng đắn cho mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội
Khái niệm cá nhân
Triết học Mác - Lênin đã chỉ ra rằng: con người là sự thống nhất biệnchứng giữa mặt sinh học với mặt xã hội C.Mác viết: “Trong tính hiện thựccủa nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” [16, 11] Bảnchất xã hội của con người đó không thể hiện một cách chung chung mà biểuhiện cụ thể trong từng cá nhân Nói một cách khác, con người tồn tại thôngqua mỗi cá nhân
Với tư cách là một thực thể sinh học, mỗi cá nhân là cá thể người mangđặc điểm chung của giống loài “người”, nhưng lại khác nhau về cấu tạo cơ thểriêng của mỗi người Sự khác nhau về phương diện sinh học ấy chủ yếu bị chiphối bởi “bộ gen” riêng ở mỗi người Mỗi cá nhân có một thể chất riêng, hìnhdáng riêng, đặc điểm riêng về kiểu thần kinh, có sự nhạy cảm riêng đối vớinhững yếu tố tác động của môi trường sống…
Xét về mặt xã hội, cá nhân là một thực thể xã hội, cá nhân là cá thểngười được hình thành và phát triển trong lịch sử, là chủ thể của lao động củamọi quan hệ xã hội và là chủ thể của nhận thức Cá nhân là một con ngườihoàn chỉnh trong sự thống nhất của những khả năng riêng có của người đó vớichức năng xã hội mà người đó thực hiện Trong mối quan hệ với xã hội, cánhân thể hiện là một chỉnh thể đơn nhất, độc đáo có vai trò chủ thể trong lịchsử
Với tư cách là một thực thể có tâm lý, ý thức, mỗi cá nhân có một bảnsắc độc đáo riêng Bản sắc độc đáo ấy thể hiện qua “nhân cách” của cá nhân.Nhân cách là toàn bộ những năng lực và phẩm chất của cá nhân tạo thành một
Trang 23chỉnh thể đóng vai trò chủ thể tự ý thức, tự đánh giá, tự khẳng định, tự điềuchỉnh mọi hoạt động của mình Nhân cách không phải là cái trời phú cho,cũng không phải là cái bẩm sinh của cơ thể sinh học Nhân cách được hìnhthành và phát triển phụ thuộc vào các yếu tố như:
Một là, yếu tố sinh học, ở đây tư chất di truyền có ảnh hưởng đến sự
hình thành nhân cách
Hai là, yếu tố môi trường: đây là yếu tố bên ngoài có vai trò rất quan
trọng tác động vào cá nhân như: yếu tố kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, giađình…C.Mác viết: “Những cá nhân nhất định, hoạt động sản xuất theo mộtphương thức nhất định, đều nằm trong những quan hệ xã hội và chính trị nhấtđịnh” [21, 275]
Ba là, hoạt động của cá nhân: đây là yếu tố quyết định sự hình thành
nhân cách vì cá nhân quan hệ với môi trường, với hoàn cảnh không phải chỉchịu tác động thụ động của hoàn cảnh mà thông qua hoạt động tác động trở lạiđối với hoàn cảnh Thông qua hoạt động của mình ở nhiều lĩnh vực như: kinh
tế, chính trị, văn hoá, xã hội, khoa học, mọi hoạt động ứng xử đạo đức…mỗingười hình thành cho mình một nhân cách riêng Mỗi cá nhân có một thế giớiquan riêng bao gồm những quan điểm, lý tưởng, niềm tin, định hướng giá trịchung của cá nhân Thế giới quan riêng của cá nhân khi được hình thành nótrở lại chi phối hoạt động của cá nhân
Nói tóm lại, sự hình thành và phát triển nhân cách là sự thống nhất của
ba chiều sinh học, tâm lý và xã hội trong quá trình xác lập “cái tôi”
Như vậy, ngoài những đặc điểm chung của “con người”, cá nhân rấtkhác nhau Xét cho cùng, sự khác nhau đó từ đâu? C.Mác chỉ ra rằng sự khácnhau ấy là do phương thức sinh sống của họ quy định: “…Những cá nhânđúng y như trong hiện thực, nghĩa là đúng y như họ đang hành động trongnhững giới hạn, tiền đề và điều kiện vật chất nhất định, không phụ thuộc vào
ý chí của họ” Đồng thời C.Mác chỉ rõ: “Những cá nhân biểu hiện đời sốngcủa họ là như thế nào, điều đó ăn khớp với sản xuất của họ, với cái mà họ sản
Trang 24xuất ra cũng như với tư cách mà họ sản xuất Do đó, những cá nhân là thếnào, điều đó phụ thuộc vào những điều kiện vật chất của sự sản xuất của họ”[21, 269]
Quan hệ giữa cá nhân và xã hội
Quan hệ giữa cá nhân và xã hội là vấn đề có ý nghĩa như một luận điểmxuất phát để luận giải những vấn đề khác của lịch sử ngay từ khi triết học Mác
ra đời
Khái niệm xã hội được biểu hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, cao nhất là
xã hội loài người (toàn thể nhân loại), thấp hơn là những hệ thống xã hội nhưquốc gia, dân tộc, giai cấp
Vậy, xã hội là gì?
Xã hội là hình thái vận động cao nhất của vật chất Hình thái vận độngnày lấy mối quan hệ của con người và sự tác động lẫn nhau giữa người vớingười làm nền tảng “Xã hội không phải gồm các cá nhân, mà xã hội biểuhiện tổng số những mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân đối vớinhau” [20, 355] Theo C.Mác, “Xã hội - cho dù nó có hình thức gì đi nữa - làcái gì? Là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người” [18, 657].Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, trong bất cứ giai đoạn nào, cánhân cũng không thể tách rời khỏi xã hội Quan hệ cá nhân - xã hội luôn vậnđộng, biến đổi và phát triển, trong đó sự thay đổi càng rõ khi có sự thay thếhình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác
C.Mác viết: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổnghoà những quan hệ xã hội” [16, 11] Điều đó cũng có nghĩa, trong sự tác độngqua lại giữa người với người sẽ tạo ra một hệ thống các mối giao lưu và quan
hệ xã hội Hệ thống quan hệ xã hội đó quy định cuộc sống đối với từng cánhân Trong toàn bộ quan hệ xã hội, quan hệ giữa người với người trong sảnxuất là quan hệ quyết định xét đến cùng Do đó, phương thức sinh sống vàhoạt động của cá thể sẽ hình thành lối sống của họ, mà lối sống đó phụ thuộcvào phương thức sản xuất của xã hội Trong “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác vạch
Trang 25ra rằng phân công lao động xã hội chi phối các hình thức giao tiếp của conngười, vì vậy mỗi thời kỳ lịch sử có một kiểu cá nhân với tính đặc thù của nó.Những cá nhân biểu hiện đời sống của họ như thế nào thì họ là như thế ấy; do
đó họ là như thế nào, điều đó ăn khớp với sản xuất của họ, với cái mà họ sảnxuất ra cũng như với cách họ sản xuất Do đó, những cá nhân là như thế nào,điều đó phụ thuộc vào những điều kiện vật chất của sự sản xuất của họ
Quan hệ giữa cá nhân và xã hội biến đổi trong sự phát triển của lịch sử.Điều đó không chỉ liên quan đến trình độ phát triển của lực lượng sản xuất,trình độ văn hoá, văn minh mà liên quan tới sự thay đổi của phương thức sảnxuất, của hình thái kinh tế - xã hội Chỉ khi cách mạng làm thay đổi hình tháikinh tế - xã hội thì quan hệ cá nhân và xã hội mới có sự thay đổi căn bản.Trong chủ nghĩa tư bản, người công nhân gánh chịu mọi hậu quả nặng
nề của sự tha hoá Kết quả hoạt động của con người, của công nhân ngày càngbiến thành một lực lượng thoát ra khỏi con người, xa lạ với con người, thốngtrị lại con người, thù địch với con người, lực lượng đó là tư bản Các điều kiệnlao động của người công nhân đối lập lại người công nhân.Trong những điềukiện đó, tự do của người lao động chỉ mang tính hình thức, cá nhân con ngườikhông thể có sự phát triển hài hoà và toàn diện Điều kiện sống và làm việccủa công nhân tồi tệ hơn khi họ mất việc làm; khi đó người lao động càngkhông thể khẳng định mình với tư cách cá nhân Chỉ khi nào các đối khánggiai cấp trước toàn xã hội đã bị loại bỏ, khi người lao động thực sự làm chủcác điều kiện vật chất của người lao động, với tư cách con người mới đượckhẳng định
Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội có những nội dung thống nhất vớiquan hệ giữa cá nhân và tập thể, chúng đều dựa trên cơ sở lợi ích, biểu hiệnmối quan hệ giữa cái bộ phận với cái toàn thể, giữa khách quan và chủ quan.Mặt khách quan biểu hiện ở trình độ phát triển của xã hội về nhiều mặt.Mặt chủ quan biểu hiện ở năng lực nhận thức và vận dụng quy luật xã hội phùhợp với mục đích của con người Do vậy, việc tổ chức các hoạt động xã hội
Trang 26có vai trò to lớn trong việc kết hợp giữa mặt khách quan và mặt chủ quan saocho xã hội được tiến bộ và mỗi cá nhân được tồn tại và phát triển nhân cáchmột cách hài hoà.
Trong “Bút kí triết học”, Lênin đã chỉ rõ: “Thật ra mục đích của conngười là do thế giới khách quan sản sinh ra và lấy thế giới khách quan làmtiền đề” [15, 201] Thật vậy, toàn bộ quan hệ xã hội hàng ngày kết hợp vớinhững đặc điểm cá nhân tạo thành nhu cầu cá nhân (nhu cầu về vật chất vàtinh thần) Những nhu cầu đó được cá nhân ý thức trở thành lợi ích và mụcđích của họ Một trong những lợi ích đó là được phát triển tự do và toàn diện,
vì vậy nó trở thành yếu tố quan trọng của sự lựa chọn tự do Mặt khác nhữngđiều kiện khách quan, những quan hệ xã hội của cá nhân cũng tạo khả năngthoả mãn những nhu cầu đó Khả năng ấy được cá nhân tiếp thu chuyển hoáthành cái chủ thể và sử dụng nó như một lực lượng riêng để đạt được mụcđích riêng của họ Trong những điều kiện nhất định thì nhu cầu, lợi ích, mụcđích riêng của cá nhân phù hợp với nhu cầu, lợi ích và mục đích chung của xãhội Trong quá trình thống nhất biện chứng giữa cá nhân và xã hội, vai tròquyết định thuộc về tính chất của các quan hệ xã hội Tính chất của các quan
hệ xã hội tạo điều kiện cho cá nhân tiếp thu khả năng khách quan và chuyểnhoá thành khả năng chủ quan trong việc thực hiện mục đích của mình, tạođiều kiện cho sự kết hợp giữa nhu cầu, lợi ích, mục đích của xã hội và cánhân hài hoà hay ngăn trở nó
Bởi vậy, thực chất của việc tổ chức xã hội là giải quyết quan hệ lợi íchnhằm tạo khả năng cao nhất cho mỗi cá nhân tác động vào mọi quá trình kinh
tế, xã hội cho sự phát triển được thực hiện Xã hội ngày càng phát triển thì cánhân ngày càng có điều kiện để tiếp nhận ngày càng nhiều những giá trị vậtchất và tinh thần Vì vậy, thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu và lợi ích chínhđáng của cá nhân là một trong những mục tiêu và động lực thúc đẩy sự pháttriển xã hội Dù ở phạm vi nhân loại hay cá nhân, dù trực tiếp hay gián tiếp,
Trang 27khi lợi ích cá nhân hài hoà với lợi ích xã hội thì ở đó bắt gặp mục đích vàđộng lực của sự nổ lực chung vì một tương lai tốt đẹp.
Vấn đề chăm sóc và phát triển những nhu cầu và năng lực phong phú, đadạng của mỗi cá nhân hoàn toàn không mâu thuẫn với sự phát triển của xãhội Đồng thời, nhân cách mỗi cá nhân trong xã hội càng phát triển thì càng
có điều kiện để thúc đẩy xã hội tiến lên Do đó, cá nhân tác động đến xã hộituỳ thuộc ở trình độ phát triển của nhân cách Những cá nhân có đạo đức vàtài năng thường đóng góp tích cực và xứng đáng vào sự nghiệp của xã hội.Những cá nhân kém cõi về nhân cách thì tác động xấu đến xã hội, kìm hãm sựphát triển
Một xã hội tiến bộ là một xã hội mà mỗi cá nhân phát triển nhân cáchcủa mình theo hướng tích cực, phát huy vai trò động lực, chủ thể sáng tạo củamỗi cá nhân Chủ nghĩa xã hội, vừa khắc phục chủ nghĩa cá nhân cực đoan,vừa tạo ra những điều kiện mới cho cá nhân phát triển và sáng tạo Tinh thần
đó được Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đấtnước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: “Con người được giải phóngkhỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, cócuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân”[6, 8 - 9]
Cùng với quá trình phát triển của thực tiễn, con người từng bước tạo rathiên nhiên tươi đẹp hơn và hoàn cảnh xã hội có tính người hơn Trong hoàncảnh có tính người, cá nhân từng bước bộc lộ năng lực, bản chất của mình Vìvậy, từng bước cá nhân được tự do Xã hội càng tiến bộ, càng tạo điều kiệncho sự giải phóng cá nhân với nội dung thực tế và càng thúc đẩy tự do sángtạo của cá nhân Ph.Ăngghen viết: “Mỗi bước tiến của văn minh nhân loại làmột bước tiến tới tự do” [1, 192] Mức độ giải phóng của xã hội biểu hiện ở
sự tự do của từng cá nhân và sự tự do của mỗi cá nhân là điều kiện cho sự tự
do xã hội Giải phóng cá nhân tạo nên động lực khơi nguồn cho công cuộcgiải phóng xã hội, còn giải phóng xã hội là tạo lập môi trường cho sự giải
Trang 28phóng cá nhân Giải phóng cá nhân và sự giải phóng xã hội trong điều kiệnnày của nước ta đồng nghĩa với việc thường xuyên chăm lo, nâng cao mứcsống và cải thiện môi trường xã hội, từng bước nhân đạo hoá các điều kiện laođộng, ăn, ở, sinh hoạt…khắc phục sự tha hoá và tăng cường các khả nănghướng thiện; dân chủ hoá các lĩnh vực hoạt động, văn hoá thẫm mỹ hoá đờisống tinh thần của con người.
Những hoàn cảnh hợp với tính người sẽ có được trong xã hội bình đẳng,không có áp bức giai cấp Đó là xã hội theo dự báo của chủ nghĩa duy vật lịch
sử, là xã hội Cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội
Ở nước ta hiện nay, nền kinh tế thị trường đang thúc đẩy sự phát triểncủa lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động, tạo ra cơ sở vật chất vàvăn hoá tinh thần ngày càng đa dạng và phong phú Lợi ích cá nhân ngàycàng được chú ý, tạo ra cơ hội mới để phát triển cá nhân Tuy nhiên, cơ chếnày có thể dẫn tới sự tuyệt đối hoá lợi ích kinh tế, dẫn tới sự phân hoá giàunghèo trong xã hội, chứa đựng những khả năng đối lập giữa cá nhân và xãhội Do đó, chúng ta cần khắc phục mặt trái của cơ chế thị trường, phát huyvai trò nhân tố con người, thực hiện chiến lược con người của Đảng ta là mộtmục tiêu có ý nghĩa quyết định để giải quyết tốt mối quan hệ giữa cá nhân và
xã hội, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX củaĐảng đã chỉ ra: Xây dựng con người Việt Nam có tinh thần yêu nước và yêuchủ nghĩa xã hội, có ý thức tự cường dân tộc, trách nhiệm cao trong lao động,
có lương tâm nghề nghiệp, có tác phong công nghiệp, có ý thức cộng đồng,tôn trọng nghĩa tình, có lối sống văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộngđồng và xã hội
1.2.3 Vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử
Con người sáng tạo ra lịch sử của mình, song vai trò quyết định sự pháttriển xã hội là thuộc về quần chúng nhân dân hay của các cá nhân có phẩmchất đặc biệt - vĩ nhân, lãnh tụ?
Trang 29Khái niệm quần chúng nhân dân
Quần chúng nhân dân là bộ phận có cùng chung lợi ích căn bản, bao
gồm những thành phần, những tầng lớp và những giai cấp, liên kết lại thànhtập thể dưới sự lãnh đạo của một cá nhân, tổ chức hay đảng phái nhằm giảiquyết những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của một thời đại nhất định
Khái niệm quần chúng nhân dân được xác định bởi các nội dung sauđây: Thứ nhất, những người lao động sản xuất ra của cải vật chất và các giá trịtinh thần, đóng vai trò là hạt nhân cơ bản của quần chúng nhân dân Thứ hai,những bộ phận dân cư chống lại giai cấp thống trị áp bức, bóc lột, đối khángvới nhân dân Thứ ba, những giai cấp, những tầng lớp xã hội thúc đẩy sự tiến
bộ xã hội thông qua hoạt động của mình, trực tiếp hoặc gián tiếp trên các lĩnhvực của đời sống xã hội
Do đó, quần chúng nhân dân là một phạm trù lịch sử, vận động biến đổitheo sự phát triển của lịch sử xã hội
Khái niệm cá nhân trong lịch sử
Trong mối liên hệ không tách rời với quần chúng nhân dân, những cánhân kiệt xuất có vai trò đặc biệt quan trọng trong các tiến trình lịch sử; đó lànhững vĩ nhân, lãnh tụ
Vĩ nhân là những cá nhân kiệt xuất có khả năng thâu tóm, nắm bắt được
những vấn đề cơ bản nhất, tiếp cận và đạt được những thành tựu nhất định củanhận thức khoa học và thực tiễn như hoạt động chính trị, khoa học, kỹ thuật
Lãnh tụ là những vĩ nhân kiệt xuất, người lãnh đạo, định hướng và thống
nhất hoạt động của quần chúng nhân dân, có những phẩm chất cơ bản về trithức, đạo đức và khả năng tập hợp quần chúng
Để trở thành lãnh tụ gắn bó với quần chúng, được quần chúng tín nhiệm,
lãnh tụ phải là người có những phẩm chất cơ bản sau đây: Một là, có tri thức
khoa học uyên bác, nắm bắt được xu thế vận động của dân tộc, quốc tế và thời
đại Hai là, có năng lực tập hợp quần chúng nhân dân, thống nhất ý chí và
hành động của quần chúng nhân dân vào nhiệm vụ của dân tộc, quốc tế và
Trang 30thời đại Ba là, gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân, hy sinh quên mình
vì lợi ích của dân tộc, quốc tế và thời đại
Bất cứ một thời kỳ nào, một dân tộc nào, nếu lịch sử đặt ra những nhiệm
vụ cần giải quyết thì từ trong phong trào quần chúng nhân dân, tất yếu sẽ xuấthiện những lãnh tụ, đáp ứng yêu cầu của lịch sử
Quan hệ giữa quần chúng nhân dân với lãnh tụ
Cần phải khẳng định rằng, mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân vớilãnh tụ là quan hệ biện chứng Tính biện chứng của mối quan hệ trên biểuhiện:
Thứ nhất, tính thống nhất giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ Không
có phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân, không có các quá trìnhkinh tế, chính trị, xã hội của đông đảo quần chúng nhân dân, thì cũng khôngthể xuất hiện lãnh tụ Những cá nhân ưu tú, những lãnh tụ kiệt xuất là sảnphẩm của thời đại, vì vậy, họ sẽ là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triểncủa phong trào quần chúng
Thứ hai, quần chúng nhân dân và lãnh tụ thống nhất trong mục đích và
lợi ích của mình Sự thống nhất về các mục tiêu của cách mạng, của các hànhđộng cách mạng giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ do chính quan hệ lợiích quy định Lợi ích biểu hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau: lợi ích kinh
tế, lợi ích chính trị, lợi ích văn hoá Quan hệ lợi ích là cầu nối liền, là nội lực
để liên kết các cá nhân cũng như quần chúng nhân dân và lãnh tụ với nhauthành một khối thống nhất về ý chí và hành động Lợi ích đó vận động pháttriển tuỳ thuộc vào thời đại, vào địa vị lịch sử của giai cấp cầm quyền mà lãnh
tụ là đại biểu, phụ thuộc vào khả năng nhận thức và vận dụng để giải quyếtmối quan hệ giữa các cá nhân, các giai cấp và tầng lớp xã hội
Thứ ba, sự khác biệt giữa quần chúng nhân dân và lãnh tụ biểu hiện
trong vai trò khác nhau của sự tác động đến lịch sử Tuy cùng đóng vai tròquan trọng đối với tiến trình phát triển của lịch sử xã hội, nhưng quần chúng
Trang 31nhân dân là lực lượng quyết định sự phát triển, còn lãnh tụ là người địnhhướng, dẫn dắt phong trào, thúc đẩy sự phát triển của lịch sử.
Bởi vậy, quan hệ giữa quần chúng nhân dân và vĩ nhân lãnh tụ là biệnchứng, vừa thống nhất vừa khác biệt
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định vai trò quyết định của quần chúngnhân dân, đồng thời đánh giá cao vai trò của lãnh tụ
Vai trò của quần chúng nhân dân: Về căn bản tất cả các nhà triết học
trong lịch sử trước Mác đều không nhận thức đúng vai trò của quần chúngnhân dân trong tiến trình phát triển của lịch sử Về nguồn gốc lý luận, điều đó
có nguyên nhân từ quan điểm duy tâm hoặc siêu hình về xã hội
Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định quần chúng nhân dân là chủ thểsáng tạo chân chính ra lịch sử Bởi vì, mọi lý tưởng giải phóng xã hội, giảiphóng con người chỉ được chứng minh thông qua sự tiếp thu và hoạt động củaquần chúng nhân dân Hơn nữa, tư tưởng tự nó không làm biến đổi xã hội màphải thông qua hành động cách mạng, hoạt động thực tiễn của quần chúngnhân dân, để biến lý tưởng, ước mơ thành hiện thực trong đời sống xã hội.Vai trò quyết định lịch sử của quần chúng nhân dân được biểu hiện ở banội dung:
Thứ nhất, quần chúng nhân dân là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội,
trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của
xã hội Con người muốn tồn tại phải có các điều kiện vật chất cần thiết, mànhững nhu cầu đó chỉ có thể đáp ứng được thông qua sản xuất Lực lượng sảnxuất cơ bản là đông đảo quần chúng nhân dân lao động bao gồm cả lao độngchân tay và lao động trí óc Cách mạng khoa học kỹ thuật hiện nay có vai tròđặc biệt đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất Song, vai trò của khoahọc chỉ có thể phát huy thông qua thực tiễn sản xuất của quần chúng nhân dânlao động, nhất là đội ngũ công nhân hiện đại và trí thức trong nền sản xuất xãhội, của thời đại kinh tế tri thức Điều đó khẳng định rằng, hoạt động sản xuất
Trang 32của quần chúng nhân dân là điều kiện cơ bản để quyết định sự tồn tại và pháttriển của xã hội.
Thứ hai, quần chúng nhân dân là động lực cơ bản của mọi cuộc cách
mạng xã hội Lịch sử đã chứng minh rằng, không có cuộc chuyển biến cáchmạng nào mà không là hoạt động đông đảo của quần chúng nhân dân Họ làlực lượng cơ bản của cách mạng, đóng vai trò quyết định thắng lợi của mọicuộc cách mạng Trong các cuộc cách mạng làm chuyển biến xã hội từ hìnhthái kinh tế - xã hội này sang hình thái kinh tế - xã hội khác, nhân dân laođộng là lực lượng tham gia đông đảo Cách mạng là ngày hội của quần chúng,
là sự nghiệp của quần chúng
Thứ ba, quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra những giá trị văn hoá
tinh thần Quần chúng nhân dân đóng vai trò to lớn trong sự phát triển củakhoa học, nghệ thuật, văn học, đồng thời, áp dụng những thành tựu đó vàohoạt động thực tiễn Những sáng tạo về văn học, nghệ thuật, khoa học, y học,quân sự, kinh tế, chính trị, đạo đức của nhân dân vừa là cội nguồn, vừa làđiều kiện để thúc đẩy sự phát triển nền văn hoá tinh thần của các dân tộctrong mọi thời đại Hoạt động của quần chúng nhân dân từ trong thực tiễn lànguồn cảm hứng vô tận, cho mọi sáng tạo tinh thần trong đời sống xã hội.Mặt khác, các giá trị văn hoá tinh thần chỉ có thể trường tồn khi được đôngđảo quần chúng nhân dân chấp nhận và truyền bá sâu rộng, trở thành giá trịphổ biến
Tóm lại, xét từ kinh tế đến chính trị, từ hoạt động vật chất đến hoạt độngtinh thần, quần chúng nhân dân luôn đóng vai trò quyết định trong lịch sử.Tuy nhiên, tuỳ vào điều kiện lịch sử mà vai trò chủ thể của quần chúng nhândân cũng biểu hiện khác nhau Chỉ có trong chủ nghĩa xã hội, quần chúngnhân dân mới có đủ điều kiện để phát huy tài năng và trí sáng tạo của mình.Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh vai trò, sức mạnh của quầnchúng nhân dân, như Nguyễn Trãi đã nói: “Chở thuyền cũng là dân, lậtthuyền cũng là dân, thuận lòng dân thì sống, nghịch lòng dân thì chết” Đảng
Trang 33Cộng sản Việt Nam cũng khẳng định rằng, cách mạng là sự nghiệp của quầnchúng, xây dựng một xã hội “của dân, do dân và vì dân” và quan điểm “lấydân làm gốc” trở thành tư tưởng thường trực nói lên vai trò sáng tạo ra lịch sửcủa nhân dân Việt Nam.
Vai trò của lãnh tụ:
Lãnh tụ là sản phẩm của phong trào quần chúng và là người đại diện cholợi ích, ý chí của quần chúng Lãnh tụ có vai trò vô cùng quan trọng đối vớiphong trào quần chúng Trong mối quan hệ với quần chúng nhân dân, lãnh tụ
có nhiệm vụ chủ yếu sau: Thứ nhất, nắm bắt xu thế của dân tộc, quốc tế và
thời đại trên cơ sở hiểu biết những quy luật khách quan của các quá trình kinh
tế, chính trị, xã hội Thứ hai, định hướng chiến lược và hoạch định chương trình hành động cách mạng Thứ ba, tổ chức lực lượng, giáo dục thuyết phục
quần chúng, thống nhất ý chí và hành động của quần chúng nhằm hướng vàogiải quyết những mục tiêu cách mạng đề ra
Từ nhiệm vụ trên ta thấy lãnh tụ có vai trò to lớn đối với phong trào quầnchúng Lênin viết: “Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành đượcquyền thống trị, nếu nó không đào tạo được trong hàng ngũ của mình nhữnglãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnhđạo phong trào” [14, 473] Đồng thời, chủ nghĩa Mác - Lênin đòi hỏi phải bàitrừ tệ sùng bái cá nhân
Tệ sùng bái cá nhân, thần thánh hoá cá nhân người lãnh đạo, sẽ dẫn đếntuyệt đối hoá cá nhân kiệt xuất, vai trò người lãnh đạo mà xem nhẹ vai trò củatập thể lãnh đạo và của quần chúng nhân dân Căn bệnh trên dẫn đến hạn chếhoặc tước bỏ quyền làm chủ của nhân dân, làm cho nhân dân thiếu tin tưởngvào chính bản thân họ, dẫn đến thái độ phục tùng tiêu cực, mù quáng, khôngphát huy được tính năng động sáng tạo chủ quan của mình Những lãnh tụ vĩđại của giai cấp vô sản như C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh đềuhết sức khiêm tốn, gần gũi với nhân dân, đề cao vai trò và sức mạnh của quần
Trang 34chúng nhân dân, xứng đáng là những vĩ nhân kiệt xuất mà toàn thể loài ngườitôn kính và ngưỡng mộ.
1.3 Một số vấn đề về con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trong điều kiện hiện nay, con người đang được các quốc gia trên thếgiới coi là nguồn nội lực quan trọng của chiến lược phát triển bền vững ỞViệt Nam, con người được xác định vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy
sự phát triển kinh tế xã hội Nhưng, cần phải thấy rằng, bên cạnh những điểmmạnh, tích cực, con người Việt Nam vẫn còn một số yếu kém cần được nhậndiện, phân tích và khắc phục Có như vậy, con người mới thực sự hoàn thiện,mới thực sự là nhân tố quyết định của nội lực Nhiệm vụ quan trọng hiện naycủa chúng ta là xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó xây dựng con người Việt Nam
xã hội chủ nghĩa là vấn đề trung tâm
Trong nỗ lực tìm kiếm động lực của sự phát triển bền vững, văn hoá vàcon người hiện đang là những vấn đề được cả thế giới quan tâm Đối vớinhiều quốc gia, kể cả những nước phát triển lẫn các nước đang phát triển, vănhoá và con người được coi là nội lực quan trọng trong chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội, nhất là trong điều kiện cách mạng khoa học - công nghệ pháttriển mạnh mẽ và xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế được mở rộngnhư hiện nay Ở Việt Nam, trong suốt tiến trình cách mạng, đặc biệt là từ khiđất nước bước vào công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đạihoá, Đảng ta luôn coi trọng vấn đề văn hoá và con người Cùng với việc đềcao yếu tố con người, văn hoá được coi là “nền tảng tinh thần của xã hội, vừa
là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội”
Lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử của dân tộc Việt Nam đã chứngminh rằng, văn hoá luôn gắn liền với cuộc sống của con người và sự pháttriển của xã hội, con người tồn tại, trưởng thành và phát triển nhờ văn hoá củamình Nền văn hoá truyền thống của dân tộc ta được kết tinh và khẳng định
Trang 35trong cuộc đấu tranh và lao động sản xuất để tồn tại, phát triển của nhân dântrong lịch sử dựng nước và giữ nước Có thể nói, văn hoá và con người ViệtNam là những nhân tố quan trọng, góp phần hình thành nên truyền thống lịch
sử trải dài hàng ngàn năm của dân tộc Trong sự nghiệp cách mạng giải phóngdân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân tố văn hoá vàcon người Việt Nam được phát huy, tạo nên sức mạnh nhấn chìm bọn đế quốcxâm lược, giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc, thực hiện thống nhất Tổ quốc.Ngày nay, những nhân tố đó tiếp tục đóng vai trò là động lực thúc đẩy sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đưa đất nước ta phát triển theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằngdân chủ, văn minh”
Như chúng ta đã biết, từ những thập niên 80, 90 của thế kỷ trước, thếgiới đã xảy ra biết bao biến động nhanh chóng cùng với sự bùng nổ của cáchmạng khoa học - công nghệ hiện đại và xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tếquốc tế Hơn nữa, văn hoá và con người cũng không phải là “nhất thành bấtbiến”, trái lại, các yếu tố đó cũng vận động, biến đổi cùng sự phát triển củalịch sử Do vậy, để khai thác, phát huy sức mạnh của văn hoá và con ngườiViệt Nam với tư cách những nguồn lực nội sinh quan trọng của sự phát triển
xã hội, trước hết cần có sự phân tích đánh giá đúng thực trạng của văn hoá vàcon người Có thể nói, trong suốt tiến trình xây dựng xã hội mới của chúng ta,nhất là từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, việc nghiên cứu các vấn đềvăn hoá và con người Việt Nam luôn được coi trọng Trên thực tế nhiềuchương trình nghiên cứu cấp bộ và cấp Nhà nước, nhiều hội thảo khoa họcxoay quanh các vấn đề văn hoá và con người Việt Nam đã được tổ chức, triểnkhai nghiên cứu từ các góc độ khác nhau Đặc biệt, xây dựng văn hoá và conngười luôn là một trong những nội dung quan trọng trong văn kiện của các kỳĐại hội và một số Hội nghị Trung ương của Đảng
Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ năm (khoá VIII), Đảng
ta đã có sự đánh giá đúng đắn, khách quan về những thành tựu, những yếu
Trang 36kém của văn hoá và con người Việt Nam trên nhiều phương diện, nhiều lĩnhvực hoạt động Tiếp nối những đánh giá đó, tiếng nói của công luận trên cácphương tiện thông tin đại chúng, như các báo chí xuất bản hàng ngày, vôtuyến truyền hình, đài phát thanh của Trung ương và các địa phương đãthường xuyên có những bổ sung góp phần phản ánh ngày càng đầy đủ, toàndiện và kịp thời cả những mặt mạnh, ưu điểm lẫn những hạn chế, khiếmkhuyết của văn hoá và con người Việt Nam hiện nay Khái quát các nguồn tàiliệu trên, chúng ta có thể rút ra một số điểm mạnh của văn hoá và con ngườiViệt Nam, đó là:
Thứ nhất, trong công cuộc đổi mới đất nước, trong điều kiện mới của
khu vực vào thế giới, con người Việt Nam vẫn luôn gắn bó mật thiết vớinhững giá trị văn hoá truyền thống, với những phẩm giá của dân tộc mà điểmnổi bật là tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, tự lực, tự cường, đoànkết vì đại nghĩa dân tộc Biểu hiện của điểm mạnh này là thái độ tích cực củamỗi công dân trước vận mệnh của Tổ quốc, trước các chuyển đổi về kinh tế,
xã hội hiện nay
Thứ hai, con người Việt Nam vẫn luôn thể hiện đức tính cần cù, sáng
tạo, trong mọi hoạt động Đức tính này là một giá trị đặc trưng, chiếm vị tríxứng đáng trong bảng giá trị về nhân cách của con người Việt Nam Thái độtích cực của con người Việt Nam trong định hướng và lựa chọn giá trị này làđiều kiện hết sức thuận lợi cho công tác giáo dục, từ giáo dục truyền thống,lối sống đến giáo dục đạo đức, nhân cách con người hiện đại…nhằm phục vụ
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Thứ ba, nét đặc trưng của đời sống tinh thần, của phẩm giá của con
người Việt Nam là truyền thống cộng đồng, lòng nhân ái, những tình cảm vịtha và khoan dung…vẫn được giữ vững, phát huy trong điều kiện mới của đấtnước Những giá trị mang tính nền tảng cốt lõi ấy là cơ sở để phát triển tínhnhân văn và xây dựng văn hoá Việt Nam hiện đại, tiên tiến, mang bản sắc dântộc Có thể khẳng định rằng, đây là một thuận lợi căn bản để chúng ta thực
Trang 37hiện chương trình văn hoá trong toàn xã hội đối với các thế hệ con người ViệtNam hiện nay và mai sau.
Thứ tư, con người Việt Nam vẫn giữ được truyền thống hiếu học, tôn sư
trọng đạo và sự hình thành, phát triển các giá trị mới của văn hoá và conngười đã chứng minh sự kết hợp giữa truyền thống với hiện đại trong thời kỳđổi mới và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Thứ năm, trong công cuộc đổi mới, mô hình gia đình truyền thống đang
có những biến đổi lớn, phức tạp do sự tác động của kinh tế hàng hoá, cơ chếthị trường, do những biến đổi của xã hội đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội…Tuy vậy, những giá trị tinh thần, đạo lý của gia đình truyền thống vẫn đượcgiữ vững, có ảnh hưởng tích cực trong đời sống gia đình Việt Nam, vẫn lànhân tố quan trọng đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của xã hội.Tuy nhiên, bên cạnh những điểm mạnh trên đây, chúng ta cũng cần phảinhận diện một số yếu kém của con người Việt Nam hiện nay Điều này đượcthể hiện ở chỗ:
Phong cách sản xuất nhỏ biểu hiện trong thói quen, tập quán, lối sống vàcách ứng xử, nếp suy nghĩ, lề thói làm ăn…của người Việt Nam vẫn đang lànhững cản trở không nhỏ đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vàhiện đại hoá đất nước
Những mặt trái của kinh tế thị trường đang tác động tiêu cực tới sự pháttriển văn hoá và con người Việt Nam Một trong những biểu hiện rõ nét của
xu hướng này là sự suy giảm về mặt đạo đức của không ít người, nhất là lớptrẻ, thậm chí của cả một số cán bộ, đảng viên thoái hoá, biến chất Cùng với
đó là sự xuất hiện các yếu tố tiêu cực khác, như chủ nghĩa cục bộ, địa phương,lối sống thực dụng chạy theo đồng tiền, đề cao quá mức tiện nghi vật chất, xahoa, lãng phí, sự phát triển chủ nghĩa cá nhân vị kỷ biểu hiện trong lối sống,trong cách ứng xử giữa người với người Những tiêu cực này đang ảnh hưởngđến ý thức tư tưởng, đạo đức, lối sống của nhân dân ta Vấn đề đặt ra ở đâychính là vấn đề quan hệ con người trong nền kinh tế thị trường, là ý thức về
Trang 38trách nhiệm, bổn phận, nghĩa vụ của cá nhân đối với những người thân tronggia đình, đối với cộng đồng và toàn xã hội Nếu không đặt vấn đề giáo dụctruyền thống, nếu không chú trọng giáo dục đạo đức, lối sống…một cáchđúng mức cả trong gia đình, nhà trường lẫn xã hội thì tình trạng suy thoái đạođức chẳng những không sớm được ngăn chặn, mà còn đứng trước nguy cơtiếp tục gia tăng.
Phân tích cội nguồn dẫn tới các yếu kém trên đây, ngoài việc chỉ rõnhững nguyên nhân khách quan, Đảng ta cho rằng, nguyên nhân chủ quan làdo: chưa đặt đúng vị trí của văn hoá, chưa xây dựng được chiến lược pháttriển văn hoá song song với chiến lược phát triển kinh tế, chưa xử lý nghiêmnhững phần tử thoái hoá biến chất trong Đảng và bộ máy Nhà nước, việc quản
lý còn có dấu hiệu bị buông lỏng, chưa có cơ chế và chính sách phát huy nộilực của nhân dân, chưa tạo được phong trào quần chúng mạnh mẽ tham giaphát triển văn hoá, xây dựng nếp sống văn minh, bảo vệ văn hoá dân tộc,chưa coi trọng bồi dưỡng, giáo dục và phát huy khả năng của tuổi trẻ là lựclượng chính, là đối tượng chủ yếu của hoạt động văn hoá
Trên cơ sở phân tích những thành tựu, những yếu kém của văn hoá vàcon người ở nước ta hiện nay, Hội nghị Trung ương lần thứ năm (khoá VIII)của Đảng đã ra Nghị quyết về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Namtiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Có thể khẳng định rằng, đây là một vănkiện quan trọng mang tính chất cương lĩnh, đánh dấu sự đổi mới toàn diệntrong tư duy của Đảng về vấn đề văn hoá trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước Trong Nghị quyết này, Đảng ta coi văn hoá lànguồn nội sinh quan trọng nhất của phát triển và yếu tố quyết định nội lực làchất lượng con người Vì vậy, xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc theo định hướng xã hội chủ nghĩa với những đặc trưng cơbản: dân tộc, hiện đại, nhân văn là nhiệm vụ rất quan trọng trong công cuộcđổi mới Một trong những nội dung trọng tâm của nền văn hoá ấy là xây dựngcon người Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Trang 39Chương 2 XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở QUẢNG BÌNH HIỆN NAY VỚI VIỆC PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI
2.1 Khái quát về tình hình Quảng Bình trong thời kỳ hiện nay
Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Bình lần thứ XIV đã đề ra nhiệm vụ, mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010 là: “…, phát huy mọi nguồn
lực, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh tế - xã hội nhanh và vững chắc, đưa tỉnh ta ra khỏi tình trạng tỉnh nghèo, phấn đấu đến năm 2010 cơ bản đạt trình độ phát triển ngang mức trung bình của cả nước…” Hội đồng nhân dân tỉnh đã ra Nghị quyết số 39/2005/NQ-
HĐND ngày 9/12/2005 về nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006
-2010 Trên cơ sở đó, UBND tỉnh đã tổ chức triển khai các giải pháp chỉ đạothực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình thời kỳ 2006 -2010
Thời kỳ này, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, đặcbiệt năm 2008 và năm 2009, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây nhiềubiến động khó lường, năm 2007 và năm 2010 chịu ảnh hưởng nặng nề củathiên tai, lũ lụt và những khó khăn của nền kinh tế trong nước, trong tỉnh,nhưng được sự quan tâm giúp đỡ của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương,
sự chỉ đạo sát đúng của Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh và sự nỗ lựcphấn đấu của các ngành, các cấp nên nền kinh tế của tỉnh vẫn phát triển ổnđịnh, tốc độ tăng trưởng khá, các chỉ tiêu cơ bản hoàn thành và hoàn thànhvượt mức kế hoạch; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, chất lượng, hiệuquả nền kinh tế từng bước được nâng lên; cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đượccải thiện rõ rệt; các lĩnh vực văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhândân từng bước được cải thiện, công tác xoá đói giảm nghèo, giải quyết việclàm và thực hiện các chính sách xã hội đạt kết quả khá; an ninh chính trị, trật
Trang 40tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững; công tác quản lý tài nguyên môitrường được tăng cường.
Kinh tế tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng khá, từng bước tạo lập được cácyếu tố bảo đảm cho phát triển nhanh và bền vững Tốc độ tăng trưởng kinh tế(GDP) bình quân 5 năm đạt 11%, là giai đoạn có mức tăng trưởng cao nhất từtrước tới nay Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn cao nhất từ trước đến nay,đạt 1.343,3 tỷ đồng, tăng 23,7% so với kế hoạch Cơ cấu kinh tế chuyển dịchtheo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đến năm 2010, tỷ trọng nôngnghiệp giảm còn 20%; công nghiệp-xây dựng tăng 40%; dịch vụ tăng 40%.Công nghiệp từng bước khẳng định là ngành kinh tế trọng tâm, tạo động lựcthúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bìnhquân 20%/năm, đạt mức cao nhất từ trước tới nay Sản xuất công nghiệp đã có
sự đầu tư theo hướng công nghiệp hiện đại, tăng giá trị các ngành có thế mạnh
và điều kiện phát triển Quảng Bình đã hình thành ngành công nghiệp chủ lựcsản xuất vật liệu xây dựng, trước hết là xi măng Các lĩnh vực Văn hoá - Xãhội; An ninh - Quốc phòng có chuyển biến tích cực Công tác xoá đói, giảmnghèo, thực hiện chính sách an sinh xã hội đạt nhiều kết quả tích cực Đờisống nhân dân, nhất là vùng dân tộc thiểu số, vùng khó khăn được cải thiện
Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 11,57%; giải quyết việc làm bình quân đạt 2,5 vạnlao động/năm
Tuy vậy, nền kinh tế tăng trưởng chưa vững chắc, những yếu kém nội tạichậm được khắc phục; chuyển đổi cơ cấu kinh tế chưa mạnh, sức cạnh tranhcòn yếu Công tác quy hoạch triển khai còn chậm; chất lượng nguồn nhân lựcchưa đáp ứng được yêu cầu phát triển; trình độ khoa học công nghệ còn lạchậu; công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ nhân dân còn hạn chế Tỷ
lệ hộ nghèo còn cao so với bình quân chung cả nước, nguy cơ tái nghèo cao.Một số vấn đề xã hội bức xúc như: ma tuý, tai nạn giao thông, vấn đề tôngiáo,…vẫn diễn biến phức tạp Công tác bảo vệ tài nguyên môi trường còn